Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, February 20, 2012

DƯỚI HÀNG SẤU ĐÊM & CON PHỐ NHỎ - Phạm Ngọc Thái


Phố vẫn phố, hàng sấu xưa rụng lá
Ngỡ yên rồi còn lạc bước canh khuya
Nên câu thơ anh theo đông về vội vã
Tình của đôi ta dòng sông chảy man mê...

Đêm đã lạnh vầng trăng còn thao thức
Trăng bay trên trời, anh cứ thương em
Xưa mộng nguyệt này, nay sao thấy khác!
Gió nhắc thầm thì... em có nhớ không?
Em ngủ bên chồng. Thôi, cũng đừng tiếc nữa!
Mấy ai yêu trọn vẹn đâu em?
Thưở đó đẹp nhiều mộng mơ em nhỉ...
Thơm mát cõi thơ, hồn ta ru êm.   
Anh lưu giữ chút tình trên trang giấy
Đi hết phố xa về khắc khoải bên thềm
Rồi tự trách với mình sao buổi ấy
Lại giục em lấy chồng để đau mãi con tim? 
                            

 Viết cuối mùa đông
Phạm Ngọc Thái
thai_quanthanh@ymail.com
READ MORE - DƯỚI HÀNG SẤU ĐÊM & CON PHỐ NHỎ - Phạm Ngọc Thái

Quỳnh Châu - NGHĨA TÌNH


(Kính tặng Anh Trương Nguyễn)

Đường nhà Trương nguyễn hôm nao
Gian nan như thể đường vào Thục xưa
Bao lần anh đạp gió mưa
Trong cơn gió chướng ngõ trưa vắng người
Câu thơ hào sãng cả cười
Ngâm niềm hiếu nghĩa bùi ngùi trong ta
Héo mòn tấc dạ quê cha
Bao năm đất khách nay là cố hương
Dòng đời trải mấy mù sương
Tìm nhau ngày cũ đoạn trường chia phôi
Trụ đồng họ Mã kia thôi
Câu thơ sắc lạnh giữa thời áo cơm
Giữa đời đâu tính thiệt hơn
Thanh cao là đạo thanh bần là duyên
An nhiên trong cõi lụy phiền
Nhịp cầu thơ nối những miền riêng chung
Từ câu chuyện buổi tương phùng
Đâu hay duyên khởi trùng trùng đêm nay
Nghĩa tình trân trọng trên tay
Lời thơ thô rụng giải bày lòng ta .

QUỲNH CHÂU
Hình minh họa: Khúc tì bà. Tranh của họa sĩ Ái Lan
READ MORE - Quỳnh Châu - NGHĨA TÌNH

Sunday, February 19, 2012

KỶ NIỆM LÀNG QUÊ - Nguyễn Hồng Trân


Hồi ấy vào dịp đầu xuân, tôi từ Cố đô Huế về quê nội cùng ba tôi để thăm bà con ở thôn Phú Long (gần nhà thơ La Vang), thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Hồi đó (1946), tôi mới học lớp nhì. Từ nhỏ ở Huế nên tôi chưa biết gì nhiều về làng quê xứ sở của mình lắm. Mỗi một lần về quê, ông nội tôi, ba tôi và các chú bác đều kể nhiều chuyện này chuyện nọ về lịch sử của quê nhà. Khi nghe kể, tôi rất xúc động và tự hào với những gì Tổ tiên ông cha đã gắn bó bao đời cùng mảnh đất nghèo này và đã vượt qua bao cay đắng với thiên tai, địch họa để sống còn và tạo dựng nên quê hương tồn tại bền vững, mặc dù nay vẫn chưa được giàu có, nhưng dân làng không còn đói rách như trước nữa. Các lớp con cháu trưởng thành, học hành tiến bộ. Hiện nay có đến hàng chục vị Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, như GS. TSKH Nguyễn Mạnh Duy (đã mất), GS. TS. Nguyễn Bá Hưng, TS. Nguyễn Thị Ngân Hà, TS. Nguyễn Bá Viễn, TS. Nguyễn Bá Du v.v… 

