Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, February 24, 2009

Thơ cuả HƯƠNG


HƯƠNG

MỘT CHIỀU NGƯỢC GIÓ

Em ngược đường, ngược nắng để yêu anh
Ngược phố tan tầm, ngược chiều gió thổi
Ngược lòng mình tìm về nông nổi
Lãng du đi vô định cánh chim trời

Em ngược thời gian, em ngược không gian
Ngược đời thường bon chen tìm về mê đắm
Ngược trái tim tự bao giờ chai lặng
Em đánh thức nỗi buồn, em gợi khát khao xanh

Mang bao điều em muốn nói cùng anh
Chợt sững lại trước cây mùa trút lá
Trái đất sẽ thế nào khi mầu xanh không còn nữa
Và sẽ thế nào khi trong anh không em?

Em trở về im lặng của đêm
Chẳng còn nữa người đông và bụi đỏ
Phố bỗng buồn tênh, bờ vai hút gió
Riêng chiều này - em biết, một mình em...

Nguồn: http://vn.myblog.yahoo.com/huong14182/
READ MORE - Thơ cuả HƯƠNG

Monday, February 23, 2009

Thơ về SÔNG Ô LÂU



BẾN Ô LÂU

ĐỨC TIÊN



Ta về thăm bến Ô Lâu
Nghe câu tình sử nhuốm màu rêu phong
Một con đò một dòng sông
Trôi man mác giữa mênh mông xa vời
Trong xanh tấm lụa gương trời
Vẫn đây bên lở bên bồi ngàn năm
Thương em một kiếp tơ tằm
Bao nhiêu cay đắng nhọc nhằn em mang
Tình đời muôn lẽ trái ngang
Em rằng duyên phận lỡ làng thì thôi
Như con đò nhỏ xuôi trôi
Bến trong bến đục bạc vôi khô trầu
Ta về bên bến Ô Lâu
Câu thơ neo giữa nông sâu cõi lòng
Sông quê chẳng thể đổi dòng
Tình em năm tháng vẫn không nhạt màu
Bến Ô Lâu, bến Ô Lâu
Cho ta gỡ mối u sầu...lòng ta!
16-2-09




NẾU EM VỀ Ô LÂU

HỒNG THẤT CÔNG

Nếu em về Ô Lâu
Võng sông trỗi hè ru nhau tình bến đợi
Năm tháng bồng bềnh tay với
Đôi nhánh hẹn hò lúng liếng mi ngoan

Cổ tích xa rồi, trầm tích thời gian
Câu ước hẹn lớn như điều có thật
Bên này bên kia nỗi niềm chung chặt
Nỗi Huế thân thương Quảng Trị kiên cường.

Nếu em về Ô Lâu
câu hát thương nhau còn mãi đợi bên cầu
Không còn Ô Lâu tình sử
Nhịp cầu duyên sẽ in dấu em qua

Người sông quê rất đỗi chan hoà
Vỗ mặt sông bằng câu thơ tình mẹ
Hồn nhiên và lặng lẽ
Giữa muôn trùng cõi nhớ trong nhau

Nếu em về Ô Lâu
Chuyến đò chiều nối chênh vênh lời hát
Mãi trong anh tình quê màu sông nước

Mai em về Ô Lâu...

2/2009
Nguồn: Hồng Thất Công ‘s Blog
READ MORE - Thơ về SÔNG Ô LÂU

Thursday, February 12, 2009

LẾ BÁ LƯ





Thơ
Lê Bá Lư

LỜI HẸN ĐẦU NĂM



Cho anh lời hẹn đầu năm
Để anh lên núi xin xăm cầu tình
Trần gian những chuyện hư vinh
Sao bằng sóng mắt xiêu đình của em
Ước gì ngày hoá ra đêm
Lung linh trời đất ta tìm đến nhau
Trăng sao dẫn lối qua cầu
Dại khờ như thuở ban đầu mười lăm
Cho anh lời hẹn đầu năm
Để anh lên núi xin xăm cầu tình

Sài Gòn, tháng 01/2007



SÂN THƯỢNG NHÀ EM



Một không gian nho nhỏ
Giữa mênh mang biển trời
Em ngồi nghe sóng hát
Thả hồn lên chơi vơi

Một không gian tĩnh lặng
Giữa xôn xao cuộc đời
Em nghe tiếng gió cười
Mơn man trên làn tóc

Một không gian huyền hoặc
Ru em về tuổi thơ
Đưa em vào kỷ niệm
Bâng khuâng bài tình ca

Một không gian tuyệt vời
Em không còn bối rối
Đời vui như trẻ lại
Ngạt ngào ngàn hương hoa

Một không gian hiền hoà
Em không còn hối hả
Em không màng tất tả
Em ru hồn thiền na

Sài Gòn, 4h sáng 31-3-2007



TUY NHIÊN


Tuy xa mà cũng như gần
Tuy chiều, nắng vẫn thanh tân nõn nà
Tuy lòng không thể nói ra
Tuy nhiên hãy hiểu đó là lòng anh.


LBL


ĐỌC TIẾP:

TRANG THƠ LÊ BÁ LƯ
READ MORE - LẾ BÁ LƯ

Monday, February 9, 2009

Hoàng Hữu Quyết gặp Hoàng Phủ Ngọc Tường


Gặp gỡ: NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

SÁNG TÁC LÀ SỰ GIẢI TỎA

Hoàng Hữu Quyết

Một cây bút cổ thụ gần 30 năm, anh viết và sống nghiêm túc, nhiều lúc đến mức khắt khe với chính mình. Mỗi bài báo, bài thơ, bài ký thường đào sâu vấn đề thời sự nóng bỏng, dùng những từ ngữ đầy sức thuyết phục, để độc giả khi đọc các tác phẩm của anh luôn cảm nhận được sự mới lạ, sâu sắc. Sự sống của Hoàng Phủ Ngọc Tường sau cơn bạo bệnh là một may mắn cho làng văn, làng báo Việt Nam. Sau những ngày tháng điều trị và ổn định bệnh tình, những trang sách của anh không vì thế mà xếp lại. Mà chính đây là khoảng thời gian tích lũy của một chuỗi ngày dài “ham chơi”, một thời đã từng lên rừng xuống bể, vào Nam ra Bắc để ra đời “Miền gái đẹp”... Dường như anh không bao giờ dừng bước.

