Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, August 2, 2026

CHÙM THƠ THÁNG TÁM (1)

 




Mỗi bài thơ trong chùm tác phẩm này gặp nhau ở tình yêu con người, quê hương và kỷ niệm. NGƯỢC MIỀN THƯƠNG NHỚ đưa người đọc trở về với Huế bằng những cơn mưa, cầu Trường Tiền, dòng Hương và âm điệu Nam Ai, nơi nỗi nhớ hòa quyện cùng vẻ đẹp trầm mặc của cố đô. THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ lại gợi lên hình ảnh cánh đồng, dòng sông, cánh diều và tuổi thơ hồn nhiên, để từ đó khắc sâu nỗi khắc khoải của người con xa xứ luôn hướng lòng về quê cũ. HOA HỒNG ĐÃ NỞ là khúc ca của tình yêu thủy chung, nơi những cánh hồng trở thành biểu tượng của sự chờ đợi, của ký ức và niềm tin không phai theo năm tháng. Xuân thì THỚI SƠN mở ra bức tranh miền Tây sông nước trù phú với phù sa, lục bình, miệt vườn, tiếng hò và nhịp sống chan hòa, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên cùng sức sống mãnh liệt của vùng đất Thới Sơn. THƯ GỬI THẰNG CON CHẾT TRẬN là tiếng lòng nghẹn ngào của người mẹ trước sự hy sinh của con, khắc họa nỗi đau chiến tranh bằng những hình ảnh lặng lẽ nhưng ám ảnh, để tình mẫu tử vượt lên trên mọi mất mát và thời gian. TA NỢ ĐỜI EM MỘT DUNG NHAN là lời tri ân dành cho người phụ nữ đã hy sinh tuổi xuân, nhan sắc và những ước mơ bình dị vì gia đình, tôn vinh vẻ đẹp của đức hy sinh và lòng chung thủy trong cuộc sống đời thường. QUÊ HƯƠNG khép lại mạch cảm xúc bằng niềm tự hào về một đất nước đã đi qua chiến tranh, ghi nhớ công lao của những người đã ngã xuống, đồng thời gửi gắm khát vọng hòa bình, đoàn kết và hòa giải để non sông mãi bền vững. Khi đặt các tác phẩm cạnh nhau, người đọc có thể cảm nhận một dòng chảy xuyên suốt của tình yêu quê hương, tình yêu con người,  lòng biết ơn đối với những hy sinh và niềm tin vào những giá trị nhân văn bền vững, tạo nên một bức tranh thi ca giàu cảm xúc, đậm đà bản sắc Việt Nam và để lại dư âm sâu lắng trong lòng người thưởng thức.

++++++++++

NGƯỢC MIỀN THƯƠNG NHỚ (Vĩnh Nguyên)

Đã lâu rồi chưa quay về thăm Huế
Cơn mưa chiều mừng đón bước chân ai
Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Nghe tim mình rộn bao nhịp nhớ thương.

Về thăm lại hương xưa thời lưu luyến
Sương giăng mờ ngập ngừng bước chân ai
Chiều Ngự Bình bập bùng ánh lửa
Nghe trong lòng thổn thức những nỗi niềm.

Cô gái trẻ vẫn hát điệu Nam Ai
Vang trên sông răng mà thương mà nhớ
Dư âm xưa khúc nhạc còn dang dở
Người phương nào tôi vẫn cứ còn mơ.

Trăng lẻ bạn gợi nhớ kỷ niệm xưa
Đêm Nguyên Tiêu răng mà thương mà nhớ
Trăng treo mây, bóng Đại Nội mơ màng
Nhịp phách tiền xao động nước dòng Hương...


THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ (Phạm Thị Bích Quyên)

Em bỏ lại những con đường quê cũ
Dòng sông xưa từng tắm mát tuổi thơ
Đã xa rồi những cánh diều no gió
Và những chiều vàng đẹp tựa giấc mơ.

Em đi rồi bỏ quên tuổi nhỏ
Cái thuở hồn nhiên trong sáng một thời
Những đứa trẻ nô đùa cùng rơm rạ
Gọi hồn quê chợt thấy nhớ chơi vơi.

