Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 18, 2011

CÁP XUÂN TÚ – TÀ RỤT XA XÔI


Ai chưa đến đó

Tà Rụt, tôi đã từng nghe nhiều người đến đó, thậm chí có những người đã sống ở đó kể lại về một vùng đất heo hút. Tôi chỉ mường tượng, không định hình được nó như thế nào, con đường đến đó ra sao. Và Tà Rụt trở thành ước mong của tôi là một ngày sẽ đến.

Tôi tâm đắc câu thơ của Tố Hữu: Trường Sơn Đông nắng Tây mưa/Ai chưa đến đó thì chưa rõ mình. Thật vậy, Tà Rụt chưa đến thì chưa hiểu được Tà Rụt, và mình chưa hiểu được chính mình.

Đầu tháng 8, Đông Hà vẫn còn nắng rát với gió Lào khô khốc. Tôi được điều lên Tà Rụt công tác ba ngày - tập huấn chương trình dạy học của Intel ITGS. Vui lắm. Chạy xe máy từ Đông Hà lên đến cầu treo Đakrông, cảm giác bình thường với nóng trong khung cảnh quen thuộc, đồi tiếp đồi, núi tiếp núi cao dần cao dần. Dừng chân nghỉ ở quán nước ven đường Đường 9 tại ngã rẽ ngay chân cầu treo tôi lại bắt đầu đi theo Đường 14 - là đường Hồ Chí Minh đi vào phía Nam .



Chập chùng đại ngàn

Con đường quanh co, khúc khuỷu, uốn lượn theo sườn núi, bám theo dòng sông Đakrông. Nuớc sông mùa này không nhiều, thậm chí cạn ráo để trơ những lèn đá liêu xiêu hay những bãi cuội vàng ươm xen kẻ cây bụi lúp xúp. Hai bên sườn núi dựng đứng cao vút, bỗng thấy mình lọt thỏm giữa đại ngàn trùng điệp, núi tiếp núi lô nhô, sừng sững. Con đường sáng lên màu xám bạc tựa như con rồng con rắn uốn mình, lúc lên, lúc xuống. Có những đoạn đường nằm chênh vênh tưởng như đang treo bên sườn núi, sườn đổ xuống phiá sông dốc sâu thăm thẵm.



Bây giờ hơn 4 giờ chiều, tôi biết được từ Cầu treo Đakrông vào đến Tà Rụt là 50 km nên phải làm sao đến nơi trước 6 giờ tối. Lạ đường, đường quanh co hiểm trở nên không giám chạy nhanh dù rằng đường rất vắng xe. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe máy đi ngược chiều hoặc ai đó quen đường phóng nhanh chạy vượt lên - đặc biệt là mấy thanh niên người Pakô, Vân Kiều chở ba không đội mũ bảo hiểm. Phải vào Tà Rụt trước lúc trời tối cũng do sợ giữa đường trời mưa. Đuờng 14 nằm phía Tây Trường Sơn rồi nên khí hậu giống đất bạn Lào có nghĩa là nếu Đông Hà mùa nắng thì đó là mùa mưa. Mà mưa rừng nhiệt đời thì xối xả, chạy xe trong mưa thì như ai ném đá vào mặt. Hơn nửa phiá bên núi bạt taluy dốc quá nên dễ sụt đất.



Đi mấy cây số vắng ngắt mới có một bản  người dân tộc. Bản nằm trên sườn núi gần bờ sông. Cũng có vài bản thức thời hơn làm nhà dọc theo Đường 14. Qua một vài trung tâm xã như Tà Liêng, Tà Long, Húc Nghì , Pa Hy... cũng có trường, có trạm y tế, có điểm giao dịch của ngân hàng chính sách... và bóng dáng người Kinh.

Dọc đường cầu nhiều lắm, tên cầu cũng là điều cần phải nói. Ngoài một vài cầu có tên riêng như Cầu Tà Liêng, Cầu Húc Nghì.... còn phần lớn có hai cái tên được gọi nhiều nhất là CẦU BẢN - có lẽ do gần một bản làng nào đó, hoặc CẦU BTCT (tôi đoán là CẦU BÊ TÔNG CỐT THÉP). Cứ nghĩ rằng nếu gọi điện cho ai đó nói là mình đang đến cầu BTCT thì chắc người Tà Rụt cũng không thể biết mình đang ở chỗ nào đâu nếu không nói rõ vị trí.



Phần lo sợ trời tôi, đường quanh co lo giữ vững tay lái nên cái lưng mỏi cứng mà không dám nghĩ, chỉ mong sao đến được Tà Rụt. Xung quanh toàn núi bao quanh, khoảng trời thu nhỏ lại cùng mấy đám mây đen bay lững thửng. Gió núi mát lạnh. Tôi miên man suy nghĩ về những đồng nghiệp của mình đã gắn bó với mảnh đất này. Tôi tự hỏi vì sao họ có thể bám trụ ở đây hay ngày đầu tiên họ lên nhiệm sở thì họ có suy nghĩ gì và có ý định bỏ về không, nếu có thì cái gì níu giữ họ lại cho đến hôm nay...

Cái vẻ đẹp hùng vĩ của đại ngàn Trường Sơn làm tôi nhớ đến câu thơ của Quang Dũng trong Tây Tiến: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Heo hút cồn mây súng ngửi trời... Tôi ngắm như cố thu hết tất cả vào trong tâm trí mình. Có dừng lại chụp mấy cái ảnh nhưng sau phải cúi đầu chạy cho kịp về trước khi trời tối.


Thị tứ

Rồi Tà Rụt cũng hiện phía bên kia sườn núi. Lác đác mấy cái nhà xây hai tầng, một cột ăng-ten của viễn thông có vẻ ra dáng thị thành. Ah, mà Tà Rụt là một thị tứ mà. Hai bên đường có nhiều quán xá: quán nhậu, quán café, quán karaoke, quán bán tạp hoá, bán hàng điện tử, tiệm may... đủ cả. Giữa đường, mấy chú dê vẫn chạy nghênh ngang, miệng gọi nhau be be... Mấy sơn nữ Pakô vẫn mang achói, miệng ngậm tẩu thuốc nhưng áo và xấn cũng bằng vải người Kinh đưa lên, cũng có mấy mé mang xấn thổ cẩm. Có những chiếc xe Wave Tàu lao vun vút do hai hoặc ba thanh niên dân tộc phóng đi vẫn đầu trần không mũ bảo hiểm.



Bao quanh thị tứ vẫn là núi, là mây. Có lẽ quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng trên đất này. Sau này tôi biết có một miếng đất rộng 10 mét sâu 25 mét nằm trên đường nhánh đi vào trường THPT Tà Rụt mà giá hơn 180 triệu. Oái, không biết người ta dự đoán nơi đây diễn ra những gì trong tương lai gần mà hét giá đất lên cao như vậy, cao hơn giá trị thực tại quá nhiều lần.

Hai bên đường nhánh rẽ vào từ Đường 14, nhà ở của đồng  bào dân tộc xen lẫn quán xá của người Kinh. Nhà sàn cũng đổi thay theo, vật liệu bê tông cốt thép, ván tráp xung quanh, mái lợp tôn thép hoặc tôn xi măng. Lâu lâu mới có được nhà sàn lợp tranh, vách nứa. Dù sao họ vẫn giữ lại nếp xưa đó là cái bậc thanh lên nhà vẫn bằng gỗ rừng, khung cửa sổ mặt trước vẫn là nơi để mọi người ngồi trầm lặng nhìn ra bên ngoài. Tôi có cảm giác như ngôi nhà bó buộc họ như rừng núi bó buộc họ cho dù cuộc sống hiện đại đang phát triển và lan dần đến đây và họ ngồi nhìn sự thay đổi và xem mình không phải là chủ thể của sự thay đổi đó.



Giữa bãi đất rộng sau trường THPT Tà Rụt còn những cây nêu bỏ lại sau ngày lễ hội đâm trâu tế Giàng của người Pakô. Chúng đã ngã mục vì nắng mưa lâu ngày bên gốc cây gạo cao vút lá réo với gió rừng lộng lộng. Không ai dám đến đó vì những đồ vật tế Giàng mà sờ vào thì bị phạt trâu, phạt bò cho cả bản. Ở đó chỉ có mấy con dê lẩn thẩn gặm cỏ, rồi tung tăng rượt đuổi nhau và cất lên be be be...



Nét nguyên sơ

Dù tại thị tứ, thay đổi diễn ra là vậy, nhưng đi về phiá A Bung cách 10 km về phiá Nam, cứ gọi là "Ngoại ô của Thị tứ" ta bắt gặp nét hoang sơ giữa núi rừng. Mái nhà sàn lợp tranh tre vẫn giữ gìn ngọn lửa ở cái bếp chính giữa gian nhà. Cô gái Pakô cười duyên mến khách,  trọ trẹ tiếng Kinh chào hỏi. Có gái chắc tuổi không nhiều nhưng những nếp nhăn đã hằn lên gương mặt và tấm lưng cong lại như gánh gồng khổ cực, ba bốn đứa trẻ đen nhẻm chạy đùa lung tung. Ngôi nhà với mái tranh toe tua, phên nứa xộc xệch, gầm sàn chất đầy đầy củi rừng. Củi rừng được lấy về bằng gùi chứ không gồng gánh như người Kinh. Gùi (achói) là loại công cụ lao động của người dân tộc dùng để mang vác. Gùi đan bằng mây song rất chắc chắn, được đặt trên bếp để hun khói và quét một lớp nhựa cây. Mùa này mới hái bắp xong, bắp phơi đầy sân.



