Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, May 15, 2013

VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ - thơ xướng họa Lê Đăng Mành, Phương Ngữ, Lê Trường Hưởng, Trần Ngộ


VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ 
                                     
Đã tới nơi rồi ngõ Hiển Nhơn*
Dấu xưa lối quặn giữa vô thường
Yên bình trơ tráo nòng cao xạ**
Quay quắt thẫn thờ bút nhạt chương
Thương nhớ Hàm Nghi Tân Sở vọng
Cảm hoài Thị Điểm phượng hồng vương***
Di Luân Đường lặng nghênh xe pháo
Trường vắng loay hoay hỏi phố phường.   
                                      
Lê Đăng Mành                                    
Mùa Phượng bay 2013


*Hoàng Thành và Tử Cấm Thành  được gọi chung là Đại Nội  (trong đó, Tử Cấm Thành hay Cấm Thành là vòng thành trong cùng theo kết cấu "ba vòng thành" của kinh thành Huế, là  khu vực dành riêng cho gia đình nhà vua ở ). Hoàng Thành có 4 cửa:


Cửa Ngọ Môn
1. Cửa Ngọ Môn (phía Nam, trông ra đường 23 tháng 8)
Cửa Hòa Bình

2. Cửa Hòa Bình (Bắc, trước dành cho vua đi chơi, trông ra đường Đặng Thái Thân)






Cửa Chương Đức
3. Cửa Chương Đức (Tây, trước dành cho phái nữ, trông ra đường Lê Huân) 

Cửa Hiển Nhơn
4*Cửa Hiển Nhơn (Đông, trước dành cho phái nam, trông ra đường Đoàn Thị Điểm)



**Sân trường là bảo tàng lộ thiên
***Đường phượng bay

Họa 1: 
ĐỒNG CẢM

Người về vãng cảnh tưởng hiền nhơn
Năm tháng phôi pha giữa thế thường
Nhớ buổi sách đèn nung chữ nghĩa
Gợi hồn khách bút nối văn chương
Lộng tàn một thuở từ lâu vắng
Chương- Hiển hai đường dấu cũ vương
Non nước bao lần dâu bể trải
Kinh xưa công quạ ở chung phường.
                                                         
PHƯƠNG NGỮ
(ĐÀ NẴNG)

Họa 2:
VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ

Cùng tới phía đông nhập Hiển Nhơn
Xưa dành nam tử lối bình thường
Bảo tàng sao vẫn vươn nòng pháo
Lớp học còn đâu thảo tấu chương
Cửa Bắc Hàm Nghi buồn nước mất
Cửa Tây thục nữ lệ còn vương
Luân Đường đến thắp hương ngài Khổng
Trường cũ vắng hoe ở giữa phường
                                               
Lê Trường Hưởng

Họa 3:
QUÊ MẸ

Nhớ ngày thăm bạn ở Hưng Nhơn
Quê mẹ giờ đây đẹp lạ thường
Chùa tháp cuốn lôi hồn nghệ sĩ
Cảnh tình quyến rủ khách văn chương
Đêm mưa nhớ chốn hàng châu đổ
Mùa bão thương nhà giọt lệ vương
Mỗi bước ly hương ngàn bước tủi
Làm sao quên được xóm thôn phường
                                              
Trần Ngộ
(Lâm Đồng)


Lê Đăng Mành biên tập 


READ MORE - VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ - thơ xướng họa Lê Đăng Mành, Phương Ngữ, Lê Trường Hưởng, Trần Ngộ

THÔI THẾ! - thơ Hoàng Yên Linh

Hoàng Yên Lynh

Một mình hết rượu lại cà phê
Lặng lẽ tình ta với cố quê
Không như Phạm Thái đời rong ruổi
Mộng nhớ Quỳnh Như lỗi ước thề.

Lần lữa với đời bao ước mơ
Ngậm ngùi trang trãi hết vào thơ
Ới ơi nhân thế ... Sầu nhân thế
Sa cõi trầm luân chẳng bến bờ.

Thôi thế đường đời lại quẩn quanh
Không sầu không nhớ chẳng tình nhân
Chiều nay đốt thuốc ngà men rượu
Cũng hết trăm năm với cõi trần.

