Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, August 6, 2018

GIỚI THIỆU TẬP THƠ MỚI "HẠ ĐỎ LÊN TRỜI" CỦA NGUYỄN AN BÌNH - Trần Hoàng Vy



Trần Hoàng Vy


GIỚI THIỆU TẬP THƠ MỚI "HẠ ĐỎ LÊN TRỜI"
CỦA NGUYỄN AN BÌNH


Tập thơ " HẠ ĐỎ LÊN TRỜI" đã chính thức phát hành ngày 31-07-2018. Sách dầy 132 trang, 2 phụ bản màu tuyệt đẹp, trình bày thật trang nhã do NXB HỘI NHÀ VĂN cấp phép giá 70.000đồng, Tập thơ là những tình cảm và biết bao hoài niệm của thời áo trắng về hai ngôi trường PHAN THANH GIẢN và ĐOÀN THỊ ĐIỂM thành phố Cần Thơ ngày xưa, với lời giới thiệu của nhà thơ TRẦN HOÀNG VY(Tây Ninh) và những nhận xét ngắn về thơ Nguyễn An Bình của các bằng hữu NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG(Đồng Nai), LÊ NGỌC TRÁC(Bình Thuận), NGUYỄN NGỌC TUYẾT(Cần Thơ).
Các bạn yêu thơ xin liên hệ qua mail của tác giả: luongmanh2106@gmail.com hay inbox cho tác giả qua facebook Nguyễn An Bình.


LỜI GIỚI THIỆU
CỦA NHÀ THƠ TRẦN HOÀNG VY VỀ TÁC PHẨM
HẠ ĐỎ, TẬP THƠ ĐONG ĐẦY CẢM XÚC TINH KHÔI MỘT THUỞ HỌC TRÒ...
*Trần Hoàng Vy