+
Có người nói “Ai đã đặt tên cho dòng sông” anh viết về Huế hay đến nỗi có lẽ chẳng còn ai viết về Huế hay hơn thế nữa, chỉ đứng sau Nguyễn Tuân, anh tự hào về điều đó?
- Không có gì làm mình khổ tâm bằng bắt mình tự so sánh với Nguyễn Tuân. Từ trước đến nay tôi vẫn coi ông là bậc tiền bối của mình. Nhưng như Nguyễn Tuân nói trong một buổi lễ trao giải của Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội, đại ý: Họ nói vậy nhưng chúng ta hy vọng viết khác thôi, khác hoàn toàn, không giống gì hết. Điều đó là đúng và tôi cảm tưởng rằng không thể nào viết được những cái như “Vang bóng một thời” (tác phẩm của Nguyễn Tuân - NV). Và tôi cũng thấy mọi sự so sánh đều khập khiểng.
+
Để bút ký sống mãi và đi vào tiềm thức của độc giả cần đến yếu tố nào?
- Theo tôi, để ký sống mãi là rất khó. Trước hết, phải có văn, phải có vốn văn học. Văn phong là yếu tố cần nhất của văn chương nói chung, ký nói riêng. Nếu ý tưởng hay mà thể hiện trong bài viết không hay thì không thể đi vào lòng độc giả được. Ngoài ra, nó còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác, ký là một cái gì có thật, không hư cấu, hoặc phải có cách viết mà độc giả đọc không cho đó là hư cấu. Điều tiếp theo là tính lạ. Dân gian có nói “khoai đất lạ, mạ đất quen”, thì yếu tố “đất lạ” phù hợp với một loại khoai là ký.
+
Trong nhiều tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có lẽ độc giả nhớ nhất tuyển tập “Miền gái đẹp”?
- Chưa hẳn. Tôi thường chọn chủ đề trong một tác phẩm. Nó không bao hàm cả cuốn sách. Còn “Miền gái đẹp” thì nói về mảnh đất có quá nhiều người con gái đẹp, không có gì là sâu kín ở đây. Tôi chỉ viết là yếu tố sắc đẹp...
+
Là một người được mệnh danh là “Người ham chơi”, yếu tố “ham chơi” giúp gì cho công việc của anh?
- Tôi cho rằng ham chơi cũng là một yếu tính của con người. Không chỉ làm, mà phải có chơi. Chơi cũng là văn hóa - “văn hóa chơi”. Ham chơi là hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật, triết lý nhân sinh... Đặc biệt những người viết thì rất cần điều đó. Chơi nhiều mới tích lũy thành vốn sống của mình. Không phải cứ cầm bút là viết được. Mà phải lấy kinh nghiệm sống của mình ra để nói chuyện với độc giả thì người ta mới muốn nghe.
+
Như vậy nhờ “ham chơi” mà anh có được những trang văn đặc sắc?
- Tôi không biết nó thể hiện nhiều không. Cái đó còn do độc giả đánh giá. Nhưng tôi thấy “ham chơi” cũng là một lối sống của nhà văn. Yếu tố ham chơi thể hiện được “chất hồn” trong văn chương. Nhà phê bình văn học nổi tiếng Kim Thánh Thán của Trung Hoa đời Thanh đã nói: “Nên coi tất cả không vì một mục đích nào cả. Hay là mục đích tự thân - tự nó là mục đích”.
+
Nhiều người nói văn của anh mang nặng yếu tố “Phù Du”?
- Phù du chỉ cái mỏng manh, không nắm bắt được, chóng qua... Hoa thì gọi là hoa Phù Dung, còn vật thì gọi là Phù Du. Mỗi buổi sáng thức giấc, người ta quét từng đống lá - Phù Dung, vun lại, bỏ lên xe chở đi. Loại Phù Dung sống trong nắng mưa. Có loài chỉ một ngày nở ra, rồi kết thúc... Mọi cái có thể là Phù Du. Vì vậy yếu tố Phù Du hay ám ảnh tôi. Chứ không phải là chủ đề.
+
Trong lời tựa của tập thơ “Người hái phù dung”, Nguyễn Trọng Tạo có đưa hình ảnh “Những con chim yến không làm tổ bằng nước bọt mà làm bằng chính máu mình; người ta gọi là yến huyết. Còn Văn Cao gọi là yến-thi-sĩ. Nó làm thơ để mà chết vì bài thơ nó làm ra”. Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã làm thơ bằng máu của mình?” - anh nghĩ thế nào?
- Cái này khó nói. Văn chương đòi hỏi cái gì hơn cả máu. Kiến thức vươn đến chân trời khác lạ lắm. Cuộc sống ở đâu, văn chương đến đó. Gọi là văn học không biên giới. Có một thời người ta cho rằng văn chương là phải có mấy chức năng. Tôi cho là không phải. Chức năng của nó là tất cả cuộc sống.
+
Tính cách quyết định gì trong cách viết, thưa anh?
- Tôi cho rằng, tính cách của tác giả thể hiện ngay trong từng trang văn. Phong cách và tư tưởng tạo nên nét riêng. Theo tôi, tính cách tùy người. Tính cách nào cũng thể hiện được: sự khẳng khái, trung thực, chân thành... Tôi cho rằng, tính trung thực của Nhà văn là rất cần thiết. Trước khi là Nhà văn anh là một Con người. Như vậy, một Con người phải có nhân cách. Bởi thế, ngày xưa, người thầy không chỉ dạy chữ nghĩa, mà dạy Đạo làm sao sống cho xứng đáng. Đó gọi là dạy nhân cách. Bây giờ, nhân cách không được chăm chút lắm, là cái yếu của Giáo dục nói chung, một số Nhà văn trẻ nói riêng.
+
Quan điểm của ông về văn chương và báo chí?
- Văn chương là một cách biểu đạt của con người trước cuộc sống. Báo chí là tự bản tân của cuộc sống.
+
Trong gia đình mình có nhiều “Nhà” như vậy (Vợ Hoàng Phủ Ngọc Tường là Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, con gái - Nhà thơ Hoàng Dạ Thi), vậy có chuyện “đấu khẩu” nhiều “nhà” trong một nhà và nó có giúp gì nhiều trong văn chương?
- Sống trong cuộc sống bình thường chúng tôi ít nói chuyện về văn chương. Thường nói đến chuyện “tương cà mắm muối”. Nhưng, đôi lúc cả nhà cùng bàn luận một số vấn đề về văn chương để cùng tương trợ cho nhau. Thì hòa hợp chứ không có vấn đề gì xảy ra.
+
Với Nhà văn, “mỗi nhân vật là một đứa con tinh thần”, cũng là một người “mình yêu”, thương; nghĩa là nhân vật “có vấn đề”, thế thì có bao giờ vợ anh - Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ “ghen” với nhân vật trong... sách không? Nhất là, ở thể ký, tính chân thật rất cao?
- Về đời thực, với quá khứ vợ tôi được cái là không bao giờ “phát biểu” điều đó. Vì hiểu rằng, quá khứ mỗi người đều được tôn trọng. Nghĩa là không bao giờ ghen với những người đã qua. Nhưng vô cùng ghen với những người đang có, nếu... Vì cô cũng là người đàn bà nên cô cũng phải giữ “thể diện” là người vợ. Trong văn chương, thì vợ tôi không ghen bởi vốn dĩ bà cũng là người theo nghiệp văn chương. Bởi văn chương nó có thế giới riêng, và nhân vật phần nhiều là hư cấu. Nhưng viết ký là có thật, những cái gì thuộc về quá khứ thì cô không thể ghen bởi lúc đó tôi chưa quen cô ấy.
+
Nhiều anh em văn nghệ sĩ ở Huế cũng như các địa phương khác cho rằng, trong thời gian qua, Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chăm sóc rất chu đáo, tận tình, anh hạnh phúc vì điều đó?
- Đúng. Một Nhà văn rất mong có một gia đình yên ổn, hạnh phúc. Nhất là đối với tôi. Yên một mặt mới lo được những mặt khác. Về gia đình Dạ thì Dạ lo được. Những lời khen đó xin dành cho Mỹ Dạ bởi gần 10 năm nay Dạ gánh vác công việc gia đình và chăm sóc tôi rất tường tận.
+
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trình làng cuốn sách viết về Trịnh Công Sơn?
- Đúng vậy. Do nhà xuất bản trẻ phát hành. Tựa đề cuốn sách là: “Trịnh Công Sơn và cây đàn Lia của Hoàng Tử Bé”, dày gần 150 trang.
+
Điểm khác của cuốn sách này với một số cuốn sách khác?
- Những cuốn sách kia chuyên về tài liệu. Còn tôi viết đứng ngoài tài liệu. Viết về cái nhìn của Trịnh Công Sơn trước cuộc đời, mỹ thuật.
+
Lúc bạo bệnh, sự sống - chết “đấu tranh” như thế nào trong anh?
- Khi đó thì tôi không phân biệt được sống hay chết. Chỉ dửng dưng thôi. Cuộc sống sẽ chẳng có ý nghĩa gì khi mình không đứng bên bờ vực của sự chết. Thế mới quý sự sống đến nhường nào.
+
Có một số thông tin cho rằng, anh chị có ý định bán nhà ở Huế vào TP HCM sinh sống, điều đó đúng không?
- Thông tin đó không đúng. Mà, tôi nghĩ nếu có cũng không nên đưa tin. Một Nhà văn bán nhà, thì không ít. Như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân... có cái gì bán cái đó. Đó là lẽ thường!. Còn đi khỏi Huế, tôi không có ý định đó. Tôi như một cái cây già cắm rễ ở đất này. Không thể bứng tôi đi nơi nào được. Đến một miền đất lạ tôi sẽ khó sáng tác. Từ trước đến nay tôi có nhiều dịp để đi khỏi Huế nhưng tôi nghĩ đi đến đó tâm hồn mình như một bản nhạc mà không viết ra lời.
+
Tôi rất ngưỡng mộ anh ở thể loại ký, anh là một trí thức uyên bác, nhạy cảm lãng mạn rất thi sĩ, đặc biệt ngôn ngữ hết sức kỳ lạ và đầy ma lực, vậy cá tính trong con người anh?
- Thời mình về Quảng Trị làm tạp chí “Cửa Việt” đất quê mình lạ lắm. Tiêu ở Cùa thơm có tiếng cả nước. Ớt ở Cam Lộ, Gio Linh cay chảy cả nước mắt. Mình cũng ngạc nhiên là có nhiều người ở Huế ra tận vùng ven thành Cổ để mua chanh, chanh ở đây chua và nhiều nước lắm. Còn ruốc đặt biệt thơm ngon ở Cửa Tùng, Cửa Việt. Có lẻ cái cay chua thơm ngọt cùng độ của cây trái đã tiềm ẩn trong mình. Mình đã sống bằng một khát vọng khám phá tận cùng những sâu thẳm của cuộc đời, đất nước. Và sáng tác, theo mình, chắc chắn nó cũng nằm trong thiên hướng đó.
+
Còn nỗi buồn?
- Nó vẫn là căn nhà nơi mà thi sĩ trú ngụ. Mình làm thơ khi cô dơn cùng cực. Nỗi buồn là một ám ảnh đôi khi như định mệnh. Nhưng bản chất sáng tác là gì, nếu không phải là một sự giải tỏa?
+
Dự định sắp tới của anh?
- Sắp tới tôi sẽ dồn tất cả những bút ký mình viết trong thời đau ốm, in thành tập sách để gửi tới độc giả như một món quà tôi vượt qua sự chết, vượt qua số phận. Vậy thôi!.
READ MORE - Hoàng Hữu Quyết gặp Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tuesday, February 3, 2009

Ngụy Ngữ

Hồ Hàm Thuận, BảoLộc

NGỤY NGỮ

TRỞ LẠI BLAO* VỚI VŨ TRỌNG QUANG



Tôi kiếm ăn bằng nhiều nghề khác
Làm thơ để được nhẹ lòng mình
(…)

Rồi. Tôi đã nghe Vũ Trọng Quang tâm sự điều ấy khi không ngờ mãi tới giờ anh ta vẫn gắn bó với thơ và cũng biết luôn tại sao anh ta cứ đem lòng “tự cư” vào những vùng tối thẳm bên sau những khoảng màu sặc sỡ mà anh ta đang có mặt, nói cười. Mãi bận rộn với bao nhiêu thứ “âm thanh và cuồng nộ” của đời, chúng tôi tình cờ gặp lại nhau khi Quang đang là người quản lý một vũ trường vừa mới được chỉnh trang, mở cửa lại. Trong tiếng ồn ào bên những cốc bia, chuyện mà chúng tôi mang ra với nhau là chuyện về Blao, nơi chúng tôi đã gặp nhau. Dĩ nhiên là chuyện cũ. Blao, một thời xa hút.

