Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 4, 2013

NHẪN CƯỚI – truyện ngắn Ngô Diệu Hằng


Tác giả NGÔ DIỆU HẰNG


      Chị hoang dã, lạ thường như chính cái tên của chị - Móp. Chẳng hiểu sao bà Thia lại đặt cho chị cái tên đó, dù rằng chị chẳng sứt mẻ chỗ nào. Sinh ra đã không biết mặt cha, chỉ biết mình là con thứ ba của Thia thịt lợn. Hai năm sau đó, mẹ chị lấy dượng sinh thêm cô út. Trong đám chị em gái cũng bán thịt lợn, cái tên của chị là kỳ quặc nhất nhưng chị Móp lại xinh đẹp hơn cả. Da trắng, môi hồng, càng lớn càng đẹp. Thanh niên trong vùng khối kẻ mon men, nhòm ngó.
     Chị chỉ thương anh Phùng, người bạn thời còn mặc quần thủng lỗ, chiều chiều chạy xoắn tít thả diều bên bờ sông. Anh Phùng mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở cùng bà ngoại trong một căn nhà lợp ngói cũ kỉ. Khi cha mẹ đã không trở về sau cơn bão năm đó, rồi ngoại cũng vì thế mà lâm bệnh qua đời, anh tự nhủ học hành cũng không cho anh bữa ăn no. Nghỉ học, anh làm thuê kiếm sống, buông xuôi mọi thứ cho số phận. Chị Móp và anh yêu nhau từ bao giờ anh cũng không có cơ hội để ngăn cản trái tim mình. Tất nhiên, gia đình chị cấm. Chị bỏ đi rồi đến căn nhà nhỏ cuối thôn.
     Họ lấy nhau không bạn bè, họ hàng, không sính lễ, nhẫn cưới. Người làng vẫn còn nhớ cái ngày trời nắng chang chang hai người đèo nhau tình tứ bằng xe đạp chạy ngang qua chợ, cả hai không giấu nổi hạnh phúc phá ra cười giòn tan “tụi tui là vợ chồng rồi…” Giấy hôn thú chị bỏ vào một cái túi nilon khít lại cho vào hòm nhôm khóa trái. Cứ như thể chị muốn nói với tất cả rằng họ là của nhau, không cần ai cho phép và sự thật họ đã là của nhau, mãi mãi sẽ như thế.
     Hình như ông trời ban cho chị sứ mệnh của một nữ thánh, đó là yêu chồng và sinh con. Người ta vẫn gọi những đứa con của anh chị là con trời.
     Đứa thứ nhất chị sinh ngay trong bếp khi đang nấu cơm trưa. Sinh được một tháng, chị bồng nó ra sông tắm. Bế đứa con nhỏ xíu trên tay, chị buông mình xuống dòng nước êm ả. Vuốt nước sông lên đầu con, quanh cổ con rồi chị để cho những giọt nước mân mê lấy da thịt thằng bé. Hai mẹ con như thể đôi thiên nga từ trên trời bay xuống, mãi mê tắm gội trong bể nước bụi trần.
     Chị chẳng hề kiêng cự như mọi bà mẹ khác vẫn làm, cứ thế bồng thằng bé dạo chơi khắp hẽm này ngõ khác. Rồi đứa thứ hai cũng vậy, lần này chị sinh nó đúng vào giữa trưa, khi đang ăn cơm. Thấy chị sinh đẻ dễ dàng, bà con ai cũng đến thăm hỏi. Vài người rỉa tai nhau, nhà cô Móp nghèo tả tơi vậy lấy gì cho con ăn mà đẻ lắm thế? Có người lại xuýt xoa thèm thuồng, nhà cô chả liệu gì thế mà hay, cho ra toàn cu là cu thích quá. Chị Móp cười trong veo, em ấy à, chỉ đẻ toàn con trai thôi, không tin các chị chờ xem, em đẻ thêm thằng cu nữa cho xem. Nói mà thật, chưa đầy ba năm sau, cái ngày Trời định, chị bảo anh Phùng đưa đến trạm y tế cho mọi người chứng kiến tiếng khóc oang oang của thằng cu nhà chị, để biết lời chị nói chẳng có sai. “Được rồi, không đẻ nữa”, anh Phùng quát vợ rồi đặt luôn cho thằng út cái tên là Thôi.
     Ba thằng con của anh chị, Nhất – Thế - Thôi, lạ thay, giang nắng giang mưa, tắm sông từ khi mới một tháng tuổi nhưng không đứa nào biết đến ốm đau, sổ mũi hay uống thuốc là gì. Đứa nào đứa nấy chắc nịt, da ngăm ngăm giống cha. Có lẽ tại đều sinh vào ban trưa nên chúng có đôi mắt long lanh, môi dày tím bậm, tóc mây đen nhánh như được dệt bởi những sợi nắng cháy rực.
     Hai cô chị và em gái đều sinh con gái, gia cảnh lại khá nên bà ngoại thằng Thôi cũng mủi lòng thương các cháu. Dăm ba bữa bà ngoại kêu cho thịt. Hôm khác, dì cả, dì hai nhắn cho tiền đóng học, dì út cho quần áo mới. Được thể, chị Móp kê ngay một cái bàn phía cuối dãy hàng thịt. Hàng của mẹ, hai chị và em gái ở quanh đó. Sáng đến chợ, chị khoan dọn bàn mà đến giúp mẹ cạo cái chân giò. Xong việc đưa tay bợ cục thịt to về bán. Lần khác lại qua hàng cô út, giúp em cạo tai heo, đuôi heo… Khách đông thì phụ chị cắt thịt. Rồi tự trả công bằng một phần mà chị nghĩ chẳng thấm tháp với các cô chị giàu có là mấy. Nhiều thì bán, phần nào ngon thì mang về. Thế là ngày nào nhà chị cũng có thịt ăn.
     Từ khi có cái nghề thịt lợn, cái nghề mà vốn dĩ là số phận của chị, cuộc sống khá hơn. Ra ngoài, chẳng ai nghĩ chị thuộc vào diện cần xóa đói giảm nghèo. Chị em trong làng vẫn kháo nhau, không ai theo kịp “mốt” chị Móp. Tóc bối cao, tóc duỗi thả, xoăn lọn, nâu vàng, hạt dẻ đủ cả, hôm nay kiểu này mai kiểu khác, trang sức cũng thay theo mùa. Quần áo, váy đầm thì đã có của mấy cô chị và cô em. Cái tật tự nhiên đến tự tiện của chị đã có bẩm sinh nên cứ đến lễ tiệc là sang nhà chị, nhà em gái mượn về mặc. Nhiều khi lấy luôn đồ mới toanh làm mấy bà tức tưởi. Thế là chị em to tiếng bốp chát nhau ngay giữa chợ. Ba bữa nửa tháng lại đứa xô, người cười, chị chị em em, rồi lại cho thịt, lại mượn váy, lại rầy la.
     Anh Phùng ngày càng đâm ra biếng nhác, ngày nào có người kêu thì anh đi làm, ngày nào không ai kiếm thì lại nằm ì ra, hết ăn rồi ngủ, chẳng chịu đi tìm việc. Thằng Nhất học xong lớp tám thì nghỉ học đi phụ hồ, anh cũng mặc kệ. Anh Hoàng, bạn bè thân thiết của anh lúc bé có một cơ sở kha khá, thấy bạn khó khăn nên muốn giúp. Hoàng gợi ý cho anh đi học lái xe rồi về lái giúp anh ấy nhưng anh không chịu. Anh vẫn quen cái kiểu đi làm công cho người ta, nắng làm mưa ở nhà ngủ, tiền công nhận theo ngày như thế.
     Thấy vợ chồng anh sống khá nhàn nhã, nhiều người vẫn hay ghen ghét, hoài nghi.
     Ở chợ có bà hàng buôn mất cắp. Bà ta nói gần nói xa như đâm như thọc vào họng chị Móp. Vốn dĩ ít quan tâm lời khen chê nhưng đã đụng tới chị là chị chớ có tha. Chém phặp cái dao xuống bàn, chị ré lên như tát nước vào mặt bà thím môi mỏng kia. Biết là không có bằng chứng nên bà ta xuống giọng. Nhưng trước đó vẫn rướn cổ, uốn thêm vài lần môi:
     -  Sức dài vai rộng, khỏe như trâu, đẻ như lợn, trang sức đeo đầy người, suốt ngày đợi trợ cấp hộ nghèo, hết tiền thì…
     -  Thì gì? Thì gì? Nói xem nào mụ kia. Cái tiếng hộ nghèo ấy chẳng qua tui muốn con tui được hỗ trợ đi học. Rứa là sai hở? Còn con cái là của Trời cho, khối người muốn chẳng đẻ được kia kìa… - Chị chống nạnh, hách cằm, bà thím môi mỏng im bặt, cúi xuống xếp hàng, cặp môi cong lớn vẫn giật giật trông bề còn ức lắm.
     Lần khác, hai cha con nhà nọ đến bắt đền chị con gà, bảo rằng có người nhìn thấy chị đâm phải gà ông ta rồi xách cổ mang về. Chị không truy xét, chỉ dứt khoát một câu “tui không làm cái việc xấu hổ đó, có lấy thì tui lấy của mẹ, của chị em tui, không bao giờ lấy của thiên hạ…” Hai người kia vẫn khăng khăng đổ oan cho chị. Phẫn quá, hai tay túm lấy áo, chị kéo cha con nhà kia tống xuống ruộng. Cái sự khỏe của chị Móp và ba thằng quý tử nhà chị thì khỏi phải bàn. Lớp một, thằng Thôi đã đánh bại một anh lớp năm. Lần đó, chị phạt nó đứng nhón một chân cả buổi tối. Chị nói với thằng Thế, thằng Thôi:
     - Anh Nhất vì hoàn cảnh mà nghỉ học, anh đi làm rồi dần dần học cái nghề. Hai đứa mày lo học hành cho mẹ.
     - Nhưng lũ đó toàn nói nhà mình nghèo và … - Thằng Thế chen vào.
     - Nghèo thì xấu à? Nghèo thì càng phải học để sau này thoát nghèo, đừng để người ta khinh mình nữa.
     - Dạ, sau này con sẽ làm kỹ sư nuôi lợn cho mẹ bán. Thằng Thế reo lên.
     - …Còn con, con sẽ là bác sĩ chữa bệnh cho lợn mẹ nhỉ?
     Chị cười, lũ trẻ cũng cười. Tiếng cười giòn tan vỡ ra như ngàn mảnh pha lê đẹp óng ánh chấp chới trong ánh mắt đen láy, trong trẻo của lũ trẻ.
     Mọi người vẫn nghĩ chị Móp là người vô tư lự, hời hợt nhất. Nhưng lâu dần người ta cũng nhìn chị với ánh mắt khác. Nhiều lần đi chợ, đi công chuyện vội vã, nhưng hễ thấy có người xin đi nhờ xe, người gặp khó khăn trên đường chị đều quay lại giúp. Thấy ai gây gỗ, bắt nạt người hiền lành chị chạy đến bênh vực ngay. Dạo đó, chị chở một thùng thịt to, kẹp thêm thằng Thôi, thằng Nhất, đang phóng xe ò ò trên đường. Đi được một đoạn chị nhìn thấy có hai người bị tai nạn đang lồm cồm bò dậy, chân tay xây xát đầy máu. Đám đông ùn ùn tới, chị cũng dừng xe. Khi người ta đang mải đứng chỉ trỏ băn khoăn hai người này ở đâu, làm gì đi qua đây…, chị vụt ngay tới hét to “đỡ họ đến đây tui chở đi bệnh viện nhanh nhanh”. Chị đến tháo thùng thịt xuống dọn chỗ cho hai người bị thương lên xe. Xe nổ chị còn kịp ngoái đầu lại dặn “dẫn hai đứa nhỏ tới trường dùm tui nghe…”
     Cái thú ăn diện, thích ca hát của chị thành ra nghiện. Nhưng chị Móp được tiếng xinh đẹp, khỏe mạnh, lại nhiệt tình. Chiếc xe máy chị lấy của mẹ dùng, vẫn thường để chở hàng ra chợ bán, cũng là chiếc xe cứu giúp không biết bao nhiêu người. Đến mùa gặt lúa, chị đi gặt cho nhà này nhà kia. Ban đầu chị chỉ tính gặt giúp, nhưng xong mùa người ta mang thóc đến cho chị. Thế là cũng có gạo ăn vài tháng. Cứ mỗi lần chị em phụ nữ trong làng đi gặt chung, giờ nghỉ, tiếng hát chị Móp lại vang vang trên cánh đồng. Bà con vỗ tay theo, thế là thành hội.
     Có lẽ Trời cho chị nhiều cũng phải lấy đi của chị cái gì đó.
     Lần này chị quyết ra tay cải tạo lại mảnh vườn để hoang lâu nay. Đang hăm hở bổ từng nhát cuốc sâu xuống đất thì bỗng nhiên “BÙM…!!!” một cái, người chị văng ra, tĩnh dậy đã thấy mình đang nằm trong phòng cấp cứu. Sau lần đó chị mất hai ngón tay trái. Mỗi lúc nhìn xuống hai ngón tay bị cụt chị lại nhớ đến cái mặt méo xệch, khắc khổ của anh Phùng khi chị vừa mở mắt. Cái mặt đó đã từng trắng bệch ra run rẩy khi mất đi người thân yêu. Giờ nó lại bị biến dạng đi rồi sau đó làm anh choàng tĩnh.
     Cả hai ngón tay và cái nhẫn cũng bay luôn cùng mảnh bom nổ. Thằng Nhất nói để con đi tìm, chị bảo thôi. Chị nói:
     - Trời muốn lấy lại hai ngón tay thì trả lại Trời. Còn cái nhẫn là đồ giả chả phải tiếc. Cả cái dây vàng này và đôi tằm này đều là trang sức giả hết. Nói rồi chị mân mê cái dây chuyền trong cổ mắt lúng liếng cười.
     Mấy ngày sau đó anh Phùng tìm đến nhà Hoàng. Hai ba hôm liền đều không gặp. Hôm khác anh lại đến, xin Hoàng nhắc lại cái đề nghị năm trước. Hoàng biết gia cảnh của bạn, gật đầu vỗ vai, hứa sẽ giúp đỡ tận lực. Thế là anh Phùng vừa đi học lái xe vừa làm thêm công việc anh vẫn thường làm.
     Một chiều thứ bảy đầy nắng, anh trở về nhà với tâm trạng hớn hở, tay xách một túi thức ăn to.
     - Hôm nay anh không phải làm hở?
     - Em không nhớ hôm nay là ngày gì à?
     Chị Móp nghĩ ngợi một lúc rồi mặt chị bừng lên, nhớ ra cái ngày hai người đèo nhau từ ủy ban xã về, chị gói tờ giấy hôn thú trong cái túi nilon cất vào hòm nhôm.
     Chưa kịp khoe thì anh Phùng đã ngồi xuống bên cạnh, nắm lấy bàn tay chỉ còn ba ngón của chị. Anh áp nó vào má mình. Cánh tay chị ngượng nghịu, người chị đơ cứng. Anh rút từ trong túi quần một cái gói, tay kia vẫn giữ bàn tay vợ. Anh từ từ mở ra, một chiếc nhẫn vàng. Không như thường ngày, chị vẫn ngồi im, e ngại. Anh Phùng chậm rãi nói:
     - Xin lỗi em. Từ ngày em về làm vợ, anh chưa sắm cho em được thứ gì, tiệc cưới không, mà nhẫn cưới cũng chẳng có. Vậy mà em vẫn một lòng một dạ theo anh, phải đeo những thứ hàng giả rẻ tiền để rồi người ta đặt điều nói xóc xỉa. Chiếc nhẫn này anh đã đặt từ lâu nhưng vì chưa có đủ tiền, trên đó có khắc tên chúng ta.
     - Anh, em... – Chị bối rối.
     - Bây giờ ngón tay đeo nhẫn cũng không còn. Thôi để anh đeo nó vào tay kia cho em nhé!
     Chị Móp chìa tay ra, ánh mắt chị ngập tràn hạnh phúc. Anh Phùng đeo chiếc nhẫn cưới vào tay vợ, sau mười bốn năm.

