Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, October 25, 2023

HÌNH ẢNH MẸ - HÌNH ẢNH ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG BÀI THƠ LÁ RỤNG CỦA VŨ HÙNG - Phan Thị Thoan

 

Nhà thơ Vũ Hùng

HÌNH ẢNH MẸ 

- HÌNH ẢNH ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM 

TRONG BÀI THƠ LÁ RỤNG CỦA VŨ HÙNG


Lời bình của nhà thơ Phan Thị Thoan, Bà Rịa-Vũng Tàu


LÁ RỤNG

Ra giêng lá mận rụng nhiều,

Bâng khuâng nhớ mẹ khăn điều vắt vai,

Miếng trầu bỏm bẻm miệng nhai,

Còng lưng tay quét sớm mai góc vườn.


Thân cò một nắng hai sương,

Mỏi chân Phú Thọ, bụi đường An Khê...

Một đời lam lũ chân quê,

Cho con chữ nghĩa đẹp nghề mai sau...


Mẹ đi 

Còn đó hàng cau,

Và nguyên cả một giàn trầu góc sân, 

Hoa cau trỗ biết bao lần,

Trầu xanh mấy lượt vàng dần, hắt hiu...


Ra giêng lá mận rụng nhiều,

Còn đâu dáng mẹ khăn điều vắt vai,

Còn đâu tiếng chổi sớm mai,

Còn đâu đống lá ủ hoai góc vườn.


Quặn lòng 

thắp một nén hương!

VŨ HÙNG


 Đã lâu, trên các trang mạng, tôi đã đọc rất nhiều bài thơ viết về mẹ nhưng ấn tượng nhất , để lại cảm xúc mạnh mẽ nhất trong tôi là bài thơ Lá Rụng của anh Vũ Hùng.

   Với lối viết truyền thống về mẹ đó là sử dụng thể thơ lục bát.Lời thơ dung dị, mộc mạc nhưng ấn tượng vô cùng với hình ảnh của Mẹ. Cảm xúc của người viết như một mạch chảy, không tô vẽ câu từ, không uốn nắn sáo ngữ... Mẹ hiện lên thân thương đến đau buốt cả trái tim:

Ra giêng lá mận rụng nhiều

Bâng khuâng nhớ mẹ khăn điều vắt vai

 Mẹ đấy, giản dị vô cùng như vừa mới đâu đây, cái dáng lưng còng với chíếc khăn vuông vắt vai lau mồ hôi...

 Miếng trầu bỏm bẻm miệng nhai

Còng lưng tay quét sớm mai góc vườn

Thật là nao lòng khi đứng giữa cảnh vật thân quen nhưng người thương yêu không còn nữa, lại vẫn như nghe vẳng về tiếng chổi Mẹ quét. Đứng giữa kỉ niệm, gió xạc xào thổi những chiếc lá  bay tới bay lui... như tiếng chổi  Mẹ quét đâu đây, như dáng Mẹ đâu đây với chiếc khăn điều vắt vai lau mồ hôi ướt đẫm.Mẹ ngẩng lên nhìn con khi con gọi Mẹ, mỉm miệng cười vẫn bỏm bẻm nhai trầu...

Nối tiếp với hình ảnh khăn điều vắt vai quét lá góc vườn là hình ảnh Mẹ xa hơn... ngày xưa ấy, ngày mà Mẹ thân yếu vai gầy vẫn sớm tối bụi đường vất vả kiếm từng đồng bạc khó nhọc để nuôi con. Với mục đích và khát vọng rõ ràng và cao cả, luôn luôn thúc đẩy tiếp thêm nghị lực như bao người mẹ trên đời:

Thân cò một nắng hai sương,

Mỏi chân Phú Thọ, bụi đường An Khê...

Một đời lam lũ chân quê,

Cho con chữ nghĩa đẹp nghề mai sau...

   Đọc bốn câu thơ này ta hình dung một người đàn bà có ý chí mạnh mẽ, lam lũ và cần cù chịu khó.Hết vụ mùa đồng áng lại tất tả nhảy lên những chuyến xe đò xuôi ngược để buôn bán kiếm tiền.

 Chắc chắn trên những chuyến đi này, chiếc khăn điều cũng không rời xa mẹ. Lúc này chiếc khăn điều không vắt vai mà là vấn tóc mẹ!

Khăn điều người ta vắt vai phong lưu là thế (Nhớ ai  gấm đãy khăn điều vắt vai_ cả dao)nhưng khăn điều của mẹ lại để lau mồ hôi, để vấn tóc, để gói những miếng quà quê sau buổi chợ cho các con của mình!

  Khi các con đã lớn khôn, đã có tương lai thì mẹ cũng già yếu. Chiếc khăn điều không còn lam lũ như đời mẹ mà nó được vắt lên vai Mẹ,Mẹ cũng đã già, không còn tóc để vấn khăn!_ Đó cũng là hình ảnh sau cùng mẹ để lại!

  Kỉ niệm về mẹ quá nhiều, ùa về khi ta đi vào vùng kỉ niệm. Nhìn quanh nơi nào cũng là Mẹ, của Me, có mẹ...

Mẹ đi 

Còn đó hàng cau,

Và nguyên cả một giàn trầu góc sân, 

Hoa cau trỗ biết bao lần,

Trầu xanh mấy lượt vàng dần, hắt hiu...


    Bài thơ để lại ấn tượng mạnh trong ta khi cuối bài thơ, tạm dừng dòng hoài niệm là hình ảnh Mẹ được nhắc lại

Ra giêng lá mận rụng nhiều,

Còn đâu dáng mẹ khăn điều vắt vai,

Còn đâu tiếng chổi sớm mai,

Còn đâu đống lá ủ hoai góc vườn.

  Trĩu nặng lòng, nước mắt rưng rưng khi nhớ về mẹ,nơi đây con lớn lên, mẹ đã chắp cánh cho con bay xa bay cao, nay trở về không còn mẹ. Trong con chỉ còn là kí ức, kí ức đẹp, êm đềm... Ra giêng...giữa buổi thanh minh, khi cuộc sống xô bồ ngoài kia tạm lắng, lòng con cũng cảm thấy bình yên và khi bình yên con lại nhớ về Mẹ. Hình ảnh mẹ là thường trực trong con nhưng nó cồn cào hơn,da diết hơn... khi tiết trời thay đổi, vũ trụ vươn mình thay mới, những âm thanh và hình ảnh quen thuộc thân thương mang đậm hình bóng mẹ.Nhớ Mẹ đến quặn lòng!

Chợt liên tưởng đến hình ảnh mẹ ở những cách nhìn khác của những góc đời khác. Mẹ trong thơ Vũ Hùng là hiện thân cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam chịu thương chịu khó. Suốt đời lam lũ, vất vả hi sinh vì chồng vì con mà quên đi hạnh phúc bản thân.Nếu sự hi sinh được nhớ đến và được đền đáp thì tuổi xuân cũng đã trôi qua từ lâu lắm và trôi qua mất rồi...


Quặn lòng 

thắp một nén hương...


 Xin cám ơn anh Vũ Hùng!


Bà Rịa, 24.03.2024

  Phan Thi Thoan.