Thuở đó, trong chiến tranh, Blao là nơi cơ hồ đã bị bom mìn quên bẵng mất.Cũng có tiếng đạn đại bác ì ầm xa vẳng, nhưng không có những đàn trực thăng đen trời, không có những chiếc phản lực phô thân kim khí nhào lộn gào rú, không có những chiếc tăng hạng nặng nghiền xích qua các ngã ba ngã tư, không có những trái mìn kinh hoàng, những trái đạn pháo hoảng loạn và những đoàn dân tản cư bồng bế gánh gồng lếch thếch. Miền núi trong trí nhớ chúng tôi, Blao quanh năm đầm mình giữa hơi lạnh man thiên và sương mù trùng trùng trắng xóa. Phố khuất khúc. Đó đây trong phố vẫn còn những gốc cây rừng già và những cụm hoa rừng hoang dã mọc tràn ra cả mặt đường, nhất là ở quanh hồ đầy nước nằm giữa hai vùng phố mới cũ. Và quanh phố là những đồn điền trà, café. Xa hơn, là những xóm làng xanh kín vườn cây ăn trái, những ao hồ hoang vắng, những suối thác ít người tới lui. Xa hơn nữa là rừng thông, rừng già, núi, đèo… Không bao lâu sau vụ Tết Mậu Thân, tôi đến Blao từ Huế, ngỡ ngàng đứng lại trước vàng rộ của hoa quỳ dại kéo ngợp cả lòng thung lũng chạy dài hằng mấy cây số, thích thú với những cơn mưa xối xả nửa chiều, những quán café đêm đêm đóng cửa rất muộn, những buổi sáng phố xá trắng đặc sương mù. Huế cũng có sương nhưng là một thứ sương khác, loãng nhẹ, như khói. Đâu chỉ vừa đủ làm khuất màu áo trắng và mờ bớt nhân ảnh trước mắt Hàn Mặc Tử thuở nào hoặc như tôi thấy : sương lấm với khói xăng đặc và khói của bao nhiêu thứ khác có thể cháy được để quánh lại suốt tháng trên phố xá điêu linh. Sương mù ở Blao trắng hơn, lạnh hơn, dễ gợi đến cảnh non bồng nước nhược hơn: vừa đó trước phố cả ngọn núi Đại Bình đến sừng sững, thoắt cái chỉ còn phần đỉnh núi nhô lên trên biển sương mây như một hòn đảo lạc đường và cùng lúc mặt hồ bên ngoài cửa kính quán ăn trông ra đã như một vùng vịnh khơi bát ngát. Với sương mù, về đêm, nhất là những đêm sau buổi chiều có mưa lớn, phố xá khuất khúc chật hẹp trở nên huyễn hoặc lạ lùng. Tôi đã đắm vào trong sương mù phố xá ấy, đã nhiều đêm thức trắng với những quán café đóng cửa muộn và những quán ăn bày hàng sớm của nó, và cũng đã thức trắng bao nhiêu đêm với vùng đèo mà không chiếc xe chạy đường dài nào dám đổ đèo khi sương mù chưa tan.

Rải rác ven đường đèo cũng như nơi này nơi kia trong núi thường có những hố vực kỳ dị, sâu thẳm, vách đá dựng cao. Đứng trên nhìn xuống chỉ thấy những ngọn cây mọc vươn lên từ đáy vực, ở những đáy vực ấy thỉnh thoảng người ta vẫn tìm được những bộ xương người cạnh sắt thép của những chiếc xe mục nát. Đó chỉ là những vực ven đèo, còn trong núi, chẳng ai sức đâu. Muốn dò xét độ sâu thường người ta chỉ ném xuống một khối đá rồi lắng nghe tiếng đá rơi, nhưng thường cũng ít khi nghe được, bởi khối đá rơi xuống chạm vào cây cối tức khắc vẳng lên miệng vực ngay hàng nghìn vạn tiếng thú tiếng trùng và rồi kế đó là sương mù đã được ủ chìm dưới bóng lá bùng vươn dậy như một vị thần quái dị ngủ quên vừa được lay tỉnh. Tôi đã ném những khối đá ấy và đã quên. Tôi đã đến và đã đi : Blao, Đà Lạt, Huế, Saigòn. Những thành phố những bến xe những sân bay những đổi thay của thời cuộc và bao nhiêu thứ chuyện đời. Chẳng cách Saigòn bao xa nhiều lần tôi đã ghé lại Blao, và có lần như kẻ mộng du, tôi hỏi một người bạn : Sương mù đâu? Người bạn đã già, phố đã khác, bao nhiêu người quen cũ đã không còn, và chúng tôi không phải ngồi bên những ly café khuya muộn mà là bên những xị rượu cay nồng. Anh ta nói về nạn phá rừng, về việc định cư dân từ xứ khác đến và tôi lại lơ mơ nhớ tới những điều khác, những khuôn mặt, những ai đó đã khuất mù. Lơ mơ nhớ, lại quên… Và cái anh chàng Vũ Trọng Quang bại trận (Anh bại trận nên đầu hàng số phận) đã không chỉ quanh quẩn với những khoảng sáng tối của Saigòn hậu chiến và bâng quơ ngồi lại sau giờ các cô Lọ Lem hết được hưởng phép màu, mà còn đến Hải Vân với lòng chùng xuống theo mây ngang đèo và “Trở lại Blao” thẩn thờ đứng nhớ :

Trong không gian mù đục
trắng một ngày cuối đông
em như ẩn như hiện
em như có như không

Đôi chân ai bước nhỏ
dài khoảng trời chia tay
hai mươi năm còn đó…

Những câu thơ bình dị của Vũ Trọng Quang đã như một khối đá bất chợt ném vào vực – Blao – trong – tôi. Khối đá ném xuống và sương mù mê khuất dưới những tần lá tối bốc dậy, cùng lúc tiếng thú, tiếng trùng và cả nhiều giọng cao thấp vui buồn của tiếng người.

Văn học nghệ thuật nói chung trước hết là vũ khí chống lại cái chết và khuôn mặt dễ thấy nhất của cái chết là sự lãng quên. Trong “nhiệm vụ” ấy đôi khi nó chỉ cần giữ vai trò làm tiếng gõ cửa là đủ. Tiếng gõ và cửa mở ra những chân trời, quên lãng bị xóa bạt đi, cái chết bị đẩy lùi và cuộc sống chợt trở nên đáng sống đáng yêu và đáng đầu thai trở lại làm người bao nhiêu kiếp nữa để còn phải vay mượn trả đền. Cám ơn Quang.

NGỤY NGỮ

* Bây giờ là Bảo Lộc, thủ phủ tỉnh Lâm Đồng

ĐỌC THÊM
CON THÚ TẬT NGUYỀN, truyện ngắn
GIỮA BAO LA, thơ
READ MORE - Ngụy Ngữ

Sunday, February 1, 2009

Thơ đồng hương Quảng trị

Sáng mùng một tết con trâu, một số bác đồng hương Quảng Trị, tuổi trên dưới 60, gặp nhau tại một quán cà phê và ngẩu hứng làm thơ. Xin chép lại để làm kỉ niệm.

PHAN LƯU
Vô đề

Thôi thế cuộc đời - cuộc bể dâu
Trăm năm như gió thoảng qua cầu
Thương mình dầu dãi bao mưa nắng
Sực tĩnh trông gương chớm bạc đầu.


ĐÀO HUYNH
Kim ngưu tự cảm

Kỉ sửu vòng đời sáu chục năm
Oe oe dạo ấy giờ hoa râm
Nhất niên chập chững bên tay mẹ
Lục thập cận kề tuổi cụ ông.

Gia đình hạnh phúc ơn Trời Phật
Con cháu rạng ngời phước tổ tông
Đạo đức đảo điên, tâm định tuệ
Thế thời thời thế, sắc sắc không.


TRƯƠNG CÔNG HẢI
Vô đề

Sáu mươi năm tuổi võ vàng
Cây đời chưa rụng, trái sầu hoang...

LÊ VĂN TIỂN
Tình quê

Tình Quê * Quảng Trị mãi phân vân
Ngày tháng trôi đi đã chín lần
Ngồi lại đợt này tình thắm thiết
Chẳng dừng ngang đó - kết vui thân.

Anh em có trí - nên vai vế
Chú bác tỏ lòng - vững bước chân
Kính trên nhường dưới vui hòa hợp
Nở hoa kết trái mãi xoay vần.

Tình quê: đặc san Tình Quê của hội đồng hương QT tại Đà Nẵng.
READ MORE - Thơ đồng hương Quảng trị

Wednesday, January 28, 2009

TRẦN KIÊM ĐOÀN


Trần Kiêm Đoàn,
Giáo sư ngành Tâm lý trị liệu (Psychotherapy) tại Lutheran Pacific University ở California, Mỹ.

Chi tiết về tác giả, xin xem thêm trên trang web: www.trankiemdoan.net

Chúc Mừng Năm Mới

Hát nói bên Tây

BUÔNG !

Mưỡu

Ngồi buồn hát nói kiểu Tây
Ca xang giọng Mỹ lại dây tiếng Tàu
Xuân về, Người biết về đâu
Té ra trong cuộc bể dâu có mình

Nói

Happy New Year… Xuân về nằm ngủ
Cung Hỷ Pạt Chòi… ai nói nấy nghe
Ba mươi ba năm quy khứ lai hề [1]
Vuốt râu bạc không biết về hay ở


Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa, Triết Giang triều [2]
Hai phần đời vinh nhục đã nhiều
Tâm rỗng lặng bao nhiêu là thiếu đủ

Năm rất Mới đeo gì ba chuyện cũ
Có là không trên cửa ngõ vô thường
Sống chết giàu nghèo thương ghét thiệt hơn
Sớm hay muộn bàn tay trơn cũng thả

Biết về đâu giữa đời muôn vạn ngã
Mà trường sơn biển cả cũng hoàn không
Năm Mới, Xuân tươi rồi sẽ cũ úa mòn
Một lời chúc… ước mong còn ngó lại:
Đừng phí thời gian điều tuế toái… giản đơn, [3]
chắt lọc, rỗng từ tâm:
BUÔNG !

Trần Kiêm Đoàn


[(1) Đào Tiềm:
Quy Khứ Lai Từ :
Quy khứ lai hề, điền viên tương vu, hồ bất quy!