HOÀNG YÊN LYNH
READ MORE - THÔI THẾ! - thơ Hoàng Yên Linh

THƠ XƯỚNG HỌA của Nguyễn Vô Cùng, Trương Đình Đăng, Vĩnh Hoàng, Lê Đăng Mành, Trần Ngộ, Lê Văn Thanh, Hồ Trọng Trí , Lôi Vũ từ


Xướng: 
ĐƯA KHÁCH

Xướng họa thơ đường cũng thiệt bui*
Cụ già ngoài nớ tán nghe bùi
Câu ba cay tựa mùi gừng nướng
Liễn bốn ngọt như vị mía lùi
Thương kẻ chăn đơn thân gió dập
Mến người gối chiếc phận mưa vùi
Lòng từ không đáy thầm đưa khách 
Thuyền đã xuôi buồm chớ thụt lui

*Bui = Vui (tiếng Quảng Trị)

Trần Ngộ
(Lâm Đồng)


Họa: 
CỤ ĐÀNH LUI

Thơ đường xướng họa cốt mua bui
Tẩy bớt chua cay tạo ngọt bùi
Gừng nướng tiêu cương hàn khí giải
Mía lau trừ hỏa nhiệt can lùi
Chăn đơn rụt cẳng tròn đêm ngáy
Gối chiếc chêm tay suốt sáng vùi
Cũng bởi lòng từ nên ý chối
Nhiều nơi giục tới cụ đành lui

Trương Đình Đăng
(Đà Nẵng)

***

Xướng: 
VÒNG TAY MẸ ẤM

Quê hương từ độ mịt mù xa
Dáng mẹ thềm xưa chẳng nhạt nhòa
Trăm nỗi ưu sầu cơn quốc nạn
Một đời tần tảo buổi phong ba
Thân con bao tuổi còn thơ dại
Tình mẹ ngàn năm mãi đậm đà
Khao khát đôi vòng tay mẹ ấm
Dù con mái tóc đã sương pha

Nguyễn Vô Cùng
(Mary Land)


Họa: 
TÌNH MẸ
(Họa nghịch vận)

Hai thời kháng chiến chữa phôi pha
Bao cấp quảng canh lại quá đà
Lưng mẹ đã oằn đau chiến nạn
Thân già nay lại khổ bôn ba
Thương con thương cháu đành y xứ
Nhớ cội nhớ quê mắt lệ nhòa
Dưỡng dục con chưa tròn báo đáp
Mẹ ơi ! Sao mẹ nỡ lìa xa ...

Lê Văn Thanh
(BRVT)

***

Xướng: 
BÓNG TRẠO CHIỀU RƠI

Gác mái thuyền nương đậu bến Hàn
Lắng hồn nghe sóng vọng thời gian
Biền xanh cánh nhạn khua chiều muộn
Lối cũ đường thôn nhuộm nắng tàn
Sáo đã sang sông ngày bão tố
Dòng còn giữ bóng phía tâm can
Niềm riêng gọi trạo miền xa vắng
Hòa tiếng chuông ngân cửa đạo vàng

Trương Đình Đăng
(Đà Nẵng)


Họa: 
TIẾNG NHẠN KÊU ĐÀN

Thuyền ai thấp thoáng giữa sông Hàn
Còn thả giọng hò luyến thế gian
Sóng nhuộm màu mây pha nắng nhạt
Trời in bóng nước lộn mưa tàn
Ông chài gác mái trông dòng chảy
Ngư phủ cắm sào thỏa phế can
Tiếng nhạn kêu đàn nghe quạnh vắng
Hoàng hôn hòa quyện nhịp chuông vàng

Trần Ngộ
(Lâm Đồng)

***

Xướng:
KHUYÊN MÌNH

Thôi về cho kịp kẻo người ta ...
Phận vợ đi đâu chớ để mà ...
Vâng dạ lo gìn nền của giống...
Trình thưa liệu giữ nếp con nhà...
Dưỡng nuôi mẹ yếu đừng lo phải...
Cung phụng cha đau chẳng sợ là...
Rể thảo dâu hiền nào có mấy...
Đạo đời chưa trọn mới sinh ra...

TRẦN NGỘ
(Lâm Đồng)

Họa 1:
NHẮN AI

Trông thấy trò đời khiến dạ ta...
Kỷ cương phép nước để đâu mà...
Lương tâm đạo lý chừng như giống...
Nền nếp gia phong đã khác nhà...
Quên phận tôi ngay toàn tính phải...
Bỏ danh công bộc chỉ lo là...
Dưới trời âm vọng còn vang mấy...
Tham lắm có ngày đổ khỏi ra...

TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG
(Đà Nẵng)

Họa 2:
ĐỢI

Nòng nanh* mà nói thì lòng ta...
Sợ xía bút vô khó hỏi mà...
Đầu trộm đuôi tham in cái giống...
Tay quơ miệng góp tợ đồ nhà...
Khoa trương nhân nghĩa mưu mô phải...
Quảng bá đức nhân gạt gẫm là...
Lồng lộng lưới trời giăng đợi nó...
Qua mưa nước hạ ló đuôi ra...