READ MORE - HÌNH ẢNH MẸ - HÌNH ẢNH ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG BÀI THƠ LÁ RỤNG CỦA VŨ HÙNG - Phan Thị Thoan

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (8) - Trương Ngọc Bỉnh

Tác giả Trương Ngọc Bỉnh


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG

Trương Ngọc Bỉnh, Cựu học sinh Trung học Công Lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 - 1968


Phần 8 

Trong lần họp mặt Cựu học sinh Trung học Công lập Hải Lăng ngày 11 /6 / 2016 tại Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, thị trấn Ngải Giao, tôi thấy Ban Tổ Chức còn bỏ sót xướng danh Giáo sư Phan Văn Trà (trong danh sách các Giáo sư đã giảng dạy tại Trường Trung học C L Hải Lăng trước 1975).

Thầy Phan Văn Trà đã giảng dạy môn Việt văn, lớp Đệ Tứ chúng tôi - năm cuối cấp, ra trường.

Dáng người Thầy Trà cao như Thầy Dự. Thầy có mái tóc bồng bềnh, có vẻ nghệ sỹ! Những người có năng khiếu về văn chương thường có tâm hồn rất phong phú... và còn có chút lãng mạn "đeo bám" để thổi hồn vào nghệ thuật!

Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng cho chính bản thân và cứ băn khoăn, hoài nghi về cánh tay trái của Thầy Trà bị mất đi! Có phải Thầy bị động viên vào lính rồi bị thương hay do một tai nạn nào đó mà Thầy đã mất đi một phần thân thể rồi trở về, tiếp tục gắn bó với bục giảng, bụi phấn? Thầy giảng bài rất say sưa, đến nội dung, đoạn nào của một tác giả đều có thơ tuôn chảy dẫn chứng như cuốn hút, mời gọi học sinh những tiết văn học cổ qua những tác phẩm thơ ca của Chu Thần, Uy Viễn Tướng Công, Tam nguyên Yên Đỗ ...hay đại thi hào Nguyễn Du ... Những vần thơ lưu bút mà chúng tôi tập tểnh gieo hồn đã mang nhiều sắc thái đậm đà, tình tứ ảnh hưởng ý tưởng của các thầy,cô dạy Việt văn!

Mỗi lần tan trường, Thầy Trà cưỡi chiếc Honda SS 50 đời 67 cùng đi với Thầy Lợi, Thầy Minh, Thầy Khán... Chiếc xe của Thầy Trà được thiết kế cần kéo - đẩy "Âm- ma - za" gần với tay ga - tay phải, nên việc vô số dễ dàng.

Không biết Thầy Phan Văn Trà hiện nay ở đâu, còn sống hay đã mất? Những lời phê của Thầy (Giáo sư môn Việt văn) trong thành tích biểu về mặt học lực và hạnh kiểm của tôi ở lớp cuối cấp đã thôi thúc bản thân vượt qua nhiều trở ngại về sức khỏe, hoàn cảnh thời cuộc để hoàn thiện con đường học vấn và nghề nghiệp để tiến thân cùng bạn bè …

(Còn tiếp.)

Trương Ngọc Bỉnh

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (8) - Trương Ngọc Bỉnh

Tuesday, October 24, 2023

QUỸ KHUYẾN HỌC CỰU HSNHQT tại SÀI GÒN 30 NĂM NHÌN LẠI - Võ Văn Cẩm


Tác giả Võ Văn Cẩm


QUỸ KHUYẾN HỌC CỰU HSNHQT tại SÀI GÒN. 

30 NĂM NHÌN LẠI (1992 - 2022)

"THAY LỜI TRI ÂN"

Võ Văn Cẫm


Quảng Trị là một tỉnh nhỏ, cách Huế khoảng 60 km về phía Bắc. Trước năm 1950 con em Quảng Trị muốn học Trung học phải vào Huế. Chỉ có con nhà giàu, con quan lớn mới có điều kiện học hành.

Năm 1952, một ngôi trường Trung học Công lập độc nhất tại tỉnh Quảng Trị được thành lập. Do một nhóm nhân sĩ, trí thức, quan lại ở tỉnh khởi xướng như: Ông Hồ Văn Hải, ông Hồ Duy Tình, Ông Nguyễn Văn Triển, ông Phan Quang Đãi, ông Nguyễn Hữu Hiệt, ông Hoàng Trọng Thuần, ông Thái tăng Liên, ông Nguyễn Văn Cổn, ông Hồ Tiềm, ông Đoàn Lỗ Bửu... nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em mình. Đó là Trường Trung Học Công lập (Đệ nhất và Đệ nhị cấp) Nguyễn Hoàng (tiền thân là trường Trung hoc Tư thục QTrị 1951).

Sau nhiều biến cố, trường di dời nhiều nơi như Hải Lăng, Non Nước, Hòa Khánh (Đà Nẵng). Ngôi trường thân yêu chỉ tồn tại chưa đầy 25 năm thì mất tên vào năm 1975.

Người đóng góp công sức, tri tuệ lớn nhất là Thầy Thái Mộng Hùng, người 18 năm làm Hiệu trưởng.

24 năm ấy trường đã đào tạo biết bao thế hệ học trò, đóng góp nhiều nguồn nhân lực hữu ich cho quê hương Quảng Trị nói riêng và Việt Nam hay Thế giới nói chung, dù họ ở bên này hay bên kia.

Năm 1975 học trò Nguyễn Hoàng như đàn chim vở tổ, đã bay khắp mọi miền đất nước, khắp năm châu, bốn bể.

Trong nhiều năm lưu lạc, những năm tháng đói nghèo, dù ở đâu, họ đã có ước nguyện gặp nhau để hàn huyên, để chia sẻ, để có dip sống lại tuổi thơ của mình, để tri ân ngôi trường mà minh đã học, để cám ơn những bậc tiền nhân gầy dựng, cám ơn thầy cô đã dạy dỗ, cám ơn vùng đất diệu kỳ, vùng đất học, vùng địa linh nhân kiệt Quảng Trị, vùng mà Chúa Tiên Nguyễn Hoàng dừng chân khởi nghiệp, mở đầu cho Chúa Nguyễn và Vương Triều Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, thống nhất đất nước từ Ải Nam Quan đến tận Mũi Cà Mâu khi vua Gia Long lên ngôi (1802).

Mãi tới 18 năm, sau nhiều năm trăn trở, Cựu Học Sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị tại Sài Gòn (Cựu HSNHSG) mới biến ước mơ của mình thành hiện thực.

Vào năm 1992, một nhóm thầy cô và cựu học sinh Nguyễn Hoàng đang sinh sống tại TP HCM và vùng phụ cận như: Anh Lê hữu Thăng, Nguyễn Bảo, cô Nguyễn Thị Thanh và nhiều CHSNH như: Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Đặng Mừng, Nguyễn Đặng Kỳ, Hồ Sỹ Kỹ, Hồ Sỹ Mừng, Ngô Bá Cương, Võ Văn Cẫm, Lê Cung Bắc, Duơng Văn Tường-Sâm. Nguyễn Thị Kim Loan, vợ chồng Lê Đình Thị Thành-Cương... đã họp mặt tại nhà cô Thanh, đường Nguyễn Thông, Quận 3. Buổi họp chuẩn bi cho lần họp mặt đầu tiên của CHSNHSG mừng xuân 1993.

Trưởng ban tổ chức là anh Lê Hữu Thăng, phó ban là anh Nguyễn Bảo, các thành viên dự họp là các uỷ viên.

Vào thời đó khó khăn đủ bề, cả về tài chánh lẫn an ninh. Ai cũng nghèo khó, phương tiện đi lại chỉ bằng xe đạp, chưa có xe bus, mấy ai có xe gắn máy?.

Người ở phương này kẽ ở phương kia, muốn trao đổi một vấn đề gì phải đến gặp nhau mới trao đổi thông tin, làm gì mà có điện thoại, Facebook, Email, Zalo, Messenger, tin nhắn như bây gìờ.