Tạm dịch:
Về đi thôi, ruộng vườn hoang phế, sao chẳng về đi!

[2] Tô Đông Pha:
Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều

Tạm dịch
Khói tỏa Lô Sơn sóng Triết Giang
Chưa đi đến đó hận không ngăn
Tới nơi về lại không gì lạ
Khói tỏa Lô Sơn sóng Triết Giang

[3] Thoreau:
Our life is frittered away by detail…
Simplify, simplify, simplify.

READ MORE - TRẦN KIÊM ĐOÀN

Tuesday, January 27, 2009

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - CHÙM THƠ


Nguyễn Đức Tùng sinh tại Quảng Trị. Bác sĩ y khoa, Đại học Mac Master, thường trú các bệnh viện Toronto, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ giáo dục, Đại học UBC, Vancouver. Làm việc tại một bệnh viện ở Vancouver, Canada.

Tác phẩm Thơ, tiểu luận, phỏng vấn, đăng trên các tạp chí Việt, Hợp Lưu, Làng Văn, Thơ, Chủ Đề, các báo liên mạng như văn học nghệ thuật, tiền vệ, talawas, da màu. In thơ trong tuyển tập 26 nhà thơ Việt Nam đương đại, NXB Tân Văn, 2004, và có jì dùng jì, NXB Giấy vụn, Sài Gòn, 2007. Tập sách phê bình Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn, NXB Tự Lực, Cali, 2007.

Chi tiết về tác giả, xin xem tại blog của Nguyễn Đức Tùng: http://nguyenductung.vnweblogs.com/album/2900/3206





NĂM BÀI LỤC BÁT




HOA ĐÀO

Hoa đào đã rụng hết rồi
Vừa gặp em. Mới một trời đầy hoa
Cho anh làm lại hôm qua
Thì anh vẫn sẽ như là hôm nay


XIN

Xin đi cho hết đường dài
Trả cho xong những đơn sai nợ nần
Rồi xin về trong đêm xuân
Đứng trong mưa gõ tần ngần cửa em


THÔI

Thôi em về với mùa thu
Còn anh về với bụi mù xôn xao
Chút tình xưa xin đừng trao
Anh cầm cành liễu chạm vào vai em


ĐẤT TRỜI

Đất trời nhẹ hẫng: vào xuân
Tay anh nhẹ hẫng: người thân mất rồi
Tình anh nặng quá: không lời
Mùi hương nặng quá làm rơi hoa hồng


50 NĂM

Năm mươi năm nữa em còn
Mùi thơm trong nách vết son trên người
Năm mươi năm nữa trời ơi
Tay anh đỏ vết răng người, còn không...




HẸN EM

Hẹn em ở cuối con đường
Lại gặp một dòng sông lạ
Cuộc đời trôi đi vội quá
Ra về đầy tay mù sương


Chim hót lơ mơ trên cây dừa lửa
Cháy dọc con đường không có tuổi thơ
Trưa xinh xắn mà đầy ảo mộng
Gió bay qua khuy áo ơ thờ


Nhà em thơm mùi canh dưa cải
Anh để mùa xuân dẫn tới đây
Sương và gió làm nên tất cả
Chút muối liu riu rắc lại đầy


Anh uống rượu mà em cũng say
Năm sắp hết tình mình không cạn
Lửa tĩnh điện trên tóc em tí tách
Thương một đời mưa bụi li ti


Nguyễn Đức Tùng




Đọc thêm:
ĐỌC MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO
ĐỌC MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO-2
BA CHÙM THƠ
WILLIAM CARLOS WILLIAMS: THƠ CÀI TRÊN TỦ LẠNH
BILLY COLLINS: MỘT NGÀY NỮA THÔI
MARY OLIVER: ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI
BÀI/TÁC PHẨM ĐÃ ĐĂNG TRÊN DIỄN ĐÀN HỘI LUẬN
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - CHÙM THƠ

Monday, January 26, 2009

Thơ VÕ QUÊ

Nhớ NGUYỄN HOÀNG

Võ Quê


Thăm trưòng cũ

Tên trường không còn nữa

Ngẩn ngơ đau

Vừa mất một điều chi?

Gió Lào thổi xạc xào ngọn liễu

Quá khứ về trong ký ức chiều ni



Thuở nón trắng em thơm

Thuở quần anh xanh ngắn củn

(Cha mẹ nghèo con lại lớn nhanh)

Thầy trò tứ xứ sân trường chật

Thuở thương nhau áo rách nên lành



Thuở bằng hữu lên xanh

Thương người ở lại

Xuống đường

Hào khí tiếng loa vang

Quảng Trị rung lên

Những mùa tranh đấu

Em bên anh sát cánh

Nguyễn Hoàng!



Dĩ vãng đẹp câu hò Ái Tử

Nơi tiền nhân khai mở nước non nhà

Tên Nguyễn Hoàng đã hồng trang sử

Lại nhân từ trong tâm khảm học trò quê



Về trường cũ

Không gian xưa còn đó

Mà tên trường lẩn khuất phương mô?

Nhớ Nguyễn Hoàng

Bạn ơi ta nhớ!

Cái tên Người xuyên suốt một đời ta




Những bài thơ hoa



HOA NGÔ ĐỒNG



Hoa ngô đồng tím ngắt chiều thơm

Anh mời em ngắm màu hoa tím

Hiểu nhau rồi tình yêu bất biến

Chim phượng hoàng gọi bạn đậu cành ngô



HOA QUỲNH



Em trẻ hoài trong đôi mắt anh

Có phải tình yêu níu thời gian đứng lại?

Em: đóa hoa quỳnh trong đêm tình ái

Nở trắng đời anh ngan ngát hương



HOA SẦU ĐÔNG



Lá sầu đông rụng vàng ngày đông

Cho hoa trắng đan mùa xuân tím

Đến rồi đi tình yêu ẩn hiện

Hương sầu đông tìm em giêng hai



NGỌC LAN



Em: bông hoa trong vườn anh

Thơ ngợi ca tình yêu, ánh nắng

Ngợi ca em tâm hồn sâu lắng

Hương ngọc lan thơm đêm thu này



ĐÀI SEN



Nụ hôn thơm hương một đài sen

Đằm trên môi thanh khiết

Ta tìm đến đời nhau bất tuyệt

Nụ hôn dù khoảnh khắc vẫn nồng say


VÕ QUÊ
READ MORE - Thơ VÕ QUÊ

Friday, January 23, 2009

Thơ Xuân của VÕ VĂN HOA



VÕ VĂN HOA

KÝ HỌA MÙA XUÂN

Quà của rừng
Một giỏ Nghinh Xuân
Cùng trời trong mây trắng
Hoa xoan tím bên giòng sông phẳng lặng
Thuyền ngư phủ buông câu
Anh biết nói gì hơn đâu!
San hô hồng cảm xúc
Một chiều sân nhà em
Vàng cánh mai rơi...
Anh hiểu Mùa Xuân đang đến...


VÀO XUÂN THÀNH CỔ

Ba mươi năm sau anh trở về chốn cũ
Mùa xuân Thành Cổ

Ba mươi năm sau anh về đứng lặng dưới hàng cây
Cõi thiêng chốn này!

Ba mươi năm sau có người tóc bạc
Làm sao quên một thời trận mạc.

81 ngày đêm cả nước hướng về
Mưa không làm ai bi lụy não nề!

Ba mươi năm sau, anh trở về Thành Cổ
Đường Quang Trung còn đây,
Bờ Thạch Hãn còn đây!

Dòng sông hoa tưởng niệm nở đầy
Các Anh về cùng mùa xuân Đất Mẹ.

Võ văn Hoa
2003



READ MORE - Thơ Xuân của VÕ VĂN HOA

Thursday, January 22, 2009

CÂY CHUỐI - BÀ MẸ QUÊ



CÂY CHUỐI - BÀ MẸ QUÊ


Nguyễn Đặng Mừng


(Kính tặng những bà mẹ quê và làng Cổ Lũy của tôi)



Nếu cây tre được ví, được xem như là biểu tượng của sự vững chãi cứng rắn, mang dáng dấp người cha, thì cây chuối ngược lại luôn mềm mại, dịu dàng như người mẹ vậy. Người ta đã ca ngợi nhiều về cây tre, nhưng ít ai nói về cây chuối. Có chăng chỉ lạc lõng trong vài câu ca dao thường là buồn bã: “ Gió đưa bụi chuối sau hè ”. Có điều gì đó không công bằng với chuối.
Mỗi lần về làng quê, nhìn những bụi chuối luôn khiêm nhường sau hè nhà, bên chuồng bò chuồng lợn, lại nghĩ về những bà mẹ quê. Trải qua hàng ngàn năm phong kiến, thân phận người phụ nữ bị rẻ rúng, cây chuối cũng mang thân phận như thế, cho mà không nhận. Ở rất nhiều vùng quê Việt Nam, nếu bạn quan sát kỹ thì ít khi chuối được trồng trước nhà. Vì sao ư, tôi cũng không biết nữa. Có người giải thích với tôi rằng “ tiền đàng bất khả thụ ba tiêu ” (Trước nhà thì không được trồng chuối), hoặc là “ chuối sau cau trước ”. Người ta sợ cây chuối mang nhiều điều xui xẻo chăng! Lại liên tưởng đến hình ảnh người mẹ, người chị, mỗi lần đến nhà bà con hàng xóm, không bao giờ các người ngồi căn giữa. Hay là cây chuối chỉ có giống cái, không chồng mà có chửa.
Chuối khoe rằng chuối đồng trinh
Chuối ở một mình sao chuối có con




