Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, July 30, 2022

HOA THANH LONG - Chu Vương Miện

 






READ MORE - HOA THANH LONG - Chu Vương Miện

VỜI VỢI KHOẢNG TRỜI XƯA - Thơ Nguyễn Trung Giang

 

Nhà thơ Nguyễn Trung Giang


Vời vợi khoảng trời xưa

 

Ta như con gió say nguồn cội

Lay lắt triền sông lât ngọn nồm

Tóc nắng chần trần mê  đồng nội

Nhẹ nhàng như sương khói chiều hôm

Khoảng trời xưa trong ngần như nắng

Tha thiết... thơm tho giữa khó nghèo

Mơ ước bay theo làn mây trắng

Cây trái lên mùa toả thương yêu

Bờ tre trải bóng êm đềm mộng

Bến nước mơ màng con sóng xô

Cánh  diều thơ ngây vờn gió lộng

Aó trắng tinh khôi tuổi học trò

Bỏ lại sau lưng một khoảng trời

Nghìn trùng nhớ lắm cố hương ơi !

Ăm ắp trong tim màu kỷ niệm

Thành giọt tương tư nhỏ xuống đời


                    Nguyễn Trung Giang

READ MORE - VỜI VỢI KHOẢNG TRỜI XƯA - Thơ Nguyễn Trung Giang

MÌNH ĐÃ GIÀ THẬT RỒI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

 

Mình đã già thật rồi

 

Rồi chúng ta cũng sẽ già

Cả thể chất và trí tuệ đều lộ ra những khiếm khuyết

Với những ý kiến trái chiều, mờ dần kỹ năng phân biệt

Khi cánh cửa cơ hội, mỗi ngày mỗi xa

Chỉ còn lại sự hào phóng trong những lời khuyên

Không bao giờ sai, nhưng cũng không có nghĩa là đúng

Dẫu không có gì thô vụng

Mà sao lướng vướng, băn khoăn một chút muộn phiền

 

Con đường nào cũng có những bước đầu tiên

Đứng trước sự lựa chọn, 

                      mình đã chọn sự không lựa chọn

Thì đừng có than vãn gì, mà giang tay mở đón

Một sự thật hiển nhiên

Chúng ta già rồi, giữ mãi trong lòng 

                                 những điều thất vọng làm chi

Còn lấy cái rêu phong để làm đồ trang sức

Dù đã biết thời gian cũng xói mòn các chuẩn mực

Năm tháng chất chồng lên tuổi tác, 

                           sao như còn vướng bận điều gì?

 

Mình đã già thật rồi, khi không còn những ước mơ

Cứ quanh quẩn trong đôi hồi sáng tối

“Người hoàn thiện nhất là người hữu ích nhất 

                                                          cho xã hội”.(*)

Dù năm tháng trôi qua, dĩ vãng đã hoen mờ

Vẫn niềm tin nguyên vẹn thắm tươi

Thế hệ chuyển giao, mùa theo mùa tiếp nối

Mặc cho bão giông, mưa tuôn nắng dội

Những góc cạnh xa xăm, 

                           những vọng tưởng cuộc người…

_____

(*) Kinh Coran

 

Tiếng chim bên đường

 

Chim cút kêu nhịp đôi bên kia đồi

Nghe sâu lắng, xa xôi trong chiều xuống

Vạt mây xám cuối chân trời xoáy cuộn

Con suối nhỏ, hồn nhiên mãi miết trôi

                       *

Trời se lạnh, hoàng hôn nắng lưa thưa

Đường lên rẫy ngược dòng suối cạn

Buông thả mái tóc dài chểnh mảng

Đâu mất rồi, một dáng vẽ ngày xưa

                       *

Chập chờn rơi, rối lẫn nét thu không

Chiều mắc cạn bên nhánh đời sáng tối

Buổi tàn ngày, sao em không bước vội

Mà nhẩn nha, cho gờn gợn sóng lòng

                      *

Ngọn bấc cầu tài, vụng về mơn man

Hàng lau lô xô, dập dờn đánh võng

Bao năm tháng, nét xuân thì khê đọng

Bạc phếch thời gian, đổ xuống phủ phàng

                        *

 Rối bước chân, em chầm chậm lối về

Tiếng chim cút bên đồi, kêu khắc khoải

Như nhắn gửi một điều gì muốn nói

Vạt nắng hanh vàng, xao động đam mê …

 

 

Lời đã cạn, vội vàng tin nhắn

 

Sao lại thăm dò nhau bằng một dấu chấm câu

Như chờ sẵn một nỗi buồn tĩnh lặng

 

Trong không gian im vắng

Thiệt tình không biết mình đang ở đâu

Dốc hết tình xa, trong một cuộc truy cầu

 

 



Em bước qua nỗi đau buồn mùa Covid

 

Cứ âm thầm day trở lắng vào trong

Đời đâu phải cái gì mất, rồi cũng sẽ tìm lại được

 

Em đứng lơ ngơ, tan nát cõi lòng

Bạn bè đến chia buồn, rụt rè từng bước

Vững bước lên em, đi trong nước mắt lưng tròng…

         

Lê Thanh Hùng

Bắc Bình, Bình Thuận


READ MORE - MÌNH ĐÃ GIÀ THẬT RỒI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Truyện ngắn THẦY HỬNG - Vũ Hùng

Nhà văn Vũ Hùng


Truyện ngắn

THẦY HỬNG


Để được người ta gọi là thầy dù là thầy gì đi nữa một cách tâm phục khẩu phục không phải dễ đâu nha?