Anh Thăng, anh Bảo muốn thông báo tin tức phải đạp xe hàng chục cây số, từ nông trường An Hạ, Bình Chánh về quận Phú Nhuận, Bình Thạnh. Thông tin được truyền miệng cho nhau.

Anh em chúng tôi chẳng bao giờ nề hà khó nhọc, ai làm được gì thì làm, không so hơn tính thiệt. Chúng ta mới thấy được sức mạnh của sự ĐOÀN KẾT, THƯƠNG YÊU, CHIA SẺ. Đây chỉnh là MỤC ĐÍCH YÊU CẦU của BLL.

Buổi họp mặt Cựu HSNHSG đầu tiên, tổ chức tại nhà Bảo Tàng Quân khu 7, đường Hoàng Văn Thụ, Quận Tân Bình.

Anh Nguyễn Đặng Mừng tài trợ bia hơi, một loại thức uống cao cấp thời bấy giờ.

Được thông báo cho nhau, bằng phương tiện rỉ tai và truyền miệng, từ người này qua người kia, làm gì có thư mời hay điện thoại như bây gìờ.

Sáng hôm đó mọi người đến rất sớm, đông ngoài sức tưởng tượng của Ban Tổ chức chúng tôi, khoảng gần 150 người.

Không khí buổi họp đầy nghĩa tình đồng môn, bạn bè lâu ngày gặp nhau, người này hỏi thăm người kia, tay bắt mặt mừng. Phòng họp chật hẹp, 2 MC Hồ Sĩ Mừng và Dương Tường không làm sao điều khiển được buổi họp.

Khi Lê Cung Bắc lên chia sẻ cảm xúc thì máy tăng âm bị hư, coi như buổi họp mặt hôm ấy biến thành buổi gặp mặt.

Buổi họp mặt đầu tiên gây một ấn tượng đẹp. Ngay anh Thăng -Trưởng ban tổ chức - cũng không phát biểu hay thông báo được gì.

Buổi gặp mặt đầy yêu thương và đầm ấm, bạn bè thầy cô cứ bịn rịn, quyến luyến không muốn dứt, dù thời gian đã trưa.

Tan buổi họp mặt, Ban tổ chức họp rút ưu khuyết điểm.

Chỉ mấy tháng sau thì anh Lê Hữu Thăng được xuất cảnh, để lại một gánh nặng cho anh Bảo.

Vì tình đồng môn, anh Bảo cùng chúng tôi trải lòng gánh lấy trách nhiệm vô cùng nặng nề ấy.

Dù khó khăn muôn bề, vì tình thương yêu, chúng tôi đã tổ chức tiễn anh Thăng lên đường tại nhà Mẫu giáo Thành phố đường Trần Quốc Thảo quận 3, và kỳ vọng sự quan tâm giúp đỡ của anh trong thời gian khó khăn khi anh qua Mỹ ?.

Anh Bảo tổ chức họp bàn chương trình hoạt động cho lần họp mặt kỳ tới 1994.

Ban LL Cựu HSNHSG có mặt từ lúc ấy, gồm có:

* Trưởng Ban LL anh Nguyễn Bảo.

* Phó ban anh Nguyễn Văn.Vinh, Ngô Bá Cương,.

* Phó ban phụ trách học bỗng và tương tế anh Võ Văn Cẫm.

* Các anh HS Mừng, HS kỹ, NĐ Mừng, NĐKỳ, DV Tuờng, Lê Văn Hoàng,... là uỷ viên.

Khi Ban LL giao cho tôi trách nhiệm nặng nề ấy, tôi nhiều lần từ chối nhưng không được.

Các anh cho việc chia sẻ, giúp đỡ đồng môn là việc làm vô cùng ý nghĩa, và đó là mục đích yêu cầu, là nội dung chính của buổi họp mặt của chúng ta.

Vào thập niên 1990, hầu hết chúng ta còn nghèo, còn gánh nặng gia đình con cái. Tôi và anh Bảo nhiều lần bàn bạc, tìm nguồn quỹ giúp các cháu Sinh Viên, con Cựu HSNH đang học Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp tại Thành phố HCM, để phát vào dip họp mặt Xuân 1994 tại nhà khách Công đoàn Dầu khí ở Thanh Đa (có 05 suất, mỗi suất 500.000₫.). Chúng tôi vận động ông Trần Đàm.

Lần họp mặt ấy có bà Tôn Thất Dương Thanh và ông Hồ Tiềm tham dự.

Lúc đó nghèo lắm, chúng tôi đi gỏ cửa các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm ở trong nước như:

Ông Trần Đàm, Nguyễn Đặng Hiến, Lê Văn Hải, Nguyễn Đạo Khoẻ, Trần Lộc, đặc biệt có Cựu HSNH Trần Quang Đỗng là nhà tài trợ chủ lực trong quỹ học bổng chúng ta ngay từ những ngày đầu.

Chúng tôi còn vận động những mạnh thường quân ở nước ngoài như: Anh Hoàng Kiều, Hoàng Hữu Ly, Nguyễn Khắc Dỏ, anh chị Nguyễn Thị Sen-Trần Đình Khương trong chương trình học bỗng Fraternité Canada.

Cũng trong thời gian này anh Hoàng Kiều tài trợ "Một thế hệ Y khoa" gồm 10 sinh viên Y Khoa, 500 USD/1 SV/năm.

Chúng tôi thay anh Hoàng Kiều làm thủ tục tiếp nhận với các tiêu chuẩn:

* Gốc Quảng Trị.

* Tốt nghiệp trở về quê làm việc.

* Giúp đỡ cho thế hệ đàn em.

(Chương trình này được người nhà anh HK phát được 03 năm thì ngưng vì nhiều nguyên do khách quan).

Hiện nay thế hệ vàng này đều là cán bộ đầu ngành hay giám đốc BV.

Vào thập niên 2.000, Cựu HSNH có kinh tế khá lên, con cháu một số gia đình thành đạt, biết chắt chiu, có tấm lòng rộng mở, biết san sẻ, dù không giàu có nhưng luôn chung tay tiếp sức với chúng tôi như:

Anh chị Nguyễn Văn Xiễn, Lê Đình Ân, Thái Hòa Thuý An, Đặng Duy Định, Tường Sâm, Đức Nhàn, Lộc Lê, Hằng Ngung, N Văn Ta, anh Trần Quang Đỗng...

Còn có các anh chi ở nước ngoài như: Chị Trương Phương, Nguyễn Lịch, anh chị Nguyễn Thị Sen-Trần Đình Khương, Ngô Ngọc Hồng...

Quỹ khá lên mỗi suất trợ cấp là 1triệu/sv.

Vào thập niên 2010.

Nhiều Anh chị có tấm lòng vẫn tiếp tục giúp quỹ khuyến học và san sẻ nhiều Cựu HSNHSG có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hoạn nạn.

Ngoài ra có thầy cô mỡ lòng như: gia đinh thầy Cố Hiệu Truởng Tôn Thất Dương Thanh, thầy Lê Văn Quýt, thầy Hồ Sĩ Châm, thầy Cao Xuân Yên, thầy Thanh Bá, thầy Sấm, cô Thanh, cô Tránh, cô Hồng, cô Táo, cô Tương.

30 năm qua, năm nào chúng tôi cũng tổ chức gặp mặt, lúc nơi này mai nơi kia và chưa lần nào thiếu vắng việc trợ cấp học bổng.