49 bài thơ, 2 bài thơ phụ bản và 3 bài thơ phổ nhạc trong tập thơ HẠ ĐỎ, của cựu thầy giáo Lương Mành, bút danh NGUYỄN AN BÌNH, gửi thầy cô giáo và những bạn bè đồng môn cũ của 2 ngôi trường nổi tiếng xứ “Gạo trắng nước trong- Cần Thơ” là Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm trong những năm từ 1972 đến 1975 đã đưa bạn đọc về một khung trời thuở còn đi học với bao cảm xúc tinh khôi, bịn rịn đến không ngờ. Đó là khi chàng thư sinh Lương Mành bắt đầu những cảm nhận: “ Khi từ giả áo xưa mùa hạ cũ/ Em đã quên rằng sớm nhớ mưa chiều/ Ta bỏ lại tên mình trên ghế đá/ Hóa kiếp dế mèn hát khúc phiêu diêu.” ( Tháng năm đỏ những mùa phượng cũ). Cái hay và tinh tế của Nguyễn An Bình là đã kết hợp được tên một điệu ca cổ vào trong câu thơ, khiến người đọc cứ mang mang về một vùng sông nước, nơi ấy có những áo trắng học trò: “ Nếu có thể làm nhánh rong phiêu bạt/ Thỏa chút giang hồ lưu thủy hành vân/ Hàng trang mang theo một tà áo trắng/ Bướm trắng tan trường rộn rã bước chân” ( Tháng năm đỏ những mùa phượng cũ).
Từ những cảm xúc tinh khôi của thuở học trò ấy, thy sỹ đã cùng chúng ta ôn lại những miền ký ức xưa, khi trái tim non bắt đầu những nhớ, những thương: “ Nhớ tiếng ve rền trên cây bàng xanh lá/ Và tiếng em cười nghiêng cả nắng trưa...” cho dù “ Mai sau dù mất dấu hài/ Hàng cây nhớ gió bay bay suốt mùa” ( Gửi người một chút mưa thơm).
Cái thuở học trò của thy sỹ và cả của chúng tôi ngày xưa ấy, bây giờ tuổi đời đã vào hàng U 70, song vẫn luôn hằn sâu và cũng lắm mong manh của tình cảm: “ Mấy mươi năm phân rả thành bao nhánh nhớ/ Trôi đi trôi đi mang theo chiếc áo học trò/ Tinh khôi bỏ lại...” và “ Một thời qua đây ngẩn ngơ/ Nghe tiếng sẻ nâu trên tàng phượng cũ/ Năm tháng ùa về/ Mong manh mong manh.” (Tiếng sẻ nâu trong ngôi trường ký ức). Cái mong manh ấy, cụ thể là tình yêu của tuổi mới lớn, của lứa học trò từ những năm đệ... ngũ, đệ tứ (lớp 8, 9 ) trở lên? Cho nên mới: “Thuở ấy yêu nhau áo học trò/ Cánh diều no gió bay xa tít/ Còn lại một mình tôi ngẩn ngơ.” Để rồi: “Chiếc vé tình yêu giờ lạc mất/ Đường phượng xưa nào biết đâu tìm?” (Thơ của thời áo trắng). Phải chăng cũng chỉ là những giấc mơ êm đềm của những năm áo trắng sân trường! Gửi lại những vu vơ của vết hằn dao khắc và mối tình đầu như mưa như nắng: “Áo trắng ơi! Ngày xưa gởi lại/ Dãy hành lang lớp học bảng đen/ Bụi thời gian vẫn còn ghi mãi/Tên người yêu khắc góc bàn quen.” Và “Gởi cho nhau kỷ niệm tuổi hồng/ Tôi yêu mãi từng trang lưu bút/ Có tình đầu tôi thật dễ thương.” (Thơ của thời áo trắng).
Hạ đỏ cái tên gọi của những biểu tượng trìu mến không quên, là mái trường xưa, là đường phượng hồng, là mù sương, nắng sớm, mưa chiều, song có lẽ, sự thảng thốt của trái tim lại nằm ở một làn hương, cái kẹp tóc: “Yêu mãi một làn hương/ Phía sau cây kẹp tóc/ Cánh phượng thành tơ vương/ Đỏ một trời tuổi ngọc.” (Chợt gặp em năm 18). Đến một ngày nhận ra như là trong cổ tích? “Cô bạn nhỏ trong khu vườn cổ tích/ Vừa gặp cô tôi đã ngẩn ngơ tình/ Cô khù khờ sao tôi yêu muốn chết/ Chẳng lẽ vì tà áo trắng nguyên trinh?” (Cô bạn nhỏ trong khu vườn cổ tích). Cổ tích của một thời xa xôi, lăng lắc, sao cứ mãi nhớ khôn khuây cái màu hạ đỏ trong đời.
Có lẽ chỉ đọc tới đây thôi, có độc giả lại thắc mắc hỏi tôi cái hình ảnh, chân dung của thy sỹ ở ngoài đời, ngoài thơ? Đó là một thầy giáo có vẽ ngoài mô phạm, đạo mạo, ít nói, song có nụ cười tươi dễ mến, cứ tưởng tượng thêm, ngày xưa... chắc hẵn là cậu học trò chăm học, chĩn chu và.... nhát? Không thế sao mà thy sỹ viết: “Em hồn nhiên một thời xanh tuổi ngọc/ Tôi vô tình để gió bụi xa đưa/ Ngày trở lại phượng sân trường rực lửa  / Không còn nghe rộn tiếng guốc em khua.” (Mùa hè gõ cửa), và đây nữa: “Người con gái tròn xoe đôi mắt ngọc/ Nắng lung linh màu áo lụa sân trường/ Có gã khờ một hôm thèm được khóc/ Để mềm lòng cô bạn nhỏ dễ thương.” (Tháng ba không ở lại).
Vượt qua cái tuổi “Nhi nhĩ thuận”, Nguyễn An Bình có sức viết đáng nễ, hàng trăm bài thơ được tải lên trang Facebook của anh, và trong đó cũng có hơn trăm bài thơ được nhiều nhạc sĩ đồng cảm phổ thành ca khúc. “Thi trung hữu nhạc”. Thơ của thy sỹ Nguyễn An Bình đã chứng minh điều đó, lung linh như một bức tranh xưa, đầy âm thanh, nhạc điệu và man mác những tình cảm nhẹ nhàng, tinh khôi, được chắt lọc từ trái tim của một anh học trò, làm thầy, và quay lại “hồi tưởng” lứa tuổi thần tiên một thời đi học...
Xin trân trọng giới thiệu cùng các bằng hữu, quý độc giả yêu thơ và lứa tuổi học trò tìm đọc, chắc chắn mỗi người sẽ nhìn thấy bóng hình của mình một thuở tinh khôi...


Springfield, mùa xuân 2018.
TRẦN HOÀNG VY


MỘT SỐ BÀI THƠ TRONG TẬP THƠ HẠ ĐỎ LÊN TRỜI CỦA NGUYỄN AN BÌNH












READ MORE - GIỚI THIỆU TẬP THƠ MỚI "HẠ ĐỎ LÊN TRỜI" CỦA NGUYỄN AN BÌNH - Trần Hoàng Vy

BÀI THƠ QUÁN RƯỢU - Thơ - Hoàng Yên Linh

Tác giả Hoàng Yên Linh


Bài Thơ Quán Rượu                      
Hoàng Yên Linh
            
Ra chợ ta tìm vô quán cốc            
Một mình một xị rượu lai rai            
Nhìn em mới thấy mình bạc tóc            
Ngẫm đời chỉ tựa áng mây bay.
            