Em ra đi còn gửi hương trong gió
Khi tóc em bay cùng với mây trời
Mùa đông ấy gió ngoài đồng thổi lại
Se thắt trong lòng nhìn từng giọt mưa rơi.

Tà áo em rồi cũng buồn ủ rũ
Thấy rưng rưng qua mấy nẻo đường
Chốn quê nhà em về thăm một dạo
Góc trời xưa bao kỷ niệm thân thương.

Gió vi vu suốt một đời trôi dạt
Cảnh cũ người xưa neo giữ trong hồn
Khi nhắc lại những tháng ngày đằm thắm
Lòng bâng khuâng thương nhớ nhiều hơn.

Theo bước chân dọc đường gió bụi
Thấy yêu sao nơi chốn chân quê
Trong giấc mơ những đêm dài thao thức
Như còn nghe ai gọi hãy quay về.


HOA HỒNG ĐÃ NỞ (Võ Thị Thu Hằng)

Ô kìa anh! Những đóa hồng đã nở
Cành anh trao em năm tháng vun trồng
Nay hiên nhỏ một trời hương ngan ngát
Em cùng hoa thủ thỉ chuyện ngày xa.

Hoa ơi, hoa giữ gì trong cánh mỏng
Để hương kia vương mãi một niềm thương
Chạm khẽ thôi mà lay miền ký ức
Nỗi nhớ nào theo gió cứ vấn vương.

Ta chờ hoa suốt mấy mùa mong nhớ
Như đợi chờ hơi ấm từ bàn tay
Niềm mong đợi lớn dần theo năm tháng
Hoa nở rồi mà anh vẫn còn xa.

Hãy theo gió tìm về nơi xa ấy
Rằng nơi đây có một mảnh Trăng rơi
Mảnh nhớ thương chẳng chịu ở trên trời
Rơi xuống trần bên hoa và chờ đợi...

Hồng hoa ơi... hỡi... hỡi... hồng hoa ơi...


Xuân thì THỚI SƠN (Ngọc Hùng)

Anh đưa em thăm một miền quê châu thổ
Lên cầu cao mình ngắm mặt sông đầy
Bạn thương hồ ngược xuôi ghe trăm nẻo
Cám cảnh nhà bè chìm nổi nơi triền sông.

Sóng đẩy gió đưa lục bình xa bờ bãi
Bỏ rặng bần gie thắt thẻo xóm vàm
Hoa tím lênh đênh giữa phù sa lóa nắng
Lẫn khuất, nhạt nhòa theo bóng cũ phà xưa.

Tăm cá bóng chim tìm đâu con rạch Miểu
Thoát thai, tái hồi bậu lừng lững vượt trường giang.
Anh đưa em về một miệt vườn chơn chất
Dằng dặc sông sâu nước chảy ví dầu.

Mật ươm vàng điệu rao Nam khắc khoải
Mơ bông lồng đèn thắm đỏ giậu nhà ai
Nắng lao xao cạn đìa con lóc quẩy
Tìm dấu tôm càng ta cất vợt đêm trăng.

Hương rượu đế thuở hồng hoang khai ấp
Còn nồng nàn man mác đến muôn sau
Hò ơ …cồn xưa cầu tre lắc lẻo
Bỉ cực có hồi mà Thới Sơn xanh mênh mông.

Ta dắt nhau về giữa bao la sông lớn
Chín chữ cù lao dào dạt chín khúc sông
Mưa, nắng, lớn, ròng thuận hòa ơn tình mẹ
Đắp dáng bồi hình đầy đặn xứ cồn Lân.

…Ai đang ngẩn ngơ giữa rộn ràng hương sắc
Ngồn ngộn xuân thì ngập tràn quê Thới Sơn


THƯ GỬI THẰNG CON CHẾT TRẬN (Đào Hồng Tử)

Ngày con đi trời không xanh hơn trước
chỉ thừa ra một kẻ đã từng tin
ngón tay mỏi vì cầm hoài kí ức
mà chẳng ai cầm lại nỗi lặng thinh.