Những cây lành trái ngọt chúng ta ươm trồng, nay đã ra hoa kết trái, hầu hết đã thành danh: kỹ sư, bác sỹ, tiến sĩ, giám đốc, có nhiều cháu quay lại giúp quỹ như:

* Cháu Nguyễn Quang Thắng giúp cho 1SV con Cựu HSNH mồ cội cả cha lẫn mẹ, tài trợ suốt thời gian học ĐH, mỗi nặm 6 triệu.

* Cháu Phan Thi Minh Nghĩa (GĐ Cty nước ngoài)

* Cháu Trần Đoàn Ngọc Trân. (Trong luận án Tiến Sĩ Y Khoa ở Mỹ cháu có lời cảm ơn cựu HSNHSG.)

Cháu Cam Ly, ngoài tiền giúp quỹ, cháu còn tài trợ máy vi tính.

Và cũng thời điểm này BLL quyết định trợ cấp 1suất là 1.500.000₫/sv.

30 năm làm khuyến học và tương tế, Ban LL Cựu HSNHSG đã phát gần 1.800 suất trợ cấp HB cho con em Cựu HSNH và SVQT, hàng chục trường hợp khó khăn, bệnh tật. Có nhiều cháu nhận suốt thời gian Đại học, sau đại học.

Ngoài các suất trợ cấp HB đã phát trong 30 năm qua, chúng ta còn có nhiều phần quà dành cho các cháu, mỗi lần dự họp mặt CHSNH ở Hàm Tân, Đồng Nai, Bà Riạ Vũng Tàu, Quảng Trị...

Chúng tôi còn có những phần quà dành cho tài năng trẻ QTrị như cháu:

* Cháu Phạm Huy giải 3 Thế giới "Cánh tay Robot do Intel tổ chức ở Mỹ 2019".

* Cháu Phan Đăng Nhật Minh" cháu bé Google" đạt giải nhất Đường lên Đỉnh Olympia 2018.

* Gần đây, chúng tôi còn gởi quà cho 4 cháu con em QTrị dự thi giải Olympia khu vực và Quốc tế.

Số tiền vận động quỹ Học Bỗng gần 1.600.000.000₫.

Một số tiền khá lớn, công sức này do tất cả chúng ta, do nhiều đời Ban LL và những Đồng môn có tấm lòng, những nhà hảo tâm, trong và ngoài nước.

Quỹ KH do thủ quỹ giữ. Người điều hành nhận và duyệt hồ sơ với sự giám sát của Ban LL. Cấp phát vào ngày họp mặt hằng năm.

Những năm số lượng lớn. Đặc biệt nhiều năm anh chị NTSen + GS Trần Đình Khương trao tặng quỹ học bổng Fraternité lên đến 140 suất phải nhờ TS Ngô Hướng mượn Hội trường Đại học Ngân Hàng để tổ chức phát, trong đó có nhiều SV do CLB SV Quảng Trị giới thiệu.

Một điều tự hào, thế hiện lòng tự trọng và tương thân tương ái của Cựu HSNHSG, trong 30 năm qua chỉ có 1 số ít con Cựu HSNH tại SG nhận trợ cấp Học Bổng , còn lại dành hết cho các cháu con Cựu HSNH ở quê nhà hay ở tỉnh khác.

Công lao lớn nhất là anh Trần Quang Đỗng, anh Trần Đàm, anh Hoàng Kiều, HHLy, anh chị Nguyễn Thị Sen Trần Đình Khương, LĐÂn, Nhàn Đức, Hòa An, Camly. ... Là những người có tấm lòng vàng, đã sát cánh với chúng tôi trong suốt chặng đường dài và khó khăn nhất. Các anh chị còn hứa sẽ tiếp tục giúp quỹ trong chặng đường còn lại.

Trong 17 năm làm Trưởng Ban LL, anh Nguyễn Bảo (hay thầy Bảo) luôn luôn đồng hành với chúng tôi và hiện nay anh vẫn rất tâm đắc với chương trình này.

Thời còn thơ dại, chính anh Đỗng là người học trò mà anh Bảo thương yêu và giúp đỡ, nên anh Đỗng đã thể hiện lòng tri ân của mình.

Tôi xin đại diện cho Ban Liên Lạc Cựu Học Sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị tại Sài Gòn (CHSNHSG), đại diện các Đồng Môn có con em nhận HB, các cháu SV, các anh chị đuợc trợ cấp khó khăn trong suốt thời gian vừa qua. Xin gởi đến quý thầy cô, quý mạnh thường quân, quý nhà hảo tâm, quý anh chị có tấm lòng trong và ngoài nước đã chung tay, tiếp sức với chúng tôi trong 30 năm qua lời cảm ơn sâu xa và lòng tri ân vô hạn.

Các cháu nhận trợ cấp HB, nay đã thành danh, công lao to lớn ấy chắc chắn có công tiếp sức của quý vị. Xin chúc quý vị dồi dào sức khỏe, thân tâm thường an lạc, vạn sự cát tường.

Đến nay con cháu cựu HSNH vẫn còn nhiều, các cháu đang đứng ở Giảng đường ĐH, hoàn cảnh khó khăn.

Ban LL sẵn sàng dang tay giúp các cháu thế hệ thứ 3 ngoan, học giỏi hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nên vẫn cần sự giúp đỡ của quý Thầy Cô, các nhà hão tâm và các đồng môn có tấm lòng.

Xin trân trọng cám ơn quý vị.

Saì gòn 15 /9/2022.

Võ Văn Cẩm



READ MORE - QUỸ KHUYẾN HỌC CỰU HSNHQT tại SÀI GÒN 30 NĂM NHÌN LẠI - Võ Văn Cẩm

Chùm ảnh HOA CÔNG VIÊN - Chu Vương Miện

 Bấm chuột vào hình để phóng to.









READ MORE - Chùm ảnh HOA CÔNG VIÊN - Chu Vương Miện

ÁI TỬ QUA CÂC THỜI KỲ LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

 

Chùa Sắc Tứ ở phía Tây Nam thị trấn Ái Tử

Ái Tử qua các thời kỳ lịch sử

Lê Quang Thái


Địa danh Ái Tử đã được ghi vào chính sử cho đến nay đã được 577 năm, đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng trong đấu tranh của người dân từ các tỉnh phía Bắc, kể từ đèo Ngang trở ra, đến đây theo từng triều đại để dựng tỉnh lập nước sau đám cưới của Huyền Trân công chúa năm Bính Ngọ (1306).

Tác giả LÊ QUANG THÁI
(1942-2020)
Nguyên quán: Cổ Thành, Thị xã Quảng Trị,
-Cử nhân Giáo khoa Việt văn (Đại học Văn khoa Huế)
-Cử nhân Giáo khoa Triết học (Đạo học Văn Khoa Huế)
-Cao học Tâm lý Giáo dục (Đại học Sư phạm Sài Gòn).


Sử chép rằng, năm Mậu Ngọ 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá đóng tại gò Phù Sa, xã Ái Tử thuộc huyện Đăng Xương (đời Lê là Võ Xương) tức huyện Triệu Phong ngày nay. Sau đó người bình dân bản địa quen gọi là Ái Tử bằng cái tên sâu lắng tình quê hương là KHO CÂY KHẾ (1).