Nhớ lại những năm tháng còn ở làng quê, trong lúc cha ngồi đánh cờ tướng uống trà với bạn bè, thì mẹ ngồi ở nhà dưới, bên chuồng heo xắt chuối. Tiếng xoàn xoạt của nhát dao hòa trong tiếng kêu đói của bầy heo. Những lát chuối trắng nõn nà mà bạn có thể xếp ra chơi đồ hàng, bạn có thể nghịch với nó bằng cách lấy ra từ tim lát chuối những khoanh tròn, kéo thành kính đeo mắt. Đôi mắt của mẹ sẽ nhìn xuống cười buồn như thông cảm với hoàn cảnh của con mình, chẳng có món đồ chơi nào ngoài chuối, với mẹ. Nếu lúc đó mà em bé khóc, mẹ sẽ ngắt ngọn lá chuối cuốn lại thành kèn để dỗ em. Âm nhạc đầu đời mà bạn nghe đó là tiếng te - te của kèn chuối sau tiếng hò da diết:
Gió đưa bụi chuối te tàu
Chồng Nam vợ Bắc làm giàu ai ăn


Mẹ cũng có thể tết cho em bé một chiếc võng toàn bằng dây chuối, buộc giữa hai bụi chuối, vừa mát lại vừa êm.
Mẹ đi chợ. Hai anh em ngồi đợi mẹ về. Những trò chơi lại bắt đầu từ chuối. Này nhé, bạn có thể lấy cọng lá chuối cắt thành khẩu súng trường, phía trên tỉa năm sáu lá, gỡ lên, dùng tay phải vuốt từ sau ra trước, bạn sẽ có khẩu súng nổ liên thanh đấy nhé. Nếu cần đánh võ, thân chuối sẽ là đối thủ mềm mại và ngoan ngoãn để bạn tha hồ đấm đá. Bạn cần đá banh ư, hãy xin chuối một ít lá khô, dùng dây chuối buộc thành trái banh. Nếu bạn khéo tay hãy dùng dây chuối khô nhúng trong nước năm mười phút, tước nhỏ để bện trái banh tròn, đá cũng “kêu” không kém banh da. Trong lúc đùa nghịch nhớ đừng để mủ chuối dính áo, nhất là áo trắng đi học, thì có mà ăn đòn.
Rồi mẹ về, ngoài những thức ăn như ruốc, cá khô, được gói trong lá chuối (không ô nhiễm môi trường như bao ni lông bây giờ), còn quà của bạn không thể thiếu vài ba trái chuối.
Bạn lớn lên cùng chuối, bên mẹ. Mẹ sẽ hò:
Được mùa chớ phụ môn khoai
Đến năm Thân Dậu biết lấy ai bạn cùng
”.
Năm đói Thân Dậu thì làm gì có môn có khoai, chỉ có củ chuối đấy thôi. Thân chuối non thì thái ra ngâm nước muối làm dưa. Heo và người đều nhờ vào chuối để sống. Rồi lụt lội ngập tràn thôn xóm, cây chuối sẽ làm bè cứu bạn. Sau một trận chiến làng xóm tan hoang, cháy rụi, cây chuối sau khi làm nhiệm vụ che chắn cho bà con sẽ chết sau cùng vì thân chuối nhiều nước và sẽ là cây mọc lên nhanh nhất để che mát và cứu đói dân làng.
Những ngày hoạn nạn cơ cực sẽ qua đi. Những ngày hạnh phúc sẽ tới. Chuối luôn bên cạnh bạn để chia ngọt sẻ bùi. Ngày tết đến, trên bàn thờ tổ tiên không thể thiếu nải chuối. Nem, chả, bánh chưng, bánh tét đều mát rượi màu xanh của chuối. Ngoài những mâm cỗ giỗ chạp được lót bằng một tàu chuối xanh bên dưới xôi, thịt luộc, chuối chát khế bên trên ; còn bắp chuối sẽ là loại “rau sống” hảo hạng. Bắp chuối đem bóp thấu với đậu phụng da heo thì trở thành món cao lương mỹ vị. Trong thời buổi rau gì cũng bị ô nhiễm thuốc sâu rầy, có lẽ bắp chuối là loại “rau” tinh khiết nhất. Tôi chưa thấy loại cây nào mà ta có thể dùng từ gốc đến ngọn, thậm chí còn dùng làm phân xanh, chất đốt như cây chuối.
Bạn muốn dạy em học mà không có giấy để viết ư, hãy xin chuối cho một “trang” lá, trải ra bạn sẽ có một “trang giấy” màu xanh có kẻ dòng đều đặn. Dùng viết bi đã hết mực, bút chì hoặc chiếc đũa vạt nhọn cũng được, viết trên lá chuối bạn sẽ có nét chữ sắc sảo lạ thường. Ông Châu Trí bên Tàu ngày xưa có thể cũng đã dùng lá chuối để viết, lá chuối khô đốt lên làm đèn để học chăng
Còn ông “ Trần Minh khố chuối ” nữa, cây chuối đã giúp ông vượt qua đói nghèo, những bẹ chuối khô được đóng khố để qua ngày rét mướt (?)…Cuộc đời khi cùng cực lao đao cũng được ví “ te tua như tàu lá chuối ”.
Bạn đi học đường xa, cha đi làm ruộng tối mới về, mẹ sẽ gói cho những gói cơm bọc trong lá chuối. Cơm nóng bọc trong lá chuối, trưa mang ra ăn với ruốc sẽ cho bạn hương vị đặc trưng để cả đời không quên nổi. Những nhà hàng cao cấp hiện giờ vẫn dùng bẹ chuối, lá chuối trong các món nướng. Đã có nhiều công ty Việt Nam xuất khẩu lá chuối ra nhiều nước trên thế giới.
Chuối luôn ở bên cạnh bạn từ thuở thơ ấu cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, bạn sẽ được nằm trong chiếc quan tài êm ái ở quê nhà, thăng bằng nhờ vào những đòn gối làm bằng thân chuối. Bát nhang cũng được làm bằng thân chuối con, thật tiện.
Tôi có nghe kể về tục lệ ở một vùng quê Quảng Nam, khi người mẹ đang mang thai qua đời, chôn cất xong, gia đình phải trồng bên mộ một cây chuối, cho đến lúc trổ buồng người mẹ mới làm tròn thiên chức và mới được siêu thoát. Người “ mẹ chuối ” cũng chỉ sinh nở một lần trong đời rồi chết, thân rục xuống làm phân bón cho những cây chuối con tiếp tục lớn lên để giúp ích cho người.
Tôi có đến thăm ngôi mộ người mẹ của bạn đưa từ Mỹ về, rất ngạc nhiên khi bạn tôi chôn cất mẹ giữa một vườn chuối. Anh ta sưu tầm đủ loại chuối. Nào là chuối già, chuối chà, chuối sứ, chuối cau…Phải kể là hàng chục loại chuối. Sau khi thắp nhang bạn tôi nhìn sâu vào vườn chuối, đôi mắt đẫm lệ, anh kể:
-Tôi đưa mẹ tôi sang Mỹ định cư đã được mười năm, vì ở đây không còn ai. Tôi là con duy nhất của mẹ. Người già ở Mỹ thì anh biết đấy, cô đơn lắm. Những năm gần đây bà ốm đau luôn. Thương mẹ quá có lần tôi nói: “ Bây giờ mẹ thích gì con chiều nấy ”. Mẹ tôi nói: “ Mẹ về Việt Nam thì không còn ai, mẹ sẽ ở lại với con cháu đến lúc qua đời, nhưng con hứa với mẹ một điều là phải đưa xác mẹ về làng, và nhớ trồng bên mộ mẹ một bụi chuối ”. Im lặng một hồi mẹ tôi lại nói: “ Ở vườn nhà mình có trồng được chuối không con? ”. Tôi bảo: “ Được nhưng mùa đông sẽ chết ”. Mẹ tôi im lặng, trong mắt bà có ngấn nước. Mùa xuân năm ngoái tôi đi công việc ở Nam Mỹ, đem về một cây chuối con, trồng ở vườn, gần phòng mẹ. Cây chuối lớn nhanh phổng phao lắm. Thân chuối trắng như lông tơ trên da con gái dậy thì. Sáng chiều mẹ tôi ra thăm, có lúc ngồi hàng giờ với cây chuối. Rất buồn khi mấy đứa cháu nghịch rách lá. Mùa hạ rồi mùa thu cây chuối lớn nhanh như thổi. Những búp chuối con cũng nhú lên từ gốc. Tôi đọc được trong mắt mẹ niềm hạnh phúc về ngày đơm hoa kết trái. Năm đó mùa đông đến sớm. Khi cây chuối mới nhú bắp thì nhiệt độ ngoài trời thay đổi đột ngột. Tuyết rơi trắng khắp vườn. Sáng ra, như thường lệ mẹ tôi ra thăm chuối. Nhìn cảnh tượng cây chuối vỡ toác, ứa ra màu trắng của tuyết, mẹ tôi đột quỵ và qua đời ngay sáng hôm đó. Trước khi đưa thi hài mẹ về quê, tôi lập một am thờ ngay vị trí cây chuối đã chết, để thờ chuối và mẹ ”.
Bạn tôi khóc, tôi cũng khóc. Tôi nhớ làng quê và mẹ tôi da diết. Tôi tin các bạn từng ở vùng quê cũng cảm động khi tôi kể chuyện này.
Những năm bỏ làng vào vùng Đông Nam bộ, khi thu hoạch chuối thấy người ta phạt ngang thân chuối cho gục xuống để cắt buồng, tôi xót trong lòng. Khi đốt rẫy chuối cũng cháy theo, tôi lại nhớ những năm chiến tranh ở quê nhà. Hồi còn ở bậc trung học tôi rất ghét phải đọc “ Chém treo ngành ” của Nguyễn Tuân. Trong truyện ngắn ấy biết bao thân chuối tội nghiệp gục dưới tay đao phủ. Tôi chỉ đọc một lần mà rờn rợn đến bây giờ.
Khoảng năm 1992 tôi có viết một tạp ghi ngắn trên tờ Tuổi Hồng về lợi ích của cây chuối trong mục “ Tuổi hồng tìm hiểu ” dành cho tuổi mới lớn hiểu về những phong tục tập quán Việt Nam. Bạn bè bảo bài viết xúc động. Còn tôi, tôi vẫn nợ cây chuối đến tận bây giờ.
Tôi có xem một số tranh ảnh nước ngoài, khi mô tả về phong tục tập quán Việt Nam, có rất nhiều tranh ảnh dùng cây chuối làm nền, như là một biểu tượng làng quê chứ không phải cây tre. Người ta nhìn mình như thế. Còn tôi, tôi lại nghĩ, nếu thiếu cây chuối trên đất nước mình thì nền văn hóa lịch sử có khác bây giờ không; biết đâu tính hiền hòa nhân ái của dân Lạc Việt lại không bắt đầu từ cây chuối, từ mẹ.
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau
.