Có một điều rất thú vị mỗi khi tôi về làng là thế nào cũng tìm đến các hàng tre quanh vườn nhà ông Trương Hữu Trúc, ông Nguyễn Thiện, ông Trịnh Cẩu, ông Phạm Vãn… để xem những tổ chim rôộc-rôộc*. Hồi đó, tôi và các bạn bè tôi ở quê cứ say mê ngắm nhìn cá tổ chim ấy mà lòng cảm phục sự thông minh, tình nghĩa xây tổ ấm gia đình của loài chim hoang dã này. Chúng tôi tìm chỗ khuất để chờ xem các đôi vợ chồng hoặc tình nhân của loài chim ấy thể hiện thế nào khi xây tổ ấm cho mình trên các ngọn tre. Hai con thay nhau tìm lấy nguyên vật liệu rồi đem về xây thành tổ. Vật liệu gồm toàn những lá tranh tước nhỏ ra để xây. Phải nói rằng chưa có một loài chim nào xây được cái tổ đẹp và công phu và đầy tính lãng mạn như thế! Mỗi đôi chim đều có 2, 3 tổ cho mình. Một tổ để hai vợ chồng hoặc tình nhân nằm chung, một tổ có 2 quai phía dưới để giao lưu với đồng loại; một tổ để cho con cái nằm với nhau. Đặc biệt cái tổ để cho con cái ở thì có cái vòi nhỏ rất dài để cho an toàn  đề phòng mọi sự bất trắc xẩy ra (các loài chim to như quạ, diều hâu… không thể vào bắt các con của chúng được).

Chúng tôi quan sát chú ý đến những đôi chim rôộc-rôộc hót và đứng ở cái tổ “giao lưu” cứ hót véo von một lúc thì có những đôi chim đồng loại đến đậu bên cành tre rồi hót cùng nhau những điệu liu lo réo rắc thăng trầm nghe rất dễ cảm. Tuy âm điệu hót của loại chim này không đa âm nhạc điệu hay bằng loại chim “ Ca sĩ” như chim khướu, chim hoàng anh, vành khuyên, họa my, chích chòe, chào mào, sáo sậu v.v… nhưng nó cũng có âm điệu, tuy mộc mạc nhẹ nhàng nhưng gợi cảm.

Đặc biệt hơn các loại tổ chim khác, tổ chim rôộc-rôộc che mưa, che nắng, mùa hè thì mát mẻ, mùa đông thì ấm áp vì không bao giờ mưa thấm nước ướt vào trong tổ cả. Các tổ chim khác thì đơn sơ, làm tổ đẻ trứng, nở con, khi con lớn biết bay và tự lực được thì bỏ tổ không dùng, lần sau lại xây tổ khác. Nhưng tổ chim rôộc-rôộc thì (theo sách) nó có thể sử dụng vài ba lần nếu thấy vị trí của tổ đẹp và an toàn. Loài chim này cũng đặc biệt về tình cảm vợ chồng giữa con trống và con mái gắn bó với nhau rất tình cảm (chúng rỉa lông cho nhau, mớm cho nhau ăn khi bắt được con mồi ngon). Nếu con mái hay trong mất đi thì sau một thời gian nó cũng tìm đối tượng khác để xây dựng tổ ấm gia đình. Khác với loài chim bồ câu, chim cánh cụt, chim quốc chỉ một vợ một chồng. Khi một con mất đi thì con kia chỉ sống một mình cho đến chết. Đặc biệt là con chim quốc, khi một con qua đời thì con còn lại cứ kêu rên rỉ hoài cho đến chết.

Chuyện về loài chim rôộc-rôộc quê tôi chỉ là một kỷ niệm xa xưa còn đọng lại trong tôi từ thời niên thiếu đến nay. Tiếc rằng giờ đây không hiểu sao mà nhiều nơi miền quê không thấy bóng dáng loài chim này nữa? Chắc có lẽ vì qua bao cảnh chiến tranh mưa bom, lửa đạn tàn phá khắp nơi trên quê hương đất nước thì con người cũng mất mát nhiều huống chi những loài chim chỉ biết nương tựa vào rừng cây, cỏ lá!

Thật là tiếc! Mỗi lần tôi cũng như bạn bè tôi về quê khi nhìn những hàng tre đều tưởng nhớ đến những tổ chim rôộc-rôộc đang líu lo bản nhạc vườn quê thanh bình mà lòng chúng tôi tràn ngập bao niềm nhớ nhung da diết.

