Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, July 12, 2023

NHẬT KÝ CỦA CHA - Truyện ngắn của Priyadarshini Das (Ấn Độ) - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

 


NHẬT KÝ CỦA CHA

Truyện ngắn của Priyadarshini Das (Ấn Độ)

 

Bỏ lại ước mơ trở thành luật sư, Nancy, đứa con duy nhất của cha mẹ cô, kết hôn ở tuổi 21. Cô nuôi hy vọng về một cuộc sống hạnh phúc với chồng mình, Peter, nhưng thật không may, mối quan hệ của cô chỉ là một cơn ác mộng. .

 

Sau khi đi làm về vào mỗi buổi tối, Peter thường uống rất nhiều và gây náo loạn. Một hôm, khi Nancy đang dọn bữa tối, thì Peter, đã uống hết nửa chai rượu whisky, tức giận đến mức ném đĩa lên không trung và đẩy cô. "Mầy là thứ vô giá trị! Thậm chí mầy không thể nấu một bữa ăn ngon!” Anh ta hét lên trong cơn say. Bị chấn động và suy sụp vì cái cảnh đó, Nancy cảm thấy rằng cô không thể chịu đựng được sự tra tấn này nữa. Tối hôm đó, khi Peter bất tỉnh sau khi uống rượu, Nancy cố dồn hết can đảm để trốn thoát.

 

Cô quay trở lại ngôi nhà của gia đình mình, nơi anh trai David và vợ của anh ấy là Angela sống. Mặc dù Nancy đã thông báo với họ về sự trở lại của cô, nhưng họ có vẻ không vui khi gặp cô. Cô xách túi đi về căn phòng mình đã ở trước khi lấy chồng. Trước sự ngạc nhiên của cô, mọi thứ đều có vẻ xa lạ  - chiếc tủ đựng đồ chơi và sách của cô đã bị dọn đi, và thậm chí cả chiếc giường của cô cũng biến mất. Nancy bật khóc và lao vào phòng của cha cô, người đã qua đời vài năm trước. Cô mở tủ của ông và thấy tất cả đồ đạc của cô được sắp xếp gọn gàng ở ngăn dưới cùng.

 

 

Cô tình cờ thấy một cuốn nhật ký và lật qua những trang đầy chữ viết tay của cha cô. Cô phát hiện ra một lá thư ông viết một ngày trước khi ông qua đời.

 

“Nancy yêu quý,

 

Ba hy vọng bạn đang làm tốt. Lần cuối cùng ba gặp con, ba cảm thấy con không hạnh phúc. Mặc dù con đã cố gắng che giấu nỗi buồn của mình bằng nụ cười, nhưng ba nhận thấy nỗi đau của con. Lúc ấy ba không nói gì nhưng an tâm rằng con gái nhỏ của ba đã lớn và rất cứng cỏi. Nancy, ba muốn con biết rằng ba rất tự hào về con. Nhưng hãy nhớ rằng con không cần phải hy sinh hạnh phúc của mình để làm cho người khác hạnh phúc. Điều hối tiếc duy nhất của ba là con đã không theo đuổi ước mơ trở thành luật sư. Vẫn chưa quá muộn đâu, con ạ. Con vẫn còn có thể thực hiện được. Ba hoàn toàn tin vào con.

 

Ba hy vọng sớm được gặp con. Giữ sức khỏe và chăm sóc gia đình của con.

 

Ba của con”

 

Nancy bàng hoàng. Cô cảm thấy như thể cha cô đang ngồi cạnh cô và nói những lời đó. Những giọt nước mắt của cô biến thành quyết tâm khi cô nhìn vào bức ảnh của cha cô trên tường và nói: “Cảm ơn ba. Con sẽ không làm ba thất vọng."

 

Mười năm đã trôi qua kể từ đó. Ngày nay, Nancy là một luật sư thành công và có một văn phòng lớn, nơi hằng ngày cô giao dịch với một số thân chủ. Mỗi buổi sáng, trước khi bắt đầu làm việc, cô lấy cuốn nhật ký của cha mình ra và đọc bức thư đã thay đổi cuộc đời cô.

 

&&&

 

Nguồn:

Tên truyện: A father’s letter

Đăng trên: www.soulveda.com/ short-stories/family/

READ MORE - NHẬT KÝ CỦA CHA - Truyện ngắn của Priyadarshini Das (Ấn Độ) - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

Chùm ảnh HOA LỒNG ĐÈN - Chu Vương Miện

 





READ MORE - Chùm ảnh HOA LỒNG ĐÈN - Chu Vương Miện

LỜI TÌNH CA - Thơ Hồng Thúy - Nhạc Phạm Mạnh Cương - Giọng ca Hà Thanh

READ MORE - LỜI TÌNH CA - Thơ Hồng Thúy - Nhạc Phạm Mạnh Cương - Giọng ca Hà Thanh

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (6) - Trương Ngọc Bỉnh

 


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (6)


Trương Ngọc Bỉnh, 

Cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 - 1968 

(Phần 6, tiếp theo) 

Chân dung và ký ức về Thầy giáo, Cô giáo ngày ấy 

     Với một đội ngũ Giáo sư khoảng chừng 15 vị nhưng rất đa hệ và chuyên sâu. Có những Thầy giáo, Cô giáo dạy giỏi cả 3 - 4 môn học ngoài môn chính! Dẫn chứng như Thầy Cái Ngọc - giáo sư hướng dẫn lớp cuối cấp chúng tôi, đã bao trọn gói "5 lô": Toán, Vạn vật, Sử & Địa và Công dân giáo dục! Mỗi giờ lên lớp, Thầy, Cô giáo chỉ có - và duy nhất một quyển sách giáo khoa tùy theo từng khối, lớp. Có mượn "Đuốc lá dừa" của Cụ Đồ Chiểu cũng chẳng tìm ra nữa dòng giáo án!!! Tất cả kiến thức mà học sinh đón nhận đều ở trong "3": TRÍ - TÂM - TÌNH của Thầy, Cô trao gởi! Ví von như một bộ phim sắp chiếu mà người Thầy vừa là đạo diễn vừa là diễn viên trước lớp. Lương tâm, kiến thức và trách nhiệm của Thầy, Cô giáo đã chắt lọc, vượt lên ràng buộc hữu hạn của kiến thức giáo khoa, đem lại lợi ích cho cả hai phía: sự sáng tạo của người dạy và cảm hứng của người học. Người dạy không bị vướng bởi "Vòng Kim cô" mà sách giáo khoa là "pháp lệnh"!