NGÔ DIỆU HẰNG
Giáo viên THCS môn Tiếng Anh, 
thị trấn Bến Quan, Vĩnh Linh, Quảng Trị
dieuhang.ngo@gmail.com
                                                          


READ MORE - NHẪN CƯỚI – truyện ngắn Ngô Diệu Hằng

Thursday, January 3, 2013

Khaly Chàm - ĐOẢN KHÚC GỬI HƯ VÔ

tặng bạn bè văn nghệ Quảng Trị

Tác giả KHALY CHÀM












1.
mắt sâu đáy vực ảo hình
tàn tro chợt thức lung linh khói hồn
bóng bay theo sóng âm buồn
hình thôi miên lửa môi hôn ngọt ngào

2.
sững nhìn vỡ trắng tầng cao
tím bầm giọt nắng tan vào chân mê
mộng từ hạt bụi đi-về
tìm trong ảo mặt bốn bề gọi tên

3.
thiên thu chớp nhoáng sấm rền
ngậm ngùi hỏi gió đường lên đỉnh trời
lá vàng ngửa mặt tàn hơi
rừng xưa uẩn khúc nghẹn lời phục sinh

4.
dật dờ cõi trú điêu linh
nắm tay trôi giạt phía bình minh xa
niềm đau rụng xuống hiên nhà
người ôm mặt khóc nhập nhòa bão rơi

5.
chập chờn đóm lửa ma trơi
luồn xuyên mạch máu tiếng cười u mê
chữ kinh trần trụi ngô nghê
hạt tràng thảng thốt giọng thê thiết buồn


TN - 2012

KHALY CHÀM
khalycham@yahoo.com

READ MORE - Khaly Chàm - ĐOẢN KHÚC GỬI HƯ VÔ

Kha Tiệm Ly - TỰ TRÀO PHÚ


Trộm nghe,

Lấy gương soi mặt giai nhân,
Lấy tâm soi lòng kẻ sĩ.
Đem gian nan thử bậc cao tài,
Đem lửa đỏ thử vàng đúng tuổi.