Loài chim rôộc-rôộc đâu rồi?
Lòng ta khắc khoải suốt đời không quên.
Ta đi khắp cả mọi miền,
Cứ mong có lại nỗi niềm ngày xưa…


Nguyễn Hồng Trân
nghongtran38@gmail.com

 * Chim rôộc rôộc có tên khác là tồng rộc, tộc rộc,  rồng rộc hay dòng dọc (miền Nam).

Ảnh minh họa từ trang LanAnhBirds.com
READ MORE - KỶ NIỆM LÀNG QUÊ - Nguyễn Hồng Trân

Tưởng niêm 5 năm ngày cố họa sĩ-nhạc sĩ LÊ NHẬT LINH mất - Tin của Lê Thiên Minh Khoa từ BR-VT

 Lê Nhật Linh (1962-2007)


Chiều tối ngày  17.12. 2011 tại vườn nhà CỐ HỌA SĨ- NHẠC SĨ  LÊ NHẬT LINH  - nơi mẹ LNL đang sống- thuộc xã Hòa Hội- huyện Xuyên Mộc- tỉnh BR-VT, các VNS và thân hữu của Lê Nhật Linh tổ chức đám giỗ & ĐÊM TƯỞNG NIỆM 5 NĂM NGÀY MẤT CỐ HỌA SĨ- NHẠC SĨ LÊ NHẬT LINH (em ruột LTMK). Đến dự có đông đảo VNS & bạn bè của Linh từ nhiều tỉnh thành; hội viên các Hội VH-NT; các CLB thơ ca, thư pháp; lãnh đạo phòng VH-TT huyện Xuyên Mộc & chính quyền địa phương.

   Chương trình ĐÊM TƯỞNG NIỆM mở đầu bằng những lời tâm tình tưởng nhớ của các nhà thơ-văn-thi hữu : Mai Châu, Nguyên Thương, Dương Cao Tần, Nguyễn Hải La ... Sau đó, Ô. Nguyễn Ngọc Lý- Phó phòng VH-TT huyện Xuyên Mộc pháp biểu tưởng niệm và LTMK thay mặt GĐ cảm ơn tấm lòng của bè bạn đối với người em đã khuất & GĐ mình. Khi nhập tiệc các thân hữu lại hoài nhớ một người bạn tài hoa mà vắn số qua những ca khúc của Linh được hát tại sân khấu trước nhà & từ CD bạn bè thực hiện cho Linh do các nhạc sĩ ca sĩ Nguyễn Dũng, Đỗ Dũng (TP. HCM); Xuân Giang (Đà Lạt), Thúy Liễu, Thi Nga...thể hiện; trong khi bao quân sân vườn là mấy chục bức tranh của Linh được bạn bè sưu tầm & đóng giá trưng bày.

   Xin giới thiệu với bạn đọc & thân hữu  những bức tranh của Linh được bạn bè sưu tầm &  trưng bày hôm đó do Nhà nhiếp ảnh Lê Nhật Ánh chụp:

 Chân dung tím


 Đà lạt


 Hương đêm


 Lục bình


 Mưa đêm


 Quỳnh


 Thiếu nữ độc ẩm


 Vô thường


 Rock
READ MORE - Tưởng niêm 5 năm ngày cố họa sĩ-nhạc sĩ LÊ NHẬT LINH mất - Tin của Lê Thiên Minh Khoa từ BR-VT

Saturday, February 18, 2012

Tuệ Thiền Lê bá Bôn - ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT


(Từ trang 51đến trang 60)

Hoa Cỏ

Cỏ dại ven đường
Hồn nhiên điểm nụ
Giữa chút tầm thường
Bao la hội tụ

(T/chí Tài Hoa Trẻ, Xuân 2001)

(Trang 51)
------------


Tìm Lại Chính Mình
(“Khuôn mặt thật muôn đời” của sự
sống chúng ta là gì? Làm sao để ngộ?)