Lại kể về Thầy Cái Ngọc - non nữa thế kỷ - tôi mới gặp lại Thầy vào lần Kỷ niệm 45 năm (1971 - 2016) rời Trường Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị của Khối NH 6471, tại Nhà Hàng Full House, đường Lê Hồng Phong, thị xã Quảng Trị.

- Thầy Cái Ngọc, vị giáo sư hướng dẫn lớp cuối cấp chúng tôi, có nước da ngăm đen "trặm trịa" hơn Thầy Dự! Thầy Ngọc - đặc biệt có vầng trán hói, trượt lui về phía sau để lại một mãng láng bóng với mấy sợi tóc lưa thưa! Tiếng Thầy giảng bài chậm rải, dễ hiểu; nhất là những lúc Thầy triển khai chứng minh quy tắc, công thức Hình và Đại ..., chợt dừng lại để khắc sâu kiến thức. Chúng tôi chú ý tập trung như được rót từng giọt mật ... Cho tới tận bây giờ, tôi vẫn còn nhớ mãi cái thế ngồi độc nhất vô nhị của Thầy: bắp đùi chân trái ngồi một góc bàn giáo viên, còn chân phải chống xuống thong thả còn dư so với chân bàn, lúc quan sát học sinh làm bài - chứ Thầy không ngồi hẳn vào ghế như vào đầu giờ học. Trong Trường, Thầy Ngọc và Thầy Dự đã có gia đình. Mỗi lần tan học, Thầy Ngọc ngồi lên chiếc "Pus" màu đỏ sậm, có cặp phuột nhún cao, chồm tới trước trông rất hiên ngang như con xích thố trước lúc xung trận! Nhà Thầy Ngọc ở Nhan Biều, bên kia Cầu Ga. Ươm tơ, mớm chữ cùng với các Thầy, Cô, trên miền đất gió Lào, bão lụt... khắc nghiệt gắn bó với hai ngôi trường Hải Lăng và Nguyễn Hoàng cho đến ngày hòa bình. Sau khi đã được "gạn đục khơi trong"... , được lưu dung, Thầy được chuyển vào Trường Đại học Khoa học, Tp Huế. Thầy đã có nhiều đề tài khoa học, đặc biệt là đề tài "Bảo quản động - thực vậ" bằng Phóc-môn (Formaldehyde - HCHO) để giảng dạy cho sinh viên ngành Y.

Lần mở trang học bạ và thành tích biểu lớp cuối cấp, từng lời nhận xét học lực 6 môn học Thầy đã dạy và lời phê tổng quát của Thầy (giáo sư hướng dẫn) mà lòng bồi hồi dâng tràn cảm xúc! Nét bút và chữ ký của Thầy qua hơn nữa thế kỷ vẫn còn nguyên màu mực ... nhưng Thầy đã đi xa thật rồi, chỉ còn đọng lại ký ức trong tôi ...

(Còn tiếp.)


READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (6) - Trương Ngọc Bỉnh

Monday, July 10, 2023

THƠ RABINDRANATH TAGORE - Ngọc Châu dịch

 


Thơ

Rabindranath Tagore

 

Rabindranath Tagore (1861-1941) là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhạc sĩ và hoạ sĩ Ấn Độ, giải Nobel Văn học năm 1913. Là con thứ mười bốn của một điền chủ - nhà cải cách tôn giáo giàu có. Ông đi học ở trường một thời gian ngắn; về sau học ở nhà với cha. 8 tuổi, R. Tagore nổi tiếng giỏi văn nhất vùng Bengal; 13 tuổi có thể sáng tác nhạc, hoạ, đọc sách cổ bằng tiếng Phạn và dịch kịch Shakespeare; 17 tuổi sang Anh du học; năm 1880, trở về ấn Độ, viết vở nhạc kịch đầu tiên. Năm 1910 ra đời tiểu thuyết sáng giá nhất của R. Tagore - Gora - ủng hộ tính nhẫn nại tôn giáo và chính trị. Năm 49 tuổi R. Tagore xuất bản Gitanjali (theo tiếng Bengal có nghĩa là Lời dâng). Thi phẩm này là lí do cho việc đề cử trao giải Nobel Văn học năm 1913, được cả thế giới công nhận là kì công thứ hai của văn học …

 

 

One day in spring

 

One day in spring, a woman came
In my lonely woods,
In the lovely form of the Beloved.
Came, to give to my songs, melodies,
To give to my dreams, sweetness.

 

Suddenly a wild wave
Broke over my heart's shores
And drowned all language.
To my lips no name came,
She stood beneath the tree, turned,
Glanced at my face, made sad with pain,
And with quick steps, came and sat by me.

 

 

Taking my hands in hers, she said:
'You do not know me, nor I you--
I wonder how this could be?'
I said:
'We two shall build, a bridge forever
Between two beings, each to the other unknown,
This eager wonder is at the heart of things.'


The cry that is in my heart is also the cry of her heart;
The thread with which she binds me binds her too.
Her have I sought everywhere,
Her have I worshipped within me,
Hidden in that worship she has sought me too.


Crossing the wide oceans, she came to steal my heart.
She forgot to return, having lost her own.
Her own charms play traitor to her,
She spreads her net, knowing not
Whether she will catch or be caught.