LÊ ĐĂNG MÀNH
(Quảng Trị)

  * nòng nanh: xí xọn

Họa 3:
CẨN TRỌNG

Họa thơ thật khó bởi vì ta...
Muốn tiến bộ nhanh ấy thế mà...
Kẻ xướng chưa tròn khâu diễn ý.
Người hòa khó vẹn tiếng là nhà...
Giao lưu trên mạng nên cân nhắc...
Trao đổi trong đời chắng buộc là...
Thi hữu đa phần không nắm được...
Văn chương bát nháo mới thành ra...

Hồ Trọng Trí
(Kim Long, BRVT)

Họa 4:
TỰ TRÀO

Lôm côm học mót tưởng rằng  ta...
Tri thức lưu manh cứ nghĩ là...
Tai bạt chân khều trông thật giống ...
Mày thô vĩ tán đúng con nhà ...
Bạc tiền rỗng túi đâu cần phải ...
Đói khát xin ăn có thế mà ...
Sống thực như ta đời được mấy ...
Dối trên lừa dưới mới thành ra ...

Lê Văn Thanh


Họa  5:
CẢNH GIÁC

Trò đời  lắm chuyện dối lường ta
Mưu trí thâm sâu trục lợi mà
Nhân nghĩa đâu còn, cần cội rễ
Của tiền che khuất, chỉ soi nhà
Bên ngoài son phấn  xem lòe loẹt
Miệng mép đải đưa  đụng phải là
Một bọn dối lừa sâu mọt cả
Coi chừng mắc bợm mới nhìn ra.

Vĩnh Hoàng


Họa 6:
TỰ TRÀO
(Thơ triệt hạ)

Lôm côm học mót tưởng rằng ta...
Tri thức lem nhem cứ ngỡ là...
Tai bạt chân dài trông thật giống... (*)
Mày thô đuôi tán đúng con nhà...  (**)
Không danh không lợi đâu cần phải...
Thiếu áo thiếu cơm có thế mà...
Sống thật như mình đời được mấy...
Dối trên lừa dưới mới thành ra...

Lê Văn Thanh

(*) Tai bạt chân dài (lều khều)
(**)Vỉ tán: Tài nan tụ ( "Ma Y thần tướng": Lông mày rậm đuôi tán thì nghèo)

*** 
Xướng: 
GẪM TRĂM NĂM

Còn những bao thu đợi ý trời
Đếm xuân vừa mới bảy mươi thôi
Qua thời lãng tử xa danh vọng
Đến buổi nhàn cư xót sự đời
Bia đá công hầu mưa nắng gội
Mộng vàng vương đế tuyết sương phơi
Còn chăng  chỉ có hồn danh sĩ
Mãi mãi tiếng lòng nhân thế soi

Lôi Vũ Tử
Cali


Họa y đề: 
GẪM TRĂM NĂM

Xuân hạ thu đông luận đất trời
Sinh thành hoại diệt tiếp nhau thôi
Hữu tình vạn thuở đau thân thế
Vô cảm thiên thu uổng phận đời
Phú quý công danh vùi cát bụi
Sinh linh muôn loại máu xương phơi
Còn chăng sót lại lòng nhân ái
Quãng dại tinh thần mãi sáng tươi
                                      
Lê Văn Thanh

READ MORE - THƠ XƯỚNG HỌA của Nguyễn Vô Cùng, Trương Đình Đăng, Vĩnh Hoàng, Lê Đăng Mành, Trần Ngộ, Lê Văn Thanh, Hồ Trọng Trí , Lôi Vũ từ

MẤY CÂU ĐỐI BÌNH DÂN Ở QUẢNG TRỊ - Nguyễn Hồng Trân (sưu tầm và giới thiệu)


                        
1.Thầy thuốc hay ho, không uống rượu
Bệnh nhân sốt sắng, được ăn chè.

2.Thuốc sơ sơ, nhờ thần hiệu
Thầy dở dở, đỡ xóm giềng.

3.Bánh ít nhiều đường, bánh ít ngọt
Chè kê vừa mật, chè kê ngon.

4.Cháo bột Diên Sanh, thơm cay hấp dẫn
Bánh gai Thượng xá, ngon ngọt đậm đà

5.Rượu trắng Kim Long, uống rồi, thích uống nữa
Nem chua Chợ Sãi, ăn đã, thèm ăn thêm.