Đừng khẳng định “tôi”
Là thân xác này
(Xác thân tan rã
Luân hồi còn đây)

Đừng khẳng định “tôi”:
Cảm giác, nghĩ suy…
(Huyễn tướng duyên hợp
Càng chấp càng si)

Sống tức “tôi là …”
Vậy Chân Ngã đâu?
-Giác tâm vô trụ
Tịch Chiếu nhiệm mầu…

Lời xưa thánh triết
Minh sư trao truyền
Thành tâm tự ngộ
Xa dần đảo điên

(Trang 52)
------------


Ốc Biển

Điểm xuyết hoa văn hồn cát trắng
Lặng lẽ quên mình giữa cuộc vui
Tay ngà thiếu nữ tung nát vỏ
Ruột ứa buồn đau của đất trời!

(Trang 53)
------------


Gặp Hoa Bụt Sáng Nay

Hoa trước cửa bao năm
Ôm đa đoan: chẳng thấy
Sáng nay lòng tự tại:
Đỏ thắm một màu dâng!

(Trang 54)
------------


Bài Ca Vì Hoà Bình

Chúng tôi yêu hoà bình
Chúng tôi ghét chiến tranh
Đừng si mê quyền lực
Đừng tham vọng tối đen

Dù tuổi thơ nơi đâu
Niềm ước mơ vẫn thế:
Hạnh phúc trong tổ ấm
Bình yên trong tiếng cười

Sự thật ở trên đời:
Hạnh phúc là muốn sống
Ở đâu cũng con người…
Đừng nhân danh sáo rỗng

Hãy dừng tay bom đạn!
Dừng cái “tôi” điên cuồng!
Hãy hát lời chân lí:
Lương Tri là Tình Thương

(Báo Giác ngộ, 10/4/2003)

(Trang 55)
------------


Sóng Tình Yêu

Ta yêu nhau: cây đời xanh hơn
Tầng ô-dôn bớt những vết thương
Lũ chim gọi nhau về đất hứa
Gã bụi đời giũ áo bất lương

Ta yêu nhau: niềm tin ló dạng
Rét nứt mùa, xuân đã nhú lên
Kẻ ô trọc theo đàn sâu nhỏ
Cởi tối đen hoá cánh bướm vàng

Ta yêu nhau: đất trời độ lượng
Rớt hận thù khỏi ánh mắt đau
Sóng tình yêu toả lan vô tận
Tim bình yên, quên thuở nát nhàu

Ta yêu nhau: lòng ta trong hơn
Không để tình yêu hoá oán hờn
Nụ hôn thương nỗi đau trái cấm
Người gặp người giữa cõi bán buôn

(Trang 56)
------------


Nghe Chim Hót

Nếu chẳng đất lành chim không hót
Quên Chân Thiện Mĩ: tâm lưu đày…
Vườn ta tỉnh thức cùng đất nước
Ríu rít hồn xuân ngập sáng nay

(Trang 57)
------------


Mái Ấm

Chưa tan vỡ cũng đầy nứt rạn
Khi tâm hồn không chốn yêu thương
Khi nỗi nhớ không nơi an trú
Khi thuyền đời lênh đênh trùng dương

Nên khát khao mái ấm gia đình
Để vơi bớt muộn phiền đua chen
Để lòng còn vần thơ liêm khiết
Thắm chân tình - phai nhạt ghét ganh

Nên khát khao mái ấm trăm năm
Nhưng… Cõi đời là những phù vân!
Nhìn lại: bao vô thường tiếp nối
Níu chặt?... Buông lơi?... Thấy bàng hoàng!...

Chợt tỉnh ngộ (bao đời lưu lãng)
Tìm về Phật tính - mái nhà xưa
Dừng chân giữa quê hương tâm thức
Thanh thản vầng trăng rọi bốn mùa

(Trang 58)
------------


Cảm Tác Về Tiếng Cười Báo Chí

Văn chương báo chí khéo cười
Cười buồn, cười nhộn, cười ruồi, cười đau…
Tiếng cười rửa sạch lòng nhau
Cây đời rồi sẽ thắm màu lương tri

(Báo BR-VT, 23/10/2004)

(Trang 59)
------------


Nghe Hoạ Mi Hót

Hoạ mi ơi
Nghe sao mà thánh thót!
Ta đang thất nghiệp vì không quen đút lót
Chim hót nhẹ thênh
Ta nặng trĩu nỗi buồn

Hoạ mi ơi
Nghe sao mà vui thế!
Ta đang đau tấm thân đời nổi ghẻ
Xảo quyệt, tham ô, trí thức rởm lúc nhúc trong từng nứt nẻ
Chim đang xuân
Ta còn hạ oi nồng

Hoạ mi ơi
Ta yêu, yêu lắm
Mà lòng ta chưa một với tình em!