Đấy nhà sư Bửu Đài, trú trì chùa làng Đông Trạch đã sáu mươi mấy tuổi, hơn bốn mươi năm tu hành khổ hạnh với rau dưa chấm với xì dầu, dù kinh kệ có tinh thông, trên đầu có sáu chấm hẳn hoi như ai nhưng vẫn bị gọi là Sư Dài chứ có ai gọi là thầy Đài, hay Thượng toạ Đài đâu? Vì mỗi lần có đạo hữu đại gia nào tới cúng dường là Sư cứ: A Di Đà Phật dài lắm, chẳng khác nào anh kép cải lương hụt hơi khi xuống câu vọng cổ vậy!

Còn thầy Ga, thầy Tam Tam... lúc đang dạy học cũng như lúc về vườn, người làng cứ gọi xếch mé là lão Gà, lão Vịt. Còn thầy Dũ dạy Ngữ Văn nổi tiếng cả vùng, da dẻ đen điu, mắt lồi, răng vẩu, chuyên viết thơ Đường luật, bị mụ vợ học đển lớp hai bình dân học vụ sau 1975 ghen dữ dội, bắt phải bỏ thơ Đường ngang xương và chuyển sang viết truyện ngắn, người làng cứ gọi là ông Dũ là phúc tổ lắm rồi vì có mụ vợ hung dữ và hỗn hào quá! Chỉ có ông giáo với cái biệt danh gắn liền với cửa miệng người làng là không hề thay đổi đến nỗi tên thật ông ấy là gì lắm lúc người ta cũng quên khuấy? Có khoảng năm bảy cụ tuổi hàng tám, hàng chín như cụ Trình Tẹo, cụ Trình Quà, cụ Tứ Ảy,  cụ Hân Cài... gọi ông giáo bằng giáo sư. Gọi thiệt tình chứ không phải đùa đâu? Những lúc như vậy ông giáo đều khoả tay:

- Ấy chết! Các cụ hiểu cho giáo đây chỉ là giáo làng, là hương sư chứ không phải giáo sư đâu?

Duy chỉ có lão Chưng Văn Hửng ở cách nhà ông giáo chừng mười cái nóc nhà là có phần hơi đặc biệt. Không chỉ người làng từ lớn chí bé mà một số nơi ngoài tỉnh nhất là ở Tây Nguyên đều gọi lão bằng thầy một cách nể phục. Phục sát đất luôn!

Lão học hành có bao nhiêu đâu. Chỉ học lỡ cỡ lớp Đệ thất trường Trung học công lập Đào Duy Từ thì giải phóng và ở nhà luôn.

Lão Hửng to con, vạm vỡ lắm.

Có điều là chưa được bảnh trai và lười biếng là số dách khó ai địch nổi. Trẻ con ngang bướng, khóc nhè, vòi vĩnh chỉ cần nhắc tên lão Hửng là im re.

Cái mặt của lão từa tựa như cái bánh bèo úp sấp bị bán ế đến mấy ngày. Nhìn có vẻ hơi hóm hỉnh, lất khất pha chút dữ dằn nhưng lão hiền khô chẳng hà hiếp ai bao giờ?

Với bộ dạng như vậy, con gái nào dám yêu? Vậy mà đến năm ba mươi hai tuổi, lão cũng được con bé Khạo ít hơn ba tuổi, người nhỏ nhắn có khuôn mặt bánh bao chiều không nhân, con mụ Khờ xóm Lạch đem lòng yêu thương và nên duyên chồng vợ. 

Cũng pháo nổ đì đoàng trước ngõ đón cô dâu!

Cũng cỗ bàn ít mâm đơn sơ vài món rau củ gọi là với vài lít rượu trắng đãi họ hàng!

Thời bao cấp khó khăn lắm!

Đầu năm sinh con gái đặt tên là Chang. Cuối năm sinh con trai đặt tên là Hảng .

Nhà nghèo khô nhưng lão Hửng chẳng làm việc gì cả. Việc to, việc nhỏ đều do mụ Khạo gánh vác, từ việc đồng áng, công điểm đến cơm nước, con cái, giặt giũ. Còn lão thì ngày này qua ngày khác cưỡi chiếc xe đòn dông gỉ sét đến chỗ nào có người để tán dóc và đánh cờ tướng.

Có điều đáng ngạc nhiên là lão Hửng có gan làm những chuyện tào lao đến khó tin, đố ai dám làm, nhưng trúng phóc mới chết chứ?