Lưu ý: Năm câu đối bình dân nêu trên, khi đọc lên chắc nhiều người đã dễ hiểu. Riêng vế câu đối đầu tiên rất hay; không những hay về ý nghĩa chuyện ẩm thực dân gian mà trong đó còn ẩn ý về tính chất, thái độ xử sự tình thế của người đời.

Cụ thể là chữ “hay ho”: nghĩa đen là bị chứng bệnh ho luôn, nhưng từ láy “hay ho” có nghĩa khác là thầy thuốc giỏi.

Câu thứ hai trong vế đối 1, có từ láy “sốt sắng” thì “sốt” cũng là một chứng bệnh sốt, và từ láy “sốt sắng” cũng nói nên tính chất hoạt bát đã phục hồi được sức khỏe của bệnh nhân.

Ghi chú: Những cặp câu đối 1, 2  là do cụ Giáo Tiềm (thầy thuốc Bắc ở chợ Diên Sanh) sáng tác. Còn lại các cặp câu đối khác là từ dân gian không rõ có từ khi nào và do bà cụ Phan Thị Cúc (làng Thượng Xá) kể lại và Nguyễn Hồng Trân ghi chép.
READ MORE - MẤY CÂU ĐỐI BÌNH DÂN Ở QUẢNG TRỊ - Nguyễn Hồng Trân (sưu tầm và giới thiệu)

CON ĐƯỜNG CÓ HOA BẰNG LĂNG - thơ Nguyễn Thu


Đường về nhà em bằng lăng xanh lá
Con đường hoa tím, con đường quen
Bơ vơ anh đứng chiều xưa ấy
Vỗ giấc ngu ngơ chín mắt chờ

Em nhí nhảnh đi, về đâu biết
Gốc mòn quen ngỗ ngược trồng si
Câu thơ chứa hết lời muốn nói
Đẫm ướt lòng yêu tuổi xuân thì

Duyên quá đỗi vô tình, em biết đấy!
Lâu đài cao hờ hững người dưng
Chim én nhỏ làm sao thắt buộc
Nẻo kiêu sa những lắm hẹn hò

Vài cánh tím xoay tròn sắc thắm
Lòng giận hờn nghẹn bước chông chênh
Trong kí ức em ngàn nỗi nhớ
Ngẫn ngơ hồn sa lưới nhện vây!

Chiều không mây hàng cây râm mát
Đóa hoa đời nở đỏ môi nâu
Xôn xao sợi nắng rời kẻ lá
Đọng giữa tay trần muôn sắc em

Nguyễn Thu
nguyenthu123go@gmail.com
READ MORE - CON ĐƯỜNG CÓ HOA BẰNG LĂNG - thơ Nguyễn Thu

MƯA RƠI - Ngọc Tình họa thơ HL


VƯỜN CŨ

Thu vàng không một lá xanh chen
Người đứng bồi hồi khẽ gọi tên
Có phải hoa ngày xưa vẫn nở
Hay còn lưu lại chút hương quen?
Người đi, đi cả trời xanh biếc
Ta đến, đến cùng đất đậm men
Vườn cũ đây mà nàng chẳng thấy
Bâng khuâng lá gửi điệu môi kèn


HL


Bài họa
MƯA RƠI

Trời chiều nhuộm tím lá vàng chen
Tiếng sóng vọng về gọi một tên
Cứ tưởng tình ai còn ấm áp
Đâu ngờ hờ hững tỏ không quen
Nghẹn ngào lẻ bóng cây cần nước
Thổn thức tủi duyên rượu nhạt men
Lời hẹn năn nào tan giấc mộng
Mưa rơi làm dập đóa loa kèn.

TN 12-5-2013
Ngọc Tình
nguyentinhtn@yahoo.com.vn
READ MORE - MƯA RƠI - Ngọc Tình họa thơ HL

CHÙM THƠ DỰ THI “LỜI TỎ TÌNH ĐẦU TIÊN” TRÊN FACEBOOK LẦN 01 NĂM 2013 - Nguyễn Ngọc Hưng

Nguyễn Ngọc Hưng


Bài 1.

KHOẢNH KHẮC DIỆU KỲ
(Kỷ niệm “Giây phút ban đầu ngày ta gặp nhau”)
 


Trong suốt 
Có thể thấy từng tế bào
Phập phồng thở

Tay trong tay vẫn nhớ
Mắt trong mắt còn mơ
Đầy
Rỗng
Dại khờ

Chẳng biết mình đang sống lịm trong thơ
Hay đang chết ngọt ngào trong nhạc
Im lặng vang
Cõi này
Cõi khác

Có một làn sóng âm đi lạc
Từ muôn xưa
Thảng thốt dội về
Đê mê
Khẩn cấp

Đất trời nhập lại tan ra
Nhập lại
Tan ra
Nhập
Tan
Tan
Nhập… 


Bài 2.