Một ngày xuân 

 

Ngày xuân, cô đơn vườn tôi

Nàng chợt đến với dáng người thương yêu

Cho tôi giai điệu khúc chiều

Ban giấc mơ với bao nhiêu ngọt ngào

 

Biển hoang bỗng cuộn sóng trào

Bờ tim tan nát, không sao thốt lời…


Đứng tựa cây, nàng quay người

buồn thương đau đớn nhìn tôi. Lại gần

thoắt đôi chân ngồi xuống nhanh,

cầm tay tôi nói “Em - Anh chưa tường

Tại sao mà mình bỗng dưng?!”

 

“Sẽ cùng xây chiếc cầu chung vĩnh hằng…”

Đáp lời, tôi nói với nàng

“…nối  hai người dẫu chưa từng gặp nhau

Mà khát khao đã ẩn sâu

Trong đôi tim vốn từ lâu lắm rồi…”

 

Tiếng gào đòi trong tim tôi

Cũng thét gào trong tim người ngồi  đây

Dây tình nàng thắt tim này

Thắt càng chặt con tim ngay chính nàng

 

Đã tìm nàng mọi nẻo đàng

Phụng thờ trong  điện cung vàng – lòng tôi

Với nàng cũng như vậy thôi

Muốn vượt biển trộm tim tôi mang về

 

Mất chính mình, quên miền quê

Cái đẹp quyến rũ bùa mê phản nàng

Tung lưới ra, không hay rằng

Chụp người hay chính lưới giăng chụp minh…

 

Come to my garden walk

 

Come to my garden walk, my love.

 Pass by the fervid flowers that

press themselves on your sight.

 Pass them by, stopping at some chance joy,

which like a sudden wonder of sunset illumines yet elude

For lover's gift is shy, it never tells its name,

it flits across the shade, spreading of joy along the dust.


Overtake it or miss it forever.
 But a gift that can be grasped is merely a frail flower,

or a lamp with flame that will flicker

 

Mời nàng đi dạo vườn anh

 

Mời nàng dạo vườn cùng anh

Ngang qua hoa cỏ nhiệt thành đón đưa

Đi xem hoặc dừng tình cờ

khi thấy tuyệt phẩm bất ngờ hiện ra

Bời hoàng hôn rọi nắng qua

rạng ngời nhưng muốn lẩn xa mắt người

 

Quà yêu e lệ nhất đời

Luôn ẩn dấu, chẳng một lời xưng tên

Lách gió bụi, bóng lá mềm

Tỏa cơn run rẩy con tim bất thần.

 

Mau chộp lấy, em mến thân

Không rồi sợ chẳng còn lần khác chăng

Dẫu chỉ cánh hoa mỏng manh

Hay tia lửa nhỏ đèn xanh bập bùng…



 

She is near to my heart

 

She is near to my heart as the meadow -flower to the earth;

she is sweet to me as sleep is to tired limbs.

 

My love for her is my life flowing in its fullness,

like a river in autumn flood, running with
serene abandonment.

My songs are one with my love, like the murmur of a stream,

that sings with all its waves and current.

 

Nàng ở gần tim tôi

 

Nàng ở sát ngay tim tôi

Như bông hoa dại chọn nơi đầm lầy

Cho tôi ngọt ngào tràn đầy

Như  kẻ mệt được ngủ say mơ màng

 

Đời tôi trọn vẹn trao nàng

Là dòng sông lũ chảy tràn mùa thu

Theo nàng, yên ổn, vô tư

Bài ca tôi - khúc hát ru chung tình

Tiếng rì rào con suối xanh

Sóng cùng dòng chảy hòa thanh tặng nàng.

 

 Ngọc Châu dịch

READ MORE - THƠ RABINDRANATH TAGORE - Ngọc Châu dịch

TRẢ NỢ CHO NGƯỞI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Trả nợ cho người


Trút hết tình, trong cơn mê

loang tan. Mộng mị, vụng về đôi tay

lướng vướng. Chiều, vệt nắng lay

dấu chân hoang, tưởng. Bóng ngày chìm sâu,

trong bến thời gian. Cũ nhàu,

quẩn quanh ký ức ngọt ngào. Trôi xa,

tìm đâu năm tháng mượt mà.

Chỉ còn đọng lại dư ba sóng tình.

Chìm trôi mộng cũ linh đinh

trống vắng. Tự huyễn hoặc mình, lẻ loi

tĩnh lặng. Không gian u hoài

lay lất biện minh. Loay hoay bến đời

tháng ngày trĩu nặng. Hoài hơi,

một mình nuối tiếc, lạc thời. Buông trôi …



Đường về Hoà Thắng hôm nay


Nắng đã lên rồi trên chiến khu xưa

Nghiêng dạt đất đồi, rừng Khu Lê xanh sắc lá

Bao thế hệ giữ gìn, để cho một tầm nhìn bứt phá

Thay đổi những cuộc người, nám nắng vàng mưa

Con đường xưa, đi đánh giặc chống càn…

để lại Dốc Hầm trên đường Xe Lương, của những người mở đất

tuổi trẻ Bắc Bình tiếp nối phát tuyến lu lèn, người người tất bật

cát chảy nhoè mờ những vết chân trâu, mùa hanh khô nắng xối chang chang…


Cho bây giờ em đi, đường rộng mở phẳng lì

Gió lộng đất trời, tràm lá kim hực vàng hoa tươi mới

Trên cát giồng cằn khô, bao đời mong đợi

Bơm nước tưới thanh long mà lòng còn bán tín bán nghi…

Thương những người đi cặm cụi vá rừng, dặm lại màu xanh

Rừng khép tán bên lối mòn quanh quất

Lấp loá nắng, bầy ong bay lấy mật

Rạng vỡ tiếng cười em, trong nắng mới yên lành


Xa lắm rồi những bữa cháo, bữa khoai

Bao nhiêu chuyện đã trở thành dĩ vãng

Cùng đất nước, quê hương Khu Lê chuyển mình tươi sáng

Bốn mươi năm, biết bao nỗi quan hoài…

Cánh điện gió vẽ lên trời xanh chiếc chong chóng tuổi thơ

Khu du lịch trẻ trung, hồn nhiên tiếng em cười toả nắng

Biển biếc xanh xa, chiều trong phẳng lặng

Nhưng vẫn cảnh giác lòng ai, đang bỏ bến xa bờ…

                                                               I/23



Nhẹ nhàng thôi, một vạt nắng mong manh


Trước khoảnh sân nhà em, rơi lấp lánh

Khép chặt tuổi năm mươi trong chiều nghiêng sắc lạnh


Tiếng chuông gió khua lanh canh, như trêu của để dành

Em ngoảnh mặt, nhoẻn cười dường như vội lắm

Tóc xoã lưng chừng… còn rờ rỡ óng xanh



Đường về mỗi chiều, chân lại vướng cỏ may


Sao không vá lành một đoạn tình dang dỡ?

Em tỉ mẩn gỡ từng nắm cỏ


Đã có sợi nào rơi lọt kẽ tay

Hoang mang bước, chiều nghiêng nắng cạn 

Em đắn đo, nhẩm đếm dấu ngày… 



Mình đã gìa thật rồi 


Khi không thể làm được những điều mơ ước nữa

Chỉ lấy ước mơ này thực hiện ước mơ khác mà thôi


Chợt nhớ, chợt quên những lời đoan hứa

Khoả lấp nhịp đời bằng tiếng vọng ngày xưa…

Giận dỗi quanh co, sau một cuộc đôi hồi


Lê Thanh Hùng

     Bắc Bình, Bình Thuận

thanhhungmtbb@yahoo.com.vn


READ MORE - TRẢ NỢ CHO NGƯỞI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Friday, July 7, 2023

MẤY Ý KIẾN VỀ TÁC GIẢ BÀI THƠ “KHÓC BẰNG PHI” – Hoàng Đằng


Vua Tự Đức (1847- 1883)


KHÓC BẰNG PHI
 
Ới Thị Bằng ơi đã mất rồi!
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ôi!
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói,
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
 
Tác giả bài thơ “KHÓC BẰNG PHI”, trong sách giáo khoa văn học, là vua Tự Đức (sinh 1829 – mất 1883; lên ngôi năm 1847).
 
Tuy vậy, nhiều người vẫn không tin bài thơ ấy là của vua Tự Đức vì lời lẽ mùi mẫn, ướt át không phù hợp với văn phong của một vị vua.
Đặc biệt trong bài “Tác giả bài thơ ‘Khóc Bằng phi’ không phải là vua Tự Đức” đăng trên tạp chí Sông Hương ngày 03/12/2008, nhà sử học Phan Thuận An, ngoài dẫn ý kiến của nhà thơ – học giả Phan Văn Dật (1907 – 1987), học giả Bửu Kế (1914 – 1989) không tin bài “Khóc Bằng Phi” là của vua Tự Đức, còn tìm tòi những cứ liệu rất hàn lâm để chứng minh cho quan điểm của mình:
 
Cứ liệu 1
“ …  Đọc lại sử sách triều Nguyễn, chúng ta thấy suốt thời Tự Đức, trong số các bà "phi tần trở xuống", chỉ có 3 bà được phong lên hàng phi. Đó là bà Thiện phi, bà Học phi và bà Cung phi. Tất nhiên, đứng trên 3 bà phi ấy là bà Hoàng Quý phi ở địa vị đặc biệt. Xin tóm lược tiểu sử của cả 4 bà để thử tìm xem trong đó có bóng dáng của bà "Bằng phi" nào đó hay không.
1. Bà Hoàng Quý phi: Bà tên thật là Vũ Thị Duyên (còn có tên huý là Hài), sinh năm 1828, con gái của đại thần Vũ Xuân Cẩn. Bà được tuyển vào cung làm vợ vua Tự Đức từ năm 1843 khi nhà vua chưa lên ngôi. Sau khi vua đăng quang, năm 1848, bà được phong làm Cung tần, rồi lần lượt được thăng lên Cần phi (1850), Thuần phi (1860), Trung phi (1861). Đến năm 1870, bà mới được tấn phong làm Hoàng Quý phi. Bà là mẹ nuôi của "Hoàng trưởng dưỡng tử" Dục Đức (sau đó làm vua chỉ được 3 ngày thì bị bức tử). Khi chết vào năm 1902, bà được triều đình Thành Thái tặng thụỵ hiệu là Lệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tĩnh Thọ Anh Hoàng hậu. Miếu hiệu của bà là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu. Như vậy, bà mất sau vua Tự Đức đến 19 năm (1883-1902). Việc than khóc thương tiếc nếu có thì chỉ có việc bà khóc vua Tự Đức khi nhà vua thăng hà, chứ không có chuyện nhà vua khóc bà này.
 
2. Bà Thiện phi: Bà phi này tên thật là Nguyễn Thị Cẩm, thứ nữ của Hải An Kinh lược Đại thần kiêm Định An Tổng đốc Nguyễn Đình Tân (1798-1873). Ông người huyện Quảng Điền, đậu Hương tiến (Cử nhân), làm quan từ thời Minh Mạng. Đến thời Tự Đức, dù ông là một đại thần có công, nhưng vì "con ông là Đình Cán cùng công tử Hồng Tập mưu làm trái phép, Đình Tân tri tình mà dung túng ẩn nặc, bị nghĩ tội "trượng đồ". Sau được vua gia ân cho khai phục Hồng lô Tự khanh rồi mất, truy tặng Lễ bộ Thượng thư". Từ Cung tần, bà Nguyễn Thị Cẩm được phong làm Chiêu phi vào năm 1860, rồi sau đó được tấn phong làm Thiện phi.
 
3. Bà Học phi: Bà tên thật là Nguyễn Thị Hương, người gốc tỉnh Vĩnh Long. Năm 1870, theo lệnh vua Tự Đức, bà nhận công tử Nguyễn Phúc Ưng Hỗ (con của Kiên Quốc Công Nguyễn Phúc Hồng Cai: 1845-1876) bấy giờ mới 2 tuổi làm con nuôi (cho nhà vua). Về sau, vị Hoàng dưỡng tử này lên ngôi với niên hiệu Kiến Phúc (1884).
 
4. Bà Cung phi: Bà mang họ Lê, thường được gọi là Lê Thị Cung phi. Từ Thận tần, bà được tấn phong làm Cung phi vào tháng giêng năm Tự Đức thứ 13, tức là tháng 1-1860”.
  
Cứ liệu 2
“Một loại cứ liệu đáng quan tâm nữa là những bài vị thờ các bà phi tần ở lăng Tự Đức. Nhà vua đã cho xây dựng trong khu lăng tẩm của mình hàng chục tòa nhà với những chức năng khác nhau, trong đó có Chí Khiêm Đường dùng "để thờ phụng các phi tần". Riêng bà Hoàng Quý phi (Lệ Thiên Anh Hoàng hậu) thì được thờ chung với vua Tự Đức tại Hòa Khiêm Điện. Còn tất cả các bà từ hàng phi tần trở xuống đều được thờ tại Chí Khiêm Đường. Hiện nay, tòa nhà này vẫn còn hầu như nguyên vẹn, trong đó tồn tại hàng chục bài vị ghi rõ danh hiệu của các bà. Trong khi ở đó hiện có bài vị thờ bà Học phi và các bà khác thì chúng tôi không hề thấy bài vị nào ghi danh hiệu "Bằng phi" cả.”
 
Với cách dẫn cứ liệu rõ ràng và lập luận bài bản của nhà sử học (Huế học) Phan Thuận An, tôi đã nghĩ bài thơ “KHÓC BẰNG PHI” không phải của vua Tự Đức.
 
Nhưng …
 
Vừa rồi, tình cờ gặp trên net sách “THUYỀN AI ĐỢI BẾN VĂN LÂU” của nhà sử học Nguyễn Lý Tưởng (sách xuất bản lần đầu 2001, tái bản tháng 5/2023 dưới dạng pdf), tôi đọc và bắt gặp thông tin BẰNG PHI tên Nguyễn thị Cẩm, con gái tổng đốc Nguyễn Đình Tân nuôi cháu gọi vua Tự Đức bằng bác ruột là Ưng Đường, về sau lên ngôi vua lấy niên hiệu là Đồng Khánh.
 
Tôi có nhờ cô bạn hỏi Nguyễn Lý Tưởng thông tin Nguyễn thị Cẩm là Bằng Phi lấy từ nguồn nào; trong e-mail trả lời, nhà sử học Nguyễn Lý Tưởng cho biết:
 
“Bằng Phi tên thật là Nguyễn Thị Cẩm, con Tổng Đốc Nguyễn Đình Tân, là bà phi thứ hai của vua Tự Đức. Bà là mẹ nuôi của hoàng tử Ưng Kỵ (hay Ưng Đường) sau nầy là vua Đồng Khánh. (xin đọc trang 254 sách Thuyền Ai Đợi Bến Văn Lâu của NLT (bài Từ Ngôi Mộ Lưỡng Hổ Chầu đến Chiến khu Tân Sở )... phần nói về vụ Tứ Nguyệt Tam Vương... Đây là tài liệu chính sử (trích trong Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên - bản Hán văn, quyển 32)
 
Vua Tự Đức có 03 bà phi (1) Trang Ý là chính phi (mẹ nuôi của Dục Đức tức Hoàng tử Ưng Chân) (2) Bằng Phi, tên là Nguyễn Thị Cẩm con gái của Tổng Đốc Nguyễn Đình Tân là mẹ nuôi của Ưng Kỵ (Hay Ưng Đường) sau nầy là vua Đồng Khánh (3) Học Phi (tên là Nguyễn Thị Hương) là mẹ nuôi của Dưỡng Thiện (sau nầy là vua Kiến Phước)...
 
Chú ý: Cách viết của Nguyễn Lý-Tưởng ở trong phần nầy là căn cứ vào chính sử của triều đình do Quốc Sử Quán biên soạn, không phải là thu thập tin tức ở ngoài dân gian …”
 
 
Phan Thuận An và Nguyễn Lý Tưởng đều là đàn anh của tôi ở Viện Hán Học Huế ngày xưa.
 
Hai vị học khóa 1 (1959 – 1964), Phan Thuận An học đủ 5 năm, tốt nghiệp Viện Hán Học, và có bằng Cao Học Sử từ Đại Học  Văn Khoa Sài Gòn. Nguyễn Lý Tưởng học Viện Hán Học được 3 năm thì thi vào Đại Học Sư Phạm ban Sử Địa khóa 1962 – 1965.
 
Còn tôi học Hán Học khóa 2 (1960 – 1965).
 
Hai vị ra đời có cơ hội tiếp xúc với sách vở, có điều kiện để nghiên cứu những vấn đề sử học và cả hai đều cho ra nhiều bài báo, nhiều quyển sách về sử học giá trị.
 
Về bà Nguyễn thị Cẩm, vợ vua Tự Đức: Phan Thuận An bảo là Thiện Phi, Nguyễn Lý Tưởng bảo là Bằng Phi. Tôi không có sách vở để tra cứu tận ngọn, nguồn, nhưng tôi đoán – đoán là quyền cá nhân – ý kiến của cả 2 vị đều đúng: Có thể Thiện Phi là danh hiệu chính thức, còn Bằng Phi là danh hiệu thường dùng???
 
Tôi tìm trong Wikipedia xem bà Nguyễn thị Cẩm sinh và mất năm nào, nhưng mục này để khuyết. Giá như có thông tin về năm sinh, năm mất - bà mất trước hay mất sau vua Tự Đức, thì chúng ta có thêm chứng cớ để xác quyết bài thơ “Khóc Bằng Phi” là của vua Tự Đức hay không.
 
Tôi lại tìm xem trong đoàn xa giá theo vua Hàm Nghi rời kinh thành trong biến cố thất thủ kinh đô sáng ngày 05/7/1885 (23/5/Ất Dậu) xem có bà Thiện Phi hay Bằng Phi không. Qua những tài liệu tôi tiếp cận, trong đoàn chỉ có tam cung: bà Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức), bà Hoàng Quý Phi Vũ thị Duyên (vợ vua Tự Đức, mẹ nuôi vua Dục Đức) và bà Học Phi Nguyễn thị Hương (vợ vua Tự Đức, mẹ nuôi vua Kiến Phước) mà không có bà Thiện Phi (Bằng Phi) Nguyễn thị Cẩm; như thế có thể nào bà Nguyễn thị Cẩm đã mất trước năm 1885 (thậm chí trước năm 1883 – năm vua Tự Đức mất)???
 
Tôi trở lại Wikipedia, phần vua Tự Đức. Mục Hậu Cung cho biết tổng đốc Nguyễn Đình Tân có đến 2 con gái được đưa vào cung làm vợ vua Tự Đức: bà chị Thiện Phi (Bằng Phi) Nguyễn thị Cẩm và bà em (không rõ tên, chỉ ghi Nguyễn Đình thị) được xếp Cửu Giai Tài Nhân (hàng thấp nhất trong hệ thống cửu giai xếp các bà vợ vua Tự Đức). Từ thông tin này, tôi nghĩ: Có thể nào Thiện Phi (Bằng Phi) Nguyễn thị Cẩm mất, người em được tiến vào thay thế???
 
Thêm thông tin này nữa … Đinh Công Vĩ, trong sách “Các Câu Chuyện Tình Vua Chúa Việt Nam”, nhà xuất bản Phụ Nữ năm 2005, cho biết vua Tự Đức có 104 vợ; Capitaine Gosselin trong sách “L’Empire d’Anmam” cho biết lúc vua Tự Đức mất năm 1883, còn lại 103 bà. Có thể nào bà không còn ấy là Thiện Phi (Bằng Phi) Nguyễn thị Cẩm???
 
Cuối cùng xét về văn phong trong bài “Khóc Bằng Phi” mà nhiều vị cho không xứng hợp với vua Tự Đức, tôi xin dẫn ra đây một bài thơ của vua Tự Đức để so sánh:
 
NGẪU CẢM
 
Sự đời ngẫm nghĩ, nghĩ mà ghê!
Sống gửi, rồi ra lại thác về.
Khôn dại cùng chung ba thước đất,
Giàu sang chưa chín một nồi kê.
Tranh giành trước mắt mây tan tác,
Đày đọa sau thân núi nặng nề.
Muốn đến hỏi tiên, tiên chẳng bảo,
Gượng làm chút nữa để mà nghe.
 
(Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của Dương Quảng Hàm - 1898 – 1946, năm 1929)

Học giới xưa nay công nhận vua Tự Đức hay chữ, sành thơ văn. Theo tôi, bài thơ “Ngẫu Cảm” rất mượt mà. Vậy thì khi bà vợ yêu thương mất đi, cảm xúc trào dâng, nỗi niềm thương tiếc lấn át tất cả, vua làm ra bài thơ “Khóc Bằng Phi”, điều đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên.
 
*
“Nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt”. Đến bây giờ, tôi vẫn tin bài thơ “Khóc Bằng Phi” là của vua Tự Đức. Không phải tự dưng mà nhiều nhà nghiên cứu văn học trước đây bảo bài thơ đó là của vua Tự Đức. Chắc chắn là do truyền khẩu – truyền khẩu cũng là một phương tiện – ngoài truyền thư – để lưu giữ ký ức.
 
Hoàng Đằng
08/7/2023

READ MORE - MẤY Ý KIẾN VỀ TÁC GIẢ BÀI THƠ “KHÓC BẰNG PHI” – Hoàng Đằng

LONG XÀ QUYẾT ĐẤU – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện



Khi “Cô Gái Áo Vàng” đánh ra một chiêu, dao ngắn cùng nhuyễn tiên trên hai tay Chu Chỉ Nhược đều bị rơi xuống, người thì ngã sấp mặt xuống nền cỏ không ngóc đầu dậy nổi, thì ở trong đám những nhà sư áo xám, có một lão tăng bật lên một câu nói khẽ:
- Ồ Hoàng Sam Nữ Tử?
Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn đang ngồi trên một tảng đá nghỉ khoẻ với giáo chủ Trương Vô Kỵ bật đứng ngay dậy la to lên:
- Thành Khôn [Côn] ngươi đừng có chạy? Ta nhận ra tiếng nói của ngươi rồi!
Nhà sư áo xám, đứng thẳng người lên, không còn giả vờ làm người gù lưng đứng sau Không Trí thần tăng nưã, vỗ tay vào ngực bật cườì lên ha hả:
- Chính ta là Thành Côn Viên Chân đây! Ngươi làm gì được ta nào?

Thấy tình cảnh hai thầy trò, một  mù một sáng  vị nào cũng ở vào cái tuổi thất tuần, mà là nạn nhân của một thời kỳ đen tối nhất lịch sử, bây giờ lại dẫn nhau vào cuộc tàn sát vô tiền khoáng hậu cho thiên hạ quan chiêm. Chẳng qua cũng vì chữ danh chữ lợi, mua cười cho hậu thế. Thấy cái chết vô ích lãng nhách, dù cho ai chết cũng giống nhau thế thôi! Hoàng Sam nữ tử bèn dừng lại thủng thẳng nói:
- Chuyện nào bỏ qua được thì bỏ qua, chuyện ân oán nào cần tính sổ thì cứ tính sòng phẳng. Tiểu nữ thấy cuộc đấu này không cần thiết và không công bằng, nên có đôi lời phân biện phải quấy, quần hùng thiên hạ có ai muốn nghe tiểu nữ nói hay không?

Quần hào võ lâm vốn đa sự vỗ tay hoan hô hưởng ứng ầm ĩ cả lên. Hoàng Sam nữ tử nói:
- Tiểu nữ xin được thay mặt cho Kìm Mao Sư Vương giao đấu hơn thua với Thành Côn Viên Chân đại sư. Cuộc đấu này hơn hay thua cũng chấm dứt tất cả những ân oán giang hồ vô lý kéo dài cả mấy chục năm nay, và vấn đề đao Đồ Long cùng Ỷ Thiên kiếm đến đây cũng kể như xoá sổ không bàn tới nữa. Nếu tiểu nữ thua thì sẽ tuyệt tích giang hồ, ngược lại nếu Viên Chân đại sư thắng, thì đại sư muốn gì?
- Tại hạ là kẻ tham sân si phản đạo phá chuà, nếu may mắn mà được thắng cô nương, thì tất cả phe phái Thiếu Lâm thuộc hệ Không Văn Không Trí sẽ tự động bỏ chuà Thiếu Lâm nơi Hà Nam này mà đi tu trì nơi khác, để lại cơ ngơi hoành tráng khang trang này cho tại hạ và đồng bọn giáo gian cuả tại hạ!   

Hoàng Sam nữ tử quay mặt về hướng phương trượng Không Văn , đại sư Không Trí cùng ba vị lão sư thúc tổ là Độ Nạn , Độ Ách và Độ Kiếp, ôm quyền cung tay kính cẩn bẩm:
- Các vị đại sư lão tiền bôí tính sao?
Không Văn phương trượng chắp hai tay trước ngực, niệm Phật hiệu “A Di Đà Phò” thiện tai thiện tai! Rồi chân tình nói:
- Vậy cứ theo sự phán quyết cuả cô nương đi.
Khi đó thì tả sứ Minh Giáo Dương Tiêu chen vội ngay vào vấn đề:
- Cuộc so tài này là cuộc “Long Xà quyết đấu”, có một không hai trong thời kỳ võ lâm đương hiện đại. Vậy xin cho tại hạ đi gặp Bình Nam Vương người đang chỉ huy hai vạn quân Mông Cổ tấn công lên chuà Thiếu Lâm, để trao đổi có nên dời ngày tấn công lại hay không? Chuyện đánh nhau thì lúc nào ở không đánh cũng đặng, còn chuyện đấu võ thì mấy trăm năm mới có một lần bỏ qua uổng lắm lắm. Sau đó thì bên nhà Nguyên cũng bằng lòng. Cuộc đấu võ có bán vé, chẳng qua là để giúp vốn cho chuà Thiếu Lâm, kẻ thua bị ra đi khoỉ chuà tay trắng nhận một ít ngân lượng [tức là cuả tịnh tài] lận lưng làm kế sinh nhai về sau.
*   
Cuộc đấu tay đôi không có trọng tài, không có còi  không có giải thưởng, vũ khí quyền cước không có mắt, ai sống ai chết cũng giống nhau, không có ai đứng ra thưa kiện cả quan phủ quan huyện cả, hiện trường là sân chuà Thiếu Lâm, cách đây hai ngày là nơi các thiên hạ quần hùng trổ tài võ vẽ. Hoàng Sam nữ tử cung tay mời Viên Chân đại sư:
- Kính lão đắc thọ, xin mơì đại sư ra tay trước!

Cũng không cần phải khách sáo lịch sự câu giờ làm gì, Viên Chân đại sư khom người chân trước chân sau, cánh tay co vào bên ngắn bên dài, bàn tay nắm lại chỉ để hai ngón tay trỏ cuả hai bàn tay thi triển tuyệt công phu “Ảo Âm Chỉ” nhắm ngay bụng cuả Hoàng Sam nữ tử mà tấn công. Hoàng Sam nữ tử đứng ngay ngắn thẳng người, chân mang giầy, chân đi đất. Mỗi chân đều có cột sẵn một sợi dây điện mầu xanh và mầu đỏ, còn hai tay, tay trên tay dưới để ở trước ngực, mu bàn tay quay vào phiá bụng, lòng bàn tay quay ra phiá ngoài, giống như hình quả cầu  hay miệng con cóc, là một tuyệt hảo công phu cuả Mạn Đà Sơn Trang Âu Dương Phong trong “Võ Lâm Ngũ Bá” thời trước, còn nội công thi triển là Ngọc Nữ chân kinh tâm pháp, bên kia Viên Chân phóng ra hai chỉ  một lượt, giống như hai sợi chỉ một đen một trắng, một cương một nhu, một ngắn một dài, một nhiệt một hàn. Còn bên này thì công phu giống như hai cuộn chỉ không có chỉ, cứ quay vòng vòng trước ngực, giống như thế “xe chỉ luồn kim hay châu về Hợp Phố”. Chừng vài phút sau thì Hoàng Sam nữ tử cuộn hết chỉ lực cuả Viên Chân và quăng hai trục chỉ xuống dưới đất, tay trái và tay phải dùng hai chiêu trong “Cửu Âm Bạch Cốt trảo” tay trái co rồi duỗi thức hổ trảo đâm thẳng năm ngón tay về phía trước ngay bàn tay cuả Viên Chân còn đang nắm lại, hai bàn tay dính cứng vào nhau không rời ra, còn tay phải thì dùng Long trảo, nhưng chỉ dùng hai ngón giữa và ngón trỏ theo thức Lưỡng Long sang châu, đâm trực diện vào hai mắt cuả Viên Chân. Viên Chân tuy hai mắt bị đâm lũng máu chẩy ra đầy mặt, nhưng dùng hai mắt và bàn tay phải giữ cứng hai tay cuả Hoàng Sam nữ tử để thi triển môn công phu Hấp Tinh Đại Pháp,  còn bàn tay trái thì đẩy ra nửa chừng thi triển môn công phu tuyệt học “Hàn Ngọc Chân Khí” dồn hơi cực lạnh vào thân thể Hoàng Sam. Cùng lúc thì Hoàng Sam nữ tử thi triển môn công phu “song đấu hổ bác” tay trái thì chuyển Cửu Dương thần công qua cơ thể Viên Chân, còn tay phải thì vẫn để y trong hai mắt đương sự, vận công chuyển hết Hàn khí cùng Nhiệt khí vào hai sợi dây điện vốn cột sẵn ở ngón chân cái dài thòng sẵn xuống cái hầm nhốt Kim Mao sư vương. Âm mầu Xanh, Dương mầu Đỏ, bao nhiêu nội lực cùng nhân điện cuả Viên Chân đại sư theo Hàn Ngọc chân khí chuyền qua hai sợi dây thấm hết vào nước lạnh dưới hầm, chuyển nước thành nước đá. Cùng lúc thì Viên Chân đại sư mất hết nội lực ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự. Cuộc đấu đến đó thì ngừng, Hoàng Sam nữ tử dơ tay trái sờ mũi cuả đại sư Viên Chân thấy còn hơi thở thoi thóp yếu ớt. Thế là nữ tử thò ngay tay phải vào bọc lấy ra một ve thuốc mầu xanh “Khuynh Diệp bác sĩ Tín” đổ ra lòng bàn tay, thổi phù một cái vào ngực cuả Viên Chân, một lúc sau thì Viên Chân hắt hơi lai tỉnh.   
 