Nhìn ai cũng giống như tiên nữ            
Ước lòng ta viết được bài thơ            
Không là thi sĩ thôi cuồng sĩ            
Gối mộng đêm dài trọn giấc mơ.
          
Phải chi em cùng ta đối ẩm          
Chén thù chén tạc chuyện xưa sau          
Đời biết bao nhiêu điều được mất          
Cũng đến trăm năm nước qua cầu.
        
Ra chợ ta tìm say quán cốc       
Công hầu cũng đã lạnh đôi tay       
Này em rượu đã nồng men nhớ       
Ta lạc lối về em có hay.
        
Hoàng Yên Linh
READ MORE - BÀI THƠ QUÁN RƯỢU - Thơ - Hoàng Yên Linh

Sunday, August 5, 2018

NHẠC TRỮ TÌNH Ở VÙNG ĐÔ THỊ GIAI ĐOẠN 1946-1954 - Lê Thiên Minh Khoa

NHẠC TRỮ TÌNH Ở VÙNG ĐÔ THỊ
GIAI ĐOẠN 1946-1954
LÊ THIÊN MINH KHOA

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/4/45/TVKhe-TVTrach-LThuong.jpg/250px-TVKhe-TVTrach-LThuong.jpg
 Trần Văn KhêTrần Văn Trạch Lê Thương ở Sài Gòn, 1949.
           
    Trong hoàn cảnh chiến tranh,  ở vùng đô thị do thực dân Pháp chiếm đóng, tâm lý người dân là chán ghét thực tại, tránh né thời cuộc, hướng về những gì cao đẹp, người nhạc sĩ cũng là người nói hộ tâm tình đó. NS-PGS.TS Thế Bảo trong cuốn Lịch sử âm nhạc Việt Nam (NXB Thanh Niên- 2017) cho rằng:  “dòng chảy cơ bản của âm nhạc vùng tạm chiếm là trốn thực tại đau khổ vào tình yêu lứa đôi, vào giấc mơ, vào lịch sử xa xưa, hình thành dòng nhạc trữ  tình lãng mạn”. Ca khúc của họ là sự nối tiếp dòng nhạc lãng mạn thời tiền chiến và sau nầy được xếp chung vào dòng nhạc tiền chiến.
    Giới sáng tác ca khúc ở vùng tạm chiếm lúc nầy gồm 2 nguồn: những nhạc sĩ ở lại thành, không vào chiến khu ngay từ đầu, như: Lê Thương, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước…, hoặc đang tuổi thiếu niên như Cung Tiến, Lam Phương…,  và những nhạc sĩ tham gia kháng chiến, rồi do thời cuộc, do hoàn cảnh riêng, do bị Pháp bắt hoặc không chịu được gian khổ kháng chiến đã bỏ về “tề” từ đầu thập niên năm 1950, như: Phạm Duy, Hùng Lân, Đoàn Chuẩn, Hoàng Thi Thơ,  Hoàng Giác, Võ Đức Thu,…  

Đoàn Chuẩn - vua tình khúc thu Hà Nội - Ảnh 1.
NS Đoàn Chuẩn.   
                            
       Lực lượng sáng tác tuy đông, nhưng số lượng tác phẩm không nhiều. Một số nhạc sĩ chựng lại, không viết nữa, một số đổi lại tựa đề ca khúc cũ hoặc sửa chữa lại lời cho hợp vời hoàn cảnh mới ở vùng tạm chiếm rồi mới phổ biến. Như Phạm Duy trong 4 năm chỉ viết được một ca khúc Đàn tôi lúc mới rời bỏ kháng chiến.

