Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, July 15, 2017

SAO MÀ ỨNG VỚI TÔI ĐẾN THẾ! - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

                       


SAO MÀ ỨNG VỚI TÔI ĐẾN THẾ!

Lâm Bích Thủy

  Tôi là một cựu học sinh Miền Nam đang giữ trong mình nhiều ước mơ và khát vọng. Sau tốt nghiệp đại học đang chờ nhận công tác. Bạn tôi - người rất am hiểu thời cuộc, nói:
-  “Mày muốn biết nơi mày sẽ đến nhận việc hãy xem cái ghế của ba mày. Nếu ông chỉ là cán bộ thường, thì mời mày lên núi hay vào xứ mù Cang Chải, đừng mơ với mộng gì hơn!

Quả thật 100%; tôi phải vào xứ mù “Cang Chải” - Nông Trường Quốc doanh bò sữa Ba Vì-Hà Tây; cách Hà Nội 52km (giờ đã thuộc về Hà Nội). Hồi ấy, đường sá bị bom Mỹ xới tung, phương tiện đi lại rất hạn chế; dẫu chỉ cách nhà hơn 50 cây số nhưng là rất xa với tôi. Ở đây, gần Q51- nơi máy bay Mỹ từng đổ bộ xuống để giải cứu phi công và là nơi tôi thật sự bắt đầu cuộc sống của một kỹ sư chăn nuôi; cũng là nơi sẽ chôn chặt những khát vọng chấp cánh bay cao bay xa mà thời sinh viên tôi hy vọng!

  Nơi tôi sống và làm việc là Đội I. Đội có ông Đội trưởng, chị đội phó và 1 tổ vắt sửa, tổ chăm sóc bê con, tổ chăm bò đẻ; tổ chăn bò, tổ kỷ thuật, người giữ trẻ, người nấu ăn. Đây chính là nơi anh Hồ Giáo được phong anh hùng 2 lần. Còn cuộc đời khổ ải của tôi–con một nhà thơ chỉ biết cầm bút và nặng 35 cân bắt đầu! Hàng tháng có 13 ngày làm việc gián tiếp; 13 ngày lao động trực tiếp với những con bò lai Sin (Ấn Độ) và Hà Lan nặng hàng trăm ký! 

- Công việc gián tiếp là, cứ 3h30’ sáng, tôi dậy theo công nhân xuống khu chuồng: để kiểm tra việc vắt sữa, cho bê bú, công nhân có làm đúng qui trình kỹ thuật không. Khi mọi việc xong, tổ chăn bò vào lùa bò đi lên đồi ăn cỏ thì tôi quay lại chuồng bò sữa ghi lượng sữa từng con, theo dỏi qúa trình cho sữa của nó để quyết định giữ lại nuôi lấy sữa hay chuyển nuôi thịt. Rồi chuyển những con bò sắp đến ngày chuyển dạ sang chuồng bò đẻ. Đến công việc cân, đo từng con bê mới sinh hoặc bê loại 18, 24 tháng tuổi, xem con nào phát triển tốt thì tiếp tục nuôi dưỡng để bổ sung vào đàn bò sữa, con nào không đạt thì loại để khỏi tốn thức ăn và công chăm sóc. Mỗi lần xuống chuồng về, người tôi ám đầy mùi phân bò; nhưng lâu dần thành “nghiện” khó quên!

- Còn 13 ngày lao động trực tiếp của tôi là thay thế những công nhân nghĩ phép hay ốm đau như vắt sữa, chăm sóc bê con, chăn bò, giữ trẻ hay nấu cơm.Tất cả những vệc này cuốn hết 8 năm tuổi trẻ của tôi; cứ ngày xuống chuồng lại về ghi vào sổ sữa và số liệu đã cân, đo.  Lúc đó tôi là một công nhân thực thụ trong vai một kỷ sư chăn nuôi!... Tôi buồn vì số phận hẩm hiu. Song le, cũng có những lúc lòng tôi ấm áp khi có người hiểu được công việc của mình. Đó là những lời động viên từ người lạ đến công tác hay tham quan. Gặp tôi - cô kỷ sư chăn nuôi đi chăn bò; lại nghe nói tôi là con nhà thơ mà làm những việc như thế đã thốt lên - “Trời sao số cô vất vả thế. Tôi mà là lãnh đạo thì sẽ phong cô ấy 2 lần anh hùng mới phải”.

  Những năm sống ở nông trường, tôi rất thất vọng khi nghĩ về tương lai; song vì là thanh niên và là học sinh Miền Nam được Bác Đảng giáo dục tinh thần “Ở đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên" cộng với lời khuyên của ba tôi “Được ngựa không mừng, mất ngựa không tiếc” nên tôi răm rắp chấp hành, không dám kêu ca phàn nàn và hoàn toàn chấp nhận cái số phận “con rệp” mà trời đã định!

  Ra trường cuối năm 1969, sau 8 năm làm việc cực nhọc ở Nông trường Quốc Doanh Ba Vì  đến 1977, theo chồng vào Nam; tôi không lên được bậc lương nào chỉ có lời hứa hảo của Giám đốc nông trường “Em cứ vào đó rồi anh sẽ gửi giấy nâng lương sau”. Ngày bước chân ra khỏi Nông trường, tôi vác vai cái mức lương nhẹ tênh 60đ/tháng) Và trong 33 năm làm việc thì số phận con rệp của tôi đã mất cơ hội 4 lần nâng bậc lương.  

 Có người hỏi tôi: chị vào Nam năm nào. Tôi trả lời–năm 1977. Họ lại hỏi tôi: Chị có bao nhiêu biệt thự, bao nhiêu ha đất. Là một kỹ sư với 33 năm công tác, lương về hưu của tôi nay chưa đến 4 triệu lạị phải trả tiền thuê căn hộ ở chung cư tái định cư.
  
  Ngày chúng tôi là những thiếu nữ 19-20 thường tâm sự với nhau là, nếu lấy chồng thì phải lấy người hơn trình độ hay bằng mình; việc gì cũng biết chút chút như đá bóng, đàn, hát v.v… Thành thử, anh nào cũng muốn chứng minh khoản đa năng của mình với chúng tôi. Con gái thời chúng tôi hay dựa vào câu này để chọn một nửa của mình “Đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi nhưng không được ăn cắp vặt”. Cho dù anh ta dư tiêu chuẩn mà có tính ăn cắp vặt là bị loại ngay. Tôi lấy chồng ở tuổi 29. Ở độ tuổi này thời đó, thiếu nữ Miền Bắc, nếu đến 21 tuổi chưa chồng sẽ bị gọi là gái già Misonca (nhân vật của tiểu thuyết “Hội chợ phù hoa”); còn cha mẹ thấy con cứ lắc đầu quày quạy thì hoảng vì sợ nhà có bom nổ chậm. Nhưng, dẫu lúc đó tôi 29 tuổi; cho dù ba má tôi sốt ruột về thái độ tự tại của tôi; ông bà sợ tôi ế nên nhờ nhiều người mai mối dùm! Và bấy giờ, nói thật là có nhiều chàng trai nghe nói nhà thơ Yến Lan có hai con gái rất dễ thương, đã tìm cách tiếp cận; cho nên tôi sợ gì chứ? Các chàng trai mà bạn ba má mối mai đến nhà thăm dò, tôi vẫn tiếp tục lắc đầu không chút nao núng, vì lúc đó, ở tôi còn có cái mark vô cùng hoành tráng đó là nữ Học Sinh Miền Nam (HSMN). Mà cái mark này, thuở ấy, cực kỳ giá trị với các chàng trai HSMN hay các anh bộ đội, công an, cán bộ miền Nam tập kết lắm nhé.  

Tôi là chị của 5 em; 3 trai, 2 gái. Em gái kề nhỏ hơn tôi 2 tuổi; cùng tên nhưng khác đệm. Ngày chủ nhật, hè, hoặc Tết, nhà tôi có nhiều bạn trai tới thăm chơi. Lúc bạn của Tú Thủy, khi bạn của tôi. Nếu khách hỏi “Thủy có nhà không bác?” Ba tôi luôn hỏi lại “Thủy Bích? hay Thủy Tú?”. Bạn trai của chúng tôi đều là đệ tử của thuốc và trà. Lúc họ đến, hầu như chúng tôi đều rất tích cực, nhất quán lôi các thứ của ba ra đãi; đâu cần biết những thứ đó khan hiếm mà ba phải mua bằng số tem phiếu ít ỏi; để đến khi bạn về, bỏ lại sau lưng họ là những tàn thuốc và bã trà; còn ba thì không thuốc hút, trà uống; đành nhịn. Song không vì thế mà ba phiền. Ông cảm thương các bạn sống xa quê hương, cha mẹ thiếu thốn tình cảm, vật chất.

 Là con gái thời đó , chúng tôi cũng muốn mình đẹp trong mắt các chàng trai “nhưng cái khó bó cái khôn”. Là nhà thơ nghèo song ba biết làm nhiều việc để các con mình đỡ tủi với đời . Ông tự đóng bàn ghế cho con học, tự làm bếp dầu hỏa cho vợ con nấu nướng , v.v... Mỗi lần làm gì ông đều giải thích và dạy con tinh thần tự lực để khi ra đời không phụ thuộc vào người khác. Ông dạy chúng tôi: Làm người phải biết tha thứ đừng để hận thù lấn át cái tâm.

 Ngặt một nỗi, nhà chẳng có thứ gì để chị em tôi làm đẹp. Ra đường áo quần nhàu nhò xấu hổ với chúng bạn. Mượn bàn là nhà bên hoài kỳ quá! Thương con, ba tôi day dứt mãi. Một hôm chúng tôi vừa đi học về đã nghe ba khoe: - Có bàn là rồi đấy các con!

 Chiếc bàn là mà ba tôi khoe được làm như sau:
Trong nhà sẵn có cái vỏ đạn bom-bi của anh bộ đội nào cho; ông cưa bỏ phần rắc rối ở đầu, giữ lại chừng 15cm để đựng than. Ông hì hục đục lỗ, dùng thanh sắt mỏng, ghép với thanh gỗ, quấn giẻ làm tay cầm cho đỡ nóng. Áo quần được là bằng vỏ đạn bom-bi không khác so với áo quần được là bằng bàn là mua ở nước ngoài tí nào! Suốt mấy chục năm sống ở Hà Nội, nhà tôi toàn sử dụng chiếc bàn là ba tự chế. Ra phố hay khách đến chơi nhà, chẳng ai phân biệt được rằng “Áo quần của gia đình nhà thơ Yến Lan chỉ được là bởi vỏ đạn bom-bi” !
 
 Chất đốt ư! Ngày ấy, việc đun nấu cực kỳ nhiễu sự. Nhà đun mùn cưa, nhà thì than đá, thậm chí chú Quang Dũng còn đi quét lá ở công viên về đun nữa kia. Nhà nào có con đi Tây, Tàu mới có bếp dầu. Loại bếp này về sau bán ở Cửa Hàng Mậu Dịch Tràng Tiền. Nhà tôi sao có tiền để mua! Nhà đối diện (cùng cầu thang) dùng, trông thật sang. Còn nhà tôi thì vẫn chung thủy với cái lò mùn cưa! Ba tôi ngồi làm việc, thấy nhà bên dùng bếp dầu Trung Quốc; ông thấy hay hay, ưu việt; chỉ cần quấn tí bông thấm dầu vào que sắt, châm lửa là bếp phực cháy liền. Bếp mùn cưa, phải chổng mông thổi phù phù, khói, bụi bay đầy nhà; mồ hôi nhễ nhại, nước mắt cay xè. Nghĩ thương vợ con, mỗi buổi vào bếp là một cuộc vật lộn với ông lửa. Thế là ý tưởng làm bếp dầu cho vợ con ló ra.

   Vài hôm sau, đi làm về, ba cất túi xách rồi đổ ra sàn một lô vỏ họp sữa đủ loại: lớn, vừa, nhỏ v.v..., ông lấy vật dụng, nào đinh, dùi, búa ra bắt đầu sáng chế. Ông đóng, đục, khoan; mồ hôi nhễ nhại, ướt đẫm cả áo may-ô. Rồi hai vỏ họp sữa giờ đã thành 2 vòng lưới, giống vòng trong vòng ngoàì của bộ phận bếp nhà bên.

  Hôm sau nữa, vừa đến cửa đã nghe ba vui vẻ khoe “Ba đã làm xong bếp cho mấy mẹ con rồi đó”. Tôi nhìn cái bếp mới làm, nó nhỏ và xấu hơn bếp hàng xóm, nhưng mừng lắm, reo to như để nịnh cái công trình ba sáng tạo “Nhà ta bây giờ đã có bếp hiện đại ba nhỉ!” 

 Ba làm ra hai cái. Cái lớn để nấu nướng, cái nhỏ ba dành để đun nước sôi, pha trà đãi bạn thơ. Các chú Phạm Hổ, Trinh Đường, Quang Dũng, bác Khương Hữu Dụng đến, nhìn thấy lại “chạch chạch” khen “Yến Lan khéo tay thật!”

Từ đó, nhà tôi không bụi, không khói làm cay xè mắt, không phải chổng mông thổi lửa nữa!

         

Công việc ở nông trường, mọi thứ đối với tôi thật rõ ràng. Hàng tháng tôi dồn 4 ngày chủ nhật nghỉ bù về với ba má. Ba là nhà thơ nhưng không mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây mà ông rất thực tế, chỉnh chu trong công tác, chu đáo với vợ con và bạn bè (điều này nhiều người đã biết). Sau 4 ngày ở nhà, tôi phải trở về nơi làm việc. Bao giờ cũng vậy, ba tôi dậy trước gói gém và xếp lên xe thứ gì tôi mang đi; ông sợ tôi quên; rồi ông xem lốp xe có xẹp hay không. Một hôm, lốp trước xẹp; ông lấy bơm ra bơm. Vừa bơm ông vừa tư vấn cho tôi cách chọn một nửa của mình trong số những bạn trai đã đến chơi nhà hiểu theo nghĩa nhân văn.

- Nếu con mà lấy thằng A, thì con phải bơm xe cho nó đi (qua cử chỉ của anh A đã thấy, ông cho rằng sau này nếu là chồng thì tôi phải hầu anh ta).

- Nếu lấy thằng B thì con bơm xe con đi, nó bơm xe nó đi (theo ông anh B này sống ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân, không biết đến ai).

 - Nếu con lấy thằng C, nó sẽ bơm xe cho con đi. (Trong cư xử của anh với tôi khiến ba tôi có cảm tình nên muốn tôi chọn anh làm con rể ông. Ông khen lấy khen để anh C nào là biết thương vợ con, biết đối nhân xử thế v.v..). Nhưng tôi thì rằng:
 -  Anh C là người tốt, không có chỗ nào để chê. Nhưng con thấy hai vai anh ngang phè phè, trông chán lắm ba. Nghe tôi nói thế, ông đang cười (bởi tiếng khúc khích của mấy em từ trong màn) bỗng sửng cồ đỏ mặt tía tai quát:

- À! Mày chê người ta vai ngang mà sao may áo, ba thấy cái nào mày cũng độn thêm vai? Bộ mày tưởng mày ái yếu mỹ miều lắm sao ai mày cũng chê: đứa thì mày chê lưng gù, đứa thì chê có cái tai chuột; thằng C ngoan hiền, bảnh trai là phi công còn thằng nào hơn nó mà mày chê nó vai ngang. Vai ngang trông càng ra dáng đàn ông chứ sao. Rồi đây không khéo mày lấy phải cái thằng “hom hem” chẳng ra gì mà coi. 
 
  Bữa đó, mấy em tôi còn đang nằm trong màn, nghe hai cha con tranh luận, không nhịn được phá lên cười “ha ha ha”. Tiếng cười của chúng phá tan sự im lặng buổi sáng hôm ấy. Gia đình tôi tuy nghèo nhưng lúc nào cũng có tiếng cười vì sự dí dỏm của nhà thơ như thế! 

  Thế rồi, tôi lấy chồng! Anh là học sinh Miền Nam, gọi chú Mịch Quang bằng dượng. Anh không hom hem như lời nguyền của ba mà còn được khen “Chồng mày trông ngon cơm thật”. Anh dư tiêu chuẩn mà lũ con gái đã đề ra như biết đá bóng, có máu văn nghệ, học vấn bằng tôi, đang là đối tượng đảng, quan hệ rộng có dượng làm to đi đâu có xe con túc trực (trừ đi vệ sinh). Anh học lớp đào tạo D12. C-500 trường Công An ở Thanh Xuân Hà Đông.

  Ngày mới quen, nghe anh nói tên, cái tên anh có nghĩa đen vô cùng ngắn, ba tôi kinh ngạc kêu lên: “Sao ba cháu đặt tên con như thế? Tên đã ngắn mà chỉ có họ và tên không lót. Cái tên rất quang trọng trong đời sống cháu ạ, nó ảnh hởng đến tương lai nữa kia. Ví dụ tên cháu là Cụt nghĩa đã ngắn thì phải thêm lót là Trường, Thanh hay Văn gì cũng được để cho nó trường ra.” Anh liền phân bua: “Tên cháu là do ông nội đặt, ông phản đối việc ba cháu thực hiện các chủ trương 'Vườn không nhà trống, tiêu thổ kháng chiến' của chính phủ; đã đập phá hết nhà ngói của ông. Tức quá ông đặt tên cháu như thế là để trả thù con trai ”.

*****
  Tôi tuy là con một nhà thơ bị oan trái trong thời nhân văn giai phẩm, dẫu điều này ít nhiều  khó khăn trong việc chọn ngành nghề và nơi làm việc, song điều đó chẳng ảnh hưởng đến tương lai hạnh phúc gia đình nhỏ của tôi. Điều tôi muốn nói ở đây nếu bạn gái khi lấy chồng đừng vì trai đẹp, đa năng hay gì gì nữa, mà hãy xem anh ta có biết chọn cho mình con đường đi tới tương lai; trong cuộc sống có biết nghĩ, lo cho gia đình hay không và có nghĩ đến vợ con hay không cũng đừng mong gì khác ngoài tự bản thân.

  Với tôi, tất cả những thứ này thực sự đều vô nghĩa, xa xỉ, chẳng giúp được tôi tí nào trong thời quá khứ cũng như hiện tại. Câu chuyện về một cái tên đã hé lộ nhiều điều cần lưu ý hơn.  Tôi không ngờ cái tên nghĩa ngắn của ông xã do ông nội anh đặt để trả thù con trai khiến ba tôi lo lắng lại là thủ phạm chính ảnh hưởng lớn đến tương lai cuộc sống của gia đình tôi thật sự. Tóm lại vì tên anh nghĩa ngắn nên suy nghĩ của anh về đường đời, về cuộc sống gia đình với con cháu, anh bảo: “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào” Tiền làm ra cho vào anh ruột là chắc nhất. Tôi và anh vào Sài Gòn năm 1977 làm việc tại công ty Animex. Hồi đó người ta thường nói: ai làm việc ở Cty có chữ EX=ết ết là hết sảy. Vậy mà đến nay 2017 tôi không mua nổi căn hộ tái định cư để lại cho con cháu, cả việc tôi phải bơm xe cho anh đi nữa đấy!

   Em trai tôi - nhà thơ Lâm Huy Nhuận có thơ rằng:
     Nửa đời ra hắt vào hiu
     Nửa đời lận đận – trăng thiu cuối trời
    Gia tài còn tiếng “Giời ơi!”
    Thốt kêu đã đẫy một đời sông sênh.

Và hơn thế nữa, nay tôi đã già nhưng lại kiêm cả cái việc “bơm xe” cho người chồng đa năng nhưng có cái tên nghĩa ngắn của tôi đi chơi na đấy


Lâm Bích Thủy
yenlan1916@yahoo.com
READ MORE - SAO MÀ ỨNG VỚI TÔI ĐẾN THẾ! - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

SAO CÔ ĐƠN CỨ Ở LẠI KHÔNG VỀ - Thơ Đình Thu

Tác giả Đình Thu


SAO CÔ ĐƠN 
CỨ Ở LẠI KHÔNG VỀ 

Ném về phía thời gian những muộn phiền
Cho sông dài chở đi ...
Sợ ai đó đưa bàn tay níu lại
Cô đơn ngập ngừng khóa trái
Đừng có hỏi tại sao?

Không có sự khác biệt nào lúc chia tay
Từ  từ... và nhiều lúc hối hả
Cũng đừng hỏi tại sao?
Bởi có mấy ai đủ tỉnh táo trả lời

Những trạng thái vỡ, rơi
Đều nằm ngoài nhận thức
Chưa thì mãi miết kiếm tìm
Khi biết rồi lại quay đi ...

Trả ngày tháng những đêm dài ngự trị
Khi ta cần không có một bờ vai
Cô đơn ư ! Chưa từng bỏ một ai
Nhưng đến lúc ta cũng không cần nữa

Mà thôi ... đừng có lần lữa!
Đừng ép con tim phải quên
Cũng đừng có đọa dày nỗi nhớ
Những mảnh ghép sẽ lồng vào hơi thở
Quá khứ bao giờ cũng ở phía sau lưng

Sự thất lạc của ái tình chỉ là cơ hội
Cho loài người tìm kiếm mà thôi
Đừng ngụy biện cho sự chia tay
Để người sau lấy làm bản nháp

Nhiều câu hỏi mà không có lời giải đáp
Điều vu vơ bất chợt giữa đời thường
Những nỗi buồn đều có cùng tên gọi
Sao cô đơn cứ ở lại không về!


Đình Thu
(Bến Tre)
READ MORE - SAO CÔ ĐƠN CỨ Ở LẠI KHÔNG VỀ - Thơ Đình Thu

THÁNG NĂM XANH - Chùm thơ Lê Thanh Hùng


Tác giả Lê Thanh Hùng

Tháng năm xanh                   
  Cầu em được người tình như tôi đã yêu em
                                                      – A.Puskin
Em bối rối, đó cũng là câu hỏi
Ngập ngừng đan trong mắt lá xanh xao
Chao chác sóng vỗ lời ai gọi
Bổi hổi rơi như chưa từng biết nhau
                         *
Lặng lẽ bước qua vòng xoay năm tháng
Khỏa lấp dần, mờ ký ức riêng tư ...
Vạt mây trắng cuối trời, trôi bảng lãng
Dấu nhỏ treo nghiêng, lưỡng lự chần chừ
                         *
Xa lắm rồi, niềm đau và nỗi nhớ
Chảy tan chiều, tràn vọng ảo ngày xanh
Trong góc khuất, có điều gì day trở
Lối hẹp, đường quanh, bóng nắng chòng chành
                          *
Mong em gặp thật là nhiều may mắn!
Hạnh phúc tràn đầy ly rượu ngày xưa ...
Câu thơ buồn rơi trong chiều phẳng lặng
Hãy quên đi, bên quán nhỏ chiều mưa
                           *
Hình như biển thôi xanh, ngày tiễn biệt
Cơn giông chiều, quậy đục tháng năm trong
Thấp thoáng dại khờ len ngời mắt biếc
Vừa chạm nhẹ hư không, trĩu nặng lòng
                           *
Thôi em nhé, đừng buông chiều, tóc rối
Đừng đắn đo, đời giăng rộng ấm nồng
Và ngày nắng nối ngày mưa - nông nỗi
Cầu sao em sẽ được điều anh mong ...
Lê Thanh Hùng

Lặng lẽ đợi em về
Anh vẫn chờ em, tan ca đêm
Góc phố mờ cong đèn phẳng lặng
Em một mình, đường xa trống vắng
Nỗi hoài mong ngun ngút bên thềm
                      *
Điếu thuốc cháy tàn đêm lẻ loi
Ngôi sao Mai, cô đơn bừng sáng
Đăm đắm treo cái nhìn lơ đãng
Quầng sáng hừng đông cũng lạc loài
                     *
Anh ngồi chờ em bên hiên thưa
Dõi mắt ngóng đường xa hun hút
Giọt sương sa, nhịp đời hẫng hụt
Bóng nắng vờn quanh dấu phỉnh lừa
                     *
Em về lặng lẽ, trong lao xao
Đường phố bừng lên, hương ngày mới
Lóng lánh giấu tình, anh đứng đợi
... Năm tháng hồn nhiên, một thuở nào
                      *
Xót xa xô đọng, nhịp đời quay
Ru quăn quíu một thời hoa mộng
Tình như không, nỗi niềm cháy bỏng
Buông hết rồi, sao còn đắm say ...
Lê Thanh Hùng

Thu vàng qua ngõ vắng
Anh vẫn đợi mùa thu bên ngõ
Ánh vàng mây xoắn xuýt lần qua
Xóm vắng buồn hiu, hun hút gió
Thương nhớ gì một người ở xa ?
                     *
Trôi đi, ơi dòng sông hoa mộng
Sẽ cồn cào phía biển ngoài kia
Trong mênh mông tứ bề gió lộng
Biển và sông không thể chia lìa
                     *
Anh vẫn đợi, dù không lời hẹn
Đứng bên bờ thu cũ ngày xưa
Tiếng lá dỗ, ru tình ghìm nén
Một thu vàng mộng ảo dây dưa
                     *
Anh vẫn biết đời xa xôi lắm
Dòng sông xưa về biển lâu rồi
Anh cũng đã mắt mờ chân chậm
Bao nhiêu điều mộng tưởng lần trôi ...
                     *
Biết vậy, nhưng chuyện đời vờn vẫy
Với nỗi niềm chìm đắm khát khao
Mùa thu mới, niềm vui gượng dậy
Em sẽ về, trong nắng lao xao ...
Lê Thanh Hùng
Bắc bình, Bình Thuận

READ MORE - THÁNG NĂM XANH - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Friday, July 14, 2017

HỎI - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn



   Tác giả Nguyễn Lâm Cẩn


HỎI

Em bảo:
Em yêu anh
Thời gian không cưỡng nổi!
Lại bảo:
Em đi đây
Tình yêu không có tội!

Anh trốn vào bóng tối
Anh trốn lên trời xanh
Chẳng nơi nào chứa nổi
Kẻ đói tình năm canh!

Em nói:
Em yêu anh
Không lực gì cản nổi
Lại bảo:
Anh đi đi
Ghìm lòng cơn mưa xối !

Anh trốn vào đêm tối
Nhìn em rõ hơn ngày
Anh chui vào huyệt đất
Xác tàn, hồn vẫn say…!

Thôi mà
Em đừng nói!
Thôi mà
Em đi đi!
Thôi mà
Em ở lại!
Tình ơi!
Em là gì?

Hà Nội, 14-7-2017
NGUYỄN LÂM CẨN

READ MORE - HỎI - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn

THƠ TỊNH ĐÀM


                    Tác giả Tịnh Đàm
 



ĐỢI...

Tóc bạc nhiều theo thời gian
Dòng đời trôi,vẫn cứ lan man buồn.
Người đi,đâu hẳn đi luôn
Mà nghe lòng vắng xa muôn nẻo về.
Bồn chồn ,chân bước mải mê
Ngày mai ước hẹn gần kề phải không ?
Bao niềm thương nhớ ,đợi trông
Hoá thành cánh bướm bềnh bồng
nỗi vui.

VỀ 

Về nghe thiếu vắng bên đời,
Những ân tình cũ của thời xưa xa.
Giờ trong năm tháng phôi pha,
Vẫn thầm tiếc nuối chuyện ta với
người.
Từ ly
Không nói nên lời,
Nước non ngàn dặm
Trông vời cố nhân.

                     TỊNH ĐÀM
                     (TP. HCM)

READ MORE - THƠ TỊNH ĐÀM

TÌNH TRONG “CƯỠNG XUÂN”, TẬP THƠ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Châu Thạch





TÌNH TRONG“CƯỠNG  XUÂN”, TẬP THƠ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
                                                        Châu Thạch

Có lẽ không ai cầm tập thơ “Cưỡng Xuân” của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến mà không có một chút hoang mang với tên của tập thơ... Một người bạn thơ nói với tôi: “Cưỡng Xuân” là khống chế mùa xuân, nghĩa là hoặc làm cho xuân đến sớm, hoặc làm cho xuân quay lại. Với tuổi đời của Đặng Xuân Xuyến hiện nay, cưỡng xuân tức là làm cho xuân đã đi qua quay trở lại. Riêng tôi, tôi cũng lấy cái chủ quan của mình để hiểu được phần nào ý nghĩa của hai từ “Cưỡng Xuân” khi đọc được hai bài thơ trong tập thơ này.
Bài thơ thứ nhất có đầu đề là “Cưỡng” như sau:

“Rỉ rắc mưa
Rét ngọt trở mùa
Em vê tròn ném tôi vào cơn lốc
.
Tay run rẩy
Lẩy từng khuy cúc
Ngai ngái hương
thầm thĩ
em cười
.
Vít cổ xuống
Cong người
Em rướn…
.
Em!”

Qua bài thơ này ta có thể hiểu em là người cưỡng xuân, nghĩa là em đã ép cho mùa xuân tình dục trong thể xác anh nẩy nở.
Bài thơ thứ hai là bài thơ “Xuân” như sau:

“Áo trắng em cười với gió đông
Run rẩy đào phai đón xuân nồng
La đà trong gió đôi vạt nắng
Ngơ ngẩn trai làng, ngơ ngẩn xuân”.

Như vậy cũng cho thấy em đã đưa mùa xuân tình yêu thuộc về phần tinh thần đến sớm trong tim những người trai làng. Vậy qua hai bài thơ trên, có thể hiểu “Cưỡng Xuân” trong thơ Đặng Xuân Xuyến là làm cho mùa xuân - tình yêu trong thể xác, trong tâm hồn dậy lên không theo một quy luật nào. Phải nói rằng tiếp theo cái tựa đề “Cưỡng Xuân” của tập thơ, hầu như các đầu đề của những bài thơ trong tập thơ này Đặng Xuân Xuyến dùng từ hoặc cụm từ như “Mơ”, “Lỡ”, “Chấp chới”, “Ấm Trời”…v..v đều ngắn gọn nhưng trừu tượng, xúc tích, thâm trầm và thâm thúy. Từ đó đọc thơ Đặng Xuân Xuyến, nếu ta cảm nhận được cái bề dày, bề sâu của nó thì ta sẽ thấy thơ ấy như một bức tranh nhỏ nhưng mô tả sống động một khung trời, khung đời hiện thực trong cuộc sống. Người viết bài này xin chỉ đề cập đến một góc cạnh trong phần nổi bật của tập thơ, với chủ đề tình yêu trong “Cưỡng Xuân”.
Đặng Xuân Xuyến yêu:

 “Trái tim anh không run vì thương hại
Sẽ ngàn lần không buộc khổ vào nhau”
                                       (Tình Anh)
Vâng, từ độ ấy đến giờ
Sông trăng dẫu cạn vẫn chờ đò xưa
Cầu trời đổ một trận mưa
Cho sông trăng nước đò xưa trở về.
                                (Sông Trăng)

Đoc những bài thơ của Đặng Xuân Xuyến trong “Cưỡng Xuân” ta hay gặp những cuộc tình chớp nhoáng như chỉ để khỏa lấp sự trống vắng trong đời nhưng thật ra, qua những câu thơ trên ta khám phá được tính cao thượng và chung thủy trong con tim yêu chân thành và sâu đậm của người thơ. Từ cái tình yêu quá đỗi chân thành và sâu đậm đó đã làm cho nhà thơ trở nên bi quan vì không ai đền đáp đủ trong đời:

Quá khứ buồn cứ để lạc trôi
Trăng với sao không đắp nền hạnh phúc
Thuyền với biển không nối cầu nguyện ước
Mây gió buồn cứ để dật dờ trôi.
                             (Quá Khứ)

Tình yêu “trăng với sao” là thứ tình yêu đầy thơ mộng nhưng cũng không đắp thành “nền hạnh phúc” được. Rồi tình yêu “thuyền với biển” là thứ tình yêu gắn bó keo sơn cũng gảy đổ cây “cầu nguyện ước”. Thế nhưng tác giả không quên đi bao giờ bởi vì “Quá khứ buồn cứ để lạc trôi/ Mây gió buồn cứ để dật dờ trôi” nghĩa là nó không tan đi, không biến mất, còn hóa ra thiên hình vạn trạng, dật dờ trôi trên bầu trời kia mãi mãi. Bầu trời kia là gì? Phải chăng là tâm hồn bao la của tác giả, là ký ức chứa những đám mây tình. 
Từ những kỷ niệm buồn trong đời, nhà thơ mang mặc cảm, không còn thấy mùa xuân với hoa lá của nó. Nhà thơ nghĩ rằng tất cả niềm vui trong tình đều là sự “Cưỡng Xuân” nghĩa là mình hay ai đó phải tự làm cho mùa xuân đến, và chỉ cần đến để thỏa mãn cơn khát tình là đủ:

“Ừ thì rượu. Ừ thì thơ. Ừ mộng đẹp
Ừ thì say cho hỉ hả phong trần
Đêm phập phồng, ngực nõn hứng trăng non
Môi đón lưỡi uống hương tình bất tận.
.
Yêu thương nhé
Một lần thôi. Là đủ
Ta đâu cần gian díu giữa nhân gian…”
                                      (Say Yêu)

 Đọc cái chủ đề tập thơ là “Cưỡng Xuân” và những bài thơ bên trong như “Ẩm Trời”, “Cưỡng”, “Khát”, “Đêm”, “Say Yêu”…v..v nhiều người có thể cho rằng nhà thơ Đặng Xuân Xuyến thiên vể sự khoái lạc của tình dục. Thật thế, trong những bài thơ này tình yêu nóng như lửa, sôi động như phong ba làm da thịt người xem thơ cũng nóng lên hừng hực. Tuy vậy, nói như trên là ép tác giả. “Cưỡng Xuân” trong thơ Đặng Xuân Xuyến chỉ là hành động đáp ứng nhu cầu tình yêu cần phải có do đòi hỏi của con người, còn “Xuân” với hương hoa đầy đủ ý nghĩa của nó luôn luôn có trong thơ và trong tâm hồn tác giả nên không cần phải cưỡng. Xuân ấy là sức sống ứ căng. Có sức sống của xuân thì mới cưỡng được xuân đến với mình. Nếu nhà thơ Đặng Xuân Xuyến không có sẵn xuân trong hồn thì sẽ chẳng bao giờ cưỡng được xuân vì sẽ ít có hoa nào nở trong giá lạnh, mà không có hoa thì chẳng có xuân bao giờ. Bởi vậy đọc toàn bộ tập “Cưỡng Xuân” với 80 bài thơ ta mới thấy xuân tồn tại trong mỗi bài thơ với sức sống tươi thắm của nó, ta mới thấy xuân tồn tại trong nhiều bài thơ với chân tình của nó, với niềm say đắm đam mê, thanh khiết trong con tim chan chứa tình yêu.
Người viết xin rút gọn bài thơ có 12 câu còn 6 câu để khái quát cái điều mà tác giả tự nhủ đặt trong tim:

Đừng khắc lời thề trên đá
Đừng vẽ lời thề trên cát
Đừng ghim lời thề trên lá
Hãy nghe vọng tiếng con tim!
Hãy thở nhịp đập trái tim!
Hãy đặt trong tim lời thề!
                   (Đừng Thề)

“Hãy đặt trong tim lời thề” nhưng nếu ta bị lỗi thề thì phải “Cưỡng Xuân” nghĩa là cố mà quên để “đón bình minh trước cửa”:

Ừ ly nữa
Ừ thêm ly nữa
Ừ thì say! Ừ quên quãng sống thừa
Quên bóng tà lẩn khuất phía song thưa
Ta cạn chén đón bình minh trước cửa.
                                    (Men Đắng)

Tuy thế nhiều khi cưỡng xuân phải chịu đau thương vì đó là hậu quá của những điều trái với lẽ tự nhiên:

Anh ngại ngùng khi em chợt hỏi anh
“Anh hạnh phúc hay chỉ lời chót lưỡi”
Biết nói sao để không thành giả dối
Rưng rức buồn…
Day dứt giấc mơ trăng.
                              (Mơ Trăng)

Với những bài thơ như “Người Xưa”, “Hương Thu”, “Tim Đau” và nhiều bài thơ khác ta thấy ở Đặng Xuân Xuyến một con tim thả lỏng tình yêu như thời còn trai trẻ, sôi động, thật thà, tha thiết, chân thành kể cả những lúc cưỡng xuân:

Đứng trước em anh thành người rất lạ
Thả rông hồn đắm đuối mắt em
Em rất gần
Nhưng cũng thật xa xăm
Em hời hợt để anh thèm vị biển
Em hoang sơ để anh khát đại ngàn
                                    (Trả Em)

Yêu như thế là yêu với tất cả trái tim còn xuân. Lánh yêunhư sau đây là lánh yêu với con tim đau nhưng vẫn là con tim còn xuân trẻ:

Thôi đành như người xa lạ
Hững hờ gom gió mùa đông
Thẩn thơ nhìn cây trút lá
Lánh nghe điệu lý tơ hồng
                    ( Lánh Yêu)

Tóm lại, đọc “Cưỡng Xuân” (Xem: /cuong-xuan-tho-tinh-ang-xuan-xuyen-tinh.html) của Đặng Xuân Xuyến, ta có hai sự rung động cùng một lúc. Đó là sự rung động của con tim yêu chân tình, say đắm và độ lượng. Cùng lúc đó cũng bốc lên trong bầu máu nóng của ta một thứ hương tình cúa thể xác. Hai thứ hương đó quyện vào nhau cho ta sự khoái lạc lạ lùng trong nỗi đau khổ quặn thắt. Khoái lạc vì thơ Đặng Xuân Xuyến như ngùn ngụt ngọn lửa của ái ân thể xác và của âu yếm tinh thần. Đau khổ vì thơ Đặng Xuân Xuyến làm lạnh con tim, nỗi sầu được diễn tả như bông lơn nhưng làm cho người nghe quặn lòng se thắt. Thơ đó không phải là thứ thơ hư cấu. Thơ đó là thứ thơ nở ra như những bông hoa trường trãi được nẩy mầm từ hạt của nó, hạt ấy đã bị vui dập trong bao nhiêu biến động của đời./.

                                                     Đà Nẵng, ngày 13.07.2017
                                                              CHÂU THẠCH 

READ MORE - TÌNH TRONG “CƯỠNG XUÂN”, TẬP THƠ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Châu Thạch

Thursday, July 13, 2017

RU NGÀY - RU TÌNH - Thơ Trần Mai Ngân



                 Tác giả Trần Mai Ngân


RU NGÀY - RU TÌNH

Tôi đi quanh một ngày đã tắt
Tôi đi quanh cuộc đời xế bóng
Bỗng em về ru lại tình tôi
Thoảng hương trầm ngày cũ tinh khôi 

Tôi đi quanh nỗi buồn hấp hối
Có tay em ngón dài níu lấy
Kéo tôi ngồi kể chuyện xa xôi
Nước mắt nào- ngọn nến lệ rơi 

Ru đi em, ru đời đi em
Ru mi ngoan đêm dài xin thêm
Quên đi em dối gian của người
Ru đi em môi cười cho nhau...

Ta đi quanh một ngày lê thê
Ơn cho nhau đi về đam mê
Ta ru nhau, ru đời qua nhanh
Ta đi quanh lối mòn quẩn quanh!

                         Trần Mai Ngân

READ MORE - RU NGÀY - RU TÌNH - Thơ Trần Mai Ngân

LỠ HẸN - Thơ Bành Phi Lân



   Tác giả Bành Phi Lân



LỠ HẸN

Đã hẹn cùng em về quê mẹ
Thăm lại dòng sông thuở ấu thơ
Trên con đường làng ngày đi học
Lối về trường cũ bao ước mơ!

Ôi chao ngày ấy lung linh quá
Áo trắng em bay rộn cả lòng
Những bài học khó sao mau thuộc
Viết mãi vần thơ sao chẳng xong?

Ánh đèn trụ điện khi mờ tỏ
Bóng đỗ nhà ai vẫn ngại ngùng
Chỉ hiểu lòng mình viên sỏi nhỏ
Chiếc cầu đã gãy, mấy từng không!

Giờ em về lại thăm trường cũ
Thăm lại thầy xưa với bạn bè
Khuôn mặt hân hoan, lòng mở hội
Phượng đỏ sân trường, nức tiếng ve

Còi tàu giục giã, em đi nhé!
Lại hẹn lần sau anh sẽ về . . .
Đường đời có khi muôn ngả rẽ
Cùng về nhìn lại ánh trăng xưa.

                        Bành Phi Lân
(Viết cho ngày Họp mặt của cựu học sinh Nguyễn Hoàng-Quảng Trị tại Thị xã Quảng Trị ngày 14&15/7/2017)

READ MORE - LỠ HẸN - Thơ Bành Phi Lân

Wednesday, July 12, 2017

NÍU TRĂNG - Thơ Hiệp Kim Áo Tím





NÍU TRĂNG
(Viết lại cảm xúc một đêm trăng trên đảo Bình Ba)

Trăng tròn mười sáu dễ thương ghê 
Ta kéo mây bông đón trăng về 
Biển cười khúc khích sao vui thế 
Ngắm mãi chị Hằng qua cơn mê

Trăng theo trên lơ lửng mấy tầng cao
Gió khẽ đung đưa điệu ngọt ngào 
Ta đi trăng chạy cho mau nhé
Bóng tròn soi sáng sóng chênh chao

Ta níu trăng kia xuống đây nào
Lẻ loi chú cuội bóng gầy hao
Cây đa ngồi mãi buồn năm tháng 
Ngày rằm trăng sáng đẹp làm sao

Ta níu thời gian đến từng ngày 
Trăng tròn con gái thuở thơ ngây 
Mong trăng dịu mãi như thế đấy 
Trần gian ngắm mãi ánh sáng đầy

Ta níu trăng về với biển xanh
Cầu cho nhân thế được an lành 
Sao hờn trốn chạy sau ghềnh đá
Để sáng bên đồi đẹp như tranh

               Hiệp Kim Áo Tím 
               Bình Ba, 9/7/2017

READ MORE - NÍU TRĂNG - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

KHI CÔ ĐƠN - Thơ Trương Đình Đăng



        Tác giả Trương Đình Đăng



KHI CÔ ĐƠN

Ta xa lánh hay đời xa lánh
Tháng rộng năm dài lặng lẽ trôi
Gác bút câu thơ mờ nét chữ
Tìm nhau địa chỉ biến đâu rồi !

Dấu chân bạn cũ tràn rêu cỏ
Chiều hoang cún nhỏ vểnh tai chờ
Khướu quên cả tiếng kêu chào khách
Cu buồn mỏ rúc ngủ lơ mơ !...

Ta xa lánh hay đời xa lánh
Để suốt năm canh nhớ dậy triều 
Rả rích tàn đêm nghe dế gáy
Âm thầm sáu khắc bóng cô liêu !

Chợt hiểu - Vì sao vắng bạn đời
Loài chim lẻ bạn gọi tàn hơi
Rồi ta cũng thấm khi đơn lẻ
Là đã mất đi tiếng nói cười !

                      09/7/2017 
              Trương Đình Đăng

READ MORE - KHI CÔ ĐƠN - Thơ Trương Đình Đăng