Nguyễn Đặng Mừng



Sáng tác khác của Nguyễn Đặng Mừng:
Những vần thơ lạc
Chị cũng như em, truyện ngắn
Đồi ma, truyện ngắn
Mãi hoài như rứa, truyện ngắn
Nhớ ruộng nhớ đồng, truyện ngắn
Nước nhảy lên bờ, truyện ngắn
Tản mạn quê nhà, tản văn
Thì trân, truyện ngắn
Vẳng lại âm buồn, tản văn
Về làng, tản văn
Bắt bóng, truyện ngắn

READ MORE - CÂY CHUỐI - BÀ MẸ QUÊ

Friday, January 9, 2009

NG.ĐẶNG MỪNG nhận giải truyện ngắn hay



Nguyễn Đặng Mừng vừa được báo SÔNG HƯƠNG tặng giải truyện ngắn hay.
Người trao giải là ông Nguyễn Khoa Điềm. Bên cạnh là nhà văn Trần Thùy Mai.
READ MORE - NG.ĐẶNG MỪNG nhận giải truyện ngắn hay

Sunday, January 4, 2009

PHẠM HÒA VIỆT



XUÂN TỨ



Thêm một tuổi cành đời vững chắc

Lá chen hoa xuân tứ đầy sân

Như cuộc sống hồng thêm màu sắc

Quá khứ tương lai lại xoay vần...



Thêm một tuổi dặm đường chất ngất

Tình yêu nào chắp cánh thiên thần

Trái tim nào soi lòng ẩn trắc

Em trong ta hòa quyện mùa xuân...



Xa cơn rét vườn đông chớm nắng

Nụ hôn dài nẩy lộc sinh sôi

Những chàng trai xây mùa chiến thắng

Trăng sơ huyền ai khép làn môi...



Chừ gặp gỡ tấc lòng thế hệ

Trái tim nồng mở rộng thênh thang

Gió lay nhẹ cành đời diễm lệ

Em trong ta xuân tứ ngập tràn...



Ta cảm thấy tâm hồn trẻ lại

Hương thời gian xóa bỏ cành hư

Hảy chia xẻ mảnh đời ngang trái

Em trong ta hòa quyện sóng từ..





ĐÊM MÙA ĐÔNG TĨNH LẶNG



Bên nhau thềm hương vắng

Cỏ ướt lạnh bờ mương

Đêm mùa đông tĩnh lặng

Đất trời bồng bềnh sương...



Từ cánh đồng xa thẳm

Vòi vọi muôn nghìn sao

Cả không gian tinh khiết

Tóc hong gió thì thào...



Đêm mùa đông tĩnh lặng

Đan kẻ một vòng tay

Im nghe thời xa vắng

Đôi lòng như ngất ngây...

PHẠM HÒA VIỆT

(Tặng Kim Cúc)
READ MORE - PHẠM HÒA VIỆT

Friday, December 19, 2008

THÁI ĐÀO - MIỀN RỪNG NẮNG GIÓ

Miền Rừng Nắng Gió

Truyện ngắn của Thái Đào



Khoảng sau khu chợ là cái ao chuôm, vượt khỏi cái ao theo con đường mòn đi về phía mặt trời lặn là cổng. Ngôi mộ cô ấy nằm bên trái cổng chừng vài mét. Tôi nhớ rõ là như vậy.

... Anh bây giờ khó tìm được mộ cô ta, vì người ta xây dựng bề bộn quá. Không hiểu cô ta còn được yên nghỉ ở đó hay không. Nói phải tội! Không chừng người ta bốc dỡ mang lên đồi rồi. Hay tồi tệ hơn, người ta xây nhà đè lên ngôi mộ.

Người đàn bà nói thế và rót nước mời Thao. Thao, tóc đã hoa râm, áo bạc thếch mầu, có đôi mắt buồn bã:

- Tôi đi làm ăn xa quá. Có tội với cô ta. Đã để cô ta ở tại đây một mình, không ai hương khói.

Thao nói thế và cúi mặt xuống. Người đàn bà ái ngại mở bao thuốc lá ngoại mời khách.

- Hút thuốc đi anh. Có lẽ anh phải ở lại nhiều ngày để tìm kiếm. Tôi thấy việc tìm kiếm không phải dễ. Nhưng anh đừng buồn. Vong hồn cô ấy sẽ phù hộ và anh sẽ tìm kiếm được.

Thao gật đầu và dõi mắt nhìn ra con đường...


Con đường hun hút bụi mù chạy thẳng qua triền dốc, vắt mình lên lưng đèo và đổ xuôi về bên kia dãy núi rừng phía tây. Đó là con đường xuyên qua biên giới. Nó vượt cửa khẩu mạn phía Tây, đổ xuống thung lũng mạn phía đông. Thị trấn, làng bản và khu thị tứ miền rừng xây dựng ven hai bên con đường làm nên một phố núi với nhiều hàng hóa ngoại nhập. Cơ man là hàng hóa được bày bán ở khu phố chợ. Xe Dream, quạt máy, nồi điện. Bia ngoại. Thuốc lá ngoạị Quần Jean, áo thun. Tất cả chừng như phá vỡ miền biên cương, nối cầu tri âm hữu hảo, nối bờ cõi này với bờ cõi kia bằng con đường buôn bán. Cả một miền rừng ngày nào bây giờ nhập nhằng, xao động, nhốn nháo trong cảnh mua - bán và bán - mua, hợp - pháp và bất - hợp - pháp.


Thao ngồi yên, anh cảm nhận sự đổi thay bằng một sự trống rỗng của tâm hồn. Phố núi bây giờ nhà cửa xây dựng đồ sộ, tiện nghi đời sống đầy những hàng hóa cao cấp, hiện đại. Điều anh ngỡ ngàng, nhói nhói là các mốt văn minh đều có mặt ở đây. Quán bia ôm đã vào tới các làng bãi. Nhà hàng Hương Rừng đủ các em tươi mát. Dịch vụ Karaoke ôm không thiếu. Các em xinh đẹp, điệu đàng từ mọi miền đất nước cũng nhanh chân chiếu cố tới mảnh đất này... Điếu thuốc trên tay Thao cháy tàn lúc nào không biết...


Chiều xuống vội.

Mặt trời lặn sau lưng đèo, con đường chìm khuất theo khoảng khắc lụi tàn của ánh nắng.

Thao vẫn ngồi im. Người đàn bà giọng ái ngại:

- Rất nhiều năm như thế mà anh vẫn còn khó khăn à...

ý nghĩ của chị là Thao vẫn còn nghèo khổ, vẫn còn chật vật với cái ăn, cái mang, cái tiêu dùng trong sự sống. Thao gật đầu, cười buồn. Mái tóc anh đã hoa râm. Nếp nhăn trên trán đã in hằn và đôi mắt đã bạc thếch mầu thời gian. Thao buông thõng đôi tay, đôi gò vai nhô lên dáng gầy gộc, héo tàn. Một đời người gần như đã mãn. Giọt nước mắt trên má anh lăn xuống. Mộ phần người xưa đã mịt mù, mất dấu.

Người đàn bà buông tiếng thở dài...


Cùng với những chủ hàng đầy mình thế lực, Thái đen là đại ca vùng phố núi. Mạn rừng chạy dài trong bán kính mấy chục cây số gồm các sắc dân: người Lào, người Kinh, người Bru, Vân Kiều, Tà Ôi. Quần cư, hội tụ trong một khoảng không gian rộng lớn, có thêm nghề buôn bán, gùi hàng, thồ hàng lậu qua về biên giới - Thái đen có dưới trướng cả mấy chục đệ tử và dân cửu vạn làm thuê. Tất cả bọn thanh niên thất tán, không đồng xu dính túi, mò đến đây kiếm ăn, Thái đen sẵn sàng thu nạp. Bên kia sông, phân ranh hai nước Việt - Lào, đồng vốn của Thái đen trải đầy cho các chủ hàng đồng sự. Dưới mạn xuôi, vốn hắn cũng phủ đủ cho các trạm trung chuyển và tiêu thú. Hàng đối lưu hai chiều, qua và về biên giới, hàng hợp pháp và bất hợp pháp, một tay hắn điều hành và chỉ đạo. Trợ lý hắn là bà vợ xinh đẹp nhưng đẫy đà, to béo. Thị sung mãn sức lực, mắt long lanh sáng quắc vì tiền (cặp vợ chồng này, bổ sung cho nhau, ngón nghề nào cũng thạo. Bạo lực và mua chuộc... Đó là chiến lược làm ăn trường kỳ của họ.


Thái đen vừa là hùm vừa là cáo của cửa khẩu miệt rừng. Bàn tay hắn nắm lại là nắm thép, sẽ đập vỡ tung những chướng ngại sắt đá. Đôi môi hắn nở nụ cười, là tình cảm thấm sâu vào phe đối tác, sẽ trơn tru, trót lọt cho những đường đi lối về.


Con cáo già khi đã tu luyện thành tinh, thì nó đã biết biến hóa đủ trò, ma thuật đủ ngón.