HOÀNG HÔN BIỂN
(Gửi hồng nhan tri âm)
 


Ở núi lâu ngày cứ tưởng chỉ mỗi mình nguyên sơ hoang dã
Lòng vấn vương nỗi gì không rõ bất chợt thu 
Một khuôn biển ngậm xanh pha sương vàng nắng nhạt
Gợi khát khao về những vẻ đẹp lãng quên đâu đó phía xa mù

Này đây một nhành cây như mọi nhành cây cố vươn mình hướng sáng
Nhẹ nhõm nghiêng vai cho hồi quang len kẽ lá qua chiều
Một cánh buồm như mọi cánh buồm hối hả lao về bến
Còn vẫy lên trời nâng tiếng hải âu kêu

Lăn lóc bờ những vỏ ốc trở màu những mặt đá thẫm rêu
Đôi lùm bụi lơ thơ rủ rỉ côn trùng góp giọng vàng giọng bạc
Cát và sóng đu đưa nhịp nhàng theo giai điệu trùng dương bát ngát
Ca ngợi tình yêu cuộc sống mênh mông lan tỏa đến vô cùng

Núi cao, biển sâu cũng chỉ gợi thương một nơi gợi nhớ một vùng
Ai thanh thản gió chìm để day dứt lòng ai u ám rập rình giông bão nổi
Mặt sáng đêm đêm ngẩn ngẩn ngơ ngơ đi tìm dấu yêu mặt tối
Đâu biết tự mình huyễn hoặc khuyết tròn trăng

Mấy ngọn cỏ lông công với hời hợt lũ còng đuổi gió chạy lăng xăng
Sao dò thấu thăm thẳm chân tâm kiếp dã tràng lặng câm xe cát
Có dốc biển vào đâu trống vắng tri âm chiều vẫn nhạt
Cốc hoàng hôn đơn độc rót sao đầy! 


Bài 3.

ƠI À VỚI KIM CÚC

Ngày thu đã đẫm nắng vàng
Sang xuân lòng vẫn mơ màng sắc thu
Có người dứt áo đi tu
Lên chùa chạm bóng vi vu quay về

Bên thềm dở tỉnh dở mê
Ai như Cúc thả tóc thề đợi ai

Nam mô lược giắt trâm cài
Thu vàng một xuân vàng hai ba vàng
Tiếc mình xưa chẳng “to gan”
Đành nay “lớn mật” muộn màng hát ru 

À ơi tơ nhện lu bù
Ơi à giọt mắt đánh đu gió mùa…


Bài 4.

NỖI LÒNG THẠCH THẢO 
(Gửi người tôi yêu)


Bám trên đá
Nảy mầm trên đá
Rồi nở hoa trên đá
Lâu ngày mưa nắng thành tên

Đã cảm
Đã yêu
Người ở sát bên
Loanh quanh mãi
Chưa cách gì đến được

Khó hơn leo lên chênh vênh nghìn thước
Khó hơn tát bể tìm ngọc ước
Khó hơn vẹt bóng u minh 
Là vượt qua nỗi sợ bản thân mình

Trắng
Hồng 
Tím
Ba sắc một cuộc tình
Ai bảo hôn phối này đơn điệu

Đã không hiểu xin đừng cố hiểu
Đã yêu rồi xin nhớ đừng quên
Mùa thu chết tình thu không chết
Buông tay cũng là cách đáp đền

Mặc người đẹp xuống thơm lên
Cuối thu mới biết ai bền hơn ai!


Bài 5.

LỜI CỦA RIÊNG ANH

Sáng em đi đã lo trưa nắng cháy
Chiều em đi lại lo tối mịt đường
Em một bước lòng anh trăm thắc thỏm
Lo bụi ngợp trời lo đất mù sương

Ngày em vui mặt anh sáng như gương
Em một nhăn mày anh muôn u ám
Vương bóng mây cả bầu không ảm đạm
Huống triền miên em đủ bệnh trên đời

Kinh Thánh còn ghi thế giới khởi Lời
Lời- của- riêng- anh chính là em đó
Một tiếng ho một tiếng cười nho nhỏ
Đủ “uy quyền” đảo mưa-nắng, nắng-mưa

Khuya khoắt rồi em đã ngủ yên chưa
Lạnh lắm đấy đêm nhớ quàng ấm ngực
Nếu phải thức để một mình anh thức
Vui gì hơn khi em trọn giấc lành

Em đã vì anh hết dạ chân thành
Hãy cho anh được vì em tận sức
Leo đỉnh núi cao lăn vào đáy vực
Đổi thân này lấy một mẩu linh chi

Ơi liễu bồ, chớ sương khói hồ nghi
Em càng yếu anh càng yêu vô kể
Nếu không thế làm sao anh có thể
Sống an tâm không sống phí sống thừa!