Rất may mắn, tôi bắt gặp một cái nhà dài bị bỏ hoang. Nhà dài vốn là nơi bảo lưu rất rõ nét cơ cấu đại gia đình phụ quyền. Con trai lấy vợ, cháu trai lấy vợ làm thêm một gian nhà, thế rồi nhà cứ dài ra. Hiện nay bà con dân tộc làm nhà riêng ứng với một gia đình nhỏ. Quá trình phát triển xã hội và hiện đại cũng đồng thời là quá trình hủy diệt văn hóa cổ truyền chăng??? Như máy bơm nước thâm nhập làm cho gàu sòng, guồng đạp nước bị bỏ nát hay tivi, máy hát băng đĩa, karaoke làm xa dần những nhạc cụ mộc mạc của người dân tộc và những câu hát lý lơi ... chính đó là nguyên nhân làm rạn nứt các tập tục cổ truyền.


Mái tranh của ngôi nhà sàn vẫn còn, chiếc mõ gỗ phát ra lách cách của chú bò gặm cỏ, cái gùi vẫn đen màu khói, làn da cô gái Pakô vẫn rám nắng... bên cạnh là chiếc xe máy Tàu, chiếc áo pull phơi bên cạnh cái chảo bắt sóng vệ tinh VTV hay VTC...

Rồi cái nguyên sơ kia sẽ mất theo tháng năm, quá trình hiện đại hoá, đô thị hoá đang diễn ra ở đại ngàn Trường Sơn phiá Tây Quảng Trị vốn xưa là lam sơn chướng khí.



Tôi gặp biển báo khu vục biên giới. Nơi đây vẫn vậy, những thay đổi không khác mấy so với thị tứ Tà Rụt. Đầu nguồn dòng sông Đakrông vẫn cạn để trơ những bãi đá lô xô. Phiá bên kia bờ xa xa, mấy cô gái đang tắm mình trong dòng nước đục ngầu. Mấy hôm nay Tà Rụt mưa...

 

Xin hát về bạn bè tôi...

Bà con ở đây là vậy, nên những đồng nghiệp của tôi ở Trường THPT Đakrông II (Tà Rụt) cũng gặp không ít khó khăn. Trường mới được xây một dãy nhà ba tầng, dáng tạc vào dáng núi. Thị tứ chỉ có toà nhà này là cao tầng nhất. Học sinh ở đây gần 90% là người dân tộc. Tiếng Kinh là ngoại ngữ nên chắc chắn thầy cô mình sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tôi đến trường khi nhà trường đang tổ chức học sinh thi lại. Nhìn danh sách gọi tên, từ đầu đến cuối toàn là họ HỒ. Các em ngồi làm bài nghiêm túc, không ai hỏi ai.





Nhiều thầy cô cho biết, nhà trường yêu cầu các em nên sử dụng tiếng Kinh trong giao tiếp, nhưng mà học sinh dân tộc nhiều quá nên mấy em học sinh người Kinh cũng nói tiếng dân tộc luôn. Các em thường theo bố mẹ lên rừng làm rẫy, hay nghỉ học. Mùa mưa này, khi nước ở con sông, con suối lên cao các em không thể đến trường được. Các em thiếu sách, vở, dụng cụ học tập. Cái nghèo khổ còn đó, trông chờ vào cái rẫy, cái nương, không đủ ăn, đủ mặc lấy gì mà sắm sửa cho việc học. Hàng năm Sở GD-ĐT Quảng Trị vẫn đề nghị các trường ở đồng bằng quyên góp giúp đỡ, nhưng biết mấy cho đủ... Đầu năm học, chưa có trợ giúp, các em không có sách học. Các thầy cô có ý định bỏ tiền ra mua sách cho các em rồi thu tiền lại sau. Chà, biết khi nào mà thu lại được, các em còn thiếu cái ăn, cái mặc, không có tiền mua sách vở thì lấy đâu ra tiền mà trả lại cho các thầy...


Khu tập thể giáo viên được xây mới thêm mấy phòng, còn chủ yếu ở 2 dãy nhà cũ. Các thầy cô đề rất trẻ, nhiều thầy cô ra trường mới 1 năm, 2 năm. Cả thầy Hiệu trưởng cũng xa vợ (vợ dạy ở Triệu Phong) cũng sống chung với anh em. 



Bể nước tập thể buổi sáng, mọi người ra đánh răng, rửa mặt, giặt giũ như khu tập thể sinh viên. Họ nấu ăn chung, bếp tập thể tềnh toàng cũng có đủ bát đĩa soong nồi.



Mỗi ngày cắt bốn giáo viên không có tiết phụ trách cơm nước, cứ luân phiên nhau. Giữa rừng núi xa xôi nên giá cả đắt đỏ, nhưng mà hàng hoá ở đây khá đầy đủ.



Chiều, các thầy cô cùng nhau đánh bóng chuyền. Sinh hoạt thường nhật. Món ăn tinh thần của anh em. Tôi cảm nhận được những tình cảm thương yêu, gắn bó sâu sắc, những mối đồng cam cộng khổ để cùng vượt qua khó khăn. Những ngày sống ở đây, tôi mới hiểu được và trả lời được câu hỏi mà mình day dứt trong suốt chặng đường lên với Tà Rụt: Vì sao họ có thể bám trụ được ở đây để dạy dỗ? Có phải chăng trong khó khăn gian khổ con người sống chan hoà yêu thương nhau hơn là khi họ được một điều kiện sống sung túc thuận lợi. Chốn đô thị phồn hoa lấp lành ánh đèn màu, những người chưng diện phấn son áo dài lả lướt đã khoả lấp và làm mờ nhạt những tình cảm gắn bó yêu thương và chen lẫn vào đó là những đố kỵ, ganh ghét, tỵ nạnh, nham hiểm và thủ đoạn...

Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ về phần ai
Ai cũng một thời trẻ trai, cũng từng nghĩ về đời mình
Phải đâu may nhờ rủi chịu, phải đâu trong đục cũng đành
...
Xin hát về bạn bé tôi những người sống vì mọi người
Ngày đêm canh giữ đất trời, rạng rỡ như cành mai chiều xuân.

Ngày trở về Đông Hà. Năm giờ chiều bắt đầu rời Tà Rụt. Suốt chặng đường 100 km tôi hát thầm bài Một đời người một rừng cây không biết bao nhiêu lần. Bên tai vẫn văng vẳng lời dặn: "Thầy về đến Đông Hà thì nhắn tin cho em nghe!"

Cáp Xuân Tú

Bài và ảnh của Cáp Xuân Tú từ trang
vn.360plus.yahoo.com/capxuan-tu và  trang dayhocintel.net

Email: capxuantu@gmail.com, 
ĐT: 0914 061 428, 0944 944 648.
READ MORE - CÁP XUÂN TÚ – TÀ RỤT XA XÔI