Năm Giáp Tý, 1744, chúa Nguyễn Phú Khoát xưng hiệu là Võ Xương, chia xứ Đằng Trong ra làm 12 dinh, Ái Tử trở thành Cựu Dinh và Phú Xuân trở thành Chính Dinh. Địa danh Ái Tử nghiễm nhiên được nâng cấp và gắn liền với tên gọi mới là Dinh Cát, thủ phủ của một đơn vị hành chính thời phong kiến ngang hàng với Phú Xuân. Chắc rằng thời kỳ này là thời hưng dậy, đắt giá của Ái Tử. Dinh Cát mang tên mới Phủ TOÀN THẮNG khi đã dời sang địa điểm ở làng Trà Bát. Nhiều giai thoại mang tính huyền sử đã gắn liền với tên gọi mới này. Biên cương của tổ quốc dưới thời các chúa Nguyễn dần dần đến Cà Mau dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Đất cũ đãi người mới. Tình đất ở đó mà nói theo cách dân giã là Ái Tử có ngạch đất tốt: trung dũng, hiếu học, tảo tần, tu hành,...

Theo sử gia Trần Trọng Kim, năm Canh Ngọ 1570, Thuỵ Quận Công là Nguyễn phúc Nguyên con trai thứ 6 của Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng dời dinh sở về đóng ở làng Trà Bát, phía đông giáp hai làng Đâu Kinh (nay là Đâu Kênh) và Hoa La (sau đổi thành Bích La). Trà Bát được đổi thành Trà Liên vì kỵ huý, ở đây còn di tích của Phủ cũ TOÀN THẮNG uy nghi một thời gắn liền quyền uy của phủ chúa với những truyền thuyết mang tính chất sử thi. Nhờ nữ thần hoặc nhân dân giúp kế mà chúa Nguyễn đánh tan quân Trịnh. Thời kỳ này các chúa Nguyễn đã dùng chiến thuật tình báo để chống lại đối phương vốn không được lòng dân.

Ngày nay, con cháu của các vị tổ khai canh của các họ Trịnh, họ Bùi vẫn sinh sống, con cháu sây cành sum sê mặc dù cho bom đạn đã trút xuống và những điều kiện khó khăn xã hội bức bách người dân phải tìm đường đi khắp mọi miền đất nước để lập cơ nghiệp mới. Những vị tổ đầu tiên này là những người góc ở Tống Sơn, Thanh Hoá; Nghệ Tĩnh và các tỉnh ở Bắc Hà theo cùng với quân sĩ của Nguyễn Hoàng từ buổi đầu xuôi buồm thuận gió về Nam.

Về cuối đời của chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Thuần con thứ 16 của Võ Vương mới 12 tuổi lên kế vị, quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền, lộng hành làm bậy, lòng tham vô đáy cố vơ vét cho đầy túi. Gieo gió gặp bão, tháng 9 năm Giáp Ngọ, 1774, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34, Trịnh Sâm cử nội thần là Quốc Lão Việp quận công Hoàng Đình Việp tức Hoàng Ngũ Phúc làm Thượng tướng kéo ba vạn tinh binh tiến đánh miền Nam (2).

Trước bức thế của quân Nam triều bàn nhau bắt quốc phó gian ác đóng cũi đưa lên xe, giải đến nơi đóng quân của Hoàng Ngũ Phúc ở Quảng Bình dâng nộp. Quân Trịnh thừa thắng tiến vào đất Thuận Châu một cách dẽ dàng, Hoàng Ngũ Phúc đóng quân ở Võ Xá truyền hịch đi khắp miền vào tận Phú Xuân. Lú đại binh chuyển vào đóng ở đất Ái Tử, có một thầy đồ già, người huyện Đăng Xương tên là Trần Duy Thông đón đường rước quân và dâng thơ rằng:

Cùng truyền đống trập oanh lôi dạ

Mãn địa khô miêu đắc võ thì

Nguyện chỉ Phú Xuân thôi tiến phạt

Binh cơ quý tộc bất nghi trì

dịch:

Sâu co gặp sấm vừa vang tiếng

Lúa héo chờ mưa đã được thì

Xin thẳng Phú Xuân mà tiến tới

Việc binh nên chóng chớ nên trì (3)

Bản lĩnh chơn chất, tính nết thuần lương của người dân Thuận Châu được bộc lộ rõ nét qua thần khí của tứ thơ. Có thể xem vị đồ già thức thời, vì dân mà đóng đúng vai trò của kẻ sĩ, mạnh dạn đứng lên nói hết thảy tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân đã quá chịu đựng áp bức bấy giờ:

“Quân Nguyễn không quen đánh bộ, chỉ thuỷ quân là giỏi. Đại quân ở xa tới xin đừng tranh ở chỗ sở trường của họ” (4)

Trước thái độ chính trực, căm ghét bạo tàn của vị đồ già, Thượng tướng Hoàng Ngũ Phú đáp lễ bằng cách xin giữ thầy lại ở trong quân ngũ và sau cùng là làm chức Câu kê.

Lê Quí Đôn, chứng nhân thời cuộc một thời, lúc giữ chức Tham hiệp trấn quân cơ trấn Thuận Hoá, bên gác Triêu Dương cạnh bờ sông Hương ở xã Kim Long, đã ghi lại dấu tích còn lại của Ái Tử sau 218 năm ngày Nguyễn Hoàng chon cuộc đất Ái Tử làm điểm dừng chân tiến về Nam:

“Dinh Cát ở đầu núi xã Phúc Toàn do Thuỵ quận công lập ra. Trấn dinh cũ của họ Nguyễn ở phía tây sông Ái Tử, từ dinh mới ra đường cái, sang cầu Ái Tử đi về tay trái nữa khắc là đến nới, nhà quân lính vẫn còn, tức là chỗ dinh của Đoàn quốc công Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn. Phía đông sông ấy là hai xã Đâu Kinh và Hoa La...” (5)

Từ giữa thế kỷ 16 trở đi, Ái Tử bắt đầu đi vào thời kỳ xây dựng dinh phủ, các chúa Nguyễn đặt quan chức cai trị theo cơ cấu hành chính riêng biệt khác hẳn với nền hành chính ở phía bắc đèo Ngang.

Nền hành chính đương thời là nên hành chính của một xã hội văn hoá nông nghiệp, quyền lực tập trung về một mối nhưng biên chế dân sự không nặng nề:

“Đoàn quốc công đóng ở Dinh Cát, sau sai quan đóng giữ gọi là Dinh cũ, ở xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, chỉ có một lệnh sử, Câu kê, Cai hợp một chức một người, Thủ hợp một người, Lại viên 20 người, giữ viện từ tụng văn án, sổ hộ khẩu và binh suất do một viên Ký lục và viên Thư ký đứng đầu; lại thu tô ruộng hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương, xét hỏi việc từ tụng của quân dân” (5)

Thuở ấy ngoài chuyện lo chăm chút công việc đồng áng, chăn nuôi, người dân xã Ái Tử đã biết nấu được đường trắng và đường đen. Công nghiệp bước đầu gắn liền việc trồng mía để lấy mật đường chi dùng và nước đường để trộn với hồ xây dựng thành trì, kho tàng, dinh thự. Các làng bên cạnh bờ sông Thạch Hãn là Xuân Yên, Trung Kiên có lò vô hàu; An Đôn, Thượng Phước cung cấp gỗ từ thượng nguồn sông Thạch Hãn đổ về.

Trên đồi thoai thoải ở phía tây bắc giáp Nại-Cửu thường thuận lợi cho việc chăn nuôi bò. Và bò bê Ái Tử đã nổi tiếng một thời, lai buôn từ phương xa đến bán buôn, trao đổi, chon giống.