Hoàng Giác viết Ngày về (1946- sau nầy làm ông chịu nhiều hệ lụy vì trở thành nhạc hiệu cho chương trình chiêu hồi của VNCH) khi tham gia kháng chiến, sau “về thành” Hà Nội đã viết Lỗi cung đàn,  Quê hương, Hương lúa đồng quê, Bóng ngày qua… 


Một số khác viết nhiều hơn, như Hùng Lân viết một loạt ca khúc: Một mùa xuân huyền ảo, Vườn xuân, Hận Trương Chi, Hè về, Cô gái Việt, Mùa hợp tấu, Ca xuân hẹn ước, Luống cầy mạch sống, Nhớ rừng, Sầu lữ thứ, Tơ vương, Xóm nghèo…
     Đặc biệt, Đoàn Chuần trở thành một hiện tượng âm nhạc thời đó khi từ chiến khu về Hà Nội tung ra nhiều tình ca được viết trước đó và được công chúng thị thành nồng nhiệt đón nhận: Ánh trăng mùa thu (1947- ca khúc đầu tay), Tình nghệ sĩ (1947), Đường về Việt Bắc (1948),  Lá thư (1949). Sau đó, ông viết tiếp: Thu quyến rũ (1950), Chuyển bến (1952), Gửi gió cho mây ngàn bay (1952),  Cánh hoa duyên kiếp (hay "Dạ lan hương" (1953), Lá đổ muôn chiều (1954). Cũng cần phải kể thêm những tình ca cùng một phong cách ấy, giai điệu ấy, có nét buồn, day dứt  mà thanh cao, trang nhã,  ông viết trong năm 1955:  Tà áo xanh (hay Dang dở),  Chiếc lá cuối cùng, Để có những chiều tắt nắng, Một gói nho khô, Một cánh pensée, Vàng phai mấy lá (hay Vĩnh biệt), Gửi người em gái miền Nam… Những tình khúc nầy được ký tên Đoàn Chuẩn – Từ Linh như một “thương hiệu” uy tín và có ảnh hưởng sâu rộng đến dòng tình khúc miền Nam sau 1954.    
      
Image result for Hoàng Giác
NS Hoàng Giác.       
   
      Ở lại thành từ đầu, Thẩm Oánh tiếp tục viết những ca khúc theo 2 dòng nhạc cũ: tình ca và nhạc hùng như: “Việt Nam cùng tiến" đã được dùng làm nhạc hiệu cho đài Pháp - Á ở Hà Nội và Sài Gòn, "Nhà Việt Nam", "Trưng nữ vương",
"Chu Văn An hành khúc,  "Xuân về", “Cô lái đò"…  
        Cũng vậy, từ những năm  cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950, Dương Thiệu Tước viết nhiều ca khúc lãng mạn: Đêm tàn Bến Ngự (1946), Kiếp hoa, Áng mây chiều, Nhạc ngày xanh, Dưới nắng hồng, Xuân mới, Thiếu niên xuân khúc ca, Thuyền mơ... 
       Cung Tiến được xem như nhạc sĩ trẻ nhất có hai sáng tác đầu tay viết theo dòng nhạc tiền chiến được phổ biến rộng: Hoài cảm (1952) viết lúc mới 14 tuổi, Thu vàng (1953) lúc 15 tuổi, nhưng được coi là hai tình khúc bất hủ của tân nhạc Việt Nạm.
       Còn Lê Thương, ngoài tình ca ra, nhạc sĩ tài hoa đa hệ nầy, “chuyển hệ” viết các bản nhạc hài hước, trào phúng Hòa bình 48, Liên hiệp quốc, Làng báo Sài Gòn, Đốt hay không đốt Ông còn đặt lời cho những bản nhạc ngoại quốc ngắn như Nhớ Lào (nhạc Lào), Bông hoa dại tức Ô Đuồng Chăm Pá (nhạc Lào), Lòng trẻ trai (nhạc Hoa Kỳ), Hoa anh đào (tức Sakura - nhạc cổ Nhật), Màn Brúc đánh giặc (dân ca Pháp)... Lê Thương được xem như những nhạc sĩ mở đầu của dòng nhạc dành cho thiếu nhi với những bản: Tuổi thơCô bán bánhCon mèo trèo cây cauThằng bé tí nonÔng Nhang bà NhangTruyền kỳ Việt sửHọc sinh hành khúc... Nổi tiếng hơn cả là bài Thằng Cuội thường được trẻ em hát trong mỗi dịp tết Trung Thu, được nhiều người xem như đồng dao mà quên hẳn tên tác giả: Bóng trăng trắng ngà/Có cây đa to/ Có thằng Cuội già/ Ôm một mối mơ… Thời kỳ  nầy, ông có soạn một ca khúc rất nổi tiếng Lòng mẹ Việt Nam (Bà Tư bán hàng) nói về một bà mẹ thành phố có các con tham gia kháng chiến. Và bài hát đó là một trong những lý do Lê Thương bị Pháp bắt giam vào khám Catinat cùng   Phạm Duy và Trần Văn Trạch năm    1951.


https://giadinhhoangtrong.files.wordpress.com/2015/06/tham-oanh.jpg?w=824
NS Thẩm Oánh.  