Thursday, November 17, 2011

TRẦN HỮU THUẦN - GIỌNG NÓI TIẾNG VIỆT NAM TỪ BẮC VÔ NAM

 Chợ Quảng Trị, 1969




Một nhận xét về biến chuyển của phát âm và giọng đọc tiếng Việt

1.       Về bài Tiếng Quảng trị
Sau bài Tiếng Quảng trị[1], tôi may mắn được mở rộng thêm tầm mắt với hai bài phân tích Thử xem qua một số từ vựng Quảng trị[2] của Nguyên Nguyên  và Giọng Huế - Giọng Quảng trị: Phụ âm lỏng/chặt – Nguyên âm thường/ngằn[3] của Trần Văn Mầu. Không biết còn có vinh dự được thức giả nào bàn đến ở nơi nào khác nữa không. Nếu có, trước hết tôi xin tạ lỗi, và sau đó nếu có ai biết đến xin vui lòng cho tôi được biết.
Tôi vốn chỉ là người nêu lên dữ kiện mà không nhận xét vì bản thân thực không một mảy may kiến thức dù sơ đẳng nhất về ngôn ngữ học nhân chủng học. Nếu tôi có đưa ra nhận xét thì chẳng qua cũng chỉ là thiển ý mà thôi. Và vì không kiến thức nên khi đọc bài của Nguyên Nguyên, tôi chỉ nhận ra được một cảm giác chung chung là, “Thì ra các từ mà tôi cho là của tiếng Việt cổ đó cũng chỉ là vay mượn của các dân tộc khác.” Ngay trong phân tích hai từ áo lá đầu tiên, Nguyên Nguyên đã cho thấy “‘Áo’ là một từ mang gốc Mon-Khmer [?aav ]…. ‘Lá’ là một từ mang gốc Thái [laa] ….” Lối phân tích này tôi cho là rất gần với phương pháp của học giả Bình Nguyên Lộc trong Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam[4], ví dụ phân tích từ lá cây ở trang 332. Tuy nhiên, học giả Bình Nguyên Lộc không cho từ “lá” mang gốc nào khác mà chỉ là “một danh từ chung của cả hai bọn cổ Mã Lai di cư thành hai đợt cách nhau 2.500 năm” (sđd. tr. 331).
Khi viết bài Tiếng Quảng trị, tôi không muốn nói rằng bản liệt kê của tôi là đặc thù của Quảng trị. Bối cảnh bài viết tôi đã thu gọn vào chỉ làng An du tây của tôi, và đặt vấn đề tại sao trong chỉ một làng nhỏ mà lại có các cách dùng từ khác nhau. Một số từ trong liệt kê của tôi được dùng ở vùng từ Thanh hóa vào đến Thừa Thiên, số khác được dùng ở các tình khác đôi khi với ý nghĩa khác. Từ cươi chẳng hạn được vùng Bình định dùng nhưng với nghĩa hẹp là sân phơi lúa, và hình như một số vùng ở Miền Nam cũng dùng với nghĩa này. Về các từ ngày trước có ghi trong từ điển thời Alexandre de Rhodes mà Nguyên Nguyên cho là “có vẻ quốc ngữ chưa phân biệt âm [Y] với [Nh]: dè dẹ=nhè nhẹ; dịn=nhịn…,” tôi không nghĩ như vậy. Tôi cho là vì Alexandre de Rhodes và các linh mục thừa sai thời đó phát xuất từ Đàng Trong, vùng Bình Trị Thiên nên đã ký âm tiếng Việt theo phát âm của vùng đó. Người Bình Trị Thiên “chính gốc” không nói nhè nhẹgiè giẹ, không là cái nhà mà là cấy già vv, với [GI] không có âm gió như [D] của giọng Miền Bắc. Nếu de Rhodes ký âm là dè dẹ đi nữa thì cũng không đáng ngạc nhiên vì vùng này không phân biệt [GI] và [D] như vừa nói. Vào thời này, có rất nhiều từ tiếng Pháp chẳng hạn chúng ta chưa dịch được nên phải mượn âm Hán việt để ký ví như từ inspiration (cảm hứng) tiếng Pháp được ký thành [yên sĩ phi lý thuần], từ évêque (giám mục) ký thành đức vít vồ (ký âm từ Latin episcopus), từ croix ký thành câu rút (ký âm từ Latin crux hay Tây ban nha cruz[5]), từ chêne (cây sồi) định nghĩa là một thứ cây kia! Quí vị nào còn giữ được từ điển thời đó thì thấy ngay. Tôi còn cho rằng các từ được ghi trong các từ điển của Alexandre de Rhodes hay của Huỳnh Tịnh Của không xác định nguồn gốc của tiếng Việt ta mà chỉ là các từ được dùng vào thời đó. Có từ không được ghi trong các từ điển đó thì chẳng lẽ không phải là từ Việt. Ví dụ, từ lang (thầy lang, ông lang, lang băm) không được ghi trong Đại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của[6] thì chẳng lẽ không phải  là từ tiếng Việt?
Cũng theo thiển ý, một dân tộc thường có một số từ nguyên thủy của ngôn ngữ và một số từ vay mượn. Số từ nguyên thủy nhiều hay ít tùy theo sự phát triển của dân tộc đó trước khi giao lưu với các ngôn ngữ khác. Ví dụ, người Pháp có các từ gốc Gaulois, người Anh Anglo-Saxon. Cũng có thể bây giờ người ta thấy một số dân tộc có cùng chung các từ nguyên thủy vì lúc ban đầu các dân tộc này là một. Việc vay mượn thường có qua có lại, nhưng từ mà dân tộc lớn vay mượn của dân tộc nhỏ thường ít hơn so với việc vay mượn ngược lại. Việc vay mượn này cũng đi qua hai nguồn, bình dân và học giả. Quan sát ngôn ngữ chúng ta vào thời Pháp thuộc, ta thấy chúng ta vay mượn bình dân từ tiếng Pháp một số từ ví như cùi dìa (cái muỗng—cuillière), xúp (canh—soupe), va li (cái rương đựng áo quần—valise) vv. Ngược lại, người Pháp cũng đem vào ngôn ngữ họ các từ của ta như là le nhaque (người nhà quê, thôn quê), le cainha (cái nhà)  vv. Đến thời giao lưu với tiếng Anh, chúng ta cũng thấy hiện tượng đó. Bình dân Việt Nam vay mượn tiếng Anh ví như từ car (xe ca), và ngược lại người Mỹ cũng nhận vào pho (phở), chagio (chả giò). Tuy nhiên, như vừa nói, việc vay mượn này tùy thuộc vào sự chung đụng văn hóa và lịch sử, và dân tộc nhỏ vay mượn từ dân tộc lớn nhiều hơn. Các ngôn ngữ châu Âu vay mượn tiếng Latin vì dân tộc Rôma đã từng là một đế quốc hùng mạnh; người Nga người Anh một thời đã coi trọng tiếng Pháp, nhất là giới thượng lưu.
Nếu điều này là một lệ thường thì tại sao dân tộc Việt lớn hơn các dân tộc chung quanh lại toàn vay mượn của dân tộc khác mà không nói ngược lại là các dân tộc khác đã vay mượn của chúng ta? Đây không phải là tự ái dân tộc mà là một nhận xét theo lệ thường. Giả sử một ai đó nghiên cứu về từ [laa] Thái thì sẽ cho đó là tiếng nguyên thủy Thái hay là một từ mang gốc Việt Nam [lá], một cách nói ngược lại phân tích của Nguyên Nguyên cho rằng từ “là một từ mang gốc Thái [laa]….”? Tiện thể, cũng trong câu này, Nguyên Nguyên nhận xét “Ngày trước, thứ áo lót ‘mai-dô’ cũng được gọi nôm na: ‘áo thun lá’.” Theo tôi, không phải “ngày trước” mà ngày nay người Miền Bắc vẫn gọi là áo thun lá cái áo lót ‘mai-giô’ do tiếng Pháp le maillot (mai-giô chứ không đọc được là mai-) được bình dân vay mượn vào tiếng Việt chúng ta như tôi vừa thảo luận bên trên.
Ngược lại, tôi rất thâm ý với phân tích của Trần Văn Mầu về âm tiếng Việt chúng ta. Đây là lần đầu tiên, thú thực, tôi thấy việc phân tích từ Việt thành âm ngắn âm dài như vậy. Không thể ký âm các từ Bình Trị Thiên như “ôông” thành ôn được vì ôông dài mà ôn  thì ngắn. Tôi cũng tán đồng việc ký âm mà Trần Văn Mầu gọi là phụ âm cuối lỏng còn tôi thì cho là dài, ví như thọg hay thọk để đọc là thoọc. Tuy nhiên, nếu đề nghị loại bỏ hai chữ cái ă â thì ký âm thế nào cho thuận tiện để phân biệt câm cơm, và ký âm từ tăm cách thế nào? Nếu có thay đổi cách ký âm tiếng Việt hiện đại, theo tôi, chúng ta nên nghĩ lại các âm cứng [cờ] mà ta dùng cả [C] và [K]. Thật khổ cho trẻ con ráp vần, C+A=Ca nhưng C+E≠Ce mà phải là K+E=Ke. Tôi nghĩ điều này do các linh mục thừa sai ký âm tiếng ta nhưng chịu ảnh hưởng của các ngôn ngữ châu Âu như Latin, Pháp, Tây ban nha vv. về âm tiết này. Riêng về [Y] và [I], tôi nghĩ có hai trường hợp khác nhau. Khi cả hai được dùng như nguyên âm thì tại sao lại không qui định bỏ [Y] chỉ dùng [I] mà thôi. Có sự khác biết gì trong giọng đọc tiếng Việt chúng ta với cách viết quốc ngữ lý trí lí trí, tỷ số tỉ số? Do đó, nên hay chăng qui định chỉ giữ lại một cách viết mà thôi? Khi [Y] được dùng như nguyên âm kép thì không thể bỏ được, vì [AI] phát âm khác với [AY], ví dụ nai với nay.
2.       Biến chuyển giọng của tiếng Việt:
(21) Giọng Miền Bắc:
Bây giờ, xin cho tôi được chuyển qua một nhận xét về giọng tiếng Việt. Từ Bắc vô Nam ta lại nắm tay. Nắm tay thì tốt rồi nhưng e có chút trở ngại là đôi khi không hiểu nhau dù tất cả đều nói một thứ tiếng—tiếng Việt. Nếu lấy Huế làm trung điểm của cán cân, ta thấy có một sự thay đổi trong giọng nói của tiếng Việt chúng ta từ Bắc vô Nam. Sự biến chuyển này ở các vùng liền nhau  là tiệm tiến một cách có thể khó nhận ra. Tuy vậy, giọng nói của chúng ta có thể được phân chia thành ba miền rõ rệt: giọng Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam mà tôi gọi là giọng bắc, giọng trung, và giọng nam. Miền Bắc nói chung từ cực bắc đến tiếp giáp Miền Trung có một giọng nói thanh tao. Một tài liệu cổ (rất tiếc tôi không nhớ được nha đề, xuất xứ và không thể truy cứu vào lúc không thuận tiện này) của một quan lại Trung quốc báo cáo về cho triều đình Trung quốc đã mô tả rằng tiếng Việt nghe ríu rít như chim. Ông quan này đã ký âm một số từ Việt bằng chữ Trung hoa mà khi ta đọc lại theo âm Hán Việt thì không còn biết được âm thật của tiếng ta vào thời đó như thế nào nữa. Ví dụ, trong văn kiện này có từ Hán Việt đọc là đà bị[7] mà tôi còn nhớ để chỉ người vợ. Giọng nói nghe ríu rít như chim này nhất định là giọng Miền Bắc nước ta vì vào thời đó, Miền Trung và Miền Nam chưa thuộc về nước Việt.
Thế nhưng, ngay trong phạm vi Miền Bắc, giọng nói cũng thay đổi từ vùng này sang vùng khác. Khởi đầu từ cực bắc với Sơn tây, Lạng sơn, Cao bằng vv., giọng miền bắc có một chút “ngọng ngịu” và phát âm [L] và [N] đều  thành [N], vì dụ lẫn lộn thành nẫn nộn. Giọng Hải phòng và Hà nội vẫn có một chút khác biệt, vì nghe như giọng Hải phòng nặng hơn, tuy có người cho rằng giọng Hà nội nghe có phần điệu hơn. Vòng qua Bùi chu, Phát diệm, Nam định, giọng Bắc đã nghe có âm hưởng nặng thêm chút nữa.
Ưu điểm của giọng bắc là phân biệt rõ ràng các phụ âm cuối [C] và [T], [N] và [NG] và đầu [D] và [GI]. Xin cho tôi ngưng lại để tạ ơn những người đã chế ra chữ quốc ngữ.  Thật khó mà diễn tả điều tôi muốn nói nếu tiếng ta được ký âm bằng chữ Nôm hay lối chữ tượng hình nào khác. Người Bắc không bao giờ lẫn lộn giữa cắc (bạc cắc) và cắt (cắt thịt), khăn (cái khăn) và khăng (khăng khăng), giây (giây phút) và dây (dây dưa). Có lẽ tôi phải quay lại để không đồng ý với Nguyên Nguyên về nhận xét trong bài Thử xem qua khi đề cập đến từ thọoc. Nguyên Nguyên cho rằng “thời chưa có quốc ngữ, phân biệt âm cuối [T] và [C] không được nhấn mạnh, tại phần lớn nước Việt.” Phân biệt hay không phân biệt theo tôi là tại tiếng chứ không tại chữ, như Trần Văn Mầu viết “học tiếng, chứ không học chữ.” Tôi nghĩ là giọng Miền Bắc đã từ lâu phân biệt rõ rệt các âm như vừa trình bày, còn các miền khác cho đến nay đã có chữ quốc ngữ vẫn không được “nhấn mạnh.” Do đó, nếu nói các miền còn lại giọng nói không phân biệt các âm cuối [C] và [T] theo ký âm chữ quốc ngữ hiện thời thì phát biểu này không sai. Có hay không có cách ký âm gọi là quốc ngữ thì giọng nói của ba miền đất nước chúng ta vẫn như vậy. Một điều chắc chắn nữa, các từ với phụ âm cuối là [C] hay [T] theo quốc ngữ hiện thời, dù cách đọc khác biệt của các miền đất nước vẫn được ký âm chỉ bằng một cách viết chữ Nôm mà thôi, không phải một cho giọng bắc và một cho giọng nam. Nghĩa là, một âm được ký bằng chữ Nôm vẫn được đọc các cách khác nhau nếu có giữa các miền khác nhau. Nguyễn Du chỉ ký âm một cách duy nhất câu thơ được ký âm lại bằng chữ quốc ngữ là Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen đề được giọng bắc đọc là Chời (Giời) xanh quen thói mà hồng đánh ghen trong khi giọng Huế đọc là Trời xanh queng thoái má hồng đánh gheng.
Về âm sắc, giọng Bắc phân biệt các dấu hỏi, ngã. Điều lạ là, Alexandre de Rhodes và các giáo sĩ thừa sai hồi đó đến trước hết ở Đàng Trong tại sao lại biết được sự phân biệt hỏi, ngã của giọng Miền Bắc. Cũng nên ghi nhận là biểu tượng dấu ngã bây giờ lúc ban đầu không phải chỉ để biểu hiện cách phát âm từ thấp vút lên cao của dấu ngã mà còn để thay thế âm cuối [NG]. Trong cuốn Phép giảng tám ngày[8] tôi còn nhớ đã viết, “Tôi càu cũ Đức Chúa Blời….” (Tôi cầu cùng Đức Chúa Trời). Phải chăng điều này cho thấy đã có sự cộng tác của những người nói giọng bắc trong việc hình thành chữ quốc ngữ bây giờ.
Nhược điểm của giọng bắc là không phân biệt [CH] và [TR] nói thành [CH], [S] và [X] nói thành [X], ví dụ Châu (châu phê) và trâu (con trâu) nói giống nhau thành châu; sanh (sanh sản) và xanh (màu xanh) đều nói thành xanh.
(22) Giọng Miền Trung:
Bước vào Thanh Nghệ Tĩnh, giọng bắc gần như đột nhiên chỉ còn âm hưởng. Người vủng này nói nghe mai mái vẫn còn âm điệu của giọng bắc, nhưng giọng nói nặng hơn nhiều và đã xuất hiện một âm điệu khắc hẵn âm điệu Miền Bắc, và nhiều từ Miền Bắc không có. Cách riêng hai tỉnh Nghệ an và Hà tĩnh, giọng nặng cho đến nổi nhiều người không quen nghe, không thể hiểu được, kể cả người thuộc vùng Bình Trị Thiên với giọng mà người khác cho là nặng. Đến Quảng bình, âm hưởng giọng bắc hoàn toàn biến mất. Giọng nói nhẹ lên nhiều so với giọng Nghệ Tĩnh, nhưng vẫn còn nặng nếu chỉ so sánh giữa ba tỉnh Bình Trị Thiên. Giọng Bình Trị Thiên nhẹ hẵn đi khi đến Thừa thiên, cao bỗng và dịu dàng theo một cách riêng.
Đặc điểm của giọng Thanh Nghệ Tĩnh Bình Trị là vẫn còn phân biệt phụ âm cuối [C] và [T], [N] và [NG], nhưng thêm vào đó còn phân biệt được [CH] và [TR], [S] và [X] mà giọng bắc lẫn lộn. Ngược lại, người vùng này hoàn toàn không phân biệt phụ âm đầu [D], [GI] và [NH]; họ chỉ nói toàn phụ âm [GI] mà thôi. Họ nói dà, già, nhà đều thành một âm già. Vùng Thừa thiên phân biệt được [CH] và [TR], [S] và [X], nhưng phụ âm cuối [C] và [T] đều nói thành [C], [N] và [NG] đều thành [NG], ví dụ cắc cắt  đều nói cắc, man (di) và mang (vác) đều thành mang. Phụ âm đầu [D], [GI] và [NH] đều nói là [GI]. Người Thừa Thiên còn phát âm [OI] thành [OAI], ví dụ nói (năng) thành noái (năng).
Bước qua Đèo Hải vân, giọng tiếng Việt chúng ta đột nhiên khác hẵn bắt đầu từ Quảng nam. Nếu giọng từ Thanh hóa đến Thừa thiên có vẻ bình bình thì giọng từ Quảng nam trở vào cho đến Miền Nam lại bắt đầu lên xuống như giọng bắc. Bắt đầu từ Quảng nam, giọng nói giữ lại việc phân biệt và không phân biệt các phụ âm như giọng Thừa thiên, ngoại trừ [OI] thành [OAI]. [D] và [GI]  đều như là [GI], ví như dây giây đều phát âm là giây, nhưng vùng  này đã phân biệt phụ âm đầu [GI] và [NH] như giànhà.
Vùng Nam Ngãi Bình Phú lại có các cách phát âm khác nhau. Nam Ngãi không nói là kéo (dây) mà nói rị, không nói hộc (bàn, tủ) mà nói thọa, không nói (ghế) đẩu mà nói là (ghế) giuông. Nam Ngãi phát âm [AM] nghe như [OAM], ví dụ, làm nghe như loàm; [Ă] nghe như [E], ví dụ năng nghe như neng, cắc hay cắt đều nghe như kéc; [AO] nghe như [ÔU], ví dụ gạo nghe như gộu vv. 
Bình Phú không nói người ta (nói rằng) mà nói nẩu (nói rềng). Âm [ĂN] hay [EN] nghe như [ÊNG] với một chút giọng mũi, ví dụ ăn nghe như êng; đèn hay đằng đều nghe như đềng với chút âm giọng mũi.
Một đặc điểm chung của khu vực Nam Ngãi Bình Phú này là sự xuất hiện của việc ghép một đại từ + ấy thành chính đại từ đó với dấu hỏi bất luận nguyên thủy với dấu gì, ví dụ anh ấy thành ảnh, cậu ấy thành cẩu, mợ ấy thành mở vv, ngoại trừ hai từ bác ấy, chú ấy có lẽ vì không thuận miệng. Đặc điểm khác là cách phát âm phụ âm đầu [V] thành [GI], ví dụ vuông thành giuông, đi thành đi giô, mà từ Miền Bắc vào đến Thừa thiên không có.
Giọng Miền Trung  không còn phân biệt dấu hỏi dấu ngã nữa. Cả hai dấu này đều được phát âm nửa vời, không hỏi không ngã, có lúc trầm xuống gần với dấu nặng.
(23) Giọng Miền Nam:
Miền Nam kéo dài chất giọng của giọng từ Quảng nam đổ vào nhưng không giữ lại cách cách phát âm địa phương. Giọng nam mềm mại hơn giọng của phần đất phía nam Miền Trung này. Người Miền Nam không phân biệt phụ âm cuối [C] và [T] nói thành [C], [N] và [NG] nói thành [NG]. Phụ âm đầu [D] và [GI] đều nói là [GI]. Giọng Miền Nam lại giống giọng Miền Bắc trong việc không phân biệt [CH] và [TR] nói thành [CH], [S] và [X] nói thành [X]. Đặc điểm là miền này nói các phụ âm cuối dài như [ICH], [INH] thay cho phụ âm ngằn [IT] và [IN], ví dụ, con vịch thay vì con vịt, dây nịch thay vì dây nịt, niềm tinh thay vì niềm tin. Âm đầu [R] thường phát âm là [GI], ví dụ, đi ra nói là đi gia; có vùng thành [G], ví dụ cá thành cá . Nhiều vùng không nói được âm đầu [H] mà biến thành gần như [GU], ví dụ Huế thành Guế.
Có một số từ Miền Nam dùng với nghĩa khác của hai miền kia. Ví dụ, mần ở Miền Trung có nghĩa là làm, nhưng chỉ có nghĩa là làm việc ở Miền Nam. Ví dụ, khi chúng ta nghe nói, “Sao còn chưa đi mần?” thì có nghĩa là “Sao vẫn còn chưa đi làm công việc của mình.  “Ổng mần ăn lớn lắm” có mhĩa là “Ông ấy làm ăn lớn lắm.” Giọng nam cũng kết hợp đại từ + ấy thành chính đại từ ấy với dấu hỏi cùng một qui luật như vùng Nam Ngãi Bình Phú. Giọng Miền Nam không phân biệt hỏi ngã cũng như giọng Miền Trung.
3.       Đặt vấn đề:
Tôi xin đặt mấy vấn đề sau phần trình bày nhàm chán bên trên:
Thứ nhất, vẫn có tin tưởng rằng người Miền Trung và Miền Nam nói chung đều là con cháu của tổ tiên di cư từ Miền Bắc vào, khởi đầu từ biến cố Nguyễn Hoàng (Mậu Ngọ—1558 đời vua Lê Anh Tông) và các đợt di cư vì các biến cố khác sau đó. Theo Việt Nam Sử Lược[9] của Trần Trọng Kim, đất nước ta thời nhà Trần chỉ mới đến hết Nghệ an, tiếp giáp với Chiêm thành về hướng nam (sđd. bản đồ tr. 127). Chúa Nguyễn Hoàng khi vào Ái tử chỉ cai quản phần đất Thuận hóa, cho đến năm Canh Ngọ 1570 mới được Chúa Trịnh giao thêm đất Quảng nam tiếp giáp Chiêm Thành. Năm Tân Hợi 1611, Nguyễn Hoàng đánh chiếm Chiêm Thành lập Phú yên. Các Chúa Nguyễn kế tiếp đánh chiếm hết đất Chiêm Thành vào năm Đinh Sửu 1697. Quan niệm người Bình Trị Thiên là con cháu mà tổ tiên đã di cư theo Nguyễn Hoàng được nhiều người mặc nhiên công nhận, như Trần Văn Mầu trong bài Giọng Huế—Giọng Quảng trị viết, “tổ tiên chúng tôi cùng Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lên bờ cũng tại vùng Ái tử Quảng trị hiện nay!”
Đi theo Nguyễn Hoàng chắc chắn là người Miền Bắc và nói giọng bắc. Nếu cả một vùng bao la, mọi người đều đã từ Miền Bắc di cư vào thì điều gì đã làm cho họ biến đổi giọng nói cách khác thường như vậy khi vượt qua Hoành sơn nhất đái tức là Đèo Ngang thuộc Quảng bình? Vùng đất thuộc Chúa Nguyễn lúc bấy giờ chưa có người Việt ở hay chỉ có một số ít?
Tôi cho rằng không; vùng này đã có người Việt ở từ trước mà còn là đông hơn số người từ Miền Bắc di cư vào. Quan sát hiện tượng người Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, chúng ta có thế nhận xét: (1) Nơi nào số đông người Miền Bắc qui tụ vào một nơi như Hố nai, Gia kiệm, họ vẫn nói giọng bắc rõ rệt đến mấy đời sau vẫn còn; (2) Nếu chỉ một số rất ít, ví dụ một gia đình, vây quanh bởi số đông người nói giọng nam thì có thay đổi trong giọng nói, ngay từ đời thứ nhất đã lai giọng. Một hai đời sau, con cháu họ hoàn toàn không nói giọng bắc nữa. Một làng chài lưới ở đảo Tri thủy, Phan rang, phía bắc quê hương cố Thổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vốn từ Quảng bình “chạy giặc Văn thân” vào, vẫn nói giọng Quảng bình của họ mà không lai giọng Phan rang vì toàn làng đều nói một giọng. Thế nhưng, lớp trẻ khi tôi được may mắn tiếp xúc vào những năm 1960 đã bắt đầu lai giọng Phan rang vì họ đã bắt đầu tiếp xúc ra ngoài (đi học, đi làm vv).
Từ nhận xét thô thiển đó, ta có thể suy ra vùng từ Thanh hóa đổ vào cho hết phần đất thuộc Chúa Nguyễn, nước ta đã có người Việt ở đó, mà là đa số. Đa số này có giọng nói riêng biệt và từ vựng riêng biệt ngoài số tiếng Việt chung (Trong số từ vựng riêng biệt đó, có các từ mà tôi tạm gọi là tiếng Quảng trị chứ không phải vay mượn từ ai khác nếu không nói là đã cho người khác vay mượn). Và do đó không phải tất cả con cháu Bình Trị Thiên đều có tổ tiên đã theo Chúa Nguyễn Hoàng di cư vào. Vậy, những người Việt nguyên thủy ở vùng này, họ là ai? Và họ liên hệ thế nào với người nói giọng bắc để cùng có chung một tiếng Việt nhưng với giọng nói khác?
Thứ hai, điều gì đã làm cho người Việt nguyên thủy từ Thanh hóa đổ vào nói tiếng Việt với giọng khác với giọng bắc, và khác nhau rõ rệt giữa các khu vực thuộc vùng này với nhau? Như nhận xét thô thiển về giọng bắc ở mục (21) bên trên cho thấy: Miền Bắc với giọng bắc dù có khác biệt đôi chút vẫn giữ âm hưởng giọng bắc. Miền Trung trái lại, sự khác biệt giữa các khu vực quá rõ rệt đến nổi có thể chia thành các nhóm khác nhau gần như bước nhảy vọt không có chuyển tiếp.
Thứ ba, giọng Miền Nam có phải là pha trộn giữa giọng bắc và giọng trung từ Quảng nam đổ vào không? Người Miền Nam hiện nay cho tất cả những ai không nói giọng nam đều là người “Guế” (người Huế). Cách phát âm của giọng nam cơ bản giống giọng Quảng nam đổ vào. Điều gì đã hình thành giọng nói đó?
4.       Kết:
Các câu hỏi mà tôi nêu ra trên được ông cha chúng ta đi trước trả lời cách đơn giản là giọng nói khác đi là do thổ nhưỡng. Nói cách khác, cha ông chúng ta trả lời người Miền Bắc khi đến Thanh hóa sở dĩ nói giọng Thanh hóa là vì họ uống nước tại đất Thanh hóa; người nơi khác đến Quảng nam nói giọng Quảng nam vì đã uống nước đất Quảng nam! Đến bây giờ thì câu trả lời như vậy không thể nào trả lời được nữa. Người Việt di cư đến California đâu có nói giọng California mà vẫn nói giọng của gia đình và nhất là giọng của đa số người Việt sinh sống tại vùng họ đang cư ngụ.
Tôi cho rằng biến chuyển giọng nói của tiếng Việt chúng ta còn có thể được dùng cách sâu xa để giải thích nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Chúng ta từ đâu mà đến hay vốn đã có ở đó. Như ngay từ đầu tôi đã thú nhận sự dốt nát của tôi về khoa học này, tôi xin thú nhận lại sự dốt nát của tôi ở đây. Bài này chẳng qua cũng chỉ là lời quê góp nhặt dông dài. Có điều tôi không biết liệu có mua vui được cho ai giây phút nào hay không, chứ không dám nói như thi hào Tiên Điền cũng được một vài trống canh vì phận tôi không dám tham lam như thế.




[1] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=2032 hay www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10168&rb=06

[2] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=3157

[3] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=5743

[4] Bình Nguyên Lộc, NXB Xuân Thu, Los Alamitos: California, không thấy năm in, tr. 332, từ Lá cây.

[5] Xin xem thêm bài Đặc ngữ Công giáo của Nguyễn Long Thao trên dunglac.org. Tôi thiên về từ Crux Latin vì cách ký âm các từ như episcopus  thành vít vồ và vì tiếng Latin thời đó là ngôn ngữ chính thức của Giáo hội Công giáo. (www.dunglac.org/index.php?m=module&v=detailarticle&id=5532)

[6] ĐNQATV, Imprimerie Ray, Curiol & Cie: Saigon, 1895 (Vol. I); Nhà in Văn Hữu, Gia Định, 1974 (bộ II).

[7] Đà bị: Rất tiếc tôi không nhớ cách viết, và lúc còn trẻ tôi chưa biết cách đọc theo giọng Quan thoại nên không biết được âm có thể có của từ này.
[8] Cuốn này và các tự điển ngày trước ví như Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes, tôi đã thất lạc qua thời ly loạn. Nếu quí vị nào có, và vui lòng, tôi xin được một bản photocopy để đánh máy lại post lên dunglac.org chẳng hạn để lưu giữ. Hoặc nếu có nguồn nào đã post, xin vui lòng mách bảo. Xin đa tạ.
[9] VNSL: NXB Đà nẵng, 2003, tr. 317-323

BÀI LIÊN QUAN: 

TIẾNG QUẢNG TRỊ
READ MORE - TRẦN HỮU THUẦN - GIỌNG NÓI TIẾNG VIỆT NAM TỪ BẮC VÔ NAM

TRẦN VĂN MẦU - GIỌNG HUẾ -GIỌNG QUẢNG TRỊ

Một thiếu nữ Quảng Trị - 1967



Phụ Âm Lỏng / Chặt – Nguyên Âm Thường / Ngắn





Tôi rất thích thú được đọc bài viết Thử xem qua một số từ vựng Quảng trị của Ông Nguyên Nguyên trên Khoahoc.net (12.07.2007) và nghe giảng giải về nguồn gốc tiếng nói của mình.

Người Huế chúng tôi cũng có những cách ăn nói gần y chang như người ở vùng quê của tác giả Trần Hữu Thuận (Tiếng Quảng trị, talawas.org ngày 13/6/07), là vì tổ tiên chúng tôi cùng Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lên bờ (1558) cũng tại vùng Ái tử Quảng trị hiện nay! 

Tuy nhiên, nếu được phép, tôi xin có vài ý kiến về điều mà tác giả Nguyên Nguyên gọi là "sự lộn xộn ở [phụ] âm cuối" [n]~[ng= ¾], [t]~[c=k],... trong các tiếng như 'Ôông', Roọng',... 'Thoọc', Trôốc, v.v.. Đó là những phụ âm cuối mà người Huế-Quảng trị chúng tôi phát thanh như những phụ âm lỏng (consonnes lâches / lax consonants), trong khi cũng với những phụ âm cuối đó lại được phát thanh như những phụ âm chặt (consonnes serrées / tense consonants) tại những nơi khác.

Trước tiên tôi xin được giải thích sơ qua về khái niệm lỏng/chặt của các phụ âm cuối trong tiếng Việt.

a) Nếu ta quy ước đặt dấu mũ ^  phía trên và liền sau các phụ âm chặt và không để dấu gì trên các phụ âm lỏng thì sẽ có những cặp phụ âm lỏng và chặt như sau :

[m] » [m^], [n] » [n^], [ng=¾] » [ng^=nh=¾^]…

Ví dụ : nam » nam^ (nam / năm); an » an^ (an / ăn); ô¾ » =ô¾^ (ôông/ông : giọng Huế/giọng nói những nơi khác); e¾ » e¾^ (eng/anh = grand frère-elder brother: giọng Huế/ giọng Bắc )…

b) Cũng có những phụ âm tự bản thân là lỏng hoặc chặt, nên lại xuất hiện những cặp phụ âm lỏng/chặt như sau:

[b] » [p], [d] » [t], [g] » [k], và hai bán nguyên âm [o=w ; u=w^] và [y] : [o=w]»[u=w^], [i]»[y]. (Không cần dấu mũ ^  để ký hiệu những âm chặt p, t, k, u, y)

 Ví dụ: đab » đap (đáp=đáb/đắp); bad » bat (bát =bád/bắt); trốg » trốk (trôốc=trốg/ trốc: giọng Huế/giọng các nơi khác); saw » saw^ (sao/sau); mai » may….

c) Ta thấy gì với những ví dụ trên đây?

Trước tiên là cách viết chữ quốc ngữ hiện nay chưa diễn tả được âm thanh của tiếng nói, vì bỏ qua nhận thức về các phụ âm lỏng/chặt.

Thêm nữa, nếu để ý kỹ càng hơn, ta sẽ thấy rằng âm ă và âm â cũng chỉ là những âm a và ơ, nhưng bị hóa ngắn mà thôi, – sự kiện hóa ngắn này xảy ra khi một nguyên âm bất kỳ nào đứng trước một phụ âm cuối hóa chặt, như ta sẽ thấy dưới đây khi nói đến cách phát âm của người trong Nam –. Chẳng hạn, lấy lại trường hợp n và n^ trong an » an^, khi phát âm hai tiếng này, (an / ăn), ta sẽ dễ dàng nghe thấy ă trong tiếng ăn là một âm a ngắn (a bref/short a), và a trong an là âm a thường (a normal/normal a). Tương tựa như vậy, âm â trong các tiếng ân [=ơn^], câm [=cơm^] cũng chỉ là những âm ơ ngắn, so với âm ơ thường trong các tiếng ơn và cơm. (Thêm một nhận xét nữa là trên thực tế chữ viết, mỗi lần hai chữ ă và â xuất hiện trong một tiếng, ta biết phụ âm cuối theo sau là những phụ âm chặt). Vậy nên chăng bỏ đi hai chữ cái ă và â, – mà xưa rày được xem là hai nguyên âm riêng biệt –, để chỉ còn giữ lại 9 nguyên âm trong bộ chữ quốc ngữ (thay vì 11như hiện nay!). Và cũng phải thận trọng trong việc chủ trương thay thế i bằng y, là hai bán nguyên âm lỏng/chặt, rất khác nhau!

Khi nghe người miền Trung  (Huế -Quảng trị) nói chuyện, một số nguyên âm, đứng trước phụ âm lỏng, hình như được kéo dài và người nghe có cảm giác các phụ âm cuối [¾], [k],… đã biến thành [n], [t],.... Nhưng sự thật không phải như vậy. Khi chúng tôi nói ôông thì phụ âm cuối không còn là [¾^] chặt nữa, nhưng đã hóa lỏng [¾], vẫn được phát trong cuống họng, – không phải là [n] phát phía đầu lưỡi – do đó ta không thể viết là ôn được. Cũng vậy, phụ âm cuối của trốc [c=k] được người Huế-Quảng trị hóa lỏng thành [g], cũng phát trong họng, – không phải là [t], một phụ âm chặt, phát ra đầu lưỡi –, nên không thể viết là trốt! Và cũng không thể viết eo óc thành eo ót được, như tác giả Đoàn Khách đã đề nghị viết trong cuốn Sảng đình Thi tập (Thanh Tịnh xb, California USA, 2001, trang 295).

Nói tóm lại là trong cách phát âm một số phụ âm cuối của người Huế-Quảng trị có sự chuyển hóa các âm phụ cuối từ chặt sang lỏng:


[¾^] » [¾]... Ví dụ: [ô¾^] » [ô¾] (ông => ôông); [tro¾^] » [tro¾] (trong => troong)…


[k] » [g].  Ví dụ: [thọk] » [thọg] (thọc => thoọc); [ók] » [óg] (óc => oóc). Phải viết “thọg” và “óg” mới diễn tả đúng âm thanh của phụ âm cuối lỏng trong các tiếng thoọc, oóc…!

Trong khi người Huế hóa lỏng một số phụ âm cuối, thì người Nam (kỳ) lại hóa chặt đa số các phụ âm cuối.

Hồi trước, khi mới vô Nam, nghe người ta nói chuyện, tôi cảm thấy rất lạ tai. Ví dụ họ nói:

- tin, với [n] lỏng,  bị hóa chặt thành [n^], thì kết quả là nguyên âm [i] bị hóa ngắn – vì  đứng trước một phụ âm cuối chặt –, và tin lại được nghe qua như là tinh. (Đây là nguyên do khiến xảy ra sự sai lầm đáng tiếc của nhóm tác giả (người Bắc) đã đồng hóa tin với tinh trong quyển Le Vietnamien  sans Peine/Tiếng Việt không Khó nhọc, Nhà xb Assimil,  Chennevières-sur-Marne, Pháp, 1994, tr. XVII).

- vịt, với [t] chặt, làm cho ta sai lầm đồng hóa với vịch ! Cũng cần nhắc lại rằng [t] là một phụ âm chặt nên chữ viết đúng của tiếng “vịt”, theo cách cách phát âm thông thường – với phụ âm cuối hóa lỏng – ở Trung và Bắc Việt nam, là “vịd”, vì [d] mới thật là phụ âm lỏng. Thành ra, nếu viết « vịt » với [t] thì người Nam (kỳ) lại phát âm đúng hơn những nơi khác !

Nhân tiện ta lại nhắc đến con số 9 (nguyên âm) trên đây. Nếu cho rằng ă và â là hai nguyên âm riêng biệt – thật ra chúng chỉ là những âm a ngắn và ơ ngắn mà thôi – thì cũng phải chấp nhận mỗi nguyên âm thường lại có một nguyên âm ngắn, theo cách phát âm của người Nam, và của cả người Trung nữa, cho đến ít nữa là vùng Nha trang : i/í; ư/ứ; u/ú; ê/ế; ơ/ớ=â; ô/ố; e/é; a/á=ă; o/ó. Và như thế là trong bộ chữ quốc ngữ sẽ có đến 18 nguyên âm!

Bàn về âm học có thể gây nhiều rắc rối nhưng lại bổ ích, nhất là đối với việc học và dạy tiếng nói – tôi xin lưu ý : học tiếng, chứ không phải học chữ, mới có ích thực sự cho việc giao tiếp –, tiếng người cũng như tiếng ta. Theo kinh nghiệm dạy tiếng Việt của tôi cho người ngoại quốc, khái niệm lỏng/chặt rất quan trọng để giúp họ phát âm chuẩn, (rõ ràng).

Trên đây là một vài nhận xét thô thiển của tôi dựa trên những khám phá về âm học (nguyên âm thường/ ngắn, phụ âm lỏng/chặt) trong tiếng ta, của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Bạt-Tuỵ, mong các bạn đọc cho ý kiến./.



Đà Lạt (Việt Nam)


BÀI LIÊN QUAN:
TIẾNG QUẢNG TRỊ
READ MORE - TRẦN VĂN MẦU - GIỌNG HUẾ -GIỌNG QUẢNG TRỊ

Tuesday, November 15, 2011

NGƯỜI ĐÀN BÀ Ở CUỐI RÌA LÀNG - Truyện ngắn của MINH TỨ


Chiếc xe u oát chạy băng trên con đường mới mở rộng mờ mịt bụi. Gió Tây Nam thổi ào ạt qua bao núi đồi hung dữ bỗng dịu ở phía bờ sông bên này. Ông Lê ngồi ở ghế trước đang kể chuyện thời chiến tranh ông hoạt động ở vùng này bỗng ngoái lại hỏi tôi:

- Này nhà báo, cậu thấy buổi tiếp xúc cử tri hôm nay như thế nào ?

- Dạ, rất thú vị. Dân vùng này họ nói hay quá. Tôi sẽ lọc lại để đưa các ý kiến thẳng thắn của họ vào bài viết...

Nhớ lại buổi sáng nay ở hội trường uỷ ban xã, bà con cử tri nói rất thẳng. Họ nói: “Mấy ông làm chính sách ở tận đẩu tận đâu trên cao, chẳng ngó ngàng gì đến bầy tui. Bầy tui trải qua kháng chiến gian khổ không kể làm gì, giờ chỉ mong chộ mấy ông, để mấy ông nghe bầy tui nói cũng khó khăn lắm. Đầu kỳ bầu bán thấy mấy ông lỉnh kỉnh xe về gặp gỡ tiếp xúc, trúng xong cả nhiệm kỳ biến đi đâu mất tăm hơi...”.

Lại nữa, một cử tri nói như trút nỗi niềm tâm sự: “Hôm rồi nhớ đồng đội quá, tôi lên thành phố thăm thằng bạn cũ. Mới gặp hắn đã vô đề: Anh cần gì ? Chứng nhận thành tích hả ? Xong, rẹc rẹc. Nhậu chứ, làm ly đã. Đời sống ở quê cực lắm phải không ? thì ráng qua cái đận khó khăn chung. Tui nghe chưa hết, nghĩ không phải là bạn cũ, tui biến về ngay...”

- Nhưng đó là cậu mới nghe - Ông Lê cự lại - Tôi đi về với dân thường xuyên, nghe dân họ “chửi” quen rồi. Ý kiến họ gửi gắm, tôi có ghi chép cẩn thận, sau mỗi chuyến đi có báo cáo với cấp trên, với các ngành liên quan. Họ nghe rồi, chắc bận nhiều việc quên giải quyết. Thế là hết. Lần sau về gặp lại, dân họ lại “chửi” tụi tôi nói mà không làm, hứa với dân mà nuốt lời hứa. Biết làm sao được. Cậu thấy hôm nay tôi nghe, im lặng từ đầu đến cuối. Bây giờ với dân, cái gì chưa làm được thì tốt hơn hết là đừng nên hứa, cứ im lặng mà tiếp thu đã.

Tôi chìm đi trong ý nghĩ: Làm đại biểu dân cử không đơn giản.

- Dừng, dừng lại... - Ông Lê bảo cậu lái xe.

Chiếc xe u oát phanh kít. Mấy người cùng đi trên xe nháo nhào. Qua khung kính cửa xe, tôi thấy một người đàn bà cầm mê nón rách chạy thục mạng về ngôi nhà ven sông nằm cuối rìa làng. Ông Lê xuống xe vụt chạy theo người đàn bà. Mấy đồng nghiệp của tôi trên xe ngớ người ra. Bị thúc bách máu nghề nghiệp, tôi liền xuống xe chạy theo ông Lê.

Một ngôi nhà tranh tre thấp lè tè hiện ra. Nhà không có cửa, chỉ có một tấm tranh lớn được chống lên bằng cây tre đực. Nhà có hai gian. Gian bên có kê một chiếc bàn thờ, trên bàn có tấm ảnh mờ mờ ảo ảo. Gian bên này có một chiếc thùng phi mà mãi sau tôi mới biết chứa toàn khoai sắn khô. Gian này chìa ra một chái nhà để làm bếp, có chiếc kiềng ba chân, xung quanh có mấy chiếc nồi đen kịt. Cả tôi và ông Lê đứng như trời trồng. Giữa nhà, người đàn bà ngồi bệt xuống đất, úp mê nón rách khóc rưng rức. Tôi ghé tai ông Lê hỏi nhỏ “Ai vậy ?”, ông vẫy tay “Lính cũ của tôi đấy mà”. Lại thêm một lính cũ. Đi với ông Lê, ở đâu cũng gặp toàn lính cũ với cơ sở cũ thời nảo thời nào. Chán thật !

Ông Lê vỗ nhẹ vào vai người đàn bà:

- Này, răng mà khóc, về đây công tác, tôi rẽ thăm o đây.

Không nói không thưa, người đàn bà càng khóc to hơn. Lát sau chị với tay qua chái lấy ấm nước, hai cái ca pha cho tôi và ông Lê hai ca nước chè xanh.

Ông Lê lại dỗ người đàn bà:

- O đừng khóc nữa. Mình thế nào thì vẫn thế ấy. Xung quanh đây vẫn còn nhiều người tốt, rồi người ta sẽ hiểu ra. Gắng mà sống đã.

Nói đoạn ông Lê chậm rãi tiến đến bàn thờ thắp một nén hương. Lui ra, ông lấy ví rút mấy tờ bạc xanh dúi cho người đàn bà. Chị xua tay.

- Eng về thăm là tui mừng rồi, nhưng tủi quá eng ơi, mấy chục năm nay tui không cất mặt lên được với xóm làng.

- Cầm lấy ít tiền. Tiền lương tôi đó. Bữa trước tôi có gặp bên bộ phận chính sách, người ta đang nghiên cứu hồ sơ. Chờ vậy thôi.



Chị cầm lấy mấy tờ bạc ôm lấy ông Lê. Khuôn mặt chị xanh xao, gầy gò, nổi lên hai hốc mắt trũng sâu. Hai cánh tay chị quắt queo, đen cháy. Tấm áo bà ba đen có nhiều mảnh vá. Chị kể vụ này làm mấy sào bắp ven sông, hạn quá cháy sạch, còn mấy sào ruộng cũng coi như mất trắng. Ông Lê lơ đãng nhìn ra vườn. Nắng như dội lửa vào ngôi nhà thấp kín. Mồ hôi trong người cứ tứa ra. Tôi kiên nhẫn chờ đợi bằng cách lánh ra sân để hai người ở lại với nhau


*
Phải thật lâu sau chuyến đi ấy, nhớ lại chuyện cũ, tôi mới biết thêm về người đàn bà ở cuối rìa làng ven sông ấy qua những chắp nối quá khứ của người cùng thời.


Người đàn bà mà tôi gặp hôm ấy tên là Thoa. Hồi kháng chiến chị là một nữ du kích rất hăng hái nhiệt tình. Chị là lính của ông Lê. Cả  vùng này hồi đó đều tham gia hoạt động cách mạng. Thanh niên trai tráng thì lên đường đầu quân chủ lực, quân địa phương, số ở nhà thì vào du kích. Chị Thoa được cử làm liên lạc và lo hậu cần nuôi quân. Việc gì được cấp trên giao chị cũng cố gắng làm tròn. Nhà chị cha mẹ đã già, chỉ có hai anh em chị Thoa đều tham gia kháng chiến. Anh trai chị bị hy sinh do biệt kích phục bắn chết trong một đợt từ rừng về đồng bằng xây dựng cơ sở.


Lần ấy lính “Cộng hòa” càn xuống xóm Rú. Ngay hôm đó cấp trên lệnh cho toàn lực lượng phải rút đi, chỉ để lại một số ít cán bộ án binh bất động trong hầm bí mật. Xoá xong mọi dấu vết thì toán lính ập đến. Chị Thoa bị bắt ngay khi chưa kịp xuống hầm bí mật bỏ trống từ lâu ở gốc cây bông gòn.

Mấy tên lính trói chặt chị vào một gốc cây, đánh đập tra khảo chị chết đi sống lại nhiều lần. Một lính mặc sắc phục rằn ri sau khi dùng báng súng AR15 bổ liên tiếp vào chị, rồi ra lệnh cho một tên khác dội nước vào mặt chị.


Chị tỉnh lại. Hắn lại khảo: “Đ. mẹ cái con Việt cộng này. Hầm bí mật ở đâu khai ra để còn đường sống”. Chị trả lời: “Tui không biết, không biết”. Lại đấm, lại đạp, thân hình chị bê bết máu hoà với nước lạnh. Sau nhiều đợt như thế chị không chịu nổi. Những khuôn mặt quỹ sứ cứ chập chờn trước khuôn mặt tím bầm của chị. Một ý nghĩ yếu ớt sót lại trong đầu, chị chỉ đại căn hầm bỏ hoang lâu nay ở gốc cây bông gòn mà chị định xuống ẩn nấp khi nãy.

Miệng chị lắp bắp: “Chẳng có ai cả, chỉ có mình tôi và một cái hầm của tôi ở đằng gốc cây bông gòn kia”.


Lập tức, cả toán lính như vồ được mồi, đồng loạt lên đạn răng rắc. Một tiểu đội được lệnh bò tới căn hầm phía gốc cây. Căn hầm bỗng nhiên bật nắp, liền theo là một quả lựu đạn tung lên nổ chát chúa. Ba tên lính chết ngay tại chỗ. Một bóng đen nhảy lên khỏi hầm quét một băng đạn rồi chạy nhanh vào rừng.


Nhìn thấy cảnh này, chị Thoa chết điếng người đi, không ngờ dưới căn hầm bỏ không lâu nay lại có đồng đội của chị. Chị khuỵu xuống ngất đi. Trời nhá nhem tối, toán lính lôi chị về căn cứ dưới thị xã. Những ngày bị giam cầm, chị lên cơn điên dại. Không khai thác được gì, ít lâu sau chị được thả về. Về làng, mọi người đều xa lánh chị. Cấp trên quyết định kỷ luật chị vì khai lộ hầm bí mật, buộc phải đưa ra khỏi lực lượng.


Chiến tranh đi qua, ngày đất nước rợp cờ hoa mừng chiến thắng, chị thui thủi sống một mình trong bóng tối của thời gian. Cha mẹ chị đã chết trong nỗi đau uất nghẹn vì có đứa con phản bội quê hương. Một đôi lần chị có giải thích với gia đình và đoàn thể rằng do bị đánh quá đau nên chị chỉ khai căn hầm không có người, chứ không ngờ lần ấy có người xuống nấp dưới căn hầm của chị, nhưng chẳng có ai tin chị cả. Ngay cả cha chị vì nhục với làng nước không cho chị về ở chung với gia đình. Chị phải dọn ra ở túp lều của gia đình làm để nuôi vịt ở cuối rìa làng.


Khi cha mẹ chị mất, chị không chồng, không con, không người thân nương tựạ, chị vái tổ tiên xin được rước vong linh ông bà và di ảnh người anh về thờ tự ở căn nhà xiêu vẹo của mình. Nhiều lúc quá buồn, tuyệt vọng về thân phận, nghe một số người tốt bụng khuyên, chị định bỏ đi xa, tẩy xoá quá khứ để sống, làm ăn ở một vùng đất khách quê người, nhưng cuối cùng chị cũng chẳng thể ra đi được. Ai sẽ là người hương khói cho ông bà. Ngay cả chị nữa, cũng chẳng thể kiếm nổi tiền tàu xe để ra đi. Chị lại tiếp tục sống, làm lụng thui thủi một mình trong sự ghẻ lạnh của xóm làng, cho đến bây giờ khi đầu đã hai thứ tóc trong căn nhà quạnh quẽ ở cuối rìa làng.
*


Tôi hỏi thật cậu nhé - Ông Lê chất vấn tôi - Cậu đi nhiều, gặp nhiều, cậu nghĩ gì về trường hợp o Thoa ?


Tôi thú thực:


- Hoàn cảnh chị ấy thật đáng thương, nhưng khó quá. Cũng phải biết thông cảm và chia sẻ.

- Cậu nói rõ xem sao ?

- Là nói về đạo lý con người phải biết tha thứ cho nhau những lỗi lầm ngày đã qua. Ở đây chưa nói là lỗi lầm không cố ý...

Ông Lê im lặng không nói gì thêm. Bóng ông đổ xuống thẳm sâu. Làm người chỉ huy có bề dày như ông trong kháng chiến, nay lại làm đại biểu của dân, tôi biết ông có nhiều suy tư trăn trở. Thân tình với ông qua bao chuyến đi, tôi rất hiểu ông. Những lúc như ngồi với tôi đây, ông lại đang hướng nghĩ suy của mình về một nơi khác trong cõi người mênh mông mà ông đã dấn thân và ghé vai gánh vác.


Bất giác ông bảo tôi: “Ngày kia tôi lại đi vùng sâu. Cậu đi với mình chứ”.
Vâng, tôi nhận lời ngay vì đi với ông tôi hiểu thêm được nhiều điều, tìm đến được nhiều số phận của đời người và thấy rằng: Trăm ngã đường, có nhiều nẻo vui nhưng cũng lắm nẻo buồn.
Nguồn: vanchuongviet.org, đăng lại trên 4phuong.net
READ MORE - NGƯỜI ĐÀN BÀ Ở CUỐI RÌA LÀNG - Truyện ngắn của MINH TỨ

NHÀ - Truyện ngắn của NGUYỄN ĐỨC TÙNG


Một người hàng xóm mới dọn vào. Đó là một người đàn ông da trắng, cao, rắn chắc, khoảng ngoài bốn mươi nhưng tóc đã bạc, hàm râu không cạo lốm đốm. Trò chuyện làm quen qua mấy bụi sơn trà, anh hỏi: đằng ấy đã ở đây bao lâu? Khi biết tôi ở một chỗ gần mười năm, anh tròn mắt ngạc nhiên: lâu thế kia à? Trong cuộc sống nhiều thay đổi hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn, người ta ít khi nào cư ngụ lâu một nơi: mười năm đối với nhiều người là lâu lắm.

Mỗi khi về nước, tôi thường đi dọc đường Trương Minh Giảng, ghé đại học Vạn Hạnh, tức đại học Sư Phạm ngày nay, trước tôi có một người bạn gái học ở đó, hay đi trên con đường trước bệnh viện Biên Hoà, gần căn nhà quen thuộc của nàng, thấy mỗi năm hay vài năm các tên đường, tên hẻm, lại bị đổi một lần. Đổi tên xoành xoạch nhiều như thế thì trẻ em lớn lên làm sao có ký ức bền vững? Thanh niên làm sao có tuổi thơ thơ mộng? Chúng yêu nước ra sao?

Có lẽ một phần vì vậy mặc dù nhu cầu gia đình mỗi ngày một lớn, khi nhiều người cùng lúc đến thăm không có phòng riêng để ngủ, phải nằm lăn trên sàn nhà, mà bạn bè của tôi thì đông, tôi vẫn ngoan cố không chịu đổi nhà. Bạn có bao giờ nghĩ đến việc lập một danh sách những ngôi nhà mà mình đã từng sống qua?

Bảy năm đầu tiên của đời mình, ngôi nhà của cha mẹ tôi là nhà tranh vách đất sau hòa bình lập lại, chia đôi đất nước. Sau đó chúng tôi chuyển qua nhà mới khang trang hơn, cha tôi xây mất ba năm ở trên khu vườn rộng mới mua gần đó. Đổi nhà nhưng vườn vẫn giữ, tôi thường chạy qua chạy lại để hái trái cây, mùa hè suốt ngày ngồi vắt vẻo trên những cành ổi la đà trong khu vườn cũ thuở trời đất thanh bình đầu những năm sáu mươi. Vì vậy mà chẳng có nhiều thay đổi. Rồi tôi đi xa, ở trọ nơi này nơi khác. Tôi đã từng đếm và nhớ được mười hai địa chỉ khác nhau ở Việt Nam và mười địa chỉ rải rác trong tám thành phố Canada mà tôi đã từng ở, trước khi mua một ngôi nhà nhỏ bên bờ Ngũ Đại Hồ, gần khu vực một ngàn hòn đảo. Rồi lại bán nhà, sau một cuộc tình tan vỡ, cay đắng nhưng không bất ngờ, rồi lại mua nhà, rồi lại bán nhà, sau một cuộc tình tan vỡ khác, bất ngờ nhưng không cay đắng, rồi lại mua nhà. Giữa hai lần mua và bán là hai lần thuê nhà hay thuê phòng tạm trong các chung cư.

Những căn phòng và ngôi nhà tôi thuê có thể gọi là nhà được chăng? Năm 1996, suốt nửa năm trời tôi đã từng sống trong căn lều của người đi săn, cũng gọi là cabin mùa hè, bên bờ hồ, gần chân núi. Ở đó tôi đã gặp một con gấu hiện ra ngay trước mặt, sau một khúc quanh, khi chạy bộ trong rừng. Buổi sáng thức dậy trời mù sương, một con hươu nhỏ kê đầu lên cửa sổ tò mò nhìn vào mặt tôi đang ngủ. Mặt nước ngoài xa xanh biếc lăn tăn gợn sóng. Những ngày vô cùng buồn, những ngày vô cùng vui, những ngày muốn tự tử, hay muốn thay đổi thế giới, những ngày tự do với những ý tưởng trong suốt như pha lê, như ánh phản chiếu của những cây thông dưới đáy hồ lặng lẽ, tưởng vẫn còn thơm mùi trái thông tươi. Chúng đứng im lìm như những ý tưởng minh triết đã hoá thành cây cối.

Sáu tháng sau khi người hàng xóm của tôi mới dọn vào, anh ta lại dọn đi cùng với vợ và đứa con gái ba tuổi tên Natasha, một cái tên rất Nga, mặc dù cha mẹ không phải là người Nga. Tôi định bụng sẽ hỏi vì sao họ đặt cái tên đó nhưng chưa có dịp. Một hôm tôi đang đứng trong vườn sau nhìn qua nhà hàng xóm, vắng vẻ chưa có người thuê mới, ngẩn ngơ nhớ người hàng xóm nói giọng Pháp gốc Quebec vui tính mới quen đã vội chia tay, nhớ con bé Natasha nhí nhảnh, tóc hung đỏ, có cái nốt ruồi rất đậm trên má, hay trò chuyện với tôi qua hàng rào, thì một người khách lạ đến đẩy cổng xin phép vào vườn ngồi một lát. Đó là một ông già bảy mươi hay tám mươi tuổi, cao, ốm yếu, chòm râu bạc lưa thưa.

Tôi ngạc nhiên hỏi chuyện rồi miễn cưỡng mời ông vào. Ở cuối vườn sau nhà tôi có một cây sồi nhiều tuổi, cao vút tỏa bóng mát rộng lớn. Buổi sáng tinh mơ, một loài chim biết hót, lông vàng, có lẽ là họa mi, thường về đậu trên ngọn cao, hót từng tiếng gióng đôi suốt nhiều giờ, mùa hè này đến mùa hè khác. Thấp hơn, ở giữa chừng, một con chim bách thanh chuyên nhái giọng các loài chim khác. Có hôm nó nhái được cả tiếng dế kêu. Gần gốc cây, dưới thấp, đôi khi một con chim gõ kiến thoăn thoắt mổ như người thợ tận tụy công việc. Ông lão kể rằng, lúc lên mười hai tuổi chính tay ông đã trồng cây sồi này. Nay vừa đúng sáu mươi năm. Nhà cũ đã bị phá đi làm lại, đổi chủ nhiều lần, nhà mới mọc lên trên nền cũ, cây cối và cảnh vật hoàn toàn thay đổi, nhưng riêng cây sồi vẫn còn đây. Tôi cảm động, rút lui, để ông ngồi một mình sau khi mang cho ông ly nước trà nóng và một cái ghế nhỏ.

Suốt buổi, từ cửa sổ phòng làm việc thỉnh thoảng tôi nhìn ra, người đàn ông vẫn ngồi trong bóng mờ cho đến khi hoàng hôn chập choạng. Tôi không kịp hỏi hiện nay ông ở đâu, gia đình con cái ra sao, chỉ qua câu chuyện trước đó biết rằng ông rời khỏi căn nhà mà tôi đang ở gần năm mươi năm về trước lúc tình nguyện nhập ngũ và ngay sau đó được gửi qua châu Âu tham gia trận đánh nổi tiếng ở Normandie. Và đây là lần đầu tiên ông trở lại khu vườn cũ của mình. Tôi đi xuống nhà bếp pha ấm trà mới, sắp ra dĩa một ít bánh ngọt, định bụng mời ông vào nhà nghỉ ngơi một lát. Khi tôi ra vườn, thì người khách lạ đã đi mất. Tôi nhìn quanh, trên chiếc ghế ông ngồi chỉ còn lại chiếc tách đã uống cạn và một cuốn sách không có bìa, kiểu bỏ túi, giấy vàng cũ. Đó là một cuốn tiểu thuyết tôi không biết nhan đề, không rõ tác giả là ai, vì mất cả bìa trước lẫn bìa sau. Tôi cũng không biết ông tình cờ bỏ lại hay cố tình. Cuốn sách ấy ông mua trong một hiệu sách cũ như tôi vẫn thường làm, hay nhặt được dọc đường, chẳng có giá trị gì cả mà nhiều khi chúng ta tiện tay thì cầm lên rồi bỏ lại? Hay đó là một cuốn sách quan trọng đối với cuộc đời một con người mà ông quyết định để lại bên thân cây sồi già như lời từ biệt sau cùng đối với người bạn cũ?

Một kỷ vật, một món nợ ân tình trầm trọng mà sau bao nhiêu năm đeo đẳng đến nay ông không còn cần phải mang theo nữa?

Trên trang thứ hai, ở dưới hàng chữ đề tên nhà xuất bản, có một dòng chữ bằng tay mực đã nhoè nhưng vẫn còn đọc được khá rõ ràng: cho Mary Howe thân yêu, Xmas, 1939.

NĐT

Nguồn: damau.org

READ MORE - NHÀ - Truyện ngắn của NGUYỄN ĐỨC TÙNG

Monday, November 14, 2011

LÊ ĐĂNG MÀNH - LŨ CẢM



Mây vốn rong chơi đỉnh thượng ngàn
Đủ duyên làm lũ giỡn trần gian
Trời nghiêng vần vũ mưa chan chát
Đất sụt kinh hoàng gió thét van
Bến Cộ thuyền tình neo đỉnh lũ
Cây Đa mã đáo phụ đò ngang
Càn khôn biến đổi luật lai khứ
Mưa nắng vô thường kiến bất an.

Lê Đăng Mành
READ MORE - LÊ ĐĂNG MÀNH - LŨ CẢM