Cười cho mỗ,

Một đời múa bút, chữ “sĩ” lăm le,
Bao bận khoa gươm, chữ “hùng” lấp ló.
Chỉ vì bút nghiên chệch choạc, mà văn chẳng ra văn,
Cũng tại chân cẳng quều quào, mà võ không ra võ!
Ngũ kinh lập bập, rặn ba bài phú mà đọ với Dương Hùng,
Tam lược nghêu ngao, lượm mấy cơ mưu, lại sánh ngang Tôn Vũ!

Lại cười cho mỗ:

Dốt không chịu dốt, bày trò thi phú búa xua,
Hèn chẳng chịu hèn, giao kết đệ huynh lố nhố.
Muốn trương buồm ngâm câu Thiên Địa, rượu rót tràn ly,
Thích tuốt kiếm ca khúc Lương Sơn, ngựa phi thẳng vó.
Chí tồi mà muốn vọt thấu mây,
Guơm sét lại đòi bung khỏi vỏ!

Chẳng nhớ câu:

Giao long lỡ vận nào khác tép tôm,
Mèo chó đắc thời tuồng như báo hổ!
Mỉa mai câu nói “sinh bất phùng thời”,
Chua xót lời khuyên “đức năng thắng số”!

Thì thôi,

Thân đã ở nhà lá nhà tranh,
Miệng ráng ăn rau đay rau ngổ!
Đã cam tâm ngậm cục bồ hòn,
Thì mơ tưởng chi hơi cam lộ!
Thênh thang năm dài tháng rộng, tội mỗ đây lấy nhục làm vinh,
Chắt chiu bữa đói bữa no, xót mẹ đĩ chịu thương chịu khó!
Trong cơn dâu bể, hữu bằng đầy dẫy Lý Thông,
Sau trận phong ba, đồ đệ có bao Tử Lộ?
Quăng đuốc danh, lòi mặt kẻ hai lòng,
Nhá lửa lợi, đổi màu vàng bốn số!
Chưa chứng Thiên Nhãn mà thấy tâm can kẻ đứng sau tường,
Chưa chứng Tha Tâm, mà biết thức thần người nằm dưới mộ!

Thương cho,

Vợ ăn cháo hoa lỉnh bỉnh, lại chịu ngày đói ngày no,
Con mặc áo khính thùng thình, còn vá miếng xanh miếng đỏ!
Vải dỏm loang màu, giặt một nước, lông lá bèo nhèo,
Chuối chát độn cơm, ăn một miếng, lưỡi môi ngờ ngợ!
Dù lành dù rách, gìn nếp riêng, chẳng mở lời than,
Dù đói dù no, noi phép cũ, không châu miệng ngó!

Nay thì,

Vinh nhục như đã hết duyên,
Văn thơ xét ra vẫn nợ.
Năm xe kinh điển, quyển mất quyển còn,
Mấy lố bạn văn, đứa đi đứa ở.
Miệt mài trên báo, xem “thơ tự do” mà bụng dạ hãi hùng,
Lang thang trên mạng, coi “thơ Đường luật” làm mặt mày mắc cỡ!

Chỉ vì:

Thẹn cho tài, dẫu gọt hết trúc rừng làm bút, mà chẳng thành danh,
Tủi cho phận, dù mài vơi nước sông làm mực, cũng chưa tiệm ngộ!
Luật niêm trớt lớt, nào dám xưng văn nọ văn kia,
Đối chác lem nhem, đâu dám vô hội nầy hội nọ!
Thơ viết người không muốn đọc, mà “ca” ù tai hơn tiếng ve kêu,
Sách in mối chẳng thèm ăn, lại “bốc” điếc ráy còn hơn bom nổ!
Mùi chưa dậy mà mắc buồn nôn,
Bụng không chửa lại lên cơn ói!

Làm thơ mà:

Cho không ai nhận, thì đem về nhóm lửa nấu cơm.
Đọc chẳng người nghe, cứ để dành gói xôi gói đỗ!
Những tưởng, tay nắm tay cùng dắt lên mây,
Dè đâu, mặt đưa mặt thay phiên trét lọ!

Ôi thôi!

Thà đành há miệng chờ sung,
Chẳng chịu trói voi bỏ rọ.
Kệ miệng người nói thẳng nói xiên,
Mặc trôn đĩ đóng ngang, đóng dọc!

KHA TIỆM LY
Tây Ninh
khatiemly@gmail.com

READ MORE - Kha Tiệm Ly - TỰ TRÀO PHÚ

NHỚ TƯỚNG QUÂN TRẦN BÌNH TRỌNG - Trần Tấn

               Nén tâm nhang viếng Tướng quân Trần Bình Trọng



TA - bạn bàn chung chuyện Đông - Tây
THÀ rằng thiệt phận vẫn ngang mây
LÀM chi bất nghĩa, phường lòi tói ?
QUỈ Cốc tiên sinh, đó bậc Thầy
NƯỚC non, non nước tha hồ dạo
NAM Việt vượng hồng đã thấy đây!
CÒN ta, còn bạn, còn giặc đấy
HƠN nghĩa, hơn tình, quyết dựng xây
LÀM dân Đại Việt hơn vua nó
VƯƠNG giả oai phong tấc dạ này
ĐẤT đảo Hoàng Sa ... bay nhận bậy
BẮC quốc thâm trùng ... ắt tan thây !


                                                                   Xuân - 2013
                                                                   TRẦN TẤN
 ***
Vũ Từ Sơn gởi đăng
vutuson01@gmail.com
READ MORE - NHỚ TƯỚNG QUÂN TRẦN BÌNH TRỌNG - Trần Tấn

Lê Liên - Cảm nhận về bài thơ NHỎ BẠN NGÀY XƯA của Kha Tiệm Ly



Nhỏ bạn ngày xưa
Kha Tiệm Ly

Ngày lớn ròng hai lần con nước,
Mi nhỏ chưa cong, tóc nhỏ chưa dài.
Vú cau thẹn nằm sau áo ướt,
Ta nợ cái nhìn lúc tuổi mười hai!


Giã biệt nhỏ ta lên thành đi học,
Để nợ bãi bồi, để nợ dòng sông.
Không ai chọc, mà sao nhỏ khóc?
Làm bông bần rơi trắng mênh mông!

Một hạ ta về thăm sông cũ,
Tóc búp bê, giờ óng ả mượt mà.
Đinh áo chẻ cao, khoe chút da trắng muốt,
Thêm một lần ta nợ áo bà ba!

Hàng rào thưa ngăn nhà ta, nhà nhỏ.
Mà xem như cách mấy dòng sông.
Ai giả bộ đem áo ra phơi gió,
Để nhìn nhau, má nhỏ ửng hồng hồng.

Theo lốc xoáy, ta thành thân viễn xứ,
Cây bần xưa buồn bã đón ta về.
Vắng ai đó bên dòng sông năm cũ,
Mấy bông bần theo gió rụng lê thê.

Mười tám tuổi, nhỏ tay bồng tay bế.
Bởi con bướm vàng đậu nhánh mù u.
Ta chết lặng, nhỏ nhìn ta ứa lệ,
Ta nợ nhỏ rồi, ánh mắt thiên thu!

                                                  KTL

Lời bình của Lê Liên
Tác giả LÊ LIÊN

     Ai cũng có một nơi chốn để tìm về với kỷ niệm; nhà thơ Kha Tiệm Ly cũng có một dòng sông tuổi thơ với cây bần và cô bạn nhỏ thân thương. Họ bên nhau thật hồn nhiên, vô tư.Tất cả những dấu yêu đó như tràn ngập trong ký ức nhà thơ và cho đến mãi mãi sau này.

            Ngày lớn ròng hai lần con nước,
            Mi nhỏ chưa cong, tóc nhỏ chưa dài.
            Vú cau thẹn nằm sau áo ướt,
            Ta nợ cái nhìn lúc tuổi mười hai!

     Lẽ thường,Thi nhân hay dùng rất nhiều từ hoa mỹ để diễn tả một bộ phận đẹp trên cơ thể người con gái khi nó phát triển hoàn chỉnh:

     * Với Hồ Xuân Hương là "Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm".

     * Hay với Phạm Thiên Thư: "Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm".

     * Nhưng còn cậu bé KTL ngày ấy đã khám phá ra một hiện tượng lạ của nhỏ bạn rất đẹp và rất đỗi mộc mạc, dễ thương đến lạ khi dùng từ tượng hình "vú cau" thật ngộ nghĩnh để làm ẩn dụ cho ta biết Nhỏ đang chớm tuổi dậy thì, vẫn hồn nhiên tắm sông, để "vú cau thẹn nằm sau áo ướt ". Mà với người Việt thì trái cau rất gần gũi, mang nặng nợ duyên tơ tóc.

      Đọc tới đây tôi nhớ những nhân vật Thằng Côn, con Thúy, Thằng Vũ, thằng Vọng ... của Duyên Anh khi chúng ngây ngô châm chọc nhau:

            Con gái chơi với con trai,
            Về sau cái vú như hai quả dừa 

     Ngày đó, tôi cũng cùng trang lứa như Nhỏ của KTL vậy, mặt tôi đỏ bừng, xấu hổ, không dám đọc lại hai câu thơ đó thêm lần nữa, dù rằng trong tôi ý niệm về giới tính chưa rõ nét. Cho nên tôi hiểu NHỎ của KTL đã thẹn, nhưng chẳng biết vì sao mình thẹn, cảm giác rất mơ hồ.

        Ta tự hỏi: Vú cau thẹn, đó là phản xạ tự nhiên của con gái khi bắt gặp cái nhìn của người khác, nhìn vào cơ thể mình. Hay KTL chợt thẹn khi vô tình phát hiện ra vú cau khác thường của NHỎ? Tuy cái nhìn ấy không mang tính tình dục, nếu không nói là vô tư, nhưng chính vì cái khang khác ấy khiến KTL tự cho mình mắc nợ. Nợ cái nợ hồn nhiên của Nhỏ ở tuổi 12.

       Rồi cũng rất tự nhiên khi vào tuổi lớn, KTL phải từ giã làng quê, lên thành đi học, ai mà chẳng bồi hồi thương nhớ quê hương.

      Nếu như sông không có bên lở, bên bồi thì làm sao dòng sông lượn lờ, uốn khúc? Dòng sông cũng sẽ bớt nên thơ nếu thiếu đi màu xanh của rặng cây và bãi bồi nhấp nhô cát mịn. Phải, bãi bồi đó là nơi cất giữ biết bao kỷ niệm, cho nên khi chia tay, KTL tự ghi thêm cho mình hai khoản nợ:

             Để nợ bãi bồi, để nợ dòng sông

      Chính vì cái nợ này mới sinh chuyện:

             Không ai chọc, mà sao nhỏ khóc ?
             Làm bông Bần rơi trắng mênh mông

      Nghe sao buồn quá! Màu trắng thường cho ta cảm giác buốt lạnh, tang thương. Nhưng "bông Bần rơi trắng mênh mông" này lại cho ta nỗi buồn mênh mang, không thể xác định được tên của nỗi buồn ấy là gì? Tâm tình của cả hai người lúc này là tâm tình của láng giềng? của anh em? của người yêu? hay của bạn hữu?

            Một hạ ta về thăm con sông cũ
            Tóc búp bê, giờ óng ả mượt mà
            Đinh áo chẻ cao , khoe chút da trắng muốt
            Thêm một lần ta nợ áo bà ba !

     Theo từng mùa hạ qua đi ... có một mùa hạ để lại ấn tượng trong lòng: Bấy giờ, thì đường nét thanh xuân của Nhỏ đã phô diễn trọn vẹn rồi.

     Thật vậy, với Phạm Thiên Thư:

            "...Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
             vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền ... "

      Cô thanh nữ của Phạm thiên thư thánh khiết quá đi! Và Nhỏ của KTL cũng đâu có kém gì? Cho nên KTL lại tự ghi nợ cho mình thêm lần nữa khi ngắm Nhỏ mặc áo bà ba. Chiếc áo rất thân quen của thiếu nữ miền quê ấy đã tôn lên nét đẹp xuân thì của Nhỏ. Nó thừa sức thu hút ánh nhìn của nhiều giới phái, từ nhiều góc độ khác nhau: trước sau, nghiêng thẳng, phải trái ... nó có sức hấp dẫn đến lạ thường.

     Có ai chắc cái nhìn này không gợn chút tình dục? Chẳng có chi xấu cả, đó là lẽ tự nhiên, bởi tình dục là quà tặng diệu kỳ mà thượng đế ban cho những đôi lứa yêu nhau.Và có mấy ai từ chối chiêm ngưỡng vẻ đẹp kia chứ?

    Và này, nếu ngày xưa Nguyễn Bính có cô Hàng Xóm:

           Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
           Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn
 
thì nhà của KTL và Nhỏ cũng chỉ là:

          Hàng rào thưa ngăn nhà ta, nhà nhỏ
          Mà xem như cách mấy dòng sông.

     Khi người ta đã có tình ý với nhau rồi, thì chỉ mong ước không còn có khoảng cách địa lý nữa! Ừ nhỉ? Chỉ có hàng rào thưa thôi, chẳng che chắn nổi tầm nhìn, vậy mà với đôi bạn sao nó xa vời vợi?

     Phải chăng lúc này đã chín chắn hơn một chút, và đôi bạn biết "giữ kẽ" với nhau khi mà "Tình trong tuy đã, mặt ngoài còn e" (ND) không nhỉ?
        
      Để rồi,

              Ai giả bộ đem áo ra phơi gió,
              Để nhìn nhau, má nhỏ ửng hồng hồng ...

     Thật dễ thương! Chẳng biết KTL hay Nhỏ làm bộ đem áo ra phơi nhỉ? Kệ, ai cũng được, miễn là trông thấy nhau cho nỗi nhớ ánh hồng trên má là đủ rồi! Bởi vì trời có nắng đâu, trời chỉ đong đầy gió, thế mà thân nhiệt vẫn tăng lên khi nhìn thấy nhau! Ôi, cái bẽn lẽn và hành vi kiếm cớ phơi áo thật vụng dại, nó mới đáng yêu làm sao! Chẳng trách nó đã làm cho chàng trai KTL hào phóng tự ký thêm một khoản nợ: Cái nợ tuổi xuân thì của Nhỏ khi mặc áo bà ba!
       
      Cuộc đời của mỗi chúng ta luôn gắn chung với vận mệnh của đất  nước. Thời cuộc đẩy đưa KTL rồi cũng trôi xa cùng với  giòng đời:

            Theo lốc xoáy, ta thành thân viễn xứ ".
            Đã đi xa, ai cũng mơ có lúc quay về cố hương ...

       Nếu như Huy Cận diễn tả nỗi trống vắng:

             Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

       Thì KTL may mắn hơn khi quay về dòng sông cũ còn có:

             Cây Bần xưa buồn bã đón ta về.

       Than ôi! Nhỏ ngày xưa đã sang ngang, bỏ lại dòng sông, bỏ lại cây Bần trơ trọi, buồn hiu đứng đợi người xưa.

       Khi  trước, KTL lên thành đi học, "bông bần rơi trắng mênh mông", bông Bần lúc ấy cùng mang hai tâm tình: kẻ ở, người đi. Thật mang mang chưa định dạng được nỗi buồn chia xa ấy là gì? Còn giờ đây "bông Bần theo gió rụng lê thê!" chỉ mang tâm trạng riêng của một người cô đơn, cảm giác trống vắng khi trở về bến cũ.

       Động từ RỤNG nghe sao sầu thảm quá chừng, cứ như không còn nhựa sống vậy! Tự thân nỗi buồn càng chồng chất nỗi buồn bởi nó theo gió rụng lê thê.

      Gió ở đây cũng diễn tả cho nỗi buồn, vô định, vô lượng bởi chẳng ai cân, đo, đong, đếm được gió. Cho nên nỗi buồn đó quá lớn, lây lan khiến bông Bần cũng theo nó mà rụng lê thê!

      Có thể nói Bông Bần cũng là cõi lòng của tác giả nữa, nó chất chứa nỗi thất vọng ê chề. Nỗi buồn lê thê rụng vào nỗi buồn chất ngất của tác giả. Khổ thơ này cho ta lạc vào cõi hoang vu, với nỗi buồn man mác, chập trùng, sâu thăm thẳm, dài hun hút.

      Cũng chưa hết khi khổ thơ cuối cùng như một điệu buồn quen thuộc của duyện phận bẽ bàng:

            Bởi con bướn vàng đậu nhánh mù u

     Nó lại cho ta liên tưởng: Nhỏ là một thiếu nữ đại diện cho tập tục tảo hôn ở miền quê VN. Cho nên mới:

     "Mười tám tuổi, Nhỏ tay bồng tay bế", để rồi cũng chạm phải nỗi đau khi người mẹ trẻ không có cuộc sống lứa đôi hạnh phúc khi:

             Ta chết lặng, nhỏ nhìn ta ứa lệ

     Thiết nghĩ, mỗi bài thơ hay đều có "từ khóa" để mở ra chân trời riêng, ẩn chứa khát vọng của nó! Trong câu thơ này, tác giả đã dùng từ ỨA LỆ để diễn tả cho nỗi niềm đau xót của Nhỏ khi gặp cố nhân!

      ỨA LỆ  chính là từ khóa của cả bài thơ tình rất đẹp này! 

      Nó hàm chứa nỗi đau được nén chặt, nén chặt dưới nhiều áp lực quá cao: chỉ chực chờ bung vỡ. Nhưng không được phép bung vỡ, mà phải chôn sâu vào tận đáy lòng.
       
      Ứa lệ: thật oái ăm khi mà Nhỏ rất muốn khóc mà không dám khóc. Và biết chắc rằng: khóc sẽ nhận được sự đồng cảm nhưng không dám chia sẻ, mà chỉ nên giữ nỗi cay đắng cho riêng mình thôi! Điều này cho ta biết sự cam chịu của Nhỏ là TRÁNH cho cố nhân  một nỗi đau ...

Ứa lệ, nghe chừng như có chút hờn tủi, cam phận.

Ứa lệ: vì biết chắc mãi mãi mình không trả được món nợ ân tình.

Ứa lệ: sự dồn nén, tức tưởi của con tim đang thổn thức vì chua xót, đắng cay nên dù nước mắt  đã tràn bờ mi nhưng cũng kiềm lại, cho nó chảy ngược vào tim (Thật, chẳng dễ dàng gì!).

Ứa lệ như một “đòn chí mạng" đánh bật gốc rễ bám sâu vào tâm hồn của đôi bạn.

     Nếu để gom hết những món nợ ân tình mà KTL đã  tự thiếu nợ Nhỏ Bạn ngày xưa thì nhiều lắm!

      * Nợ Vú Cau là nợ cái vô tư hồn nhiên tuổi thơ.

      * Nợ bãi bồi, dòng sông, là nợ nơi vun đắp, cất giữ kỷ niệm của hai người bạn nhỏ.

      * Nợ Bông Bần là nợ tâm tình của hai miền ký ức: KTL và Nhỏ với lần chia tay và lần trở về, với hai trạng thái tâm lý khác nhau.

       * Nợ áo bà ba là nợ Xuân Thì của Nhỏ.

     Những khoản nợ trên xuất phát từ cái nhìn của KTL, từ chính tâm hồn của tac giả.

      * Giá như ngày gặp lại nhau mà Nhỏ bộc bạch được tâm tình, rồi khóc nức nở, khóc sướt mướt, khóc thỏa thê ... cho trôi tuột muộn phiền, đắng cay thì KTL làm gì đứng chết lặng, tự gánh thêm khoản nợ thiên thu "xuất phát từ cái nhìn Ứa Lệ của Nhỏ".

      Từ Hải của Nguyễn Du chết đứng giữa trận tiền chắc đầu không lùng bùng với nhiều chiều kích tư tưởng, tim không co thắt từng cơn, từng cơn nhức nhối như KTL chết lặng trước cái nhìn ứa lệ của Nhỏ!

      Chiến trường nội tâm của cả hai người bạn lúc đó đã xung đột mãnh liệt, nhưng được bao phủ bằng sự thinh lặng, nhẫn chịu đớn đau ..
       
      Bỗng dưng tôi muốn mạo muội tản mạn thêm một chút ...

     Tôi đã đọc bài bình của Châu Thạch viết về bài thơ "Ta nợ ơn người" của KTL mà thấm thía rằng đời người có quá nhiều khoảng nợ trả - vay, vay - trả hoài không dứt được!  KTL đã từng kể nợ của mình với cuộc đời từ hạt lúa, nhánh bần, cánh diều, nghiên bút, bản thân mình ... đến:

            ..."Nợ mẹ, nợ cha, nợ thầy, nợ bạn
                 Thì đời ta đã sống ra người
                 Nợ sông núi ta làm phân bón đất
                 Nợ ân tình, không trả được em ơi!”

      Phải chăng cái nợ thiên thu này là một trong khoảng nợ ân tình mà KTL đã mang theo nó đến suốt đời, mãi mãi không trả được?
        
      Thực lòng mà nói, ta vẫn thấy KTL tự chuốc nợ vào thân.Vì ông vốn là một người đa cảm và giàu sỹ khí hào hiệp đó thôi! Bởi lẽ, xuyên suốt bài thơ này chỉ là kỷ niệm rất ngây thơ, trong sáng, mộc mạc ... khi còn thơ bé. Cho đến lúc lớn lên thời cuộc đưa đẩy xa quê hương, lúc trở về thì Nhỏ đã sang thuyền … như vậy Nhỏ mới là người mắc những khoản nợ mà KTL tự cưu mang chứ, nhỉ?

      Hay nói chính xác là KTL không có cơ may để trả cái nợ vụng dại, ngây ngô! Cái nợ đáng yêu thuở thiếu thời .... Chính vì sự bất đắc dĩ này mà chúng ta mới có một bài thơ tình rất hay, nói lên tâm hồn đẹp khi người ta biết cho hơn là nhận, biết nghĩ dùm cho đối phương, và biết để ý đến cảm nhận của người thân. Cảm ơn Kha Tiên Sinh, bởi vì với bút pháp nhẹ nhàng, trong sáng, văn phong bình dị, Kha tiên sinh đã cho chúng ta hiểu thêm cuộc đời này có những tấm chân tình rất đỗi thanh cao, rất đáng ngưỡng mộ.

LÊ LIÊN
tuongphuc4758@yahoo.com
READ MORE - Lê Liên - Cảm nhận về bài thơ NHỎ BẠN NGÀY XƯA của Kha Tiệm Ly

Wednesday, January 2, 2013

XUÂN HUẾ - Nguyễn Hồng Trân



                                   
Đất Huế mai vàng nở đó đây
Hương xuân êm dịu tỏa đêm ngày
Sông Hương sương sớm giăng giăng phủ
Núi Ngự mây chiều lãng đãng bay
Dào dạt nỗi niềm về dĩ vãng
Lâng lâng mong ước đến tương lai
Không gian chất chứa bao kỳ tích
Khơi dậy tuổi xanh sức sống đầy.

                       Nguyễn Hồng Trân
Phước Vĩnh
Huế
READ MORE - XUÂN HUẾ - Nguyễn Hồng Trân

BẾN CHIỀU - thơ Ngọc Hà

Tác giả NGỌC HÀ

Ngàn dâu xanh hun hút
Con sông mờ hơi sương
Đìu hiu dòng nước chảy
Lau lách cũng rưng buồn

Thuở qua đò với mẹ
Cát bỏng chồn bước chân
Nụ cười như gió thoảng
Giữa trưa hè lâng lâng

Nay mình con trở lại
Con sông gầy hơn xưa
Dòng đời chia mấy ngả
Quạnh bến chiều trong mưa.

NGỌC HÀ
Đà Nẵng
ĐT: 0905 977 591
READ MORE - BẾN CHIỀU - thơ Ngọc Hà

BIỂN XƯNG TỤNG - chùm thơ Võ Văn Luyến

Tác giả VÕ VĂN LUYẾN

BIỂN XƯNG TỤNG
                 
Biển gọi anh về
con sóng trắng miên man ngực bể
đêm mận chín lên mùa.
Những mắt đèn chong thúc vào khuya
bóng đổ dài trên cát
sự lặng lẽ chẳng lặng lẽ nào hơn được như ngọn lửa lặng lẽ yêu tin.
Màu áo anh hoà sắc nước bình yên
Nhưng buồn vui lại đem chia hai nửa
trời đất rộng con tim làm cửa mở
biển thanh cao xưng tụng ánh sao trời.
Về đây nghe gió ngân vô hồi
hạt muối quên có mình làm chứng
con tàu quên đếm tuổi đi ngày tháng
ngọt ngào lời ru anh.
biển xanh
biển xanh
biển xanh.
             
                 

ĐÀ NẴNG KÝ SỰ 1972
                        (trích)
Đà Nẵng
Con thuyền tấp tôi sóng bồi gối cát
Mật mía cứu sinh
Hầm hập mái tôn
Non Nước, Hắc Kin, 44 pháo binh
Cát vàng. Nữ hoàng chị tôi
Thuốc độc tình yêu, đường chiều xa khuất!
Đà Nẵng
Mù sương mù sa, mù loà bợc nhớ
Hấp hối tiếng thở
Tóc rũ cờ hòm
Lạc đạn rơi bom
Đỏ lòm mắt gió
Vẹo vọ mặt trời
Trăng mờ nguyệt tỏ…

                 

GIÓ THỔI PHÍA HOANG ĐƯỜNG

Những con rận lạc nhau trong rừng tóc hoa râm
Trăm năm ngàn năm trước vẫn còn ngơ ngác
Chiều nay bên hàng dậu thưa tôi nghe chúng hát:
- Tổ tiên chúng ta sinh sôi nhờ con người ở bẩn
Nhưng chúng ta còn bẩn hơn khi hút máu con người!
Những con rận yêu nhau có theo mùa không nhỉ
Có hờn ghen khi tranh chấp bạn tình
Có biết sống với con người rồi có ngày sẽ chết
Sẽ có ngày xa lạ với mùi hương?
Những con rận đáng ghét kia nhận ra kẻ sang hèn
nếu không, sao chúng tìm người nghèo, đến ở
tôi rỗng không chốn hoang đường nắng đổ
ngọn gió nào cũng thổi phía xa xôi.
            
VÕ VĂN LUYẾN

***
Võ Văn Hoa đăng



READ MORE - BIỂN XƯNG TỤNG - chùm thơ Võ Văn Luyến

CẢM ĐỀ SƠN NỮ - La Thụy




          



                    (Cảm đề truyện ngắn của LMV)



      Ngày tháng lặng buồn tênh vòng cơm áo

      Ta chồn chân mỏi gối với đời mòn

      Thu mình lại ẩn thân vào ốc đảo

      Chút khẽ khàng liệm kín khối tình son


      Tóc đà bạc sao lòng còn hoài vọng
      Một đời ta luôn dõi mắt tìm trông
      Em hồn hậu trong ta thành vang bóng
      Mắt môi xưa đọng ngấn ngát hương lòng

      Rồi lãng đãng gần xa, huyền dáng mộng
      Nét thơ trinh vằng vặc ánh trăng ngần
      Em thoáng hiện cho thơ đời ngân vọng
      Ta ngậm ngùi nhìn lại - Đã tàn xuân
                                                   La Thụy

READ MORE - CẢM ĐỀ SƠN NỮ - La Thụy

HUẾ GIỜ NÀY SAO EM? – Nguyễn Quý

Tác giả NGUYỄN QUÝ



Huế giờ này sao em ? mùa thu đi hay còn ở lại
Sông Hương có còn dịu dàng như thuở sớm sương mai
Từng góc phố rêu xanh trải dài giữa không gian cổ kính
Em lắng sâu vào phố thị, xin hãy nở nụ cười

Huế sao rồi? từng ngày anh mong Huế
Vỹ Dạ xưa, đêm mộng, tái tê lòng
Em có bao giờ ghé đến Tịnh Tâm ?
Chốn hẹn hò yêu đương vào đêm rằm cổ tích

Huế giờ này sao em? ngày mai mùa đông đến
Phố lạnh những nẻo đường em đi dọc buổi sáng
Anh xin làm đám khói ngẫn ngơ bay
Toả vào lối em đi, hơi nắng ấm Sài Gòn

Huế giờ này sao em? trầm tư hay sầu lắng
Buổi đến trường, áo trắng có phai sương?
Em đi giữa phố xin gửi chút làn hương
Cho Huế dịu buồn, anh mơ đêm mộng mị

Huế giờ này sao em? làn tóc thu còn đợi
Chiều em ngồi Thành nội gió buông lơi
Xin em nhắn vào gió một đôi lời:
Em - chiều buồn, thầm mong anh đến Huế.....

Nguyễn Quý
quycali@gmail.com
READ MORE - HUẾ GIỜ NÀY SAO EM? – Nguyễn Quý

Trần Chí Thuận – CHÚC XUÂN



CUNG kính mời nhau chén rượu nồng
CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong
TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ
XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng
VẠN chuyện lo toan thay đổi hết
SỰ gì bế tắc thảy hanh thông
NHƯ anh như chị, bằng bè bạn
Ý nguyện, duyên lành, đẹp ước mong.


TRẦN CHÍ THUẬN
Gio Linh
chithuantran@yahoo.com

READ MORE - Trần Chí Thuận – CHÚC XUÂN