(Trang 60)
------------
READ MORE - Tuệ Thiền Lê bá Bôn - ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT

Trương Nguyễn - KHI GIẤC MƠ VỀ


(tặng Hoạ Sỹ ÁI LAN)

Em hiện ra giữa "hoành thành u tịch"
Nơi bệ rồng lẫm liệt dấu sơn
Mênh mang buồn"thâm cung bí sử"
Bức tường thành giấu nỗi cô đơn

Màng màu loang s
ơn phết dỗi hờn
Sương lam mờ khoả thân trinh tiết
Ngước mắt nhìn không gian bi thiết
Nỗi u trầm thoáng hiện xanh xao

Nõn nà th
ơm óng ả ngọt ngào
Cơn gió lạ mơn man khát vọng
Từng con mắt trần truồng ước vọng
Tóc mây bay bù rối cõi trời

Nh
ững lằn ngang kẽ dọc rong chơi
Nét chấm phá màu chiều mù tối
Dáng thiếu nữ trung trinh chờ đợi
Lời yêu thương óng ướt bờ môi

L
ật ngửa bàn tay mặt trái cuộc đời
Chẳng đánh đố ngại ngần giấu diếm
Bao câu nói mập mờ lấp liếm
Mở toang ra bí ẩn mù sương

H
ồn hoạ sĩ mơ mơ cõi thiên đường
Mang đôi cánh bồng bềnh chao lượn
Vung lên không lững lơ cánh bướm
Vẽ buồn vui... hằn nét mặt người.


TRƯƠNG NGUYỄN
truongnuyen49@yahoo.com.vn
Hình minh họa: Hy Vọng - tranh sơn dầu của họa sĩ Ái Lan
READ MORE - Trương Nguyễn - KHI GIẤC MƠ VỀ

Friday, February 17, 2012

THƠ XƯỚNG HỌA - Nguyễn Thanh Xuân và Lê Đăng Mành


Thơ mời hoạ

             CHẠM MIỀN KÝ ỨC
              Lê Đăng Mành

             Ngậm ngùi nuối tiếc tuổi ngây thơ
             Níu gối thời gian bóng hững hờ
             Quân tử bâng khuâng tìm ngõ dại
             Thuyền quyên mộng tưởng gối thềm mơ
             Giai nhân chằm nón nghiêng vành nguyệt
             Măc khách chuốt vần níu sóng thơ
             Mưa bão quê còn chao chác vỗ
             Thì đây ký ức chạm tung bờ./                        
              lamnguyethien        
                 Thương tặng nghề nón quê tôi !
                (Ở Huế bán nón mua chữ để thành người) 


Bài hoạ 1

             THẬT BẤT NGỜ
             Nguyễn Thanh Xuân

             Ở đây có nón…nón bài thơ
             Là chủ nhân hay bạn ngóng hờ ?
             Kìa khóm trúc mai kề “Vọng Nguyệt”
             Đây đôi én bạc liệng “Đồi Mơ”
             Rộn ràng thoả nguyện ngày xuân đẹp
             Ao ước cháy lòng lúc tuổi thơ
             Quà nhỏ tớ làm xin biếu tặng

             …“Ước gì chung nhịp giữa đôi bờ”(1)

             ………………………………

             (1) Nói thầm

  
Bài hoạ 2                  

            VỘI

             Mười sáu tuổi đang là trẻ thơ
             Nôn nao tìm liễu chẳng ơ hờ
             Phơi trần khờ dại trong đời hực
             Dấu kín “khôn ngoan”giữa giấc mơ
             Lấp lánh khuôn trăng tròn những khuyết
             Chông chênh trang sách mộng và thơ
             Thuyền ai chao đảo nghiêng vành nón
             Những muốn đẩy xô cập bến bờ./.