         Đáng lưu ý là m 1949, Văn Phụng và Văn Khôi viết Trăng sơn cước, tác phẩm điệu Rumba đầu tiên và năm 1952, Lam Phương viết Chiều thu ấy lúc mới 15 tuổi, Lưu Trọng Nguyễn viết Nắng chiều, hai nhạc phẩm điệu bolero đầu tiên ra đời cùng năm. Giai điệu cả ba đều đơn giản, nhẹ nhàng được coi như là ba ca khúc khai mở cho dòng nhạc  vàng sau nầy.
       Việc quảng bá, trình diễn ca khúc trữ tình được chính quyền thực dân khuyến khích, tạo điều kiện. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn…, chính quyền lập nhiều ban nhạc: mỗi nơi đó đều có các ban nhạc của đài phát thanh khu vực, đoàn quân nhạc của Bảo chính đoàn, của Tiểu đoàn danh dự. Riêng ở Sài Gòn có thêm ban nhạc của đài phát thanh Pháp Á với một dàn nhạc “hoành tráng” và một lực lượng biên tập, nhạc sĩ, nhạc công, ca sĩ hùng hậu. Các phòng trà, quán bar có nhóm nhạc nhẹ, nhạc khiêu vũ vô cùng nhộn nhịp với nam thanh nữ tú dập dìu trong những bản tình ca lãng mạn, lãng quên thời cuộc.  Lúc nầy ở các thành phố lớn có những ca sĩ chuyên nghiệp nổi tiếng: ở Sài Gòn, có Thu Hồ, Minh DiệuMạnh PhátChâu KỳTôn Thất Sở..., ở Hà Nội cũng nhiều nhưng được mến mộ nhất là tài tử Ngọc Bảo.
      Ở giai đoạn nầy, Pháp cũng đẻ ra một loại nhạc tâm lý chiến chống Việt Minh, nhưng rất gầy guộc và èo uột, do chính nghĩa sáng ngời tỏa ra từ cuộc đấu tranh giải phóng, nhân dân ở thành lòng hướng về phía chính nghĩa, còn các nhạc sĩ tài năng hoặc đã đi theo chính nghĩa hoặc  “trùm chăn” viết tình ca, né tránh chuyện chính trị, thế thời.
                                                                
                                              LÊ THIÊN MINH KHOA
(Trích trong cuốn  sách “ 9 THẬP KỶ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM”- nghiên cứu, nhận định- Lê Thiên Minh Khoa-  trang  31- 34 (PHẤN: NHẠC TRỮ TÌNH Ở VÙNG TẠM CHIẾM  GIAI ĐOẠN 1946-1954)- sắp xuất bản, 2018).
-----------------
Nguồn ảnh: Internet.

READ MORE - NHẠC TRỮ TÌNH Ở VÙNG ĐÔ THỊ GIAI ĐOẠN 1946-1954 - Lê Thiên Minh Khoa

TRĂNG CHỜ, TÌNH TRĂNG, MẮT EM - Thơ Hải Đăng



                Tác giả Hải Đăng



TRĂNG CHỜ

Trăng treo chênh chếch đợi chờ
Nhớ ai trăng tỏ trăng mờ đêm sương
Bùi ngùi lòng dạ vấn vương
Miền quê gió lạnh màn sương phủ dầy
Dật dờ bóng nước dáng cây
Buồn thương cho phận trăng mây che mờ
Tình sao cứ phải đợi chờ
Trăng kia có tỏ hay hờ hững thôi.


TÌNH TRĂNG

Thời gian thấm thoắt thoi đưa
Một mùa xuân nữa, mới vừa hôm qua
Tình em tựa ánh trăng ngà
Như mùa xuân thắm như là biển xanh
Chim khôn chọn cội chọn cành
Người khôn chọn chỗ hiền lành kết giao
Tình này tươi đẹp biết bao
Thuyền trăng bến hẹn, ánh sao đôi bờ
Đã đành gặp gỡ bây giờ
Trăm năm biết có đợi chờ cùng trăng.


MẮT EM

Đôi mắt em nhìn hay mắt ai
Mà sao thăm thẳm nét trang đài
Hồn quê, tình mẹ hoà trong ấy
Rạng rỡ ánh hồng buổi sáng mai

Đôi mắt của em hay của ai
Để thương để nhớ với anh hoài
Dù xa muôn dặm nhưng gần gũi
Ấm áp ân tình mỗi sớm mai

                              Hải Đăng

READ MORE - TRĂNG CHỜ, TÌNH TRĂNG, MẮT EM - Thơ Hải Đăng