NNH.
READ MORE - CHÙM THƠ DỰ THI “LỜI TỎ TÌNH ĐẦU TIÊN” TRÊN FACEBOOK LẦN 01 NĂM 2013 - Nguyễn Ngọc Hưng

VIẾNG CHÙA BÁI ĐÍNH - Chùm thơ Kim Hồng Nguyễn Hồng Cẩm

KIM HỒNG NGUYỄN HỒNG CẨM


Nguyễn Hồng Cẩm
Bút danh KIM HỒNG
Nguyên Trưởng phòng GD&ĐT huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị












Viếng chùa Bái Đính

Cùng đoàn SEQAP đến thăm
Chùa Bái Đính mấy trăm năm bây giờ.
Viếng chùa lòng những ngẫn ngơ
Năm trăm pho tượng như chờ trông ai.
Trước Đức Phật Tổ Như Lai
Tôi như lạc lối cùng ai một chiều.
Chùa tỉnh lặng, khách  đăm chiêu
Chuông chùa nghe vọng những điều Phật răn.
Cuộc đời bể khổ ai ngăn
Sống tu tích đức thiện căn ở người.
Chùa cao,chuông nặng, Phật ơi
Cốt làm sao, để cuộc đời bằng an.



Sơn La

Sơn La tôi đến một chiều
Đường đi liền núi, mây trời cùng theo.
Dốc đèo, vách đá cheo leo
Sông sâu, vực thẳm xe trèo cùng xe.
Tiếp đoàn, xôi nắm,măng tre
Lợn cắp nách với cá mè nướng khô.
Rượu Mường mấy chén cùng vô
Tôi say điệu hát những cô gái Mèo.
Đất này còn lắm đói nghèo
Tình người vẫn đậm trống chèo,hát then.



Điện Biên

Đây rồi thành phố Điện Biên
Đèn đêm rực sáng một miền biên cương.
Đông vui, tấp nập phố phường
Du khách về với chiến trường năm xưa.
Trời chiều chợt đến cơn mưa
Khu di tích vẫn không thưa bóng người.
Điện Biên tiếng vọng một thời
Mường Thanh, Hồng Cúm rợp trời cờ hoa.
Điện Biên nay nhà nối nhà
Rộn trong tiếng hát, lời ca dập dìu. 

13/4/2013                                                                            
Kim Hồng



READ MORE - VIẾNG CHÙA BÁI ĐÍNH - Chùm thơ Kim Hồng Nguyễn Hồng Cẩm

Tuesday, May 14, 2013

TÁC GIẢ TÂY NINH TRONG BỘ SÁCH “VĂN HỌC MIỀN NAM LỤC TỈNH” - Phan Kỷ Sửu

  

    Bộ sách  “Văn học Miền Nam lục tỉnh”  (VHMNLT) của tác giả Nguyễn Văn Hầu đã xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1974 gồm 4 tập. Quý I năm 2012, Nhà xuất bản Trẻ  đã mua bản quyền và tái bản gồm 3 tập. Tập I: Miền Nam và Văn học dân gian địa phương, tập II : Văn học Hán Nôm thời khai mở và xây dựng đất nước, tập III : Văn học Hán Nôm thời kháng Pháp và thuộc Pháp.

    Ông Nguyễn Văn Hầu là một tác giả uy tín ở miền Nam trước năm 1975 với hơn 20 tác phẩm giá trị trên nhiều kỉnh vực văn học, sử học, tôn giáo, du ký. Ông hiệu Bút Trạch, sinh năm 1922 tại An Giang. Thông thạo Pháp và Hán Văn, ông viết báo, viết sách, diễn thuyết dạy văn, sử tại nhiều trường trung và đại học ở Sài Gòn. Ông là một học giả có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử khai phá và phát triển miền châu thổ Hậu Giang của đất nước cùng nhiều tác phẩm nghiên cứu về nền văn minh cổ đại tại các nước châu Á. Ông mất ngày 12/3/1995.