Trong thế giới làm ăn vùng cửa khẩu, nghe danh Thái đen người ta phải cúi đầu bái phục.


Thế nhưng, đã mấy hôm rồi, lòng hắn bực bội. Hắn bị ám ảnh bởi cái gã đàn ông phát vãng ở đâu dẫn xác đến vùng này. Thằng cha không thuộc ngành buôn bán, chẳng phải gùi hàng thuê. Hắn như bóng ma, thầm lặng lẩn quất quanh ngôi nhà của Thái đen. Hắn là "cớm" trá hình theo dõi chuyện làm ăn của Thái đen chăng? Hay là một tay đâm thuê chém mướn được một đại ca nào đó phái tới để thanh toán Thái đen...


Thái đen vò đầu, bứt tai... Hắn đã cho đàn em bám riết cái gai đó. Bọn đàn em... chỉ là đồ vai u, thịt bắp, dốt nát vô hạn. Chúng muốn dần thằng cha một trận...


Nhưng, Thái đen không chịu vậy. Hắn có kế sách hành sự riêng. Lòng hắn căm lắm. Chơi đòn sát thủ hắn là chuyên gia hạng nhất. Nhưng chưa vội. Không thể động tí xích mích, hằn thù là xơi tái lẫn nhau. Phải sáng danh sự lẽ. Đánh cho kẻ thù kệch tới già để biết Thái đen là tay anh chị khó chơi... Niềm quang vinh của nắm đấm đã đưa Thái đen lên chót vót đỉnh cao của ngành đại ca vùng cửa khẩu. Hắn đã từng là võ sĩ, một thời nổi tiếng hạ nốc ao đối phương. Sức mạnh võ lực giúp hắn tạo dựng cơ đồ, làm nên sự nghiệp. Thái đen công kênh thằng con trai yêu quý của hắn lên vai. Cậu quý tử mười tuổi, nghịch như quỷ, cười khanh khách trên vai bố, đưa tay chỉ lên đồi cho bố thấy gã đàn ông xa lạ còn thẫn thờ nhìn trời, nhìn đất...

Trong ký ức không bao giờ quên của Thao là sau cái ao chuôm, có con đường chạy thẳng về phía mặt trời lặn. Qua cái gò cao, nhìn qua bên kia thung lũng mịt mù sương khói là cái cổng. Đúng như người đàn bà đã nói - Ngôi mộ cô ta đặt nằm cạnh đó. Nhưng trời đất đã đổi dời, một miền rừng hoang vu đã thay đổi tất cả. Ngôi mộ đã mất dấu. Ngôi nhà hai tầng đồ sộ đứng ngay vị trí ngôi mộ xưa kia. Dọc theo con đường mòn dẫn vào núi ngày xưa, giờ trải nhựa và mở rộng là phố núi sầm uất. Cư dân miền xuôi lên lập nghiệp. Thị trấn cửa khẩu mở toang ra. Chào mời.


Thao đã lạc lối. Anh vật vờ như kẻ mộng du...


Thao không còn thiết gì đến ăn uống, nghỉ ngơi. Tiếp những ngày dài ròng rã. Thao vất vưởng trên những ngọn đồi, băng xuống những khe suối, vào sâu các làng bản. Thao tìm kiếm lại dấu tích của đời mình...

Hơn hai mươi năm trước, Thao còn là một chàng trai trẻ, vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, người còn mang thương tích, hồn trống không đơn độc. Sau những cuộc săn đuổi của đạn bom và cái chết, sự sống căng ra, vật vã với mưa rừng, thú dữ, cái đói và sốt rét rừng... Người trai trẻ trở về, tìm chút bằng an trên nụ cười của đồng bào làng bản. Phút hạnh phúc bất ngờ bên những con người hồn hậu, tươi tắn lên cõi hồn khắc khoải của anh. Làng bản vui mừng chào đón anh. Những củ sắn nướng, những con cá bắt được ở dưới bờ khe, những tảng thịt săn trên miệt rừng hun hút. Ôi tình cảm biết là bao... Năm đó Thao ở lại đây. Chàng tiếp tục trận chiến mới. Trận chiến xóa mù vùng cao.

Hơn hai mươi năm trôi qua trong ký ức của Thao. Thuở đó anh và chị đã gặp nhau ở đâỵ ở chính cái vùng đất cửa khẩu biên giớị Tiếng súng lúc này vẫn chưa im hẳn. Biên giới phía Bắc còn rực lửa. Mặt trận biên giới phía Nam còn kêu gọi xương máu. Tháng ngày đó có nhiều bất trắc và gian nan. Nhưng sao những con người nơi đây hồn nhiên quá đỗi. Họ hồn nhiên với cả nghèo nàn và đói cực. Họ đùm bọc nhau dưới mái nhà chung của những con người sống sót sau một cuộc chiến tranh.

Thao nằm dài ra trên mặt đất, ngửng mặt nhìn trời. Nhìn những tảng mây trắng từ quá khứ xa xôi, lãng đãng trôi về. Trời trong và xanh quá. Người con gái ngày xưa có mái tóc dài theo mây bồng bềnh trôi về. Em cũng từ cuộc chiến tranh trở về... Không cần kêu gọi, nhưng em tình nguyện đến đây, cũng với nghĩa vụ chống mù vùng cao.

Thao khóc. Nước mắt anh chảy tràn vào lòng đất. Thao khóc đến rã rời thân xác. Và cứ như thế, anh nằm ngửa, giang rộng hai tay nhìn trời.

Ở bên trái cổng là ngôi mộ... Nhưng ngôi mộ đâu rồi! Tòa nhà hai tầng khang trang đồ sộ đã choán mất phần mộ của em. Người đàn ông đập mạnh hai bàn tay xuống đất, anh cào cấu đất đai, như bắt đền người mẹ đất đã quên đi xương máu, hài cốt của những đứa con mình. Bà mẹ đất đã thiên thu im lặng. Bà mẹ đất đã để mặc gió trời gào hú và con người mặc sức quần thảo với nhau để tranh giành cái gọi là sự sống sinh tồn.

Ngày hôm qua, Thao đã tìm vào ngôi nhà hai tầng đồ sộ đó. Chủ nhân của nó đã tiếp anh với một lũ tôi tớ dữ dằn vây quanh.

- Thưa ông, chính miếng đất này ngày xưa tôi đã chôn cất vợ tôi. Tôi vì làm ăn phương xa nên lâu rồi không hương khói được. Nay trở về thì không biết mộ phần của vợ ở đâu. Xin ông chỉ cho... ông đã cất dời đi đâu, hay vẫn còn nằm lại trong khuôn viên này.

Gã chủ nhà tái mặt. Vợ hắn cũng bất ngờ đến run bắn người lên. Những giây phút thật nặng nề trôi qua thật lâu. Gã đàn ông chủ nhà khoát tay, gằn giọng:

- Không có mồ mả gì hết. Nói thế là hồ đồ. Tôi xây dựng một cơ ngơi thế này phải điều nghiên, khảo cứu chứ! Dám làm chồng lên mồ mả người ta mà ăn ở được à! Ông quên cái tư tưởng ấy đi và cút xéo ngay. Đừng đến đây kiếm cớ gây sự. Tôi cảnh cáo ông. Ông có ý đồ gì thì chớ trách tôi. Thái đen này không phải hạng dễ chơi.

- Nhưng thưa ông, chính tay tôi đã chôn cất vợ tôi dưới đất nàỵ

- Cút xéo ngay... Còn nói năng bậy bạ nữa là ông hết đường về.

Và cái lũ tôi tớ dữ dằn vây quanh cũng nhao lên, hùa theo chủ:

- Xéo đi cha ơi! Con ớn cái ngu dại của cha quá.

- Thôi mời bố ra cho - bố chọc giận lũ chúng con, thì lũ chúng con không nể tuổi bố đã lớn đâu.

Thao đã không tranh cãi nổi với lũ người mồm mép nhặng xị đó, anh lại thất thểu lên đồi. Thôi thì, không định vị được phần mộ của cô ấy ở đâu. Thao lấy cả miền rừng này, cả vạt đồi này làm nơi hương khói cho cô ta. Coi như, tất cả đất đai này là mộ phần của cô, xương thịt của cô đã ký gửi vào trong đó...

Và đời này, kiếp này còn sống được ngày nào Thao phải ở lại hương khói cho cô. Anh đã bỏ đi dài ngày rồi. Bây giờ anh không được quyền đi nữa. Anh tìm về đây như tìm về một nơi an nghỉ cuối đời, vĩnh hằng bên cô ấy... Cô ấy chết đi tuổi đời còn trẻ lắm, chỉ vì một cơn sốt rét rừng ác tính, không cấp cứu được kịp thời... Thao khóc như ngày xưa anh đã khóc bên xác cô ta.


Trận mai phục để tiêu diệt Thao xảy ra trong khe núi. Đó là điều Thao không thể ngờ được.

... Lần theo dấu tích những con đường Thao hay lang thang, bọn côn đồ đã chọn đúng nơi vắng vẻ nhất. Chúng ra tay tàn bạo với gậy gộc và nắm đấm. Thao rũ người xuống, vừa chống đỡ vừa tìm đường thoát thân. Bọn chúng đông lắm, có cả chục thằng to cao, bự chắc đánh đấm một gã đàn ông ốm gầy. Điều chúng bất ngờ là gã đàn ông yếu gầy đó cũng có trình độ đấm đá bậc thầy. Có thế, gã mới một mình cầm cự được với cả chục thằng, bảo vệ được tấm thân khỏi sứt mẻ và chạy thoát một cách an toàn.

Bọn côn đồ cụt hứng, nhưng chúng cũng hả hê về báo lại cho chủ kết quả cuộc đánh người bất hảo đó.

Trong cái giang sơn miền rừng này, chuyện đánh nhau là cơm bữa. Tý so kè, kèn cựa, xích mích là nắm đấm tống vàọ Nắm đấm tống vào càng mãnh liệt sự tồn tại càng oai phong.

Thái đen là đại ca của ngành làm ăn có bạo lực. Hắn đã mất mấy phút trầm tư để nghĩ về kết quả trận hành hung do hắn chủ trương. Bà vợ xinh đẹp của hắn đã khích bác chồng. Thị chế vào:

- Đồ con rùa rút cổ. Một thằng giẻ rách đến gây sự tận nhà mà để yên được à...

Thế là máu vũ phu, bạo lực nổi dậy. Tẩn cho hắn một trận nên thân đi. Chủ khiến, tớ lập tức thi hành. Nhưng tẩn rồi, nện rồị.. vô hiệụ Thằng cha ấy vẫn còn. Hắn vẫn còn hương khói trên đồi cao, bên khe suối, trong nghĩa trang. Thằng quái này hết muốn an cư với người sống, hắn bạn bè với người chết thôi! Thái đen cười sằng sặc. Thằng quý tử của hắn cũng cười sằng sặc như bố. Con vợ hắn nguýt chồng, giọng dằn dỗi:

- Phải tìm cách tống khứ hắn đi. Hắn ở lại dài ngày, đồn bậy... ăn yên, ở yên được à...

Thái đen nín cười lập tức. Phải đích thân hắn ra tay thôị Lũ vai u, thịt bắp này du côn có thừa nhưng u mê lắm, đần độn lắm. Chuyện nhỏ mà vẫn không làm xong.

Sáng nay, Thái đen đã gặp Thao trên con đường vào chợ:

- Mày khá lắm. Phải đích thân tao diệt mày thôi.

Mắt Thái đen quắc lên. Tay nó siết lại. Các cơ bắp cuồn cuộn nổi lên. Thao buồn bã lắc đầu:

- Tôi xin anh. Tôi về đây để tìm mộ vợ tôi. Tôi không về đây để đánh nhau. Các anh tha cho tôi.

- Tha cho mày được à. Mày hạ nhục tao đến thế mà tha được à!

Cái giọng ngang ngược của kẻ côn đồ chỉ có phường du côn mới nghe được. Ai hạ nhục ai? Bởi phố núi phát triển, tấc đất cũng là tấc vàng; đè lên mồ mả người ta mà xây dựng nhà cửa, vô luân đến cạn đáy tình người. Trái tim không một chút áy náy; còn hành hung đánh đập như loài thú dữ.

- Anh không phải là con người...

Thao chưa kịp nói hết, một cú đánh như trời giáng bủa xuống, thêm cú đá xốc ngược lên.

Nhưng! Thái đen... bỗng sừng sờ. Gã đàn ông ốm yếu đó hất nhẹ một cái, hóa giải hết và ông ta nhẹ nhàng lẩn mình vào chợ.

Tên đệ nhất võ sĩ ngành đâm chém phát hiện ra trước mặt hắn là một ông thầy. Một ông thầy võ cao thâm và đắc đạo.

"Đích thị ông ta là một thầy võ cao thâm và đắc đạo".

Điều phát hiện của tay đệ nhất võ sĩ ngành đâm chém là đúng sự thực...

... Bởi từ khi người vợ mất, Thao ngã bệnh, đau ốm triền miên. Người ta thương anh, cho anh chuyển công tác về miền xuôi. Nhưng Thao đã chán cảnh giả dối, kèn cựa lẫn nhau, ganh tị đâm soi nhau. Thao rũ bỏ hết để lang thang, nay đây mai đó... Núi rừng, đồng nội, các buôn sóc người Chăm, làng bản các dân tộc vùng Tây Nguyên, Thao đều đến hết. Khi anh học đánh cồng, đánh chiêng, nhảy múa. Khi anh theo các tộc người miền núi đi kiếm lá thuốc rừng chữa bệnh. Khi anh học võ với những người già vùng đất Tây Sơn. Khi anh say vùi bên ché rượu cần ở rẻo núi vùng cao...

Anh học đánh cồng, anh học thuốc, học võ cũng không biết để làm gì. Chúng như những thứ nghệ thuật làm ăn say mê để quên cơn đau và nỗi buồn. Điều Thao luôn luôn phải nhớ là nhân nghĩa con người, là con người phải biết có nhau... Bao năm rồi anh mang hình bóng cô ấy trong tim để đi trong trời cao, đất dày, sông sâu, núi rộng...

Sáng nay cả thị trấn chiêm ngưỡng một hành vi bất hủ của Thao. Thằng con trai độc nhất của Thái đen mải ham chơi đùa rớt xuống giếng. Giếng miền cao sâu lắm. Một bầy lũ tôi tớ, đầy mình võ nghệ, cơ bắp cuồn cuộn, nháo nhác chạy quanh. Chúng có những trái tim bị loài chó xơi tái, thạo việc đánh người, chưa biết việc xả thân cứu người. Chúng gọi nhau ơi ới, nhốn nháo...

Thái đen... đại ca đến thế, hung tợn đến thế, cũng chỉ biết quát tháo và khóc lóc...

Đứa con của hắn đang nằm dưới giếng sâu - Đứa con độc nhất, nối dõi tông đường... Thái đen yêu thương gìn giữ thằng bé lắm. Đó là hạt ngọc quý nhất đời hắn, mai này sẽ thừa kế gia sản tỷ phú của hắn; sẽ hương khói phụng thờ dòng tộc nhà hắn. Ông cố, ông sơ... phải phù hộ độ trì cho thằng bé.

Thế mà bây giờ thằng bé nằm dưới giếng sâu, chưa biết sống chết thế nào. Vợ hắn gào to, thét khàn cả giọng:

- Ai cứu con tôi!

Không ai dám xuống hết. Chưa kịp tìm ra biện pháp gì hết. Trong cái khoảng khắc căng thẳng đó, cái thằng người không muốn an cư với người sống, bạn bè với người chết như chồng thị đã rủa xuất hiện. Ông bình thản cởi áo và quần, quấn qua cổ mình, rồi leo xuống giếng...

Năm phút. Mười phút im lặng trôi qua... Thao đã dùng chính quần áo của mình, cột thằng bé trên lưng và dùng tay dùng chân bấu vào thành giếng, đạp vào thành giếng... mà lên.

Cả một rừng người vỗ tay hoan hô náo động cả thị trấn.

Thao lặng lẽ đặt thằng bé nằm xuống... làm hô hấp và xoa bóp cho nó. Thằng bé mở mắt, ngỡ ngàng nhìn người cứu nó.

Thái đen qua cơn xúc động đã thành kính đứng trước mặt Thao:

- Tôi có tội với ông. Ông là người vô cùng nhân đức.

Không để Thái đen nói hết lời, Thao xòe hai bàn tay ra:

- Anh nhìn đây. Hai bàn tay tôi đã rớm máu. Nhưng nó chỉ dùng cứu người. Tuyệt đối không đánh người.

Đó là giây phút giác ngộ của Thái đen...

Niềm kiêu hãnh của cướp giật, bỗng chốc tan tành.

Thái đen từ từ quỳ xuống. Hắn lạy sống Thao mấy lạy. Cái chân lý hắn phát hiện được, được nói ra chỉ vỏn vẹn mấy lời. Bàn tay nên dùng để cứu người. Phút chốc trong đầu Thái đen đã hình thành một quyết định. Sẽ lật sập ngôi nhà, đào bới tận cùng mỗi tấc đất... để tìm kiếm hài cốt của cô ấy.

Thành cổ Quảng Trị, mùa hè 1999


(Báo Văn nghệ)


THƠ THÁI ĐÀO


TRĂNG ĐÃ ĐỘ RẰM


Không phải tình cờ gió theo mây

Tri ân em mở rộng lòng này

Cho hoa vô hướng thơm ngàn núi

Cho biển trùng dương dội sóng gào.

Không phải tình cờ hạc bay xa

Bỏ đình trơ vắng cảnh chiều tà

Ngàn năm bỡi lụy cơn dấu ái

Gió cuốn về trời em xót xa.

Mưa vẫn màu mưa ngàn năm cũ

Mà nghe thân lạnh buốt đường về

Chân vênh bờ cõi mùa trăng động

Lá lót em nằm tự cỗ xưa…

Ta tạ ơn nhau đến vạn lần

Vạn lần môi tím với cơn đau

Không phải tình cờ mà em tới

Em tới bởi trăng đã độ rằm.


CHỢ VÃN CHIỀU TÀN


Bên kia có dòng sông thức suốt

ta bạc đầu ngồi đợi ánh trăng

em son phấn đi về phố chợ

bao năm rồi vàng đá nát tim.

Bao năm rồi câu thơ phiền muộn

lưng chừng đời

em bỏ tôi đi

mưa hạnh phúc

đôi tay núng nính

lưng chừng đời một trái tim khô.

Mù con mắt

phương nào để nhớ

áo phong sương phô với ngày dài

phô suốt kiếp bờ hoang ảo mộng

em ơi em…tình đã trần ai!

Bên kia có dòng sông thức suốt

tháng năm rồi cuộn những cơn đau

tháng năm rồi …

chợ chiều vãn khách

vãn câu hò

vãn chuyến sang sông

vãn cuộc tình lao đao – lận đận

em qua sông

không có ngày về.

Em qua sông

đời tôi đã bạc

cuộc bán buôn đến độ cao trào

tôi chỉ có tim khô nguội lửa

bán cho ai…

chợ vãn

chiều tàn

THÁI ĐÀO




ĐỌC THÊM

Mặt đất này rớt lại mấy mùa trăng, thơ

Bài ca lau trắng, thơ

Tiếng an dân, truyện ngắn
Loài hoa trắng, truyện ngắn
READ MORE - THÁI ĐÀO - MIỀN RỪNG NẮNG GIÓ