 Bài mời hoạ

             TÌNH YÊU VÔ B
             Lê Đăng Mành

             Gỡ  võ nứt chồi phơi giữa xuân
             Đời quăng oan trái chạm tình nồng
             Valentin tình yêu thần thánh
             Về  hội tâm từ với á  đông./



Bài hoạ

            NÍN CHỊU
            Nguyễn Thanh Xuân

             Đâu rồi ngọn lửa giữa trời xuân
             Càng dập càng sôi lại cháy nồng
             Hạ đến thu về thôi nán lại
             Xin đừng đi tiếp hết ngày đông!
READ MORE - THƠ XƯỚNG HỌA - Nguyễn Thanh Xuân và Lê Đăng Mành

Hồ Sĩ Bình – ĐƯỜNG XƯA ÁO LỤA



Hơn nửa thế kỷ trước, một lần ngắm con đường Lê Lợi trong giờ tan trường, nhà thơ Phan Phụng Thạch đã viết: Khi trở lại con đường xưa áo lụa / Hàng cây sao vẫn đứng đợi em về / Em không về nên cây buồn lá úa / Anh cũng buồn đi giữa nắng chơ vơ.
Nhà thơ gọi đó là “con đường áo lụa” bởi với nhiều thế hệ học trò xứ Huế, con đường ven bờ sông Hương ấy mãi mãi đi vào ký ức những hình ảnh thuộc về thế giới học trò. Từ thời Pháp thuộc, áo tím Đồng Khánh bâng khuâng một màu rất Huế; về sau đổi thành màu trắng. Giờ tan học đường Lê Lợi ngập tràn áo trắng, bồng bềnh như dòng sông… lụa lan toả khắp nơi.



Đường học trò và đường của bốn mùa

 Áo trắng ngược Nam Giao, Bến Ngự, về Vĩ Dạ, qua Tràng Tiền. Áo trắng xuống đò Thừa Phủ qua tả ngạn hướng lên Kim Long, vô thành Nội. Hình ảnh áo lụa thinh không, môi hồng đào ríu rít như đàn chim trong nhạc Trịnh cũng thuộc về nơi này. Những khi ấy con đường như phô diễn hết nét đẹp lộng lẫy mà tinh khiết của màu trắng lụa là tinh khôi học trò giữa cái rạo rực nôn nao của mối âu lo mất còn, chợt rào rạt đến đó rồi tan loãng ra đi.

Hai bên đường là hàng cây long não, cây muối, phượng vĩ và những công viên đầy cây lá, dọc bờ sông những thảm cỏ nối đuôi nhau. Cảnh sắc thiên nhiên, dòng sông bãng lãng và những bến đò ngang giăng mắc đã khắc hoạ cho con đường thêm thơ mộng. Cây cỏ bốn mùa thay đổi. Mùa xuân hoa muối trắng bay rì rào, rực rỡ hoa hoè màu vàng đánh thức những giấc mơ đèn sách trong mùa thi cử. Mùa hè phượng đổ lửa lên trời xanh và… rưng rưng ngày chia tay. Khi cây ngô đồng trong công viên Tứ Tượng bên bờ Hương giang rụng lá báo hiệu mùa thu về. Đông đến, những cây bàng nhuộm màu đỏ thẫm rồi rụng hết để chở những nỗi buồn lê thê của từng cơn mưa xứ Huế.

Lê Lợi còn là con đường lịch sử của đất kinh xưa. Ngôi trường Quốc Học gắn liền với nhiều tên tuổi như Nguyễn Sinh Cung, Trần Phú, Phan Đăng Lưu, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... và nhiều nhà văn hoá lớn, nhà thơ, nhà văn Xuân Diệu, Huy Cận…
Sau này, Lê Lợi lại là con đường của  học đường với sự xuất hiện Đại học Luật khoa, Văn khoa, Khoa học, Đại học Sư phạm, trường trung học Trần Hưng Đạo, trường trung học Kiểu Mẫu… Thư viện đại học Huế được biết đến là một trong vài thư viện hàng đầu của cả nước bởi khối lượng sách và tư liệu đã có mặt từ rất lâu, cũng là những hẹn hò mơ mộng của sinh viên Huế, để rồi khi ra đi đè nặng một nỗi niềm nhiều khi cả đời người tê buốt.

Con đường đã từng chứng kiến những cuộc xuống đường biểu tình, bãi khoá, tuyệt thực, đốt xe Mỹ của sinh viên học sinh Huế. Mỗi gốc cây, góc phố còn giữ mãi ký ức những ngày bão nổi ấy. Con đường đã trở thành một hình ảnh biểu trưng cho tuổi trẻ của cả nước trong những ngày sục sôi đấu tranh, cả những đau thương uất hận. Và thời ấy, Huế đã trở thành một trong hai cái nôi của phong trào đô thị tại miền Nam, nơi tụ hội của những sinh viên khu vực miền Trung.

Lá muối rụng vàng đường lên Thừa Phủ
Nhạt nhoà nước mắt áo mẹ tìm con.
                                                      (Võ Quê)

                     Các anh về từ đâu không ai hay biết
                     Nhưng mỗi tên người thấp thoáng một giòng sông
                                                                      (Đông Trình)


Đường đi như sông Hương về gặp Huế

Sau ngày hoà bình trở lại, đường Lê Lợi vẫn trắng trong màu áo lụa học trò của nữ sinh trường Hai Bà Trưng, trường Quốc Học. Những biền bãi ven sông xanh mướt, luôn tạo những góc nhìn đầy mê hoặc bởi sự đổi sắc không ngừng của sông Hương. Và bên kia sông những đền đài thành quách “bên ni, bên nớ” thắm sâu nét thời gian trong màu gạch u trầm. Như một cuộc trùng phùng đầy thú vị, khi sông Hương về gặp Huế đã trôi chậm kéo hình cánh cung như một dải lụa mềm. Đường Lê Lợi từ ga kéo đến Vĩ Dạ cũng sóng bước chung đôi.

Những công viên dọc dài bên sông đã xuất hiện những vườn tượng điêu khắc quốc tế, nơi gặp gỡ của những nền văn hóa nghệ thuật điêu khắc Đông Tây hội tụ góp phần đưa Huế hội nhập văn hóa và nghệ thuật điêu khắc sâu hơn với bên ngoài bằng những hình ảnh hiện thực. Và con đường này còn tồn tại những công trình kiến trúc thời Pháp thuộc hài hòa với không gian trầm mặc của xứ Huế. Đây là những di sản kiến trúc mà giá trị đã được thừa nhận, cùng với lăng tẩm đền đài sông nước thiên nhiên tạo cho Huế trở thành một bài thơ kiến trúc đô thị.

Đi trên con đường này, khách nhàn du luôn có cơ hội để nhìn ngắm sông Hương một cách trọn vẹn. Chỉ cần vài bước, lữ khách có thể rong chơi trên thuyền, cảm nhận nền văn hoá dân gian đầy “mô, tê, chi rứa”, rồi tê tái bâng khuâng bước chân người lãng du trong tâm trạng Lòng quê dờn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà (Huy Cận).'

Những đêm sâu hay bình minh, tiếng chuông chùa Linh Mụ bên kia sông vọng về loang xa trên mặt nước làm cho tâm hồn trải qua những phút giây tĩnh tại trước xô bồ cuộc sống. Bởi vậy có người đã gọi sông Hương là con sông thiền, con sông vô ưu giữa bao đổi thay thế sự vẫn an nhiên đi qua bao hưng phế phù du, cho dẫu con người luôn nhìn sông bằng tâm cảm của riêng mình.

Những đêm sâu đi về một mình trên con đường đầy bóng cây u thẩm đến rợn người, tôi chợt nhận ra, thế giới không còn thuộc về chúng ta mà chỉ còn thuộc về cây lá, những thời khắc mà con người chợt cảm thấy cô đơn đến tận cùng nếu như không có tiếng vọng chuông chùa bên kia sông làm tỉnh giấc bởi nỗi sợ hãi trước vô cùng.

Mỗi góc phố, mỗi vườn cây, mỗi ngôi nhà đều vấn vương ghi dấu những sự kiện gắn liền  không thể phai mờ trên từng dòng sử ký của hơn 100 năm đầy những thăng trầm dâu bể. Bởi thế, đến Huế chỉ cần lang thang trên đường Lê Lợi là đủ thấm cái hồn xưa cũ của đất cố đô.

Hồ Sĩ Bình
READ MORE - Hồ Sĩ Bình – ĐƯỜNG XƯA ÁO LỤA