Chuyện cũng hơn mười năm rồi, trong lúc đang trưa lão Hửng ngồi hóng mát một mình dưới gốc đa đầu làng thì có gã thanh niên gầy gò, da rám nắng trạc ngoài bốn mươi tuổi trông lạ hoắc mặt rầu rĩ đến hỏi thăm:

- Nhà thầy Xoàng ở đâu vậy chú?

Lão Hửng hỏi lại:

- Để làm gì vậy? Chú mày ở đâu?

- Dạ, ở cây số 82. Trước khi cha cháu mất có dặn là phải xuống làng Đông Trạch nhờ cho bằng được Thầy Xoàng coi ngày giờ tẩm liệm và chôn cất... Thầy Xoàng giỏi lắm, uy tín lắm!

- Thế chú mày đã gặp Thầy Xoàng chưa?

- Dạ chưa!

Lão Hửng suy nghĩ một lát hơi lâu về cái thằng cha Thầy địa Xoàng ba xạo, lẻo mép ở xóm Chuối, rồi nói:

- Thầy Xoàng đang ở trước mặt chú mày đây?

Người thanh niên mừng rỡ nắm tay lão khẩn khoản:

- Nhờ quý nhơn phù trợ, con gặp được Thầy Xoàng...

Lão Hửng hỏi ông cụ chết lúc mấy giờ, ngày nào, tuổi tác từng người trong gia đình, rồi xòe ngửa bàn tay củ gừng năm ngón ra bấm từng đốt một, không sót đốt nào, miệng lẩm nhẩm Tý Sửu Dần Mẹo như một gã tâm thần. Lão rút tờ giấy vở đã nhàu định để cuốn thuốc rê hút trong túi ra rồi cắm cúi ghi chép khá cẩn thận. Xong lão đưa tờ giấy cho gã thanh niên và dặn dò rất kỹ:

- Cứ theo những điều ghi trong giấy mà làm nghen.

Gã thanh niên cám ơn rối rít rồi vội vã lên đường cho kịp chuyến xe và cũng không quên tạ lão Hửng một bì thư dày cộp những tờ tiền năm chục ngàn đồng.

Sau này nghe dân trên cây số 82  kể lại khi gã thanh niên đem tờ giấy của thầy Xoàng về mấy ông thầy địa trong vùng xúm lại xem để học hỏi đều lắc đầu, lè lưỡi vì giờ giấc sai bét, hạ huyệt nhằm ngày thọ tử, tổn hại đến con cháu.

Vậy mà chẳng hiểu sao nhiều năm liên tiếp gia đình, dòng họ gã thanh niên kia trúng mùa cà phê, tiền vào như nước, con cháu học hành tấn tới khó ai bì kịp. 

Tiếng tăm thầy Hửng nổi như cồn. Dân Buôn Hồ, cây số 82, Hà Tam, An Khê...hễ có đám ma, đám cưới, xây nhà, mua xe, mua đất... là đến làng Đông Trạch một thưa thầy Hửng, hai cũng thưa thầy Hửng làm ơn làm phước giúp cho.

Thầy được trọng vọng như một vị thánh. Bạc tiền trong túi luôn rủng rẻng, cửa nhà đâu kém cạnh ai? Mụ Khạo được rảnh tay rảnh chân, giờ tròn quay như hạt mít. 

Nhưng người làng Đông Trạch không phục cứ gọi bằng lão Hửng một cách xếch mé! Chỉ đến khi cái chuyện sanh con trai của thằng Long thợ hồ thì cách nhìn của dân làng  đối với lão có phần nể nang hơn một chút!

Băt đầu từ chuyện thằng Long ba mươi tám tuổi có con vợ tên là Thị Đong sanh tì tì bốn đứa con gái, mang gói trà và một trăm ngàn đồng chẵn gọi là chút lễ mọn đến cậy nhờ lão Hứng bấm quẻ giúp cho sanh con trai nối dõi tông đường.

- Chuyện nhỏ như con thỏ! 

Lão cười cười, hỏi tuổi tác rồi xòe bàn tay như củ gừng ra bấm từng đốt một không sót đốt nào đến mấy bận. Vẫn lẩm nhẩm câu Tý Sửu Dần Mẹo... như một gã tâm thần

- Rồi, OK sẽ sanh con trai như ý muốn!

- Thưa thầy vậy khi nào gần gũi vợ được? ,Thằng Long thắc mắc.

- Ngay hôm nay, mười bảy giờ là OK!

Khoảng mười bảy giờ mười lăm phút ngay chiều hôm đó thằng Long mặt mày trầy xước dọc ngang như mèo cào đầy máu, vác dao phay sáng choang xông vào nhà lão Hửng.

- Lão Hửng đâu? Lão Hửng đâu? Có phải lão chơi xỏ tui hông? Già đầu mà ngu như bò bày chuyện dại...