   Đây là một bộ sách khảo cứu văn học quan trọng cho tất cả những ai có nhu cầu nghiên cưu tìm hiệu về diện mạo, tiến trình và tính chất của nến văn học trên vùng đất mới miền Nam.Theo tác giả Nguyễn Văn Hầu thì: "Có hơn một ý kiến phát biểu rằng văn học miền Nam không có quá khứ gì đáng kể” và ông đã khẳng định mạnh mẽ “Ai cũng biết ý kiến đó ngang xương và hời hợt, tuy nhiên, nếu chỉ nhìn lướt qua trên mặt tầng, hoặc cứ nhầm tìm hiểu những tác phẩm lớn như một nhà văn Pháp chỉ truyện Kiều, thì quả tình bất cứ ai cũng lâm vấp như vậy ..(sách VHMNLT trang 34). Ông Hầu còn nói rõ hơn : “Nhưng văn học phải đâu chỉ đòi hỏi rặt những tác phẩm lớn như truyện Kiều, cũng như muốn đánh giá một nền văn minh đâu phải chỉ tìm thấy thể hiện nơi một ông Jésus, một ông Khổng hay một ông Phật! Và ông đúc kết lại: “Văn học miền Nam gồm các tác giả vô danh và hữu danh, các tác phẩm lớn nhỏ với nhiều bộ môn gộp lại như bất cứ thành phần văn học ở đâu”  (VHMNLT trang 34).

   Bên cạnh các tác giả tác giả tên tuổi của nền văn học Hán Nôm thời mở đất và xây dựng vùng đất mới Lục tỉnh miền Nam này như Mạc Thiên Tích, Võ Trường Toản, Trịnh Hòai Đức, Đòan Minh Huyên, Phan Thanh Giản, Bùi Hữi Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu, Hùynh Mẩn Đạt, Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường, Nguyễn Thông, Nguyễn Hữu Quân, Nguyễn Văn Lạc, Sương Nguyệt Anh, Nguyễn Quang Diêu…, đất Tây Ninh vẫn có vài gương mặt tiêu biểu đã đóng góp nhiều tác phẩm mà tác giả Nguyễn Văn Hầu đã sử dụng để biên soạn bộ sách như các cụ Võ Văn Sâm, Tô Ngọc Đường, Hi Đạm.

Cụ Võ Văn Sâm sinh năm 1868 tại làng Thái Bình, quận Châu Thành (Tây Ninh nay là Phường I Thị xã Tây Ninh). Năm 1891, cụ  đi dạy học ở Tây Ninh rồi làm thư ký tại Ty Công chánh Tây Ninh. Chỉ một thời gian ngắn cụ xin nghĩ việc và tham gia làng báo Sài Gòn, cụ viết cho các báo Nông Cổ Mím Đàm,Gia Định Báo.Lục Tỉnh Tân Văn. Cụ còn là một nhà thơ tài hoa với nhiều áng thơ bày tõ tấm lòng yêu nước, thương dân. Cụ là thành viên trong thi đàn Quốc Biểu, nhóm thi văn đầu tiên ở Tây Ninh ra đời tại Gò Chẹt, một địa diểm ven rạch Tây Ninh thuộc tỉnh lỵ Tây Ninh ngày trước nay là Khu phố 2 Phường I Thị xã Tây Ninh. Cụ cũng là tác giả tập thơ “Thi Phú Văn Từ” xuất bản năm 1912 tập hợp nhiều tác phẩm hay của các các giả nỗi tiếng ở miền Nam và nhiểu bài thơ ca ngơi các danh lam, thắng cảnh của quê hương Tây Ninh. Trong bộ sách VHMNLT có sử dụng một số tác phẩm do cụ Sâm sưu tập.Thế nhưng đề cụ là Vỏ Sâm là chưa chính xác mà tên đầy đủ của cụ là Võ Văn Sâm.

   Cụ Tô Ngọc Đường sinh năm 1880 tại làng Hiệp Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, quận Thái Bình (nay là Phường 3 Thị xã Tây Ninh). Cụ mất năm 1956, hiện tro cốt được con cháu thờ tại chùa Linh Quang (Phường 3 Thị xã) .Vốn là một Đốc phủ sứ nhưng rất yêu thích thơ ca và  cũng là thành viên  của Thi đàn Quốc Biểu, là một trong những nhà thơ tiền bối từng tham gia ngâm vịnh, thưởng hoa mai trắng trên Núi Bà Đen cùng nữ sĩ Sương Nguyệt Anh năm Tân Sửu 1901. Cụ là tác giả  tập “Thi Phú Văn Đàn”. Đây là một tuyển thơ  nhiều trang,khổ lớn do chính cụ thực hiện từ năm 1905 đến năm 1962, trong đó có thơ do cụ sáng tác và  nhiều tác giả ở Nam Bộ. Các tác phẩm do cụ viết tay và đánh máy bên cạnh nhiều tác phầm được cụ sưu tầm và cắt ra từ nhiều sách báo cũ và dán vào. Cho đến khi cụ mất sách cũng chưa xuất bản. Trước năm 1975 cụ Hi Đạm Nguyễn Hữu Trí sống tại Thị xã Tây Ninh bảo quản  và đã cho ông Nguyễn Văn Hầu mượn để trích dẩn nhiều tác phẩm trong bộ sách của ông.