Mẹ đợi con qua bao lần lúa gãy
người sống sót cũng quên mất tên mình
gió qua trán chẳng mang mùi đất cháy
chỉ dòng sông còn nhớ một cái nhìn.

mẹ hỏi tin con trong những người quen
chờ ai đó… cậu lính trẻ năm xưa?
chỉ có tờ “đã hy sinh” nấc nghẹn
viết lâu rồi mực cũng nhoè như mưa…

Con nằm đâu đó dưới một tán rừng
cây có nở hoa cho hè bớt nóng?
có trở về cái ngày con từng ngóng?
về một lần… để biết có bình yên…

Mẹ vẫn đợi dưới hiên chiều hun hút
mấy mùa xưa đã khô tên con trẻ
tiếng trống vọng giữa đồng xanh thôi thúc
tấm ảnh thờ chẳng phân nổi trắng đen.

con ở bên kia… có nhớ mẹ không?
lúc nằm lại có chờ mùa lúa chín?
nếu con nghe nơi cỏ non tiếng trống
hãy tìm mẹ trong khúc bát âm… bên hiên…

Giấc mơ nào cũng tan biến thành tro
chỉ dáng con là sống hoài mắc nợ
mỗi bước về… là một lần đổ vỡ:
“thằng này… sao để mẹ chờ lâu?”


TA NỢ ĐỜI EM MỘT DUNG NHAN (Duy Phạm)

Em về nhà chồng bằng chiếc áo gấm hoa
Ba tháng làm dâu đã ngã màu vất vả
Đôi hài son trở thành xa xỉ lạ
Sinh con đầu lòng em mặc áo bà ba.

Dãi nắng dầm mưa em chợt nhớ thương cha
Ra đứng ngõ sau chiều trông về quê mẹ
Giọt sữa nuôi con gầy hao trên ngực trẻ
Tay bế tay bồng không còn kẻ đón đưa.

Đời hồng nhan như một giấc mơ trưa
Vừa chợp mắt đã chiều nghiêng bóng ngả
Con gái lấy chồng như cơn mưa mùa hạ
Hạt rơi vào lồng hạt tất tả chợ phiên.

Chồng người ta mặc áo gấm xông hương
Kệ!
em cứ thương nón cời áo rách
Giữa ô trọc chút thiên lương còn sạch.

Áo bà ba rũ bỏ mộng thiên đường
Chiều đông tàn vẫn cầm chặt tay em
Anh nói
nợ em một dung nhan mùa cũ.

Nẻo ta đi biết đâu là thiếu đủ
Chốn ta về khởi nụ khúc tình ca.


QUÊ HƯƠNG (HoaPhong BinhDuong)

Quê hương mình chinh chiến đã qua lâu
Thời gian lùi lại thăng trầm giông tố
Ngọn gió nhẹ gửi tình vào muôn lối
Anh nằm đây đất chưa đặt tên người.

Quê hương mình bao lần vui chiến tích
Cờ xí reo vang với khúc quân hành
Bao trận địa đã tan mùi khói súng
Vẫn vọng quanh đây đất nhớ tên người.

Quê hương mình non sông liền một dải
Thắp sáng từng đêm ánh sáng tân kỳ
Từ lòng đất âm vang miên man vọng
Giới tuyến còn chăng để đón anh về.

Quê hương mình có bao nhiêu người mẹ
Lúc tiễn con đi nào gọi anh hùng
Mẹ vẫn nhớ khi mưa về lối nhỏ
Có một ngày để được khóc bên con.

Quê hương mình thật lòng như giấy trắng
Lịch sử ghi công sông núi trở mình
Bắc - Trung - Nam là một màu mực thắm
Hòa giải ân tình đẹp mãi tranh son.

READ MORE - CHÙM THƠ THÁNG TÁM (1)

YouTube: Ca Khúc MỖI LẦN GẶP - Thơ: Quách Như Nguyệt - Nhạc: Phan Đê - Ca sĩ: Hà Thảo

 




Mỗi lần gặp

Thơ: Quách Như Nguyệt 




Mỗi lần gặp, về nhà em thấy nhớ

Người gì đâu mà dễ ghét quá chừng!

Mắt nhìn mắt, ta nhìn nhau ngầm hiểu

Thương lâu rồi, nhưng chẳng thể nói yêu

 

Mỗi lần gặp, hai ta ngồi đối diện

Em thẹn thùng, cố ra vẻ tự nhiên

Chắc kiếp trước mình đã từng yêu dấu

Nên kiếp này gặp lại… ngỡ quen lâu


Chưa bao giờ mình hẹn gặp riêng nhau

Vì em sợ, chắc là anh cũng thế

Lửa gần rơm chắc chắn rồi sẽ bén

Mình thích nhau, lửa “bùng cháy” anh à

 

Giữa bạn bè, em cố tình dấu diếm

Chẳng dám nhìn, sợ ánh nhìn âu yếm?!

Cười với anh cũng sợ người ta biết

Càng dấu nhiều…  càng dễ lộ ra thêm!

 

Đưởng tình ái có bao giờ ấm êm?

Nên cố tránh dù tình trong như đã

Mỗi lần gặp, thấy bâng khuâng chi lạ

Rõ ràng là tim hạnh phúc hoan ca

 

Mỗi lần gặp, về nhà em làm thơ

Thấy nhớ lắm, viết ra bài thơ nhớ

Nhớ vu vơ cứ như thời mới lớn

Tình mông lung, tình lãng đãng dại khờ

 

Mỗi lần gặp… mỗi lần em gặp anh

Má ửng hồng, đời sống bỗng ngát xanh

Rồi từ giã, rồi chia tay, mong gặp

Không hiểu sao cứ cố gắng dặn lòng

Thôi, thôi nhé, thôi tránh, đừng gặp nữa….

Q. .Như Nguyệt

Chép từ:  tongphuochiep-vinhlong.com


READ MORE - YouTube: Ca Khúc MỖI LẦN GẶP - Thơ: Quách Như Nguyệt - Nhạc: Phan Đê - Ca sĩ: Hà Thảo

Saturday, August 1, 2026

CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Cam Lộ - Miền ký ức / Ái Tử - khởi đầu thời mở cõi / An lạc một miền nhớ / Nơi gặp gỡ của hai dòng sông



 

Cam Lộ - Miền ký ức

                      Nguyễn Văn Trình

 

Cam lộ bên dòng Hiếu giang

sông lặng lẽ chảy, như một câu chuyện cũ

kể về đất và người

về những mùa mưa nắng, thấm vào lòng đất đỏ

ươm lên màu xanh mướt của cây trái hiền hòa

 

Con đường chín đi qua

không chỉ là một tuyến giao thông

nối những miền xa

mà là dấu ấn của thời gian

in bóng những đoàn quân, những khúc hát

những giấc mơ về miềm mây trắng

đã hóa thành lịch sử

 

Người ta gọi nơi này là miền sương ngọt

có lẽ vì sương buổi sớm ở đây nhẹ và ấm

dịu ngọt như một lời ru

sương phủ trắng trên vòm lá

mà lòng người lại thấy vui

thấy gần nhau hơn qua cái nhìn

một nụ cười hồn nhiên, không cần hẹn trước

 

Phố thị nơi đây không ồn ào vội vã

mà rộn ràng theo cách riêng của mình

những mặt hàng mang ra từ rừng

hương mật ong, mùi tiêu cay, mùi lá thuốc...

tiếng gọi nhau thân quen như đã gặp từ lâu

 

Và con người như chính mảnh đất này

hiền lành mà sâu thẳm

mộc mạc mà đượm tình

họ sống như cây bám rễ sâu vào ký ức

vươn mình về phía ánh sáng ngày mai

 

Có những giai nhân bước ra từ câu chuyện

đẹp như thoáng cổ xưa còn sót lại

ánh mắt mang nét buồn dịu, của hoàng cung đã khuất

người ta bảo, họ là hậu duệ của những cung nữ xưa

theo chân vua Hàm nghi về Tân sở

giữa những ngày đất nước nghiêng mình trong khói lửa

 

Những dấu tích còn đây

nhà thờ vua Hàm nghi nằm lặng lẽ

như một chứng nhân không lời

giữ lại chút uy nghi, chút tiếc nuối

đã hóa thành sương khói phủ thời gian

 

Cam lộ, không cần gọi tên

vẫn nghe lòng mình chậm lại

như đứng bên dòng Hiếu giang

mà thấy cả một miền ký ức

đang lặng lẽ ùa về, một quá khứ vàng son

 

                                                 NVT

 

Ái Tử - khởi đầu thời mở cõi

                        Nguyễn Văn Trình

 

Ái Tử không chỉ là miền đất cổ

mà là nơi lịch sử dựng cột mốc đầu tiên

trên dải đất phương Nam

bên dòng sông Thạch Hãn

cuộn mình như một lưỡi kiếm thiêng

soi bóng trời

mà cũng soi thấu những khởi đầu thời mở cõi

 

Gió nơi đây không chỉ  

là gió của sông nước, của đồng bằng

mà là hơi thở của những đoàn quân

chưa từng dừng bước

cánh đồng Trà liên - Ái Tử không chỉ trổ lúa

mà còn trổ ra vận mệnh dân tộc

nơi tượng thờ Nguyễn Ư Dĩ còn đây

khi đất biết mang trên mình

một sứ mệnh lớn lao – đi mở cõi

 

Một buổi trời đất như lặng đi

để nhường đường cho lịch sử

Nguyễn Hoàng đặt chân lên đất này

như một lời thề

dinh trấn Ái Tử dựng lên không chỉ bằng bàn tay

mà bằng cả ý chí của người mở cõi

khắc vào tận đáy hồn dân tộc

 

Từ đó phương Nam

không còn là khoảng mờ vô định

mà là lời mời gọi

là chân trời, là giấc mộng có hình hài

từng bước chân đi tới

là từng tấc đất hóa thành xương thịt

từng nhịp tiến, là từng trang sử bừng lên như lửa

 

Ái Tử là nơi khởi đầu

cũng là nơi còn mãi

dẫu thành quách dinh trấn xưa

nay đã hóa vào lòng đất sâu

nhưng âm vang một thời, vẫn dội về như trống trận

ngân dài trong huyết mạch của non sông...

 

                                                              NVT

 

An lạc một miền nhớ

                      Nguyễn Văn Trình

 

An lạc

bên dòng sông Hiếu

đẹp như một câu thơ chưa viết hết

nước cứ trôi

còn đất thì ở lại

 

Bãi bồi ven sông

gom phù sa từng lớp

gom cả nắng gió Đông Hà

hoa mọc lên từ những nhọc nhằn

rạng rỡ như một điều tất yếu

 

Người giữ đất

bằng đôi tay gầy, cần mẫn

giữ nghề bằng một niềm tin bền bỉ

mỗi mùa hoa là một lần bắt đầu lại

một lần đi qua gian khó

 

Rồi Tết đến

gọi tên những sắc hoa rực rỡ

cả làng bừng lên như một biển hoa

hoa không chỉ nở

mà ngân vang thành mùa xuân

 

Du khách đi qua

mang theo hương sắc

nhưng đã kịp để lại lòng mình ở đó

An lạc một miền nhớ

và còn nở mãi không nguôi

 

                                         NVT

 

Nơi gặp gỡ của hai dòng sông

                               Nguyễn Văn Trình

 

Ngã ba Gia độ

nơi hai dòng sông không chỉ gặp nhau

mà còn nhận ra nhau

sau những dặm dài lịch sử

 

Sông Hiếu đến

mang theo phù sa và tiếng ru của bãi bồi

Thạch Hãn về

chở nặng quá khứ những mùa mưa lửa

hai dòng sông ôm lấy Đông Hà

như đất ôm người sau bão

trước khi về với Biển Đông

 

Buổi sáng

mái chèo khuấy nhẹ mặt nước

và tiếng chim rơi xuống khoảng trời xanh

in dấu những cuộc đời lặng lẽ

sinh sôi trên từng mẻ lưới, dòng sông

 

Nhưng sâu hơn

dưới lớp phù sa mềm

là tiếng vọng của một thời không ngủ

Cảng Đông Hà, Đường chín, Khe Sanh hun hút gió

và Cổ Thành nơi đất thiêng hóa thành ký ức

 

Ngã ba ấy

không chỉ chảy ra Cửa Việt

mà còn chảy vào lòng người

vào trang sử hào hùng của dân tộc

của một thời lửa đạn

và đã trở thành

những khúc ca, còn ngân vang mãi ngàn sau...

 

                                                 NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI              

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Cam Lộ - Miền ký ức / Ái Tử - khởi đầu thời mở cõi / An lạc một miền nhớ / Nơi gặp gỡ của hai dòng sông

YouTube: Ca khúc AI - Thơ: Phan Khâm - Nhạc Nguyễn Tất Vịnh - Ca Sĩ Quỳnh Lan

 




Ai.... 

              Thơ Phan Khâm

 

 Ai ôm bóng tà dương, 

 Thả vào đôi cánh vạc 

 Nghe tiếng lòng man mác 

 Ôi, nghìn dặm tha phương. 

   

Ai rẽ sóng Tiêu Tương, 

Phân chia hai dòng chảy 

Trời mưa ngâu tháng bảy 

Than thở bến Tầm Dương! 

  

Ai ngắm mười giọt sương, 

Long lanh trên cành biếc 

Thuở ban đầu nuối tiếc 

Sao còn lại chín thương! 

  

Ai níu lấy hoàng hôn, 

Xin thời gian dừng lại 

Bên kia trời quan tái

Nhớ bóng người cô thôn.. 

  

Ai thả sợi tơ tình, 

Giăng hoa thời áo tím 

Tình một thời thầm kín 

Lời hò hẹn đinh ninh! 

  

Ai ném ánh sao băng, 

Rơi vào nơi hố thẳm 

Đêm nào ngồi suy ngẫm 

Về một cõi xa xăm… 

 

Ai đưa đẩy vào nhau, 

Cả một trời duyên nợ 

Nghe từng giây hơi thở 

Tới luân hồi mai sau… 

 

 PHAN KHÂM 

 Silver Spring, Maryland.

Địa chỉ điện thư của tác giả:

<phanvyle@yahoo.com>

READ MORE - YouTube: Ca khúc AI - Thơ: Phan Khâm - Nhạc Nguyễn Tất Vịnh - Ca Sĩ Quỳnh Lan

Friday, July 31, 2026

HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG - Trương Tam Phong

Tác giả: Trương Tam Phong

         

HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG

Trương Tam Phong

 

 1. Đặt vấn đề

Làng Hiền Lương (nay thuộc Tổ dân phố (TDP) Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.) vốn có tên là Hoa Lang. Theo các nguồn sử liệu và văn bản Hán Nôm, cư dân đã đến khai phá, lưu trú ổn định tại đây từ khoảng thế kỷ XV. Đến năm 1841, dưới triều vua Thiệu Trị, do kiêng húy tên Hoàng thái hậu Hồ Thị Hoa, làng được đổi tên từ Hoa Lang thành Hiền Lương và giữ tên gọi này cho đến nay [1, 2, 3, 4, 5]

Trải qua nhiều thế kỷ, Hiền Lương trở thành một trong những làng rèn nổi tiếng của xứ Thuận Hóa. Việc mở rộng làng, cùng với nghề rèn, không chỉ tạo nên các vùng đất mới mà còn tạo nên sinh kế bền vững cho nhiều thế hệ cư dân và góp phần hình thành bản sắc văn hóa đặc trưng của làng cổ Hiền Lương. Góp phần đưa Hiền Lương trở thành một địa danh quen thuộc trong lịch sử thủ công truyền thống Việt Nam.

Cư dân Hiền Lương từ bao đời nay vẫn thường nhắc nhớ về quê hương qua câu khẩu quyết quen thuộc: "Làng sáu xóm, sáu phường". Trong cấu trúc ấy, sáu xóm bao gồm Siêu Quần, An Hội, Đồng Nhơn, Võ Đình, Văn Quán và Phước Tự; song hành cùng sáu phường là Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa, Triều Dương, Khánh Mỹ và La Vần. Hai hệ thống này không đơn thuần là tên gọi hành chính, mà còn phản ánh hai không gian cư trú, sinh kế trong tiến trình mở cõi, lập làng và phát triển lâu dài của cộng đồng.

Hệ thống sáu phường không hình thành đồng thời mà là kết quả của một quá trình mở rộng không gian lịch sử. Bốn phường Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa và Triều Dương ra đời sớm hơn cả, gắn liền với công cuộc khai phá vùng gò đồi phía tây của các bậc tiền nhân. Trong khi đó, Khánh Mỹ và La Vần xuất hiện muộn hơn vào thời Nguyễn; đến thời Khải Định, hai phường này đã chính thức nằm trong địa giới làng và được triều đình ban sắc phong chuẩn định. Sự góp mặt của Khánh Mỹ và La Vần đã hoàn thiện cấu trúc “sáu xóm, sáu phường” của làng Hiền Lương.

Mỗi phường mang trong mình những đặc điểm riêng biệt về lịch sử hình thành, các bậc Khai canh – Khai khẩn, hệ thống địa danh cũng như những dấu ấn đậm nét trong văn bản Hán Nôm và hệ thống sắc phong triều đình. Bên cạnh đó, qua các nguồn tư liệu lịch sử và điền dã, một số nơi còn lưu giữ nhiều tên gọi song hành qua các thời kỳ: Triều Dương gắn liền với tên nôm Vĩnh Nẫy, Khánh Mỹ gắn với vùng đất mang tên Đức Thắm (Đất Thắm), hay La Vần xưa vốn thuộc sự quản lý của xóm Văn Quán. Bài viết này xin giới thiệu quá trình hình thành, đặc điểm cụ thể của sáu phường cùng các tên gọi và dấu ấn lịch sử, qua đó làm rõ cấu trúc địa giới và sự mở rộng không gian cư trú bền bỉ của làng Hiền Lương.


2. Một vài đặc điểm của sáu phường thuộc làng Hiền Lương

2.1. Phường Công Thành

Là một trong bốn phường hình thành sớm nhất trên dải gò đồi phía tây, cách trung tâm làng Hiền Lương khoảng 17 cây số. Bản sắc phong 68 (1), triều đình ghi nhận ngài Hoàng Ngọc Tích có công khai khẩn vùng đất này. Từ đó, trải qua các thế hệ, hậu duệ nơi đây phát triển thành hai nhà thờ họ (với khoảng 17–18 thế hệ),

Công thành, nay thuộc TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong Thái, thành phố Huế. Bên cạnh dòng họ Hoàng chủ đạo, vùng đất này còn đón nhận dòng chảy cư dân từ các họ khác đến sinh cơ lập nghiệp như họ Trương Tất, họ Dương.

2.2. Phường Hưng Long

Cũng nằm trong nhóm các phường hình thành sớm, gắn liền với công cuộc khai phá đầu tiên ở phía tây làng. Hệ thống sắc phong ghi nhận hai vị Đồng Hậu Khai khẩn có công lớn là ngài Dương Phước Lộc và ngài Dương Phước Dã. Tên gọi Hưng Long được thế hệ con cháu trân trọng gìn giữ nguyên vẹn qua nhiều thời kỳ.

Về mặt hành chính hiện nay, địa bàn Hưng Long, Thượng Hòa và Vĩnh Nãy đều thuộc TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế. [1, 2, 3, 4, 5]

2.3. Phường Thượng Hòa (Đất Thắm)

Thuộc nhóm bốn phường hình thành sớm trên vùng gò đồi phía tây, Thượng Hòa hiện còn lưu giữ hai đạo sắc phong quan trọng là Sắc phong số 78 (ban cho ngài Hoàng Ngọc Tuấn và Trần Văn Công) cùng Sắc phong số 79 (1) (ban cho ngài Hoàng Thanh Vật) [1, 2, 3, 4, 5] .Thượng Hòa từ lâu gắn liền với tên gọi dân gian là Đất Thắm (xuất hiện song hành cùng Khánh Mỹ trong tư liệu sắc phong), phản ánh sự đan xen hài hòa giữa danh xưng của hai vùng đất.

Địa bàn này nay cùng chung không gian hành chính với Hưng Long, Vĩnh Nẫy, thành TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

2.4. Phường Triều Dương (Vĩnh Nẫy)

Là phường có bề dày lịch sử lâu đời thuộc nhóm đầu của làng. Theo dòng phát triển, cư dân tiếp tục mở rộng thêm vùng đất Vĩnh Nẫy sát kề, khiến trong dân gian quen gọi gộp là Triều Dương - Vĩnh Nẫy. Theo địa thế xưa, đây là vùng đất có đầm nước ngập, trên mặt phủ đầy các loài cỏ mọc đan kết dày đặc thành một lớp thảm thực vật vững chắc; khi người qua lại trên mặt đầm thường có cảm giác chân bước "nảy lên, nảy xuống", từ đó dân gian gọi vùng này là “Vịnh Nảy”, về sau đọc chệch thành Vĩnh Nẫy.

Sắc phong bản số 76 (1) ghi rõ "...Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑) và ban sắc phụng thờ vị Khai khẩn Hoàng Như Phượng Đại Lang Chi Thần. Ngôi miếu cổ tại đây hiện vẫn phụng thờ thêm ba vị Khai khẩn khác là Nguyễn Đức Thọ, Trương Công Cổ và Hoàng Quý Công.

Ngày nay, vùng đất Triều Dương - Vĩnh Nẫy cùng với Thượng Hoà, Hưng Long  thuộc TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế, là minh chứng sinh động cho sự bảo lưu bền vững các lớp địa danh truyền thống. [1, 2, 3, 4, 5,6]

2.5. Phường Khánh Mỹ (Đất Thắm)

Hình thành muộn hơn khi không gian gò đồi phía tây đã tương đối ổn định. Sắc phong bản số 65 (1)ghi nhận công lao của vị Khai khẩn Trần Ngọc Lãng[1, 2, 3, 4, 5] (1). Nơi đây từng là điểm quy tụ của nhiều dòng họ di cư từ trung tâm làng ra, trong đó tiêu biểu có phái Trương Duy (gốc từ xóm An Hội). Khánh Mỹ còn được gọi với cái tên quen thuộc là Đức Thắm, gắn liền với vùng Đất Thắm chung với Thượng Hòa.

Địa bàn hiện nay thuộc TDP Khánh Mỹ, phường Phong Điền, thành phố Huế.

2.6. Phường La Vần (Truông Vần)

Là phường hình thành muộn nhất cùng với Khánh Mỹ. Khởi thủy, đây là khu vực do xóm Văn Quán trực tiếp quản lý, sau đó mới chính thức lập thành phường dưới thời Nguyễn (đến thời Khải Định được ghi nhận trong Hiền Lương chí lược tân biên). Trong đời sống dân gian, nơi đây còn được gọi là Truông Vần hay Truông Cầu.

Ngày nay, La Vần- Truông Cầu, địa bàn này thuộc TDP Tây Hiền, phường Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

 

Các phường thuộc làng Hoa Lang- Hiền Lương  trong quá trình mở rộng không gian cư trú (1)


STT

Địa danh cổ /

Phường / Vùng đất

Vị trí hành chính hiện nay (Thuộc TP. Huế)

 

Các vị tiền hiền có công Khai canh,  sắc phong  lập phường

 

1

Làng

Hiền Lương

TDP Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

Công đức thuộc về 12 vị khai canh lập làng

2

Phường Công Thành

TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong

Thái, thành phố Huế

Ngài Hoàng Ngọc Tích

Bản số 68

3

Phường

Thượng Hòa

(Đất Thắm)

TDP Bắc Hiền,   phường Phong Thái, thành phố Huế.



- Ngài Hoàng Ngọc Tuấn

Bản số 82

- Ngài Trần Văn Công

Bản số 78

- Ngài Hoàng Thanh Vật

Bản số 79, ghi “Hiền Lương xã Đất Thắm ấp" (坦 閏 邑)

4

Phường

Hưng Long

TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

-Ngài Dương Phước Lộc

-Ngài Dương Phước Dã

5

Phường

Triều Dương

(Vĩnh Nãy)

TDP Bắc Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế.

- Hoàng Như Phượng Bản số 76, ghi "Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp" (永 朏 邑),

Tại đây, còn có miếu thờ 3 vị
Khai khẩn:


- Ngài Nguyễn Đức Thọ

- Ngài Trương Công Cố

READ MORE - HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG - Trương Tam Phong