Đầu niên hiệu Gia Long, vua đổi Cửu dinh thành dinh (doanh) Quảng Trị và lại chon đất phường Tiền Kiên (so với thời điểm bấy giờ là một làng mới) để xây dựng thành trì. Năm Gia Long thứ 18, 1809 mới dời tỉnh lỵ về địa điểm mới ở làng Thạch Hãn, huyện Hải Lăng.

Ái Tử trở thành tổng kho chứa lương thực dự trữ. Mục lục châu bản triều nguyễn còn ghi rõ ràng của kho Ái Tử qua một bản lệnh truyền thời Gia Long , ngày 20 tháng giêng năm thứ 4,1805:

“Công đồng truyền=dinh Quảng Trị đặng rõ: Kho Ái Tử có 5 toà, cộng 126 gian bỏ trống, đổ đầy lúa hết 88 gian, chỉ con 38 gian bỏ trống, nay nên làm thêm hai toà công khố, mỗi toà 22 gian để tiện trữ lúa năm nay” (7)

Ái Tử là trung tâm của dinh Quảng Trị, nơi thuận lợi cho việc tập trung lúa là tổng kho dự trữ. Việc vận chuyển lương thực, hàng hoá về tổng kho theo đường bộ và đường sông khá tiện lợi - bổi lẽ Ái Tử nằm trên đường thiên lý.

Ngày nay trên dãi đất trải dài dọc bờ bắc sông Thạch Hãn vẫn còn những kỳ tích do bàn tay của các nghệ nhân và công sức đóng góp lớn lao của dân chúng vì lòng ngưỡng mộ đạo lý và nghĩa khí của tiền nhân.

Thuở mới vào lập nên xứ Đằng Trong, các chúa nguyễn đã cho dựng chùa Tịnh Quang ở đất Ái Tử và sau đó chẳng bao lâu được phong là SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ mà ngày nay biển gạch vẫn còn nét vàng son. Dân gian quanh vùng và cả tỉnh quen gọi là chùa SẮC TỨ ( có nghĩa là chùa được vua ban sắc dụ làm Quốc Tự).

Cũng liền theo dãi đất toạ nên cơ cuộc vuông tròn buổi đầu này, chúa Nguyễn cho dựng Văn miếu ở làng An Đôn, năm Gia Long thứ 13,1814 dời đến xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng, năm Minh Mạng thứ 21,1840, lại dời về chốn cũ (8)

Lại có đền thờ thần TRẢO TRẢO LINH THU PHỔ TRẠCH TƯỚNG HỰU PHU NHÂN ( trảo trảo là tiếng nước xao dòng sông). Cứ theo sự tích thì buổi đầu Đoan quận công đến trấn giữ Ái Tử, tướng nhà Mạc là Lập Bảo đem quân đánh đuổi. Năm 1572 Nguyễn Hòng đóng quân trên bờ sông Ái Tử, ban đêm ở dưới sông có tiếng nước động nghe “TRẢO TRẢO”. Đêm ấy Đoan quốc công mộng thấy một người đàn bà đẹp xin định “mỹ kế”. Khi thức giấc, nhớ lời thần bảo lấy “mỹ kế” thì phải chăng khiến dùng mỹ nhân kế để đánh lại. Tức thì có lệnh khiến nàng hầu là Ngô thị qua dụ Lập Bảo mời sang bàn luận giảng hoà. Lập Bảo vốn hiếu sắc thấy nàng có sắc đẹp liền mê say nhận lời nên bị phục binh dàn sẵn giết chết (9)

Hơn 200 năm sau sông nước Ái Tử vọng nghe tiếng dậy sấm: Tháng 5 năm Bính Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng 47 (1786), Nguyễn Huệ đánh chếm Phú Xuân, các tướng sĩ đóng ở các đồn Cát Doanh (Ái Tử) và Động Hải (Đồng Hới) điều khiếp sợ và tan rã hàng ngũ.

Đến năm Thiệu Trị thứ 2,1842 vua ngự giá Bắc thành đã đi qua sông Ái Tử có đề thơ, sau này được chạm vào bia đa dựng ở phía tả bờ sông. Tháp tùng đoàn hộ giá, vua Thiệu Trị có cử hai con trai (con thứ 10 và 12 của vua Minh Mạng) là hai nhà thơ lớn Tùng Thiện Vương, Tương An quận vương (quê ngoại huyện Gio Linh, con bà Hồ An Tân) đều đươc sung chức Ngự tiền hộ giá (10)

Đối với lịch sử đạo Công giáo thì Dinh Cát là hạt Dinh Cát Cựu dinh Ái Tử tức tỉnh Quảng Trị sau này, các Linh mục giòng Tên đã đến truyền giáo khoảng đầu thế kỷ 17. Trụ sở hạt Dinh Cát ở gần dinh Ái Tử và Trà Bát. Tháng 12 năm 1689, linh mục Cô sơn cô Lân được chính thức cử làm cha sở hạt này. Trước đó 5 năm, ngày 7-2-1694, Linh mục Lân đã trình với Thánh bộ truyền giáo rằng: “Họ Nhu Lý, xứ Dinh Cát có 50 người Công giáo” (11)

Chỉ riêng Họ Nhu Lý (gần Cửa Việt có 50 dân giáo, không rõ toàn hạt Dinh Cát có bao nhiêu tín đồ Công giáo. Gần Dinh Cát có trụ sở của giáo xứ Đồng Giám. Có thể xem Dinh Cát là trung tâm Công giáo đầu tiên trên đất Quảng Trị.

Cạnh xã Ái Tử về phía thị xã Quảng Trị là làng Nhan Biều có một bãi cát trải dài và rộng lan ra tận bờ sông. Dưới thời nhà Nguyễn, Nhan Biểu là bãi chém, chỗ hành hình tội nhân. Trông qua bờ Nam sông Thạch Hãn là bến Hộ, bến Vườn Hoa thuộc xã Thạch Hãn, đò Nhan Biều sớm hôm đưa khách sang sông đi chợ thị xã Quảng Trị.

Bên cạnh làng Ái Tử là lang Phước Toàn, sau đổi thành Phước Mỹ. Có thuyết nói rằng vì sau giấc mộng được giang thần sông Ái Tử mách kế diệt được tướng nhà Mạc là Lập Bảo nên Phước Toàn được đổi thành Phước Mỹ. Ngày nay vẫn còn duy trì bến đò An Mô đưa dân miệt đồng bằng phủ Triệu sang sông Thạch Hãn để thâu ngăn đường đi Ái Tử, Đông Hà.

Năm Thành Thái thứ 18, 1906 vẫn còn bến đò Ái Tử: tả ngạn là làng Ái Tử, Hữu ngạn là làng Phước Mỹ. Đường xe lửa chạy qua địa phận làng song song với đường bộ quốc lộ I, cầu sắt Ái Tử có trước năm 1906 dài 41 thước 20 thông qua làng Hà Xá tiến ra ga Đông Hà.

Đông Hà - Quảng Trị, hai thị xã, hai tỉnh lỵ, mới và cũ cách nhau chưa đầy 12 cây số nằm trên quốc lộ I. Ái Tử chưa nằm hẳn ở vị trí trung tâm của hai tỉnh lỵ cũ và mới, mà lại nằm chếch hướng và thị xã Quảng Trị, từ trên máy bay trông xuống, Ái Tử và thị xã Quảng Trị chỉ cách nhau một giòng sông, vốn là thủ phủ đầu tiên của xứ Đằng Trong.

Quốc lộ I ngày nay có tiền thân là Thiên lý lộ đời Trần đã vạch đôi làng Ái Tử thành hai phần mất cân đối, phía Đông Nam là cả một bãi cát trải dài ra đến tận bờ sông Thạch Hãn, phía Tây Bắc là khu dân cư ăn thông với triền đồi thoai thoải giáp Nại Cửu phường.

Ái Tử, Đông Hà xưa kia đều là làng xã cả, kéo dài từ phía bên kia bờ Bắc sông Thạch hãn cho đến địa giới giáp ranh với các huyện Cam Lộ, Gio linh thuộc tổng An Đôn nổi tiếng là xứ có núi rú: Rú An Đôn, cồn Bái Thượng. Sau này qua bao biến đổi, xã Đông Hà được tách ra nhập vào huyện Cam Lộ và từ đó cơ ngơi đi lên dần dần. Và trong khoảng 50 năm trở lại, Đông Hà trở thành một đơn vị hành chính nhảy vọt khá nhanh. Từ làng xã lên thị trấn, lên quận, lên thị xã, lên tỉnh lỵ. Đất Đông Hà có cánh đi lên như diều gặp gió nhưng tiếc thay là còn thiếu sân bay theo đúng nghĩa của nó.

Dưới tiêu đề TUẦN LỄ DÀI NHẤT CỦA SƯ ĐOÀN TRỪNG GIỚI, Lê Hiếu Ánh trong báo Tuổi trẻ chủ nhật số 1690 ra ngày 29-4-1990 viêt:

“Năm 1971...Theo lệnh Bộ Quốc phòng, quân đoàn i gấp rút hình thành Sư đoàn 3 Bộ binh với thành phần chắp vá. Riêng binh lính đại đa số là lao công đào binh và quân phạm hoặc thuộc thành phần vô kỷ luật. Tất cả được đưa về Ái Tử để sớm thành sư đoàn cuối cùng của quân đội Sài Gòn”.

Cũng trong năm đó, một số binh sĩ trung đoàn 56 (đầu hàng ở cụm căn cứ Tân Lâm) do Trung tá Phạm Văn Đính làm Trung đoàn trưởng đã đào hầm phía sau chùa Ái Tử, gặp hầm chôn xác một con voi. Theo tìm hiểu sơ bộ cho biết xác con voi này được chôn thừ thời chiến tranh Trịnh Nguyễn (1627-1672). Và về sau trung đoàn này lấy quân hiệu VOI TRẮNG.

Từ tháng 3-1972 Ái Tử - Quảng Trị đã sớm được giải phóng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười phụ trách xây dựng đã đến thăm nhân dân Quảng Trị.

Thời đó và tiếp tụ sau này người ta đã “làm thịt” sân bay, căn cứ Ái Tử, phân tán đi bốn phương tám nẻo; chủ thể làm thịt là dân có, bộ đội có, cơ quan nhà nước cũng tham dự chia phần. Nguyễn Quận, người Hải Lăng dưới triều Lê Thánh Tôn vào đánh Chiêm Thành chỉ lấy một cây cờ lớn. Mấy ai nghĩ tới gương sáng của cố nhân lúc chia phần này.

Đau lòng vì thấy những phi đạo có giá trị bị phá, đồng chí Đỗ Mười đã phê phán, đại thể nói rằng: có lẽ các đồng chí và nhân dân cứ đinh đinh rằng không bao giờ ta sử dụng sân bay trên đất Quảng Trị này.

Vâng, ngày nay Quảng Trị đang ở thời kỳ xây dựng tập trung cao điểm không biết các cấp lãnh đạo có hướng đầu tư lâu dài thiết thực để cho Quảng Trị mang tính cách chiến lược, lịch sử, kinh tế và văn hoá chưa. Lẽ nào bước vào năm 1990 (đã hết quý II) nói chuyện năm du lịch mà không đặt vấn đề cho rõ Là QUẢNG TRỊ CẦN CÓ PHI TRƯỜNG (dù là nhỏ đi nữa) một khi công nghiệp du lịch của tỉnh Quảng Trị có thể tạo ra tiền của để xây dựng tỉnh to đẹp hơn, đàng hoàng hơn.

Lẽ nào cứ để vùng đất này thanh bãi cát để “cuốn theo chiều gió.”.

L.Q.T

_________________

(1) Trần Trọng Kim, Việt Nam sủ lược, Sài Gòn, Tân Việt (in lần 6) 1958, trang 288.

(2) Bùi Dương Lịch, Lê quí dật sử, Phạm Văn Thắm dịch, nxb KHXH – Hà Nội 1978, trang 28.

(3), (4) Lê Quí Đôn, phủ biên tạp lục nxb KHXH, Hà Nội, 1977, trang 313.

(5) Lê Quí Đôn,sđd, trang 109.

(6) Lê Quí Đôn,sđd, trang 145

(7) Mục lục châu bản triều Nguyễn, tập thứ I, Triều Gia Long, UB phiên dịch sủ liệu viện Đại học Huế, 1960, trang3. Cộng đồng triền là các đạo mệnh lệnh hành chính truyền đi.

(8) Đại Nam nhất thông chí, tỉnh Quảng Trị, tập số 9, Nguyễn Tạo dịnh, Sài Gòn, 1961, trang 49.

(9) Xem Trần Trọng Kim, Sđd tr.288 và Đại Nam nhất thống chí, Sđd tr.49,50. Về sau Nguyễn Hoàng được tôn trọng là Thái Tổ nên mới gọi là vua.

(10) Hoàng Trọng Thược, Hương Bình thi phẩm, Đà Nẵng, 1962 tr.9 và . 41

(11) Nguyễn Văn Ngọc, Lịch sử giáo xứ Như Lý, Huế, 1970, tr.6.


(Tạp chí Cửa Việt, Số 4, 1990.)


READ MORE - ÁI TỬ QUA CÂC THỜI KỲ LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

CUỐI CHIỀU | GÓC KHUẤT - Chùm thơ Đàm Ngọc Năm


Nhà thơ Đàm Ngọc Năm



 CUỐI  CHIỀU 


Em đưa vạt nắng sang sông 

Cuối chiều nghiêng bóng giữa dòng nước trôi

Một bên lở, một bên bồi 

Bên bồi em chọn, còn tôi đứng nhìn.

Mơ gì nơi ấy hả em?

Mình qua cái tuổi hồn nhiên rồi mà.

Nghĩ bên nhau đến tuổi già

Ngờ đâu bên đó lại là trong em

Một thời ta sống bình yên 

Vui mà, sao lại bỏ quên cuộc tình?

Lên đò rồi, nhớ quên anh 

Đừng quay lại nhé, an lành nhé em!



GÓC  KHUẤT 


Chưa hề ngỏ ý cùng em 

Một tiếng “yêu” cũng bỏ quên ở nhà

Chưa hề “ghẹo nguyệt, trêu hoa”

Sao em vội nghĩ anh là của em?

Giữa dòng đời, lạ và quen 

Bình thường là thế, buồn phiền làm chi.

Không biết em đang nghĩ gì

Với anh đâu có “đường đi, lối về”

Hai ta chưa một câu thề

Làm sao em đã nghĩ suy cuộc tình?

Xin em đừng vội trách anh

Với anh chỉ có gia đình trong tim.

Thôi đừng nhầm nữa nhé em 

Vô tư đi, mình chỉ quen thôi mà!