Lão Hửng tái mặt, nhìn chằm vào chiếc dao phay nhọn hoắt, giọng nhỏ nhẹ:

- Bình tĩnh đi Long! Chuyện đâu còn có đó! Bỏ dao xuống nói rõ ràng sự thể ra sao để có hướng giải quyết?

Thằng Long vứt chiếc dao phay xuống nền nhà đánh cộp một tiếng khô khốc nghe phát rợn người! 

Nó hổn hển kể lại cảnh lúc con vợ đang lom khom cho heo ăn chiều vừa đúng mười bảy giờ thì bị lôi lên giường.Nó la hét chống cự quyết liệt, hai tay cào vào mặt Long rồi vùng bỏ chạy ra ngoài

- Ông điên à? Không sợ con cái, làng xóm chê cười á? Hứng chi mà bất tử vậy?

Lão Hửng cố nhịn cười. 

- Vợ chống cự và chửi bới, cào cấu là điềm tốt. Cứ như vậy là sanh con trai đó!

- Vẫn mười bảy giờ chứ?

Lão Hửng gật đầu.

Thằng Long cầm dao lủi thủi ra tới cổng còn ngoái đầu lại.

- Phen này mà đẻ con gái tui chém lão thiệt đó? Ở tù cũng được!

-  Còn sanh con trai thì sao?

- Thì tui gọi ông bằng Thầy, bằng sư phụ chớ sao? Tui dâng ông cái đầu heo và mười triệu đồng, không thiếu một xu?

Chín tháng mười ngày sau mụ Đong sanh được đứa con trai bụ bẫm gần bốn ký tại bệnh viện đa khoa Quy Nhơn. Giữ lời thằng Long mang đầu heo và mười triệu đồng đến tạ ơn lão Hửng . Lão chỉ nhận chiếc đầu heo còn tiền thì lui lại. Thằng Long quỳ  sụp xuống đất lạy hai lạy và bái hai bái.

- Sư phụ! Con có người nổi dõi tông đường rồi, ơn này ngàn đời không phai!

- Vẽ chuyện! Cái việc chú mày quậy bữa trước làm tao không vui, mất mặt với làng xóm quá! Chuyện sanh con trai từ nay trở đi tao không dính vào ai nữa đâu? Tao thề đó!

- Mong sư phụ bỏ qua! Dạ sư phụ đặt tên cho cháu bé luôn ạ!

Suy nghĩ một lát, lão Hửng cười hóm hỉnh:

- Nguyễn Văn Mười Bảy!

- Dạ, đa tạ Sư phụ! Đa tạ Thầy!

Sau vụ con mẹ Thị Đong sanh con trai đã có vài chục người trong làng gọi lão Chưng Văn Hửng là Thầy. Chỉ có lão Gà và lão Tam Tam là ra mặt chê bai.

- Cái thứ nói dóc gặp thời như cò ỉa trúng lỗ chai! Thầy bà gì lão? Thầy, Thầy cái con... khẹt!

Rồi cũng từ cái vụ con mẹ Phương Hề bắt đầu lai chim tố cáo lão Võ Nằm Yên lừa đảo, trị bệnh câm điếc không khỏi chứ chưa đụng chạm đến những nghệ sĩ với tiền tỷ từ thiện cứu trợ đồng bào bão lụt miền Trung thì lão Hửng đã tiên đoán như đinh đóng cột tại quán cà phê Chòi Lá ở giữa làng:

- Cái kiểu này sớm muộn gì con mẹ Phương Hề cũng bị nắm đầu vào nhà đá!

Lúc đó lão Gà, lão Tam Tam và rất nhiều người đều nghe rõ mồn một lão Hửng nói những lời bá láp ai mà tin nổi.

Lão Gà bĩu môi 

- Thầy bà gì cái cái lão Hửng dự báo tào lao. Tố cáo cái xấu, cái sai mà bị tù à?

Lão Hứng vẫn tỉnh bơ.

- Vậy mới hay chớ!

- Ông dám cá với tui không?

- Cá như thế nào? - lão Hửng hỏi lại.

- Nếu trong vòng một năm mụ Phương Hề bị bắt thì tui với ông Tam Tam đây sẽ thua ông năm chục triệu và gọi ông bằng thầy suốt đời ngược lại bà Phương Hề không bị bắt, ông chỉ mất một triệu đồng bao cà phê cho cả làng thôi và bị gọi bằng thằng muôn đời? OK chưa!

Lão Hửng bằng lòng và cuộc nói chuyện được quay clip lại rõ ràng, có người làm chứng hắn hoi!

Sau khi mụ Phương Hề bị bắt giam, quán cà phê Chòi Lá đông nghẹt người làng ra uống cà phê mà không bỏ một xu. 

Lão Chưng Văn Hửng được mọi người công nhận là tài giỏi thiệt và gọi là Thầy Hửng một cách tâm phục. Còn lão Gà, lão Tam Tam không biết độn thổ trốn đi đâu mất tiêu? 

Bằng chứng clip còn đây, có mà chạy đằng trời!


Bình Định,28.07.2022

Vũ Hùng










READ MORE - Truyện ngắn THẦY HỬNG - Vũ Hùng

Friday, July 29, 2022

LẠC GIỮA RỪNG – Thơ Lê Phước Sinh

 
             Nhà thơ Lê Phước Sinh
 

LẠC GIỮA RỪNG
 
Cây
Bỗng òa ra khóc
Ta
bối rối vô cùng,
ôm sát kéo vào gần
hôn má, môi
an ủi.
 
Lê Phước Sinh

READ MORE - LẠC GIỮA RỪNG – Thơ Lê Phước Sinh

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT #9 – Thơ Nguyên Lạc

 
 
                Nhà thơ Nguyên Lạc

 
CHIỀU LỮ THỨ
 
Lữ khách. Tà dương. Nỗi nhớ nhà
Mắt vời cố lý tít mù xa
Tang thương điệp khúc muôn trùng vọng
Tám sải hồng chung nhủ thiết tha
 
 
RƯỢU LƯU VONG
 
Thiên hạ ai người lòng lớn rộng?
Cùng ta uống cạn chén lưu vong!
Thanh xuân thất chí tiêu đại mộng
Thống hận cuồng ngâm khúc Hồ trường!
 
 
THU TỰ VẤN
 
Chỉ là tiếng khẽ gió lay
Chỉ là xào xạc lá rơi tiếc cành
Vàng thu vương vấn sương hanh?
Chạm ngăn ký ức vỡ tràn hương xưa!
 
 
ĐÊM MƠ
 
Chong khuya đầy mắt bóng hình
Giấc mơ hồ điệp truy tìm cố nhân
Vũ y tha thướt nghê thường
Mãn khai một đóa quỳnh hương tặng người
 
Nguyên Lạc
 
READ MORE - NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT #9 – Thơ Nguyên Lạc

Thursday, July 28, 2022

TÌM LẠI KHÚC RU NÔI - Thơ Hải Thuỵ

 

Nhà thơ Hải Thuỵ

TÌM LẠI KHÚC RU NÔI

 

Bao kẻ bỏ đồng ra phố chợ

Ta tìm... yên lặng chốn làng quê

Bỏ lại sau lưng nhiều dự tính

Về nghe kẽo kẹt tiếng hàng tre

Chiều hong gió mát - nồm đông thổi

Ly rượu Kim Long* thỏa nỗi niềm

Nghiêng bầu tâm sự chung nhau cạn

Mặc đời tất bật - bến với thuyền

Đêm trăng lồng lộng vàng con nước

Thả sức đùa vui giữa đất trời

Ngụp lặn - tắm lòng cho tươi trẻ

Cái thời ngây dại... tuổi đôi mươi

Lãng đãng thơ xanh miền ký ức

Rày đây - mai đó gác bước chơi

Cuộc lữ thường khi không nơi trú

.... khuya vẳng tiếng hời - khúc ru nôi

                         ---

Chợt động hiên ngoài - chim sáo gọi

Mạ ơi con đang ở bên người...!


HẢI THỤY

haithuydnb@gmail.com

READ MORE - TÌM LẠI KHÚC RU NÔI - Thơ Hải Thuỵ

"RỒI MÙA TOÓC RẠ RƠM KHÔ…” - Tùy bút của LÊ ĐỨC DỤC

 

Nhà báo Lê Đức Dục

"RỒI MÙA TOÓC RẠ RƠM KHÔ…” 

Tùy bút của LÊ ĐỨC DỤC

 

1.

Không biết miền Trung có câu ca dao mô da diết hơn cái câu: "Rồi mùa toóc rạ rơm khô/Bậu về quê bậu biết mô mà tìm.” Thoạt nghe ai cũng băn khoăn đã "toóc” sao lại còn "rạ”? Thật ra phương ngữ Quảng Trị, "toóc” chính là rạ - phần thân lúa còn lại sau khi gặt xong - chữ rạ trong rơm rạ, còn chữ "rạ” chính là "rã” khi gốc rạ rã ra, gục xuống.

 

Bây giờ có nhiều bạn sẽ hỏi vì sao mà đợi đến khi "rồi mùa toóc rạ rơm khô” mới bần thần da diết: "bậu về quê bậu biết mô mà tìm”? Câu ca ấy tôi nghe mạ tôi ru mình rồi sau này ru những đứa em của mình mà thuộc. Nhưng phải khôn lớn hơn mới biết trong câu ca dao ấy có một phần đời của ông bà ngoại mình.

 

Ngày xưa, ruộng vùng Cam Lộ quê tôi không nhiều nhưng cũng đủ nổi lên vài điền chủ, cố ngoại tôi là một chủ ruộng như thế. Ông ngoại tôi, dù là con điền chủ thì cũng như bao trai tráng nông dân ra đồng cày cuốc như một lực điền, cả mấy anh em trai của ông ngoại tôi chỉ duy nhất người ông út được học hành, nổi tiếng với làm thơ, kể vè mà dân vùng chợ Phiên Cam Lộ giờ vẫn còn nhắc lại "Vè ông Khánh”.

 

Mùa gặt về, những tốp thợ gặt vùng Hải Lăng - vốn ruộng nương mùa màng gặt xong sớm lại tìm lên Cam Lộ để gặt, có một thôn nữ của làng Duân Kinh - Hải Xuân -Hải Lăng nằm trong nhóm bạn gặt rồi không biết bao nhiêu mùa gặt lên về như thế, cũng không biết có phải từ câu ca "rồi mùa toóc rạ rơm khô” mà ông ngoại tôi đã lặn lội đi tìm bà ngoại tôi hay không, nhưng chuyện tình cô thợ gặt và anh con trai nhà điền chủ đã thành vợ chồng vào những năm 30 của thế kỷ trước. Mấy chục năm trước, khi tôi là đứa trẻ con tò mò về những câu ca dao và chuyện đời xưa, mấy cậu mấy dì đều kể rằng những mùa gặt ngày xưa, tức là thuở những năm 30 ấy, cuộc sống khó khăn nhưng thanh bình, bây giờ nhớ lại cái không gian gần một thế kỷ trước, tôi vẫn cứ nghe ngân vọng những câu thơ của Lưu Quang Vũ: "Lênh đênh ai hát ngoài song cửa/ Bài ca thanh bình đêm cũ/ "Hoa lá quên giờ tàn /Mây trắng bay tìm đàn” /Ngày xưa yên ấm quá/ Trẻ hát đồng dao trên phố/ Con trai xách điếu đi cày/ Con gái quang liềm gặt lúa..” Bài thơ ấy trích ca từ từ một ca khúc xa xưa - bài "Khối tình Trương Chi” của Phạm Duy, cũng hoang hoải trong một màu nhung nhớ "đêm năm xưa, khi cung đàn lên tơ, hoa lá quên giờ tàn, mây trắng bay tìm đàn..” Và những đêm mùa màng xưa ấy, sau một ngày gặt lúa, đêm đêm trên khoảng sân là trai gái vừa đạp lúa vừa hò đối đáp, những câu hò có khi tình tự có khi đâm bắt cứ thế, cùng với thời gian giăng mắc vào trí nhớ, rồi trong một lúc nào đấy, những câu ca vui buồn ấy bật ra, khảm vào gương mặt quê hương, như tôi bây giờ, cứ mỗi lần nghe cái câu "rồi mùa toóc rạ rơm khô” là lòng cứ đinh ninh câu ca ấy được cất lên từ chính mảnh sân gạch của ngôi nhà cố ngoại tôi, trong một đêm xa xưa khi cô thôn nữ Hải Lăng theo bạn gặt về đây và không ngờ rồi làm dâu đất Cam Lộ.

 

Bao nhiêu dâu bể đổi dời, bao nhiêu trần ai biến dịch, trên đồng đất quê nhà thanh bình với những câu ca da diết ấy đã đi qua tháng năm bom đạn, đã nhuốm đỏ máu người thời phục hóa đồng hoang, nhiều mảnh ruộng bùn nay đã nên phố nên phường lầu cao gió lộng, tất cả đã đổi thay, nhưng câu ca ấy vẫn bất tử giữa đất trời, trĩu nặng yêu thương với quê nhà thương khó..

 

2.

Vì sao tôi lại nhớ về câu ca dao "toóc rạ rơm khô” ấy trong những ngày xuân tươi thắm này? Là còn bởi câu ca đó, bây giờ được dân gian chế nên những phiên bản mới, thậm chí có lần tôi còn nghe ai đó, trong một lần vui vầy bên chén rượu đã đổi ra rất hài hước "rồi mùa toóc rạ rơm khô/bạn về Cam Lộ nhớ ghé vô... .” Sau từ ghé vô… (ba chấm) ấy là bất cứ một địa điểm nào của Cam Lộ mà bạn thấy thích .Khoan nói đến chuyện "chế” lại câu ca, bản thân một sáng tác được "chế” thành một phiên bản khác đã nói lên sức sống , sức thâm nhập của tác phẩm ấy, mà dân gian thì bao giờ cũng thích tếu táo đùa vui.

 

Vậy thì bây giờ cũng câu ca ấy, nếu muốn mời ai đó "rồi mùa toóc rạ rơm khô/ bạn về Cam Lộ nhớ ghé vô..? Thì tôi sẽ mời bạn mình ghé vô đâu? Ngày xưa từ chổ cô thợ gặt miệt đồng trũng Hải Lăng lên cho đến miền trung du Cam Lộ đâu có chuyện đò xe, đường sá cũng không thuận tiện nên phải cứ đường bộ mà đi, nên thành ra quan san cách trở dặm dài, thành ra cứ bâng khuâng "biết mô mà tìm” chứ bây giờ chỉ một giờ chạy xe máy là tìm tới tận nơi tận chốn, nên thay vì chuyện bâng khuâng man mác "biết mô mà tìm”, nay bằng hữu gặp nhau lại "tìm mô (để) mà biết”.

 

Không có nhiều danh lam thắng tích tầm di sản thế giới như những bạn bè các vùng lân cận, bạn Huế khoe về lăng tẩm đền đài, bạn Quảng Bình khoe Phong Nha Kẻ Bàng, rồi thêm cái hang động Sơn Đoòng đặc biệt nhất thế giới nữa, nói gần hơn, bạn xứ biển khoe nắng vàng cát trắng, bạn xứ núi khoe cà phê thơm sương mù đẹp, còn về Cam Lộ thăm mình, mình sẽ dắt bạn đi đâu? Tất nhiên là khoe ngay hai vùng đất hai lần làm thủ đô, vùng Cùa, hồi kinh đô Huế thất thủ, năm 1885 vua Hàm Nghi xa giá ra đây ban chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân kháng Pháp; còn trung tâm huyện lỵ bây giờ vốn là trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam những năm 1973-1975. Vùng đất chi mà kỳ lạ, buổi đất nước gian nan cơ cực thì lại về đây đặt..thủ đô kháng chiến. Rồi kháng chiến thành công, dài theo đường chiến thắng, đôi khi những dinh lũy hào thành xưa bặt dấu, khu trụ sở với những nghi thức lễ tân ngoại giao quốc khách xưa cũng phai mờ..Nhưng dù cái "bề mặt vật chất” những hào lũy dinh trại trụ sở…có bị xóa nhòa thì lịch sử vẫn lặng lẽ khắc vào thời gian miên viễn những câu chuyện riêng của đất đai xứ sở, không cách gì mờ phai được. Và vài mươi năm trong dằng dặc ngàn năm, những câu chuyện ấy chỉ là cái chớp mắt của thời gian, nhưng dù là khoảnh khắc chớp mắt thì nó vẫn ngưng đọng lại đấy, vĩnh viễn và bất tử!

 

Nhiều khi về quê nhà, trong những bữa rượu làng với bạn bè, tôi vẫn hay có ý nghĩ là nếu mình thiết kế một "tour” loanh quanh xóm làng cho bạn, tôi sẽ đưa bạn mình đi đâu? Sau những di tích, địa danh được nhắc đến nhiều sẽ là một chốn quê nào đó ? Có một lần, đứng trên chiếc cầu nối từ thị trấn Cam Lộ qua vùng Ba Thung, chụp một bức ảnh về những bãi cỏ triền sông và đưa lên một trang mạng xã hội lúc bấy giờ là Yahoo!360, nhiều bạn bè đã hỏi tôi về cái thảm cỏ bờ sông Hiếu ấy, có thật xanh như vậy hay tôi đã photoshop nó? bạn đâu biết rằng ở những dòng sông quê nghèo miền Trung, nước sông chảy xiết nên lòng sông chỉ cát và đá chứ không có bùn, bờ sông ẩm cát ấy, mọc giăng giăng một loại cỏ chỉ xanh mịn. Rồi một chiều nào đó, đưa bạn về quê, đâu cần chi đi đâu xa xôi diệu vợi. Hãy ra một thảm cỏ bờ sông xanh mịn như thế, và bên dòng sông nước chảy không phải "lơ thơ” mà khá xiết để đủ cho những con tôm con cá phải nỗ lực lội bơi để thắng sức mạnh dòng nước, sông quá trong xanh nghèo phiêu sinh vật , phù du nên muốn kiếm ăn con cá con tôm càng phải vất vả bơi lội kiếm ăn lại càng khiến con cá con tôm nơi đây thịt săn chắc thơm ngọt hơn.


Nếu còn giữ được những ngón nghề tuổi thơ thì hãy nhớ những đống đá dưới lòng sông, ngày thơ bé, tôi vẫn thường xếp những viên đá to tầm cái bánh chưng thành đống làm nơi cho tôm càng xanh tụ tập, rồi chiều tối, mang theo những cái "dẹp” đặt miệng dẹp vào đống đá, trong dẹp là một khúc xương nướng thơm, đặt dẹp đầu hôm, rạng sáng đi dỡ, thế nào cũng có dăm chú tôm càng xanh sa vào đó, chỉ cần dăm cái dẹp là có một mớ tôm càng đẹp lộng lẫy. Kiếm một mớ tôm càng xanh đặc sản sông quê ấy, khêu một bếp than bên bãi cỏ bờ sông và đặt những con tôm càng lên bếp, con tôm sem sém cháy chuyển màu ngã vàng rồi đỏ ửng, mùi tôm thơm trên bếp, mùi khói bãi bên sông, chén rượu gạo quê làng đón bạn, hàn huyên chuyện quê nhà cho đến lúc trăng lên xê xế ngọn tre, trăng lấp lánh tỏa sáng xuống dòng sông lao xao ánh bạc. Hạnh phúc đôi khi đâu phải là cao lương mỹ vị chốn thị thành lóng lánh cao ốc? Nếu thích nữa thì chạy về nhà lấy cái nơm, và bây giờ có đèn pin halogen sáng quắc, không phải như xưa lấy lồ ô đổ dầu hỏa làm cây đuốc khói mù đi soi cá. Với chiếc đèn pin hiện đại ấy, chiếu vào đáy cát, những con cá bống thệ vàng ươm đóng đèn, những con cá lấu trong đám rong mượt ngơ ngác, nếu nhớ nghề thì soi một đêm cũng đủ một nồi canh chua cá lấu mà tôi tin không một loài cá nào có thể nấu canh chua ngon hơn. Nồi cá bống kho khô "quắt tai”, kho sao cho con cá "ngó lui” , và thế thêm một bữa cơm trưa dưới bóng cây khế trong vườn, hoa rụng tím li ti giữa mâm cơm thơm thảo, chỉ vậy thôi mà bạn bảo đủ "năng lượng” để về với xô bồ thị thành, khi nào mệt mỏi lại về bên sông quê, lại khêu bếp than đợi trăng lên, trong hương cỏ bờ sông, trong mùi rong rêu mằn mặn, nghe quê nhà văng vẳng câu ca xưa, ừ thì "rồi mùa toóc rạ rơm khô/ bạn về Cam Lộ nhớ vô thăm mình ”…


                                                                    LĐD

                                                    leducducqt@gmail.com


READ MORE - "RỒI MÙA TOÓC RẠ RƠM KHÔ…” - Tùy bút của LÊ ĐỨC DỤC

ÁNH TÂM XUÂN - Chùm thơ Tuệ Thiền Lê Bá Bôn

 Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây hoa hướng dương | Sở Y tế Nam Định


Chùm thơ

Tuệ Thiền Lê Bá Bôn



ÁNH TÂM XUÂN


Từ độ có tâm xuân
Ngày đông thêm nắng ấm
Ánh dương không xa thẳm
Hương sắc thiền khai hoa

Từ độ có tâm xuân
Ngày hè thêm gió mát
Hương sắc thiền toả ngát
Cho mọi người - cho ta

Bao vần thơ lấm bụi
Nhớ lại thời ca dao
Bao linh hồn trần tục
Tỉnh thức nhớ trời cao...

Mùa xuân ơi mùa xuân!
Cảm ơn hương sắc thiền
Giữa cõi đời gian khổ
Giữa tình đời đảo điên

Mùa xuân ơi mùa xuân!
Cho người vơi nước mắt
Cõi lòng thêm tiếng hát
Yêu cuộc đời thăng hoa.


2021

***


THIỀN


Đối diện với tâm-đang-là
Nhất thể định tuệ an hoà chân như...
“Phàm phu tức Phật” - lời xưa
Tâm ngôn tĩnh lặng - mây mù chợt tan.


2021

***


CHÙM THƠ VÔ ĐỀ


1.
Những năm những tháng... ngày xưa
Mà lòng cứ ngỡ như vừa hôm qua...
Chuông chiều in bóng quê nhà
Nỗi niềm vạn nẻo... vẫn là cố hương.
--


2.
Dù đời lắm nỗi đa đoan
Nhớ mùa Kiết Hạ, an nhàn cõi tâm...
Giữa lô xô sóng phù vân
Đáy lòng vẫn ánh trăng rằm tháng Tư.
--


3.
Lang thang từ thuở luân hồi
Sắc màu nhân thế... mãi rồi cũng bưa...
Chừ về lục bát ta xưa
Ấm tình dân dã nắng mưa quê nhà.
--


4.
Ngày mai ai có hỏi tôi
Thưa rằng tôi đã chết rồi, hôm qua...
Xin chào tạm biệt gần xa
Bình yên ở lại - thái hoà cõi tâm.
--


5.
Đuổi bắt muôn vạn sự đời
Tỉnh ra mới biết: cái “tôi”... tìm mình!...
Mến yêu cuộc sống tuỳ duyên
Bổn Lai Diện Mục toạ thiền cùng trăng.


***
.

(Trích trong tác phẩm Đồng Nhất Thể của tác giả Lê Huy Trứ (Thuvienhoasen org):


“Tuệ Thiền Lê Bá Bôn diễn tả về sơ ngộ Bản Lai Diện Mục: “Kiên trì tỉnh giác (kiến chiếu, lắng nghe) thâm sâu và toàn diện trạng thái mê (trạng thái niệm tưởng, tâm ngôn tâm hành), thì tâm có sự đột chuyển (chuyển y, dừng lại): trạng thái sơ ngộ Tâm Không (Viên Giác, tánh Không, niết-bàn, Phật tánh) hiện tiền (bản lai diện mục hiện tiền); và tiếp tục hành thâm (ngộ nhập Viên Giác - mang năng lượng và diệu dụng tự lợi lợi tha tối thượng).

--
2021


Tuệ Thiền Lê Bá Bôn

lebabon04@gmail.com



READ MORE - ÁNH TÂM XUÂN - Chùm thơ Tuệ Thiền Lê Bá Bôn