    Cụ Tô Ngọc Đường có làm một thể thơ gọi là thơ rơi. Một thể thơ đặc biệt ở miền Nam viết theo lọai văn truyền khẩu nhằm mô tả những nổi uất ức trong lòng mà không thể bày tỏ được bằng lời. Cụ Đường có bài thơ rơi "Vợ khuyên chồng đừng điếm đàng,cờ bạc” với nhiều ý tưởng khá mới mẽ, lên án  kiều sống trụy lạc của thanh niên thời ấy:

“Đạo tam cương chàng chẳng đủ ba
  Câu tứ đức thiếp xin dâng bốn
  Cuộc cờ bạc làm thêm hao tốn
  Thiếp ở nhà nhọc sức tảo tần
  Sách có chữ rằng “Đổ bác môn trung mạc khứ thân
  Năng sử anh hùng phi hạ tiện  ..”* 

(*Trong chỗ cờ bạc chớ đến gần, vì nó làm cho người anh hùng trở nên đứa hạ tiện).

   Trong tuyển tập của cụ Đường còn có nhiều bào thơ sưu tập  giá trị như bài “Vè Gái chửa hoang”, “ Vè Giết Đốc phủ Ca” một bài vè dân gian ca ngợi chiến công của ông Phan Công Hớn cùng nhân dân 18 thôn Vườn Trầu trừng trị tên tay sai tàn ác Trần Tử Ca vào năm 1885.

    Cụ Hi Đạm vốn là một học học giả, một dịch giả tài hoa về dịch thuật thơ Hán Nôm. Cụ còn là một tác giả thơ Đường luật tiêu biểu trong tỉnh. Trong bộ sách VHMNLT có sử dụng các bản dịch của cụ từ chữ Hán của nhà thơ Trịnh Hòai Đức, một trong “Gia Định tam gia” tử tập “Cấn Trai thi tập" như Trở về sau cơn lọan, Qua biển linh đinh cảm tác, Bông trang cùng bài thơ Thưởng Bạch mai của nữ sĩ Sương Nguyệt Anh…

    Nói chung dù chỉ có 3 gương mặt góp tác phầm vào bộ sách quý VHMNLT của ông Nguyễn Văn Hầu nhưng vẫn là một niềm tự hào  lớn đối với người Tây Ninh hôm nay.


                                                                       PHAN KỶ SỪU
READ MORE - TÁC GIẢ TÂY NINH TRONG BỘ SÁCH “VĂN HỌC MIỀN NAM LỤC TỈNH” - Phan Kỷ Sửu

GIÁ NHƯ - Hoàng Thế Bình họa thơ Vân Trinh



GIÁ NHƯ
Họa bài thơ "NÓI VỚI PHƯỢNG" của Vân Trinh

Đã mấy mùa rồi cánh phượng rơi
Sân trường hoa đỏ mãi trong tôi
Dù bao năm tháng không hề úa
Kỷ niệm cùng nhau một quảng đời
Nhớ gửi em thư trên chiếc lá
Kim châm vài chữ ý xa xôi
Giá như quay lại ngày xưa nhỉ
Anh quyết tỏ tình - Phải thế thôi.

Hoàng Thế Bình
Hưng Lộc-TP Vinh-Nghệ An
binhhoang340@gmail.com



NÓI VỚI PHƯỢNG 

Mãi gọi phượng mà phượng cứ rơi
Biết chăng lặng lẽ một mình tôi?
Cố tìm mùa cũ hoen màu úa
Mà tiếc ngày xưa nhuộm sắc phai
Kỷ niệm còn in trên tán lá
Ân tình có đọng phía xa xôi?
Sao hoa không hiểu lòng người nhỉ ?
Thầm gọi tên ai, chỉ vậy thôi!

                                     Vân Trinh

READ MORE - GIÁ NHƯ - Hoàng Thế Bình họa thơ Vân Trinh