ĐÀM NGỌC NĂM

Nghệ An

READ MORE - CUỐI CHIỀU | GÓC KHUẤT - Chùm thơ Đàm Ngọc Năm

Monday, October 23, 2023

ĐỌC “CÁNH CÒ QUA SÔNG” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch


CÁNH CÒ QUA SÔNG
 
Chiều nay mênh mông mênh mông
Cánh Cò trắng bay qua sông qua sông
Nước lũ tràn về ngập đồng
Cánh Cò bay trong bão giông một mình…
 
Đôi cánh chao nghiêng tội tình
Chở lao đao nỗi buồn in bóng nước
Thân Cò lặn lội sau trước
Thương sáng chiều trăm vết xước đường bay…
 
À ơi… đôi cánh chẳng may
À ơi… chập chùng đường dài quạnh quẽ
Cánh Cò về - con chờ mẹ
Đường chông gai mẹ mạnh mẽ vượt qua…
 
 
Chiều nay mênh mông mênh mông
Cánh Cò trắng bay qua sông qua sông…

                                          Trần Mai Ngân


ĐỌC “CÁNH CÒ QUA SÔNG” THƠ TRẦN MAI NGÂN
                                                         Châu Thạch
 
Trời sắp vào đông, mưa gió đã 10 ngày, lũ lụt tràn về từ Nghệ An cho đến BÌnh Thuận. Nằm đọc bài thơ “Cánh Cò Qua Sông” của Trần Mai Ngân, tự nhiên mắt tôi rớm lệ khi hình dung cánh cò bay qua sông trong mênh mông bão giông. Tất nhiên thương cánh cò cũng có, nhưng tôi liên nghĩ đến những người bạn gái vong niên của mình, những cô em gái thật tài hoa và đẹp, hát giỏi thơ hay nhưng cuộc đời không khác gì cánh cò bay qua bão giông trong thơ Trần Mai Ngân.
 
Đọc thơ của Trần Mai Ngân rồi được nghe lời thơ phổ nhạc qua nhạc sĩ Nguyễn Hoàng Nam, tiếng hát Phước Tính, tôi như thấy cánh cò bay thật trước mắt tôi trên cánh đồng nước ngập bao la và qua dòng sông chảy xiết mà thuở xưa tôi đã chứng kiến trên quê hương, nơi vùng đất địa đầu giới tuyến có máu chảy xương rơi từng ngày, làm cho những nàng tiên xứ ấy thành cánh cò trắng qua sông nhiều vô kể.
 
Bài thơ “Cánh Cò Qua Sông” của Trần Mai Ngân như một tờ giấy trắng tinh, trên đó em bé vẽ điểm xuyết cánh cò, dòng sông bằng những nét vẽ đơn sơ có màu tươi thắm. Bài thơ giống như một bức tranh thiếu nhi đoạt giải thưởng cao vì rất ngây thơ, nó mô tả được cái bao la mênh mông của trời đất mưa gió, cái chập chùng lao đao của cánh cò, hàm chứa nỗi quạnh hiu một mình của mẹ, hàm chứa sự mạnh mẽ của mẹ trên con đường đầy chông gai, đầy nhọc nhằn bởi trăm vết xước của đời.
 
Khổ thơ đầu tiên như mở đầu một cuốn phim, chiếu lên màn hình cận cảnh lũ lụt, nổi bậc một cánh cò chao đảo trong bão giông:

Chiều nay mênh mông mênh mông
Cánh Cò trắng bay qua sông qua sông
Nước lũ tràn về ngập đồng
Cánh Cò bay trong bão giông một mình…

Chiều mênh mông/Cánh cò trắng bay qua sông/Nước lũ ngập đồng/Cò bay trong bão giông: Ý thơ quá rõ ràng, không có gì để bàn, nhưng lời thơ quả thật quá thanh tao. Nhìn bức tranh, hình như chỉ có con cò bay, còn tất cả là một màu trắng. Thế nhưng trong màu trắng đó, ta hình dung được cánh đồng mênh mông, nước lũ ngập đồng và dòng sông đang chảy. Nhà thơ không cần tả tiếp, ta cũng thấy được hoàn toàn cánh cò chao đảo, khó khăn như thế nào để bay qua sông. Bốn câu thơ xuất hiện như từ cây cọ trên bàn tay điêu luyện của người họa sĩ tài hoa, làm cho cảnh mênh mông, nước ngập đồng, cánh cò trắng qua sông hiện như thật, thẩm thấu vào lòng ta cảm nhận được bức tranh vô cùng sinh động.
 
Bước qua khổ thơ thữ hai, Trần Mai Ngân không cần tả cảnh nữa, vì cảnh như thế đủ rồi. Bây giờ nhà thơ nói về số phận của con cò:

Đôi cánh chao nghiêng tội tình
Chở lao đao nỗi buồn in bóng nước
Thân Cò lặn lội sau trước
Thương sáng chiều trăm vết xước đường bay… 

Cảnh trong cuốn phim cò trắng qua sông vẫn không thay đổi, nhưng sự chuyển đổi ý thơ và tứ thơ thật tài tình để ta đọc thấy được nỗi đời nặng trên thân cò lặn lội qua sóng nước mênh mông. Câu thơ “Chở lao đao nỗi buôn in sóng nước” vừa vẽ một bức tranh tuyệt đẹp vừa tả hết sự lao đao của cánh cò trong gió. Câu thơ “Thương sáng chiều trăm vết xước đường bay…” tuyệt vời trong ẩn dụ của thơ, đẹp vô cùng hình ảnh của sự khó nhọc được mô tả rất điệu luyện, ý thơ sẽ tự hiển hiện hình ảnh của cò  trong tâm thức sâu nhiệm của mỗi người.
 
Qua khổ thơ thứ ba, Trần Mai Ngân viết về cảm xúc trong nội tâm. Khổ thơ như hoạt cảnh cò đang bay, nó bay trong tiếng vọng thiết tha phát ra từ hậu trường.  

À ơi… đôi cánh chẳng may
À ơi… chập chùng đường dài quạnh quẽ
Cánh Cò về - con chờ mẹ
Đường chông gai mẹ mạnh mẽ vượt qua… 

Nhà thơ đưa vào thơ lời ru “À ơi…” thật thú vị. Đó là tiếng ru của mẹ, đó là tiếng vọng của quê hương. Chỉ cần đọc hai tiếng à ơi nầy, tôi nhớ đến bài thơ “Nhớ Mẹ Thương Em” của ZuLu DC, tôi nhớ đến “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của Trần Trung Đạo, và nhớ đến mẹ tôi ngồi suốt đêm bên giường bệnh cúa tôi. Nhớ như thế làm nước mắt rất dễ rơi và tự nhiên bài thơ trở thành người bạn ru ta trong khúc thụy du quay về quá khứ.
 
Thế rồi hai câu thơ cuối cùng như cho ta xem lại bức tranh, như cho nhìn lại đoạn phim rất hoành tráng trong cảnh mênh mông mênh mông, có cánh cò trắng bay qua sông. Bây giờ cảnh không buồn nữa vì con cò đã qua được sông, lòng ta cảm phục con cò, tâm hồn ta bừng lên tình yêu đời thắm thiết và sức sống mãnh liệt bởi tình yêu đó. Mẹ là cò, không chỉ lặn lội bờ sông, mà nay bay qua sóng gió không khóc nỉ non như lời ca dao thuở trước. Mẹ ơi, con nhớ mẹ lắm nhưng mẹ tôi đã di xa lâu rồi!:

Chiều nay mênh mông mênh mông
Cánh Cò trắng bay qua sông qua sông... 

                                                         Châu Thạch                     

READ MORE - ĐỌC “CÁNH CÒ QUA SÔNG” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch