Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, June 24, 2023

THUYỀN GIẤY, MÙA ỔI CHÍN - Thơ Tịnh Bình

 
              Nhà thơ Tịnh Bình

 
THUYỀN GIẤY
 
Ai bảo trời mưa không dứt
Nhớ trưa ngọn gió mát lòng
Ai làm giọt mưa rơi mãi
Biết có hờn dỗi gì không?
 
Ai hát mênh mang câu hát
Giọt cà phê nghe đắng lòng
Quán vắng buồn chăng ghế trống
Người xưa còn nhớ ta không?
 
Áo trắng một thời hạ đỏ
Mắt biếc một trời thương mong
Bầy ve chỉ yêu mùa hạ
Phượng chín mấy tầng thinh không
 
Lặng thầm mây ngang phố cũ
Thuyền giấy ai thả bên thềm
Phập phồng bóng mưa hư ảo
Chở mùa thơ ấu trôi êm...
 
 
MÙA ỔI CHÍN
 
Chợt nghe hương ổi mênh mang
Tiếng chim se sẻ rộn vang trên cành
Đong đưa quả chín lá xanh
Vườn trưa thơm nắng ta thành bé thơ
 
Ngỡ như về lại dại khờ
Tung tăng chân sáo vô bờ là vui
Trèo cây hái trái nô đùa
Ngập răng cắn ổi những mùa hè trưa
 
Bao mùa mưa nắng nắng mưa
Trò chơi con nít thành xưa xa rồi
Cuối vườn dáng ổi đơn côi
Bâng quơ lá rụng gợi bồi hồi xưa
 
Nhặt hương ổi chín thoảng đưa
Phả vào sóng mũi niềm chưa thành lời
Ta giờ người lớn... ổi ơi!
Còn ai trèo hái đành rơi trái buồn...
 
Tịnh Bình
(Tây Ninh)

READ MORE - THUYỀN GIẤY, MÙA ỔI CHÍN - Thơ Tịnh Bình

CHIẾU THƠ – Thơ Trần Mai Ngân


  


CHIẾU THƠ
 
Đêm trải chiếu trên sân
Rủ bạn ra cùng ngồi
Uống chung trà tri kỷ
Mà lòng nồng men say
 
Đêm rủ bạn đến đây
Ngâm bài thơ tôi viết
Loằng ngoằng nét bút tay
Buồn vui phơi đăng đắng
 
Đêm già nua yên ắng
Mình chẳng nói năng chi
Nghe tiếng gió thầm thì
Cảm thông thơ bạc mệnh
 
Không gian sâu mông mênh
Thời gian không rộng lượng
Mây che ánh trăng phai
Ai có hiểu lòng ai
 
Đêm diệu kỳ như thế
Và trôi qua… đến ngày
Cùng chào ánh ban mai
Chiếu thơ thôi cuốn lại…
 
            Trần Mai Ngân
                20-6-2023

READ MORE - CHIẾU THƠ – Thơ Trần Mai Ngân

KỲ ĐÀ CẢN MŨI – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện


Đám cưới của Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược bị Triệu Mẫn phá vào phút chót
 
Sau khi nghe Trương Vô Kỵ trả lời lão gia tử Tạ Tốn, thì Chu Chỉ Nhược ngám ngẫm cái sự đời, thương cho thân mình ngâm thầm hai câu thơ trong đầu:

“phận sao phận bạc hơn vôi
cũng đành nước chẩy cái nôì trôi đi ?”
 
Một câu nói hết sức là huề vốn như sau:
-“Theo ý hài nhi, hôm nay hài nhi sẽ đính hôn với Chu cô nương, để giúp nàng trừ độc trị thương cho tiện. Nếu trời cho chúng ta về được Trung Thổ, khi nào hài nhi giết được Triệu Mẫn, đoạt lại thanh đao Đồ Long cho nghiã phụ, bấy giờ thành hôn với Chu Cô Nương, vậy là vẹn cả đôi bề!”
 
Đúng là mưu sự tại nhân thành sự tại thiên! Triệu Mẫn có tội gì mà giết ? Thanh bảo đao Đồ Long thì một biến thành hai miếng, chỉ còn có nước mang đi bán ve chai! Trước đây trên hai mươi năm, một lão đại hiệp già mù với hai ngươì trẻ choai choai sống trên Băng Hoả Đảo, thì cái chuyện “đất lành chim đậu”, là chuyện đương nhiên, bây giờ thì có khác xưa bao nhiêu đâu? Tiểu Chiêu thì về Ba Tư làm đại tổng giáo chủ Manigiáo, Ân Ly xuống Âm Phủ làm vợ Diêm Vương, còn Triệu Mẫn nương nương thì lênh đênh ngoaì biển cả, trước sau gì thì cũng thành phu nhân cuả Long Vương? Ở đây chỉ cầu mong làm sao cho sớm sớm “nếp thôỉ thành xôi, ván đã đóng thuyền là yên chuyện.
 
Đám cưới của giáo chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ và chưởng môn phái Nga My Chu Chỉ Nhược được tổ chức thật rình rang bề thế ở Hào Châu [tức Hoài Bắc An Huy] thuộc quyền kiểm soát cuả Hàn Sơn Đồng. Dưới quyền có các tướng tài Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thương Ngộ Xuân. Ngươì đứng đầu tổ chức đám cưới là ngoại công Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính. Đại diện nhà trai có Ân Dã Vương, Dư Liên Châu. Đại diện đằng nhà gái có Thường Ngộ Xuân. Quà mừng ngoài hai tập “Võ Đang Thái Cực Quyền, Võ Đang Thái Cực Kiếm”, còn một bức thư hoạ tuyệt đẹp cuả Thái sư phụ gửi tặng, cùng quà cáp cuả các đại môn phái như Thiếu Lâm, Côn Luân... Ngũ hành kỳ dưới quyền cuả Bành hoà thượng bảo vệ chung quanh khuôn vịên đám cưới. Tả sứ Dương Tiêu và hưũ sứ Phạm Dao đích thân đứng điều hành lễ tân hôn. Chú rể Trương Vô Kỵ mặc áo vóc đại hồng tân lang thì đựợc hai vị Ân Dã Vương và Trương Tòng Khê dìu ra. Cô dâu Chu Chỉ Nhược đội mũ cánh phượng, do mười nữ đệ tử Nga Mi dìu. Khi tả sứ Dương Tiêu chuẩn bị hô:
- Cô dâu, Chú rể bái thiên điạ.
Thì bỗng nghe một giọng noí trong trẻo từ ngoài sân vọng vào:
- “Khoan đã ?”
Mọi người trong sảnh đường chưa biết phản ứng sẽ làm gì thì có ba nữ nhân từ ngoài phóng thẳng qua cưả lớn, xuất hiện trước mặt cô dâu và chú rể. Hưũ Sứ Phạm Giao ôm quyền chào đón hai vị sư tỷ phái Nga My là Tĩnh Huyền sư thái và Đinh Mẫn Quân. Tả Sứ Dương Tiêu thì cung tay chào đón quận chuá Triệu Mẫn nương nương. Chào hỏi xã giao xong thì tả sứ cung tay nói:
- Hôm nay quý vị là thượng khách cuả chúng tôi [tức là Minh Giáo và Nga My] vậy xin quý vị nhập tiệc vào bàn dùng vài chung rượu lạt chung vui với cô dâu cùng chú rể và toàn thể quần hùng Lục đại môn phái.
Vốn tính nóng nẩy, sư thái Tĩnh Huyền bèn nói với Đinh Mẫn Quân:
- Sư Muội mở máy để nghe lời di huấn cuả sư phụ Diệt Tuyệt sư thái trước khi lâm chung nhắn nhủ vơí Chu Chỉ Nhược sư muội những điều gì? 
 
*
Đinh Mẫn Quân bèn để cái radio casette xuống nền nhà, rồi ngôì xuống bấm nút, máy chạy kêu rè rè rồi tiếng nói rất đanh thép cương quyết phát ra:
- Ngươi hãy thề như vầy: “Con là đệ tử Chu Chỉ Nhược, xin thề có trời cùng đất chứng giám, nếu sau này con đem lòng thương yêu tên dâm tặc Trương Vô Kỵ giáo chủ cuả Minh Giáo, kết thành vợ thành chồng với y, thì cha mẹ con chết nằm dươí suối vàng xương cốt không yên! Sư phụ con là Diệt Tuyệt sư thái sẽ biến thành ma quỉ dữ ngày lẫn đêm quấy nhiễu con suốt đời, nếu sau này sinh con đẻ cái với y, thì con trai đời đời làm nô l , con gái kiếp kiếp làm kỹ nữ .”
- “Sư phụ muốn con tiếp nhận chưởng môn nhân phái Nga My là có dụng ý, phen này ta sa vào tay giặc gian ác, thanh uy danh một thời trôi theo giòng nước rồi, thực chẳng còn muốn sống mà ra khỏi cái tháp Vạn An Tự này nưã. Tên dâm tặc họ Trương kia có tà ý chắc sẽ không bao giờ lấy mạng cuả con, thành ra bây giờ con cứ giả vờ như ưng thuận với hắn, thừa cơ đoạt lại kiếm Ỷ Thiên. Còn thanh đao Đồ Long thì đang nằm trong tay nghiã phụ hắn là tên ác tặc Tạ Tốn Kim Mao Sư Vương. Tên tiểu quỉ Trương Vô Kỵ dù thế nào cũng không bao giờ chịu tiết lộ nơi định cư cuả Tạ Tốn, nhưng trên đơì này chỉ có một người duy nhất là quận chuá Triệu Mẫn nương nương [à quên là con Chu Chỉ Nhược] bảo hắn đi lấy cây bảo đao?”
- “ Sau khi con lấy được kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long rồi, thì hãy tìm một chỗ kín đáo, một tay con cầm đao, một tay con cầm kiếm ngay cái chỗ có hình răng cưa cưa sẵn, vận lực lên dùng đao kiếm chém mạnh vào nhau, bảo đao lợi kiếm cũng cùng gẫy làm bốn khúc, sẽ lấy được bí kíp cất dấu trong lòng đao và kiếm, đó là cách duy nhất để lấy toàn bộ bí kíp, sau đó đao kiếm đều bị huỷ, hoặc mang bán ve chai cho ba tàu trong Chợ Lớn mới. Con nhớ làm lòng lời ta dặn chưa?”
  
Sau đó thì tiếng nói cuả Diệt Tuyệt sư thái càng ngày càng nhỏ nghe không rõ nưã..., Đinh mẫn Quân cho tay tắt volume máy, còn Tĩnh Huyền sư thái trân trọng nói “Thưa các vị tôn trưởng, các vị lão trung thiếu hiệp có ai còn muốn nghe lại tiếng nói cuả sư phụ Diệt Tuyệt trong cái băng casette này nưã thì xin lên tiếng, tiểu nữ sẽ cho phát thanh lại thêm một lần nưã, còn không thì thôi?
Hưũ sứ Phạm Dao lên tiếng hỏi:
- Xin sư thái vui lòng cho quần hùng biết xuất xứ cái băng casette này từ đâu mà sư thái có?
- Xin thưa là chúng tôi khám phá ra nó được dấu kỹ trong bức vách tường trên tháp Vạn An Tự nên tháo ra dùng làm tài liệu.
Tả sứ Dương Tiêu chen vào:
- Vậy sư thái đã coppie ra nhiều ấn bản chưa?
- Thưa, dạ chỉ có sao ra sáu tape mà thôi! Bổn môn Nga My giữ một tape, còn năm  tape kia thì gửi qua đường bưu điện cho phái Thiếu lâm, phái Võ Đang, phái Hoa Sơn, phái Côn Luân, phái Không Động [đậy].
- Xin đa tạ hai vị nữ hiệp phái Nga My, rồi quay qua Triệu Mẫn ôm quyền bẩm:
- Quận chuá Triệu Mẫn, xin nương nương cho biết là hảo ý cuả nương nương đối với giáo chủ Trương Vô Kỵ và toàn thể Minh Giáo chúng tôi?
- Ta không có mang hảo ý gì tới đây cả! Cũng không phát biểu chúc mừng câu nào. Nhưng ta cho ba vị nhìn thấy cái này! Nói xong bèn dơ tay phải ra cho giáo chủ Trương Vô Kỵ, tả sứ Dương Tiêu, hưũ sứ Phạm Dao nhìn thấy một nắm tóc mầu vàng cuả Kim Mao Sư Vương rồi nói:
- Chuyện không còn chậm trễ được nưã, nếu chậm một giây thì ân hận ngàn đời, vậy giáo chủ nên chọn ngay một trong hai giải pháp sau đây:
- Là ở lại làm lễ thành hôn với Chu cô nương.
- Là đi ngay cấp kỳ?
Chỉ thấy quận chuá quay mình thoắt một cái chạy trước, giáo chủ quay mình chạy theo sau bén gót, và thoáng một cái cô dâu biến thành một giải lụa đỏ bay phóng theo, giơ mười ngón tay chụp vào óc quận chuá Triệu Mẫn. Với cái chụp này thì vỡ óc ra mà chết, thành ra giaó chủ dùng lực đẩy vào lưng quận chuá, phóng ra phiá trước một chút thì mười ngón tay cuả Chu Chỉ Nhược cô nương cắm thật sâu vào hai vai cuả quận chuá, máu chẩy ra ròng ròng. Giáo chủ cùng hưũ sứ Phạm Dao thấy Chu Chỉ Nhược ra quyền độc quá, bèn dơ chưởng ra đẩy về phiá khác. Nhưng tự nhiên cánh tay hưũ sứ Phạm Dao không cục cưạ chi được nưã, đành bó tay đứng đó, còn giáo chủ thì cảm thấy có một làm âm hàn “chí âm chí độc” chạy thẳng vô tim mình, đành cũng dừng tay lại, bỗng nghe một tiếng nói dữ dội cuả Bạch Mi Ưng Vương vang lên:
- Coi chừng Cửu Âm Bạch Cốt Trảo?
 
chuvươngmiện

READ MORE - KỲ ĐÀ CẢN MŨI – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện

Friday, June 23, 2023

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (1)- Trương Ngọc Bỉnh



NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG

Trương Ngọc Bỉnh, 

Cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 – 1968


Để giải quyết nhu cầu học tập, mở mang dân trí, dưới chế độ Ngô Đình Diệm (1956 - 1963) ở miền Nam, chính quyền Tỉnh Quảng Trị bước đầu đã lần lượt xây dựng các trường Trung học Đệ nhất cấp tại các quận để thu hút số con em học sinh ở vùng nông thôn sau khi hoàn thành bậc tiểu học. Do ngân sách quốc gia chưa đáp ứng cho trang trải chi phí xây dựng, trang bị cơ sở vật chất, trả lương cho đội ngũ giáo giới và các bộ phận phục vụ trực thuộc ngành giáo dục; chính  quyền sở tại từng quận đã huy động nhân dân, phụ huynh đóng góp vào Ngân sách địa phương với việc con em nhập học phải đóng một khoản phí gọi là "kiến thiết". Trong những năm đầu sơ khai ấy, về sau, học sinh chúng tôi có nghe phong phanh từ ngữ "Bán công" (1958 - 1960),  bẵng đi một thời gian, rồi sau này có kẻ nhớ, người quên!

Vào đầu năm học 1960 - 1961, cùng thời điểm với một số trường trung học công lập trong tỉnh: Triệu Phong, Cam Lộ ..., Trường TRUNG HỌC CÔNG LẬP HẢI LĂNG  được cấp trên quyết định thành lập vào mùa thu 1960 và là ngôi trường công lập đầu tiên của Quận Hải Lăng.

Ngôi trường qua những tháng năm 

Ngôi trường được xây dựng trên đồi cát, chống chọi với nắng, gió nam Lào và rét buốt của hai mùa khắc nghiệt, nằm gối đầu bên Quốc lộ 1A, đối diện cơ quan hành chính quận, về sau là cơ quan quân sự: Chi khu Hải Lăng … sẵn sàng trong tầm ngắm, canh chừng, nuốt chững ngôi trường chúng tôi với đủ cỡ nòng đạn, pháo!

Trường có một dãy nhà trệt, nền cao với tường vôi vàng. Mái ngói đã sẫm màu. Một văn phòng có mái hiên hình bán nguyệt nhô ra trước sân - chính giữa các phòng học kiên cố với hai mảng ban công  chạy dài trước hành lang cửa lớp. Chung quanh khuôn viên  trường không xa, được chôn trụ bê tông, giăng mắc hai sợi thép gai, có nhiều đoạn chùng lại như cánh võng hoặc đứt quãng, chẳng ai thèm để ý đến mà căng lại. Sân và vườn trường chỉ toàn cát. Cỏ gấu trồi trồi rễ cong cong, cố đeo bám thân cây mẹ, cộng sinh mong manh vượt qua chảo lửa nắng hạ, chờ đông ... Lác đác mấy mống trâu của Phe Nhất, Phe Nhì  căng cộm, khoe trẻ mãng sườn, đưa mắt nhìn lơ láo, "ẹ! ẹ!" từ xa, đánh thức qua ô cửa... khi ai đó đang mơ mơ màng màng gật gù lúc Thầy, Cô đang lẫy lượn câu Kiều! Một dãy nhà vệ sinh được xây bề thế ở góc hàng rào phía hướng bắc, khoảng bốn phòng nhỏ, chia đều cho cả tiêu và tiểu, cũng được chăm chút mái ngói, trông vẻ hoành tráng  không kém mấy so với ngôi trường mẹ..., khiêm tốn nép mình dưới mấy cây dương liễu, nhìn có "máu mặt", xanh rì vút cao hơn so với mấy cây cùng trang lứa từng hứng chịu những cơn rét buốt cuối đông và gió Lào khô khốc đầu hạ.

   Phóng tầm mắt từ trong trường nhìn ra, khoảng sân rộng còn gồ ghề, nguyên sơ toàn cát. Nó tồn tại gần cả một thập kỷ! Bên trái, phía trong cổng trường, có một cái lô cốt rất kiên cố, chẳng biết có tự bao giờ! Dè chừng ai cũng đoán già đoán non là nó có mặt ở đây từ khi thằng Tây - bà Đầm của mẫu quốc "Lang sa" qua khai hóa nước An Nam (Lối nói dua nịnh của mấy tay bồi bút quen mùi phô mai). Mãi cho tới tận bây giờ, lô cốt vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt với rêu phong bao phủ kèm những vết bom cày, đạn xới loang lỗ, núp dưới lùm cây hoang dại che khuất mấy lỗ châu mai - như những con mắt chứng nhân thời gian qua bao vật đổi sao dời, dâu bể của thế sự! Là kẻ lữ thứ, xa quê trên 40 năm (và chắc sẽ gởi gắm thân tứ đại nơi xứ người), mỗi lần về thăm quê, ngang qua cố quận, lòng tôi tần ngần, ngẩn ngơ dừng lại nơi chốn tọa lạc của trường xưa với mấy dòng cảm xúc: 

      "Đá cuội nằm trơ cùng tuế nguyệt,

      Thế nhân hoài cổ, dạ u sầu.

       Rừng dương yên ắng ru hồn gió,

       Vương vấn trường xưa … thoáng bóng câu!"

   Nhắc đến và phải biết ơn cái giếng dù nó vô tri - nằm phía bên phải cổng trường - còn một bi nổi trên mặt đất, bên trong nước đen ngòm, rác rưởi lố nhố, bốc mùi ẩm mốc, ngột ngạt! Thế nhưng hồi đó nắp miệng giếng lại giúp lũ học trò chúng tôi tạm xài làm mặt bàn khi chưa kịp làm bài, soạn bài giảng văn... do đêm trước phải xuống hầm trú ẩn khi tầm pháo, cối vút qua, hoặc một cuộc so nòng AK giòn như bắp rang với M.16  lẻ tẻ, nghe "cà xịt, cà đùng", xẩy ra ở quanh đồn bót, làng quê nào đó trong quận!

   Vào kỳ nghỉ hè năm 1967, trường có xây một Thư viện - từ trong văn phòng nhìn ra, phía bên trái, hướng mặt vào giữa sân, đối diện trụ cờ. Vào đầu đệ nhị lục cá nguyệt của năm học 1967 - 1968, Thư viện mới hoàn thành phần thô, mái đã được lợp tôn kín nhưng nền phòng vẫn còn cát trắng, chưa cán vữa hồ. Phần tường trong và ngoài chưa tô. Có lẽ đây là lần cuối cùng của mùa đông năm 1967, giờ ra chơi, một số bạn lớp tôi đã chiếm lĩnh  phòng ấy, chơi đuổi bắt ... và tôi còn nhớ bạn  Hương "Trùm trưởng" lớp tôi đã cố tình cố sức đẩy tôi chạm vào bạn Ngọc... Rồi hỡi ôi! Thư viện cùng chung số phận vơí ngôi trường đồ sộ, đã tan hoang thành bình địa, chỉ còn lại đống bê tông hỗn độn, ngói gỗ ngổn ngang… cùng mớ bòng bong hồ sơ học bạ, tài liệu; chỗ thì cháy sém, có đống thì rách bươm xơ mướp. Vật dụng văn phòng bằng kim loại, thủy tinh thì loang lỗ vết đạn, biến dạng, vỡ nát tanh bành... sau một đêm Xuân "Mừng tuổi mới lên 8" của ngôi trường vào Tết Mậu Thân-1968!

Ngôi trường như vị trọng tài, đứng giữa để phân xử, bảo vệ hai đối thủ, ai ngờ … cuối cùng lại bị đo ván (knock out)! Trách ai bây giờ? Rồi lớp học trò chúng tôi như đàn con mất mẹ! Là lớp cuối cấp, được sớm gởi ra Trường Nguyễn Hoàng, ở Tỉnh lỵ Quảng Trị để tiếp tục chương trình đệ nhị lục cá nguyệt. Như một cú sốc đâu đời của đứa trẻ mồ côi: nhà trọ, nhà quen? Cái ăn, tiêu? Chi phí sinh hoạt ở  thành thị không như ở nhà mình: sáng dậy sớm, lục cơm nguội hâm, quệt ruốc kho; khá lắm thì cơm chiên tóp mỡ hoặc qua quýt vài củ khoai, sắn... giúp anh bao tử hơn mười tiếng ngấu nghiến đêm qua để cặp giò còn có sức đạp tới Diên Sanh trước giờ vào lớp!... Bao nhiêu câu hỏi cứ quay cuồng mà chưa tìm ra lời giải. Ai biết được hoàn cảnh này, phải tập sự tự lực sớm, sống xa nhà, cơm đùm gạo bới, ở trọ nhà người là chuyện như phim sắp chiếu! Vẫn biết thêm một người đơn giản là thêm cái chén, đôi đũa. Ai biết núp sau lời khiêm tốn ấy là cộng thêm cho chủ nhà: điện, nước, xà  phòng... Có những câu hỏi vu vơ, thách thức mà học trò đi ở trọ phải bấm bụng... Có lúc, có ý nghĩ buông xuôi như thân Kiều:

     "Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

     Thử xem con tạo xoay vần đến đâu?"

     Càng tự nhủ lòng an ủi mình để vượt qua vì tương lai phía trước còn thăm thẳm!

   Kể chuyện lớp cuối cấp của mình mà quên mất mấy lớp dưới, cùng chung một mái trường với hai mùa khắc nghiệt đi  tìm con chữ khi ngôi trường sụp đổ thì thật không công bằng! Vậy, các bạn khối lớp sau (Khóa 6, 7 & 8 ) tiếp tục học ở đâu?  Rồi các lớp cũng được sắp xếp "yên bề gia  thất" ở những nhà Tộc, nhà Chùa, Đình Làng Diên Sanh và đặc biệt  cơ sở của  Trường Tư thục Bồ Đề (ở Sân vận động  xã Hải Thọ  trước 1975 ) qua Tết Mậu Thân vẫn không bị sứt mẻ  tí nào mặc dù nó chỉ có xây phần thô: các phòng học trong và ngoài chưa có một vết tô, chưa có một cánh cửa sổ hoặc cửa lớn để che chắn nắng và  gió! Các phòng học và hành lang còn nền đất. Bàn ghế học sinh, giáo viên và bảng lớp đầy đủ! Trường hướng mặt ra Quốc Lộ cũ. Sân trường vẫn còn cỏ lún phún không lên nổi vì lớp choai choai chiều chiều tan học ra đây tập bóng đá.Từ ngoài đường nhìn vào, góc trái tiếp giáp với nhà dân, có mấy thùng phuy chứa nước để trộn vữa hồ… bao bì xi măng ngổn ngang… Sau mấy tháng được gởi ra trường Nguyễn Hoàng, cuối cùng, lớp tôi cũng trở về gặp lại Thầy, Cô và bạn bè. 

Ngày Tổng kết năm học 1967-1968 của toàn trường, cũng là ngày Tốt nghiệp ra trường của lớp chúng tôi! Buổi mai hôm ấy, tôi hăm hở đạp xe ra trường, trên đường đi cũng chờ đợi bạn bè doc đường như lúc còn buổi học.Tất nhiên câu chuyện giữa chúng tôi làm cho quảng đường bị ngắn lại ... Vừa qua khỏi UBHC xã Hải Thọ, đã nghe tiếng nhạc và lời: "Mỗi năm đến hè, lòng man mác buồn... ngày mai xa cách hai đứa hai nơi..." lại càng làm ray rứt trong tôi:  Ít giờ nữa thôi, lớp chúng tôi như bầy chim non đứng trên vành tổ, nhìn khoảng trời rộng bao la, bốn phương tám hướng! Những cái nắm tay thật chắc, vỗ vai nhè nhẹ gói ghém lời chúc chân tình không sao quên được: - "Mi còn đi học tiếp, cố gắng nghe, tau nghỉ học...!" Cuộc đời xuôi vạn nẻo... Gần thì Đống Đa, xa vô Đồng Đế, rồi hải quân, chuyên viên không quân... đang chào mời bạn bè tôi lên đường một ngày không xa!

  Học sinh toàn trường đã ổn định trên sân. Chúng tôi ngồi bệt lên sân cỏ, đứa thì lót dép, có đứa may mắn vớ được cục gạch làm đòn. Tội nghiệp phái nữ, ngồi "chò hỏ", lấy vạt áo dài phủ lên đầu gối... Nắng sớm đã rải nhẹ lên sân trường. Các Thầy, Cô giáo đã ngồi vào vị trí ở hai bên cánh gà, giữa phông lớn màu trắng với mấy hàng chữ màu đỏ cắt bằng kéo. Phía trước tấm phông xếp hai bàn học sinh để đặt phần thưởng. Tất cả các bàn đều được phủ khăn tươm tất... Sau phần xướng ngôn của Thầy Liễn - làm ban tổ chức - giới thiệu Thầy Lợi - Hiệu trưởng đọc diễn văn tổng kết, có đoạn nổi trội là việc kể lể chạy vạy đi xin chỗ học, ổn định các lớp, kể cả  gởi ra trường Nguyễn Hoàng cho kịp chương trình với  gần 300 học sinh (Khóa 5 = 50, K.6 = 59, K. 7 = 100 Anh & Pháp , K.8 = 90) ... Nắng đầu hạ đã lên cao, bắt đầu thiêu đốt, nhìn đứa mô cũng mặt mũi lơ láo… mà đống phần thưởng chưa ai xử.Việc gì đến rồi cũng sẽ  đến! Lần lượt  từ khóa 8, 7, 6  lên nhận theo danh sách. Khóa 5 - lớp tôi, được gọi theo vị thứ  từ cao đến thấp mà tôi còn nhớ. Dân Trường Sanh quê tôi  ôm hai xuất là hai anh em ruột: Thứ nhất: Võ Hữu Lược, thứ ba:Võ Đình Chữ. Còn bạn Võ Đình Hương được phần thưởng thứ nhì! Có gì sai về vị thứ  xin các bạn đính chính, trí nhớ 54 năm rồi cũng bị mòn mờ như đá ở suối khe nằm ở dòng nước chảy... Rất tiếc khi nghe Thầy Liễn xướng ngôn  "...Và thứ ba, mời em Võ Đình Chữ!" Tôi không thể tin vào tai mình, dẫu sao, đó  vẫn là sự thật!

Tôi nghĩ lẽ ra nên có một phần thưởng khuyến khích đối với lớp cuối cấp mà người được sở hữu là tôi. Đó là ý nghĩ cá nhân. Danh sách khen thưởng và ngân sách đã được duyệt rồi! Cuối đời, ngẫm lại có những việc mà mình không ngờ tới!


(Còn tiếp)

Trương Ngọc Bỉnh

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (1)- Trương Ngọc Bỉnh

Thursday, June 22, 2023

EL NINO – Thơ Lê Phước Sinh


  
                        Nhà thơ Lê Phước Sinh
 

EL NINO
 
"No" cái chi mà "No"
Nóng bực không chịu nổi
như từ trời rơi xuống
xông toả nhiệt,hầm hơi.
 
Hạt nhỏ thi hạt lớn
chẳng khoảng trống,bóng  cây 
mồ hôi theo nhau chảy
nhốt nháp bủa trần thây.
 
Có cô nàng đến Sở
chân vội vội vàng vàng
mở phấn son trang điểm
tô lại dấu tan hoang.
 
Ông Cóc xưng Cậu Trời
cũng lắc đầu vái chạy!
 
           Lê Phước Sinh

READ MORE - EL NINO – Thơ Lê Phước Sinh

TỬU SẮC - Nguyên Lạc


                                                                        

Dẫn nhập:

Một hôm, tình cờ đọc được một bài thơ của ông thi sĩ Trần Hoài Thư, lòng tui bồi hồi quá mạng!

 

Bn đến thăm kéo ra chnh
Ta l
a cây hng sai trái làm phông
B
i đi ta giờ thm thiết quá chng
Nên v
n lá cành trang hoàng đở ti
Hãy nhìn đ
u ta mt vùng trng ph
Hãy nhìn tóc ta, si ngn si dài
Đã g
n hai năm bỏ phế tóc tai
Đ
i thm quá ly ai mà “trang đim”?

  

Trời! Sao thảm quá vậy ông Trần? Như mộng, huyễn, bào, ảnh thôi! 

 

Xử thế nhược đại mộng

Hồ vi lao kỳ sinh (Lý Bạch)

 

Ở đời như giấc chiêm bao

Cái thân còn đó, lao đao làm gì?  (Tản Đà)

 

Đời như giấc chiêm bao, hãy vui lên đi, hãy nâng ly cùng nhau hát:  Một "chăm" em ơi, dzô dzô một "chăm" phần "chăm", rồi cùng Nguyên Lạc tui "loạn bàn" về chữ ngha chút chơi cho vui.

Nào, chúng ta cùng "ngâm kíu" về hai chữ Tửu Sắc:

 

TỬ(ỢU)

 

1. Vấn nn về rượu

 

"Rượu có từ hi nào? Có người cho rng rượu có từ thi đá mài (neolithic). Nhm nhò gì, mi đây , người ta còn phát hin cà tỉ tỉ rượu trong đám mây ở trung tâm di Ngân Hà, có điu thiên tu vô biên này cách trái đt chng 30.000 năm ánh sáng. Còn tôi, tôi nghĩ khác, đơn gin mà chc ăn hơn, có cỏ cây hoa quả là có rượu. Chng phi nhng trái cây chín mng sẽ lên men rượu đó sao?

Vy ai là người ung rượu đu tiên? Có người da vào Kinh Thánh để nói rng, đó là ông Noah thoát nn trên mt con tàu trong trn Đi hng thy, đã tình cờ chế được rượu nho và ung say bí t. Tôi cũng nghĩ khác luôn. Chính ông Adam là người đu tiên ung rượu. Adam nghe li xúi (di) ca bà Eva ăn trái cm, gây biết bao phin toái cho con cháu đi sau. Cái này Kinh Thánh chép, chứ không phi tôi ba.

Nhưng tôi cứ tự hi, mt đng trượng phu dám ct phăng cái xương sườn ca mình để đổi ly nim hoan lc la đôi như ngài Adam, tổ tiên loài người, chng lẽ li nghe li đàn bà xúi by? Dù gì thì Adam cũng là đa con đu tiên ca Thượng đế đâu dễ gì nhẹ dạ như thế. Vườn Đa đàng đy hoa thơm cỏ l, trái cây mơn mn.. Eva chc (chn) đã chuc rượu cho Adam (lả lơi mi mc Adam ăn trái chín lên men). Khổ thân ngài Adam, ngà ngà ri thì trái cm cũng như trái…xoài, đâu còn ngán ai na mà không dám ăn. Tôi ngờ rng Kinh Thánh chép thiếu đon này, hay tam sao tht bn gì đó.

Con cháu Adam muôn đi sau vn không rút ra được bài hc ca tổ tiên, ung rượu là cứ phụ nữ kè kè bên hông." (Vũ Thế Thành)

Chí lí! Tui bái phục sư phụ Vũ, đúng là lời vàng tiếng ngọc: "ung rượu là cứ phụ nữ kè kè bên hông"! Nhưng Rượu và Sắc phải luôn đi đôi với nhau chớ, do đó mới có  thành ngữ Tửu Sắc, phải không?

2. Uống rượu, say rượu

Thơ rằng:

Ung xong ly rưu cui cùng
B
ng nhiên cht nhớ đã tng đu tiên
U
ng như ung nưc ngc tuyn
T
ừ đầu tiên mng ti phin mun sau
U
ng xong ly rưu cùng nhau
H
n rng mai sẽ quên nhau muôn đi...

Tình điên y ít nhiu em có thy
R
t nhiu ln em có thy có nghe
Có nghe nói r
ng Trích Thiên thu y
Có nghe r
ng Phm Thái thu nào
H
 nc rượu lu bù em có biết
B
i vì sao mà t dit đi mình

M
t tp thơ su ngâm sng sng
Vài nai rượu k
ếch ních t ty
Ch
ết v Tiên Bt cho xong kiếp
Đù 
a trn gian! sng mãi chi             

(Thi tập Như sương - Bùi Giáng)

 

Và đây, say rượu của cụ Vũ Hoàng Chương:

 Say đi em, say đi em

Say cho lơi lả ánh đèn

Cho cung bc ngả nghiêng điên rồ xác tht

Rượu, rượu na, và quên, quên hết

Ta quá say ri

Sc ngã màu trôi

...

Em ơi la tt bình khô rượu

Ðời vắng em ri say vi ai!        

(Vũ Hoàng Chương)

 

Say với ai? Đúng là vấn nạn lớn!

À phải rồi, cụ hãy say với ông thần sư phụ Linh Phuơng tuiổng cũng đang sầu đời:

 

Buồn quá hôm nào ta đi nhậu

Say xỉn xe tông cán nát người

Mặt lộ đen ngòm từng vũng máu

Đỏ hồng chẳng khác trái tim thơ

.

ớng mắt em hồng nhan tri kỷ

Khói sầu đời thương ta trắng tay

Thi sĩ trắng tay thi sĩ tận

Anh hùng mạt vận anh hùng rơm

Ngửa mặt khóc cười theo năm tháng

Đời sầu ta lại sầu đời hơn

(Sầu Đời -Linh Phương)

 

TỬU-SẮC

 

1. ợu - Gái

Tửu-Sắc (Rượu-Gái) cặp đôi này không thể rời nhau được, có cái này phi có cái kia thì ci đời này mới vui được, phi không?

Thành ng "In-g-lít" (English): "Liquor is the best medicine".("G" là liu thuc vn năng) là câu mà tôi tâm đc nht. Ông Chai-ni (Chinese) cũng "ngôn" :

Tu phùng tri kỷ thiên bôi thi(Gặp người tri kỷ ngàn ly rượu cũng thiếu)

    Thoại bất đồng tâm... cũng hổng sao ((Nói chuyện không hợp... cũng hổng sao - Châm ngôn của cảông/ bà bán hàng: Dealer) [*]

Nam vô tu như kỳ vô phong (Đàn ông không rượu như cờ không gặp gió)

Cụ Tn Đà đã tng "vn":

Đi đáng chán hay không đáng chán?

Ct chén qunh riêng hi bn tri âm.

Chén qunh là "dạ quang bôi", là chén "g" chứ còn gì na các bạn. (Bồ đào mỹ tu dạ quang bôi...)

Những điều trêchng tỏ "g" rt quan trng, là "mt bộ phn không nh" đi vi sinh hot hàng ngày ca chúng ta (tứ khoái: ăn / ung, ng... ) phi không? 

Vy, nào mi các bạn cùng  tôi "gy sòng ".

Trưc khi nhp tic, chúng ta hãy ngâm nga thơ phú Hán Việt chơi.

Bồ đào mỹ tu dạ quang bôi

Dm tì bà mã thưng thôi

Tuý ngoạ sa trưng quân mc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hi    

(Vương Hàn)

u bồ - đào chén dạ quang

Mun say đàn đã rn vang gic ri

Sa trưng say ngủ ai cưi

Từ xưa chinh chiến my ngưi về đâu        

(Trn Trng San dịch)

 

- Number one, số dzách!

Tuý ngoạ sa trưng quân mc tiếu           

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hi          

Ngâm xong lòng cht bi hi

Hi chi hi mãi hhoài dzy cha?

Hi chi cho má nó la!

- Ti sao má nó la?

- Vy chớ các bạn không nghe ngưi ta hát sao:

Anh về trên đôi nng g

Anh về dang dở đời em.      

ể trả li mt câu hi - Phm Duy - Linh Phương)

 

"Dang dở đời em" thì em phi la tri chớ sao! "Théc méc" cái ni gì ? Đi mà! 

- Bây gi ti phiên tui ngâm đây:

Bồ đào mỹ tu nó dụ tôi

Dm lên giưng thưng mã thôi

"Xí quách" lt lè xin cố chu

Cổ lai mỹ nữ my ai "xù"

Xí quách là xương cốt. Xù là từ chi, là "em ch" đó quí vị

 

2. Dc

Câu thơ trên cho thy sự liên quan "thm thiết" gia "g" và gái, nên mi có thành ngữ Tu Sc. Mà có Sc thì phi có Dc. Ai thy hoa đp mà không mun hái, không mun giữ riêng cho mình.

Dc là đu mi ca đau kh, sân si như li Pht đã dy: "Phi tiết dc, phi buông b". Nhưng khó lm đa!

Chuyn rng:

Có hai nhà sư đang bưc trên đưng, cht dng li vì thy phía trưc có mt ngưi con gái đang ngi ngùng trưc mt vũng nưc, không dám li qua. Nhà sư hơi tri tui hơn vi vàng đi ti, ôm nâng ngưi con gái lên, li qua vũng nưc, ri nhẹ nhàng thả cô gái xung. Nét mt vn thanh thn, sư tiếp tc ct bưc. Nhà sư trẻ hơn vi vàng chy theo. Hai sư lng lẽ tiếp tục ro bưc. Mt lúc sau, vi vẻ mt hơi bc bi, sư trẻ mở ming nói:

- Huynh đã quên gii cm ri sao ? Sao dám ôm ?

a! Ta đã buông bỏ ri , đệ vn còn "túm" nó sao ?

 (Theo Góp Nht Cát Đá ca Đổ Đình Đng) 

 

3. Phá mi

Tiếp tc nào!

Hiu hiu gió thi đu non

My thng ung "g" là con Ngc hoàng

Ngc hoàng ngi ta ngai vàng

Thy con ung "g" hai hàng lệ sa...

Chúng mày sẽ chết vi ta!

-  Thiên Lôi đâu ?

-  D, muôn tâu Bệ h.  

- Mau xung dưi trn gian chém chết my thng ung "g" cho tau. Có quá nhiu sớ than phiền chúng ri.

-  Da, tuân lnh.

Cp búa Tm sét, Thiên Lôi vi vàng ci mây bay xung trn gian. Gn ti, Thiên Lôi vén mây, nhìn thy mt đám nhu la ó đinh tai, nhc óc: dô dô dô... Gin quá, Thiên Lôi đưa búa lên... cht ông vi vàng thu búa li, trố mt nhìn xung rõ k. Mt có vẻ phân vân, ông vi vàng bay trở li Thiên Đình xin yết kiến Ngc hoàng .

-  Sao! Thi hành lnh ca ta chưa? H?

- Dạ chưa ?

-  Tại sao?

-  D, Ngài bo chém chết my thng ung "g" quy phá, nhưng trong đám có mt thng không chu ung , mà chỉ gp mi. Nếu chém lỡ trúng nó sao?!

Ngc hoàng đp bàn quát :

-  Chém chế cha thng phá mi đó  cho tau ."G" sao không chu ung, mà chỉ lo gp mi!

 

4. Dục phá sầu thành tu dụng tửu (Muốn phá thành sầu phải dùng rượu)

ợu ngon ta ung dài dài

Tôm khô củ kiu làm mi đưa cay

Dzô dzô!

Thơ rằng:

Vỗ bụng cười vang nhìn hàng dây thép

ợu uống hết rồi sao chẳng thấy say

Nằm gác cẳng lên ngâm thơ tứ tuyệt

Thuốc cũng hết rồi buồn rớt không hay

(Chiều nằm trên Lô Cốt - Hồ Chí Bửu)

Buồn quá, tính uống rượu say để quên đời, nhung "rượu uống hết rồi sao chẳng thấy say", buồn vẫn hoàn buồn! Than ôi!

Và những ông thần này nữa:

Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn

Gánh sơn hà toan chất thử lên vai

Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn

Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai

.

Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc

Thấy chiến trường la liệt xác anh em

Năm tráng sĩ bị mười chai quất gục

Đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm  

.

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi

Những hào hùng uất hận gối lên nhau

Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới:

Ta làm gì cho hết nửa đời sau?             

(Thơ Cao Tần)

 

Làm gì? Tâm hồn bão nổi rồi cũng sẽ êm đềm trôi theo dòng đời lặng lẽ vô tình thôi. Tất cả rồi sẽ phôi phai!

Lịch sử cũng vô tình thế đó

Người qua sông không nhớ con đò   

(Thơ Trần Hoài Thư)

 

Vì sông nên phải lụy đò, nhưng qua sông rồi, còn ai nhớ tới con đò. Đôi khi còn nhận chìm luôn nó để người khác không qua sông được. Ôi tình đời!

Tất cả rồi sẽ qua đi, chỉ có Sắc, Tình tồn tại thôi. Đó là chân lý muôn đờiVà nhờ đó, nhân loại mới tồn tại.

 

SẮC BẤT BA ĐÀO

Hai câu Hán Việt sau đây chắc ai cũng tâm đc:

Vũ vô kim ta năng lưu khách

Sc bt ba đào dị nch nhân

Nào cùng "loạn bàn" cho vui.

 

1. Vũ vô kim ta năng lưu khách (Gió mưa không có then khóa mà giữ được khách)

Ý câu ny đưa ta đến bài thơ tình rt đp ca thi sĩ Nguyên Sa:

 

Tháng sáu tri mưa, tri mưa không dt

Tri không mưa anh cũng ly tri mưa

Anh ly tri mưa phong toả đường v

Và đêm ơi xin cứ dài vô tn ...

 

Ly tri mưa để em đng về được, để em ở li! "dzi" đêm dài vô tn để mn chi?

- Thuyền quyên ứ hự ấy mà.

Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng 

(Nguyễn Công Trứ)

 

Đúng không? Ôi tình!

 

2. Sc bt ba đào dị nch nhân (Nhan sc không phi sóng ln mà dìm chết ngưi)

Từ đây ta mới có thành ngữ "nghiêng nước nghiêng thành" (Nhất cố khuynh nhân thành/Tái cố khuynh nhân quốc) mới có truyền thuyết về tuyệt thế giai nhân:

Tứ đại mỹ nhân là cụm từ dùng để tả 4 người đẹp nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc: Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền và Dương Quý Phi. Sắc đẹp của họ được mô tả qua 4 cụm từ nổi tiếng theo thứ tự là:

Trầm ngư: có nghĩa là cá thấy quên bơi, chìm sâu dưới nước - Tây Thi

Lạc nhạn: có nghĩa là chim nhạn thấy quên bay, sa xuống đất - Chiêu Quân

Bế nguyệt: có nghĩa là mặt trăng thấy phải giấu mình - Điêu Thuyền

Tu hoa: có nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ - Dương Quý Phi

Nhưng sao tui nghi ngờ quá các bạn! Ai mà không tự khen, "tự sướng", tự tâng bốc mình?. Nhất là các ngài "nước lạ", "nước chính giữa". Rồi các cụ nhà mình copy y chang, khiến dân Việt mình ởng thiệt.

Ti sao tui nói vậy?

- Số là có ngài Will Durant - sử gia well-known (nổi tiếng) của xứ Huê Kỳ - trong Lịch Sử Văn Minh Trung Quốc (Nguyễn Hiến Lê dch) đ cho biết: Nhan sắc của Dương Quí Phi cũng "thường thường bậc trung" thôi. Thân thể của Dương bà còn hơi đẫy đà, bụng phệ chớ không "đáy thắt lưng ong" như gái Việt mình.

Mời đc đon văn này:

[... Ông vua có tiếng nhất thời đó là Đường Minh Hoàng, giữ ngôi khoảng bốn chục năm (713-756), trừ vài lúc gián đoạn. Con người đó đầy mâu thuẫn như chúng ta, làm thơ mà lại chinh phục các nước xa, bắt Thổ Nhĩ Kì, Ba Tư, Turkestan phải nộp cống; ông bãi bỏ tử hình, cải cách toà án và khám đường, đánh thuế thật nặng, che chở thi sĩ, nghệ sĩ, học giả, mở một nhạc phủ trong Lệ viên (vườn lê).

Hồi mới lên ngôi, ông sống khắc khổ, dẹp các xưởng tơ lụa, cấm cung nữ bận gấm vóc, đeo vàng ngọc. Về cuối đời, ông sống như hạng người hưởng lạc, yêu nghệ thuật và các thứ xa hoa lộng lẫy, sau cùng ông hi sinh ngai vàng vì nụ cười của Dương Quí Phi.

Khi gặp nàng, thì ông đã lục tuần mà nàng mới hai mươi bảy tuổi; trước đó, nàng đã làm tì thiếp trong mười năm của người con trai thứ mười tám của ông [Thọ vương tên Mạo]. Nàng mập, bụng phệ, quấn tóc mượn, nhưng ông yêu nàng vì nàng bướng bỉnh, tính tình thất thường, chuyên đoán và hỗn láo. Nàng cho ông cái vinh dự được yêu nàng, giới thiệu họ hàng nội ngoại của nàng với ông và cho phép ông phong cho mỗi người một nhàn chức [chức vị ngồi mát ăn bát vàng] tại triều đình. Minh Hoàng gọi nàng là “Thái Chân”, học được của nàng nghệ thuật huy hoắc tiền của. Từ đó, đức “Thiên tử” càng bỏ bê việc nước, giao hết quyền hành cho một người anh họ nàng là Dương Quốc Trung, một kẻ bất tài, tham nhũng; và trong khi dông tố tụ lại chung quanh thì “Thiên tử” cứ truy hoan hết đêm lại ngày.

Một tên cận thần gốc Phiên tên An Lộc Sơn cũng yêu Dương Quí Phi, được Minh Hoàng tin cậy, phong làm Tiết Độ Sứ các tỉnh miền Bắc, và cho chỉ huy đạo quân thiện chiến nhất của Trung Hoa. Bỗng An Lộc Sơn tự xưng đế, kéo quân về Trường An; bấy lâu người ta lơ là sự phòng vệ kinh đô. Minh Hoàng phải bỏ kinh đô chạy vào đất Thục; đến Mã Ngôi, các tướng sĩ oán hận giết Dương Quốc Trung và bà con họ hàng của Quí Phi, rồi giằng Quí Phi khỏi tay nhà vua, giết nàng trước mắt ông truyền ngôi cho con là Túc Tôn. Bọn lính Phiên của An Lộc Sơn cướp phá Trường An, giết hết dân chúng, không phân biệt già trẻ, trai gái triệu người mất mạng trong vụ đó. Rốt cuộc, loạn đó bị dẹp: An Lộc Sơn bị con là Khánh Tự giết để cướp ngôi; Khánh Tự lại bị tướng là Sử Tư Minh giết, rồi chính Sử Tư Minh cũng lại bị con là Triều Nghĩa giết do đó thế của chúng yếu đi, và vào khoảng năm 762, cuộc nổi loạn tự tàn dần; Minh Hoàng đau xót trở về kinh đô mà nhìn cảnh tan hoang. Ít tháng sau ông chết ở đó....] - [Lịch Sử Văn Minh Trung Quốc - Will Durant/ Nguyễn Hiến Lê dch]

Nhan sắc ca Dương Qu Phi "bình thường" thôi, vậy mà cũng có một thi sĩ nổi tiếng ca "nước lạ" mần thơ ca tụng, đượvua Đường thưởng cho cả ký vàng. Sướng chưa?

Này nhé:

 Vân tưởng y thường hoa tưởng dung/ Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng

(Mây ngỡ áo xiêm, hoa ngỡ dáng mặt/ Gió xuân lướt qua hiên, hoa đẫm sương đẹp)

Và:

Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan/ Trường đắc quân vương đái tiếu khan

(Danh hoa nghiêng nước sánh đôi vuiĐể xứng quân vương một nụ cười)

Chữ "khuynh quốc" trong câu thơ để "nnh" Dương Quí Phi đó.

(Thanh bình điệu - Lý Bạch)

-- Có vấn nạn này ông !

-- Vấn nn gì?

-- Nhan sắc của Dương Quí Phi cũng "thường thường bậc trung" như ông sử gia Durant nói, vậy thì tại sao vua Đường say mê bà ta như điếu vậy?

-- Chắc có lẽ bà ta... có nghề.

-- Nghề gì?

-- Thì nghề Tú Bà dạy cho Thúy Kiều chứ nghề gì.

Nhớ không, trong Truyện Kiều-Nguyễn Du:

 

"Nghề chơi cũng lắm công phu (1201)

Làng chơi ta phải biết cho đủ điều (1202)

...

Này con thuộc lấy làm lòng (1209)

Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám ngh

Chơi cho liễu chán, hoa chê

Cho lăn lóc đá, cho mê mẫn người.”(1212)

 

-- À ra vậy. Thiện tai, thiện tai!

Thiển ngh: Dương Qu Phi nhan sắc đ như vậy, vậy thì 3 "đi m nhân" ca "nưc lạ” còn li chắcũng giống vậycũng same same thôi, phi không? Cn thn nha các bạnĐng nghe nhng gì "nưc l" nói, hãy nhìn kỹ nhng gì "nưc l" làm! Các ngài y thâm lm, đã viết ra "Tam Thp Lc Kế" đó, nào là "Rút cũi đáy ni", "Gắp la bỏ tay ngưi"v.v... Khiếp lm, "Quân Vương" (tiếng Ý: Il Principe, tiếng Anh: The Prince) cNiccolo Machiavelli cũng chu lép vế đó nha.  Hãy cẩn trọng!

 

BẢY CHỮ TÁM NGHỀ

"Bảy chữ, tám nghề" là những mánh khóe, thủ đoạn mà Tú Bà dạy cho nàng Kiều khi ở lầu xanh thuộc nằm lòng áp dụng để làm sao cho khách làng chơi mê mẫn mà đổ hết bạc tiền, tiêu hết cơ nghiệp vào trò chơi hương phấn.

Nhân chuyện nói Dương Qu Phi "có nghề" , ta thử "lm bàn" về " Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề" xem sao.

Vành ngoài 7 ch

Có thể giải thích “vành ngoài” là nghệ thuật khiêu gợi bằng ngôn ngữ, tình cảm, nói năng, hát xướng; bằng những cái liếc mắt đưa tình, bằng những ôm ấp nhẹ nhàng nũng nịu... mà Tú Bà truyền dạy cho Kiều.

Vành ngoài bao gồm 7 chữ sau đây: Khốc, Tiễn, Thích, Thiêu, Giá, Tẩu, Tử.

1. Khốc : Có nghĩa là khóc, dùng nước mắt để làm động lòng thương cảm của khách. Vũ khí của phụ nữ chính là nước mắt – một câu ngạn ngữ nổi tiếng của phương Tây, và ở đây Đông Tây đã gặp nhau.

2. Tiễn  : Có nghĩa là cắt. Mỗi người cùng cắt một mớ tóc, kết thành một sợi rồi chia cho nhau buộc vào hai cánh tay, làm lễ “kết tóc” biểu tỏ thủy chung bền chặt, thể hiện lòng chân thành khiến khách không nỡ bỏ đi.

3. Thích : Có nghĩa là đâm, chích. Lấy cây trâm chích vào cổ tay hay trên bắp đùi những câu yêu đương, thề thốt. Cũng giống như phong trào xăm tên người yêu lên cơ thể mình ở phương Tây vậy.

4. Thiêu : Có nghĩa là đốt. Dùng hương đốt giả bộ thề nguyền rồi chích vào tay mình và tay khách để tỏ dạ chung tình . Có sáu vị trí để thiêu :

a) Bụng kề bụng gọi là "chính nguyện đồng tâm"

b) Đầu chụm đầu gọi la "chính nguyện kết tóc"

c) Tay tả mình khít với tay tả khách gọi là "hứa nguyện liên tình bên tả"

d) Tay hữu mình liền với tay hữu khách gọi là "hứa nguyện liên tình bên hữu"

e) Đùi tả mình khít với đùi hữu khách gọi là "hứa nguyện giao đùi bên tả"

f) Đùi hữu mình khít với đùi tả khách gọi là "hứa nguyện giao đùi bên hữu"

5. Giá : Có nghĩa là cưới hỏi làm vợ chồng. Tức là sau khi điều tra được gia cảnh giàu có của khách thì thề non, hẹn biển để khách bỏ ra một khoản tiền lớn cưới mình về.

6. Tẩu : Có nghĩa là chạy. Đây là kế “đà đao”. Tức là khi dan díu đã lâu và thấy khách đã hết tiền, tiền chuộc chẳng có mà tiền chơi cũng không. Thì khi đó sẽ giả vờ thề thốt với khách là sẽ cùng nhau bỏ trốn. Hẹn khách gặp mặt ở chỗ nào đó, nhưng kỳ thực không đến mà sẽ báo cho quan binh hay chủ nợ đến để bắt. Đây là một cách tống khứ khách hết tiền đi.

7. Tử : Có nghĩa là chết. Tức là đem cái chết ra thề thốt cho khách tin là mình yêu, chỉ biết có khách thôi, nếu không tin thì chết ngay tại chỗ.

 

. Vành trong 8 ngh

"Vành trong” chính là nghệ  thuật chăn gối: những kinh nghiệm thiết thực Tú Bà đúc kết, truyền li các Kiều nữ áp dụng, để  giúp khách đt được đnh trong "cuộc mây mưa".

Tám tuyệt kỹ về phòng the là:

1. Kích cổ thôi hoa (击鼓催花: đánh trống giục hoa):

Điển tích này xuất phát từ thời Võ Tắc Thiên, khi mùa xuân hoa trong vườn thượng uyển không nở, bà cho quân lính đánh trống dồn dập ép hoa phải nở.

Áp dụng vào nghệ thuật phòng the, nàng có thể giúp đỡ chàng nếu chàng “yếu sức” hay chàng chỉ “ngắn, nhỏ” mà thôi. Với tư thế “cưỡi ngựa”, nàng hãy ngồi lên người chàng, ép chặt vào chàng và chủ động tốc độ dồn dập để chàng mau đạt đến sự “mỹ  mãn”.

2. Kim liên song tỏa (金莲双锁: sen vàng khóa chặt):

Nếu chàng có “ca qu ” gồ ghề, khe mnh, kéo quá dài cuộc yêu thường sẽ khiến cho nàng mệt mỏi. Chi bằng, nàng dùng chiêu “Kim liên song tỏa”, khép chặt hai chân (cơ đùi thường khỏe hơn cơ vòng) để tăng thêm độ kích thích lên chàng, cả hai sẽ mau chóng chạm đỉnh yêu đương.

3. Đại triển kỳ cổ (大展旗鼔mở tung cờ trống):

Mở tung cờ trống tức là cả hai không ai nhường ai, dồn dập “tấn công” lẫn nhau. Nàng hãy cuồng nhiệt đáp trả lại chàng bằng cách nẩy người hoặc ôm siết lấy chàng, không thụ động. Điều này rất thích hợp nếu chàng và nàng đều thích sự mạnh mẽ và tốc độ cao.

4. Mạn đả khinh xao (慢打輕敲chậm đánh khẽ rung):

Nếu chàng thích nhẹ nhàng, từ tốn thì dùng phương pháp "chậm đánh khẽ rung": Mỗi khi chàng “đi vào”, nàng hãy chậm rãi giữ chàng lại lâu hơn một chút rồi “co chặt” và “mở ra”. Lúc này, cảm giác gần gũi, đằm thắm sẽ khiến cả hai đều hạnh phúc.

5. Khẩn soan tam trật (緊薂三秩: ba lần đổi thế):

Nếu chàng mắc vào trường hợp “chưa đi đến chợ đã rơi hết tiền”, tức là quá mau chóng “kết thúc trận đấu” mà chưa thỏa mãn cả hai, thì sau vài nhịp, nàng nên chủ động đổi tư thế để chàng dừng cảm xúc lại và kéo dài cuộc yêu. Nàng có thể vòng chân ôm chặt chàng, đồng thời khóa chặt "cậu nhỏ", để chàng đủ thời gian cảm nhận cảm xúc êm dịu với nàng.

6. Tả chi hữu trì (左搘右持tay mặt ôm, tay trái giữ):

Khi chàng quá “ham” chiến đấu, khiến nàng bị tổn hao sức lực, hoặc làm đau nàng; thay vì có thể làm chàng “mất hứng” dù lời phàn nàn có nũng nịu đến đâu chăng nữa, nàng có thể sử dụng cách này: Chủ động ôm chàng và giữ chàng chậm lại; việc làm này của nàng có thể khiến chàng cảm thấy cả hai hòa hợp và lắng nghe nhau, tăng thêm sự gắn bó giữa hai người.

7. Tả tâm truy hồn (鎖心追魂: khóa lấy tâm, theo dõi hồn):

Đây chính là lời khuyên nàng nên theo dõi cảm xúc của chàng và cộng hưởng cùng chàng. Khi nhận biết được chàng đang “tăng tốc”, nàng có thể vận dụng cả “thân” lẫn “tình”, tức là phối hợp với chàng tăng cao nhịp độ yêu, “siết” chàng nhiều hơn, nhanh hơn, đồng thời thể hiện cảm xúc của nàng thông qua nét mặt, hơi thở, tiếng rên kh… khiến chàng thêm hào hứng, đê mê ... để “về đích” cùng nhau.

8. Nhiếp thần siểm tỏa (攝神諂坐: dềnh dàng cướp vía):

Với nam giới, thì khi yêu, người mình yêu luôn xinh đẹp nhất thế gian. Và chính vì đàn ông yêu bằng mắt, nên những thể  hiện bên ngoài thông qua ngoại hình, hành động, cử chỉ, tư thế khêu gợi… của nàng, đều có tác dụng khiến chàng say mê và ân ái thêm nồng nàn. Đừng quên dùng ngôn ngữ cơ thể trong cuộc yêu, đừng bỏ qua việc “tạo dáng” sao cho thật hấp dẫn với chàng, và đừng quên “nhịp điệu cơ thể” sẽ khiến chàng mê mẩn.

Các bn ngh sao về "By chữ tám nghề" Tú Bà dy cho Kiều nữ?

 

LỜI KẾT

Bài loạn bút cũng khá dài, xin phép được ngưng nơi đây, mong các bạn "mua vui cũng đưc mt vài trống canh". Hẹn ngày "tái nạm".

Laughter is the best medicine in the world. So keep Smiling! (Nụ cười là liều thuốc vạn năng, hăy luôn mỉm ời!)


Nguyên Lạc                                               

...........................

 

[*] Hai câu thơ đúng là:

Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu

Thoại bất đầu cơ bán cú đa

Hai câu thơ trên là cÂu Dương Tu (1007 - 1072) thời Tống ở Trung Quốc:                                         

(Uống rượu mà gặp bạn hiểu mình thì ngàn ly cũng còn ít

Nói chuyện mà không hợp nhau thì nửa câu cũng đã nhiều)

ợu gặp tri âm ngàn chén thiếu

Tiếng không đồng điệu nửa câu thừa.

 

Tham kho:

Lch sử văn mình Trung Quc (Nguyễn Hiến Lê - Will Durant), Vũ Thế Thành, BS Hồ Đắc Duy, Đổ Đình Đng, Facebook...


READ MORE - TỬU SẮC - Nguyên Lạc