*
Thấy công việc giải quyết đã xong, Hoàng Sam nữ tử cùng tám đồ đệ, bốn người mặc y trang mầu trắng, bốn người mặc y trang mầu đen, bốn ngươì thổi sáo, bốn người khẩy đàn một lượt tấu trổi lên nghe rất là trang trọng. Hoàng Sam mỹ tử ôm quyền chào mọi người sửa soạn xuống núi thì đại sư trụ trì chùa Thiếu Lâm là Không Văn đại sư dơ cả hai tay ngăn lại:
- Xin thiếu nữ hiệp lắng tai nghe bần tăng nói một đôi điều, Nam Sơn là một ngọn độc sơn, chiều ngang chừng hai dặm, chiều dài khoảng bốn dặm, chiều cao một dặm, là một ngọn núi nằm giữa cánh đồng bằng, không đẹp đẽ chi hết mà lại chia ra làm hai phần, phần bên phải thuộc cung Trùng Dương phái Toàn Chân, phía bên trái thì thuộc phái Cổ Mộ, nên goị nôm na là Chung [Nam Sơn ] đường xá lại xa xôi, theo ngu ý thì dãy Thiếu Thất Tung Sơn này có tới sáu quả núi, nào Đông nhạc, Tây nhạc, Nam nhạc, Bắc nhạc và Âm nhạc tức Trung Sơn, vậy xin kính biếu nữ hiệp cùng phái Cổ Mộ một đỉnh núi, làm cơ ngơi phát triển bản phái. Muốn đỉnh nào lấy đỉnh đó, chớ cả ngàn năm nay bá tánh thiên hạ ai ai cũng cho phái Thiếu Lâm [hay chuà Thiếu Lâm] là Thái Sơn Bắc Đẩu võ lâm, nghĩ lại đáng nực cười quá đi mất. Mới đây thì quận chúa Triệu Mẫn nương nương cho tóm cổ gọn hết cả chúng tăng chùa Thiếu Lâm mang về nhốt ở Vạn An Tự, và mới đây thì phái Thiếu Lâm cũng trổ tài võ vẽ, nhưng thực ra chả ăn ai cả, bần tăng nói theo điển xưa tích cũ là “ngoài trời là trời, ngoài đất là đất, ngoài người là người” đi tu là nhằm giải thoát, chứ không phải dành chức vô địch Võ Lâm, cái danh từ Thái Sơn Bắc Đẩu kia là một danh từ khoa đại khoác lác, làm cho con người tu hành càng ngày càng xa dần mối đạo, mục đích nhường cho phái Cổ Mộ một đỉnh núi, là để ngày ngày chúng tăng đi qua nhìn lên để biết rằng “Thái Sơn Bắc Đẩu võ lâm là người khác, ở chình ình ngay trước mặt mình, chứ không phải là mình, có như vậy chúng tăng mới an phận mà tu trì!

Hoàng Sam nữ tử khom mình vái đai sư phương trượng chuà Thiếu Lâm bốn vái và nói:
- Xin chân thành đa tạ đại sư, nhưng xin khẩn cầu quận chuá Triệu Mẫn và giáo chủ Trương Vô Kỵ chấp nhận cho vài điều kiện:
Giáo chủ cùng Quận chúa cùng lên tiếng:
- Xin tỷ tỷ chỉ dạy?
- Phần giáo chủ thì bỏ thì giờ quan tâm phò trợ đến bang chúng Cái Bang giùm, còn quận chuá thì làm ơn ra lệnh cho nhà in hay xưởng đúc vàng bạc nén gấp gấp chuẩn chi cho một số ngân lượng để thi công xây cất tổ đình phái võ Cổ Mộ.
Quận chúa Triệu Mẫn ôm quyền cung tay nhìn Dương tỷ tỷ nói:
- Chuyện võ vẽ mới khó chứ chuyện ngân lượng dù sao cũng chỉ là chuyện nhỏ, Dương tỷ tỷ cứ an tâm!
 
chuvươngmiện
 
READ MORE - LONG XÀ QUYẾT ĐẤU – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện