Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, February 10, 2021

PHỐ XUÂN – Thơ Hồng Thúy, nhạc Nguyễn Tuấn

 

 
MÙA PHỐ XƯA
 
Mai về em nhé phố thân xưa
Lấp lánh đường hoa nắng giao mùa
Hàng cây lá thắp xôn xao bóng
Mây sợi giăng ngang nhẹ gió đưa
 
Mai về gót thả phố xuân thương
Lộc biếc chồi xanh nõn nà hương
Lụa hoa cánh bướm tà tha thướt
Chiếc nón che nghiêng nụ cười vương
 
Em về guốc nhịp phố hạ sang
Tiếng ve rạo rực rền thênh thang
Vòm trời điểm sắc bông mây biếc
Rực rỡ đan hàng phượng chứa chan
 
Em về thăm lại phố thu phong
Se sắt heo may chớm lạnh lòng
Sương mù bàng bạc tương tư khói
Loang cả chiều hoang tím nhớ mong
 
Em về ghé đến phố tuyết đông
Lung linh thảm tuyết trắng mênh mông
Vút cao chuông đổ lời tha thiết
Ước nguyện ngày nào có nhớ không?
 
Em nhé về đây phố tình đầy....
Ngọt ngào ăm ắp mộng đắp xây
Cỏ thề vẫn dấu chân hạnh phúc
Đợi nắng hẹn hò mưa ấm tay
 
…………………….
Mai nhé hẹn em phố mùa say!…
 
                            Hồng Thúy


      

PHỐ XUÂN.
Thơ: Hồng Thúy.
Nhạc: Nguyễn Tuấn.
Giọng ca: Vọng Cố Hương.
Hòa Âm: Lâm Dung.

READ MORE - PHỐ XUÂN – Thơ Hồng Thúy, nhạc Nguyễn Tuấn

HẸN VỚI XUÂN QUÊ – Thơ Tịnh Bình




HẸN VỚI XUÂN QUÊ
 
Về thôi... Hẹn với mùa xuân
Góc trời quê cũ trong ngần sớm mai
Cánh đồng mùa khói hoen cay
Mầm xuân cựa giấc gọi ngày nắng thơm
 
Về thôi hẹn với rạ rơm
Nếp xôi bình dị bữa cơm quê nhà
Cành sương trĩu hạt la đà
Tiếng gà trưa vọng thật thà âm quê
 
Về thôi... Xuân đã cận kề
Bâng khuâng hương Tết bùa mê vào lòng
Một đàn én lượn thong dong
Gió mây rẽ lối nắng hồng trao xuân...
 
                                    TỊNH BÌNH
                                      (Tây Ninh)

READ MORE - HẸN VỚI XUÂN QUÊ – Thơ Tịnh Bình

XUÂN BUỒN – Thơ Nhật Quang


 


XUÂN BUỒN

 
Mẹ ngồi mắt lệ rưng sầu
Nhìn đàn én lượn về đâu phương nào?
Xuân nay ủ rũ mai, đào
Khắp nơi Cô-vít, lòng nào đón xuân
 
Mẹ ngồi tựa cửa bâng khuâng
Đàn gà tíu tít vàng sân nắng hồng
Mắt buồn, lòng vẫn ngóng trông
Ngày xuân đoàn tụ, ước mong con về
 
Rưng rưng lòng mẹ não nề
Ngày xuân đơn độc ủ ê…nỗi buồn
Ngoài trời giăng hạt mưa tuôn
Con nơi viễn xứ ngập hồn nhớ thương
 
Xuân nay cúc chẳng tỏa hương
Lòng người héo hắt, lệ vương đẫm sầu
Cầu mong dịch bệnh qua mau
Con về bên mẹ thắm màu xuân quê.
 
                  TP. HCM, sáng 29 Tết
                          Nhật Quang

READ MORE - XUÂN BUỒN – Thơ Nhật Quang

HOA ĐÀO NHẬT TÂN - Chu Vương Miện

 















READ MORE - HOA ĐÀO NHẬT TÂN - Chu Vương Miện

CHỢ PHIÊN CAM LỘ - Lê Văn Trạch

 


CHỢ PHIÊN CAM LỘ

Lê Văn Trạch                                                                                         

          Tháng 10 năm 1558 (Mậu Ngọ), Thái Úy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng xuôi nam trấn nhậm vùng Thuận Hóa, đặt dinh trấn tại Ái Tử. Sau khi hoàn thành việc tổ chức hành chánh, tạo thế vững chắc về  an ninh, quân sự, nhà Chúa nghĩ ngay đến việc phát triển kinh tế.                   

         Do điều kiện địa lý đặc biệt, khí hậu khắc nghiệt, ít đồng bằng, lắm rừng núi, nông nghiệp không có thế mạnh như Đàng Ngoài, cho nên việc trao đổi hàng hóa là phương tiện quan trọng để vươn lên... Chính quyền và cư dân đã biết tận thu các nguồn hàng từ vùng cao đổ về đồng bằng, khi nội địa được phân phối nhịp nhàng thì cũng là lúc những mặt hàng giá trị được tập trung lại nhiều hơn để phục vụ xuất khẩu. Mạng lưới thu mua đường sông ra biển là dịp thương nhân ngoại quốc biết được các mặt hàng tốt, quý, hiếm xuất phát từ núi rừng... Thời điểm này, người Tây phương cũng đang tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm kỹ nghệ, đồng thời thu mua tơ sợi và hương liệu cho châu Âu. Nói tóm lại, thương nghiệp chủ yếu là ngoại thương đã trở thành yếu tố phát triến ở Đàng Trong giúp nhà Nguyễn xây dựng một cách nhanh chóng vùng đất ít nhân lực, không được thiên nhiên ưu đãi để có thể đương đầu với một vùng đất có tiềm lực gấp nhiều lần ở Đàng Ngoài.

          Lẽ dĩ nhiên, trước khi đến với các thương nhân nước ngoài, các sản phẩm từ miền núi này phải qua tay người Kinh. Nói cách khác, song song với hệ thống thương cảng sôi động, hoạt động mua bán trong nội địa giữa người Kinh và người Thượng cũng không kém phần nhộn nhịp, mà hệ thống chợ phiên chính là những trạm trung chuyển nguồn hàng từ miệt rừng xuống, từ miền biển lên.
          Có rất nhiều nguyên nhân cho sự xuất hiện của loại hình chợ khá đặc thù: Chợ Phiên, tuy nhiên, những lý do phổ biến thường được đề cập: xuất phát từ những khó khăn trong điều kiện giao thông buổi đầu, hàng hóa khan hiếm, cần có thời gian để tích lũy và vận chuyển nguồn hàng. Trong quá trình trao đổi, buôn bán, đội ngũ thương nhân thường ngầm quy định với nhau về thời điểm gặp gỡ, lịch họp chợ về sau … Đây cũng chính là khoảng thời gian cần thiết để vận chuyển và tập trung hàng đối lưu. Không xuất hiện các hiệu buôn lớn như phố thị, hình ảnh chợ phiên thường chỉ là những lều quán tạm bợ, nhóm họp ở một số vị trí thuận lợi cho cả kẻ bán lẫn người mua, mà địa điểm của trung tâm hành chính, khu vực đông dân cư, hoặc điểm giao nhau trong mạng lưới giao thông thủy, bộ luôn là những chọn lựa mang tính điển hình.
                                                

          Trong bối cảnh như thế, Chợ  Phiên Cam Lộ được hình thành: Chợ nằm cuối làng, cách sông Hiếu (Cầu Đuồi) khoảng 400 m. Nguyên xưa, chợ được nhóm ở cạnh bờ sông xóm Đông Định (Khu Bến Bàng - Tằm Tang), do bị hỏa hoạn và ngập lụt nên chợ chuyển về trước mặt Đình Làng và tồn tại đến ngày nay. Vào thập niên 30, có những thế lực cường hào trong làng muốn dời chợ lên Trào Ba (cách chợ cũ khoảng 400m về hướng Tây Nam đường 71 trước xóm Đông Định). Triều đình phải cử các quan ra phân xử, quyết định để lại vị trí cũ.

         Giang sơn thổ võ cũng linh

         Bô tư ra tỉnh: Chợ Đình như xưa

        Trong thời Pháp thuộc, đã có lần chợ phải dời lên làng Tân Tường, xã Cam Tuyền, nhưng sau đó cũng trở lại chỗ cũ.

        Lúc đầu chỉ là chợ địa phương, nhưng do ngày càng phát triển và để thuận tiện cho khách thương từ các tỉnh Bắc - Nam đến mua bán nên được quy định nhóm vào các ngày mồng ba, mồng tám, mười ba, mười tám, hăm ba, hăm tám âm lịch. Chợ nằm ngay trước đình làng với những tán cây sanh, bàng, nhãn, ngô đồng che mát, tạo nên một cảnh quan rất thông thoáng. Ba phía khác là dãy phố khang trang bán vải vóc, tạp hóa, đường 71 đi ngang phía trước chợ.

           Theo sử liệu thì từ rất sớm các chúa Nguyễn đã có một tầm nhìn chiến lược về kinh tế, thương nghiệp. Nhà Chúa đã cho mở một loạt chợ như chợ Kênh, chợ Cạn, chợ Ngô Xá, chợ Sải, chợ Sòng, chợ Cầu, chợ Huyện, chợ Phiên Cam Lộ.

          Thời kỳ này, Cửa Việt trở thành cảng biển của Đàng Trong, tàu buôn các nước Trung Quốc, Nhật, Bồ Đào Nha tấp nập ra vào biến thành một nơi đô hội lớn. Tàu nước ngoài bán các loại gươm, giáo, áo giáp, diêm sinh, đồ sắt, đồ đồng, vải v.v... và mua trầm hương, ngà voi, sừng tê giác, quế, hồ tiêu, tơ, dứa, mít, gỗ quý, chai phà, cánh kiến... Vì thế, chuyện trao đổi mua bán thu hút đông đảo người Kinh, người Thượng, người Lào trên lối mòn qua núi, trên sông Hiếu, đến chợ Phiên Cam Lộ.

          Các Chúa Nguyễn  cũng có thái độ rất cởi mở đối với việc buôn bán qua Lào. Trong  sách Phủ Biên tạp lục, Lê Quý Đôn chép: “Họ Nguyễn trước thường sai người đem cho nước Lạc Hoàn và nước Vạn Tượng các đồ dùng. Họ vui lòng đổi chác, tùy thời dâng đồ cống, thông mua bán, công tư được đầy đủ. Người buôn ở các xã thường mang muối, mắm, cá khô, đồ sắt, đồ đồng, hoa xuyến, thoi bạc và các đồ lặt vặt đến người Man (Lào) đổi lấy các hàng hóa như thóc, gạo, gà, trâu, gai, sáp, mây, dó,vải Man (thổ cẩm). Cũng có một phiên chợ Cam Lộ, (người Lào) lùa tới 300 con trâu đến bán, giá một con trâu không quá 10 quan tiền, giá một con voi chỉ hai hốt bạc và một khẩu súng nhỏ (2 hốt bạc = 50 quan tiền). Ngay cả những vùng ở Trung Lào như Trấn Minh, Qui Hợp cũng vào.”

          Phần lớn khách buôn đi bộ, gùi, cõng, gánh, hoặc lùa (đối với trâu). Người Lào cưỡi voi chở hàng vượt núi về Chợ Phiên. Một con voi chở được 30 gánh, mỗi gánh 20 bát. Nói chung, voi vừa là phương tiện đi lại, vừa là mặt hàng mà nhà Nguyễn rất cần.

          Đây cũng là nơi quy tụ hàng hóa, nhu yếu phẩm: Hàng từ Huế ra theo đường ven biển, ngược sông Hiếu lên chợ Phiên Cam Lộ thường mang theo nón bài thơ, đường phèn, đường phổi, thuốc bắc, gia vị... Hàng từ Quảng Bình vào có trứng vịt, đồ gốm, hàng đan lát.

         Nói chung, chợ Phiên Cam Lộ là một thị trường đa dạng.

         Hàng hóa miền ngược: Ngà voi, lông đuôi trĩ, trầm hương, hương nén, da trâu, sáp ong, mật ong, sừng trâu, sừng tê, nhựa thông, da hươu, nhung hươu, lông đuôi công, tộc hương, hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, mây, song, ngựa, trâu, vải hoa làm màn, bạch mộc hương, gai, da thú, cùng các thứ thổ cẩm hoa trắng, vải bông trắng, vải bông xanh, lá nón, bí xanh, nếp, thóc đen mây, song tre, mai rùa, nhung nai, gạc nai, thuốc lá, bạc, heo, gà. 
          Hàng hóa miền xuôi: mắm, muối, cá khô, nước mắm, nồi đồng, chiêng, ché, gốm, mã não, bạc, thoa, xuyến, rìu, rựa, dao, cuốc, áo quần, trang sức, chén bát, soong nồi nhôm, rượu, bật lửa, giày đen, xà phòng, dầu hỏa, nón, mũ, các loại thực phẩm, hải sản, bún bánh... Dân địa phương thì có rau quả, nông sản... Chợ Phiên được xem như ngày hội của dân trong vùng. Ngoài các nơi xa đến bằng đò xe, cư dân trong vòng bán kính 7- 10 cây số thường gánh gồng đi bộ. Dân địa phương hầu như nhà nào cũng đi, đôi lúc chỉ vào xấp lá chuối, mụt măng.

          Đặc biệt, các thương lái người Kinh đã thấy được muối là nhu cầu thiết thân của người Thượng nên họ đã chọn muối là một trong những mặt hàng chiến lược để giao thương với người miền Ngược. Thực tế, muối đã đem lại cho họ những khoản lợi nhuận bằng hiện vật hết sức khổng lồ.
          Muối ăn, đối với đa số người Thượng là hết sức quý hiếm. Họ phải đổi với giá rất đắt: một con gà trống to chỉ đổi được một chén uống nước muối, một con trâu to cũng chỉ đổi được bốn gùi muối (khoảng 40 kg). Nhà nghèo, cả năm rất ít khi được ăn muối biển.

          Trong một cách hiểu nào đó, muối là một thứ “tiền trắng” có giá trị cao của người Kinh. Giá trị ấy có được không chỉ bởi sự thiếu thốn hạt muối biển của các cộng đồng miền ngược, mà còn bởi những tộc người này có thể dễ dàng khai thác nguồn lâm thổ sản có sẵn của núi rừng.

           Cầu Đuồi 

          Có một vị trí nhỏ ít ai nhắc đến nằm trong hệ thống với chợ Phiên là chợ Bến Đuồi, sát bờ sông bên cạnh Cầu Đuồi, cách Chợ Phiên khoảng 300m được nhóm trước Chợ Phiên một ngày: Ở đây chủ yếu bán gia súc, gia cầm, vật liệu xây dựng, nông cụ, than củi... Những hàng này sau khi mua được sắp xếp gọn vào thuyền bè trong đêm, đến sáng thương nhân mới lên chợ Phiên để mua bán những mặt hàng gọn nhẹ.

          Thông qua việc trao đổi buôn bán giữa các vùng miền trong nước và quốc tế, Chợ Phiên Cam Lộ đã trở thành một trung tâm buôn bán tấp nập nhờ có ưu thế giao thông thủy bộ... trên bến dưới thuyền với nhiều cửa hiệu sầm uất. Luồng thương nghiệp mạnh mẽ này đã tạo điều kiện để hình thành “con đường hương liệu", cũng có nhà nghiên cứu nói đến "con đường hồ tiêu", "con đường muối"  khai mở cho một hành lang kinh tế năng động trên Quốc lộ 9 sau này.

           Luồng buôn bán mạnh mẽ hai miền xuôi ngược qua Chợ Phiên đã tạo nên sự giao lưu văn hóa, tiếp nhận sớm những văn minh tiến bộ từ các phố thị, đồng thời tạo nên sự đồng cảm dân sinh giữa người Việt, các dân tộc thiểu số và các bộ lạc Lào. Sự phồn thịnh của Chợ Phiên đã kéo theo những phát triển hài hòa các mặt khác, tạo cho Cam Lộ có một khuôn dáng rất đặc biệt so với các vùng quê Quảng Trị, bởi thế, trong thập niên 30, nhà thơ dân gian Lê Cặn  đã mạnh miệng bảo rằng:

          Cam Lộ là tiểu Trường An

          Thượng thành, hạ thị, thương gia, học đường

          Ngày nay, trong điều kiện kinh tế toàn cầu hóa, một số nhu yếu phẩm đã được thương nhân đưa đến tận các bản làng xa xôi, chợ Phiên lại nằm sát xa lộ Xuyên Á và xa lộ Trường Sơn, nhưng dân chúng địa phương vẫn giữ truyền thống tốt đẹp tổ tiên đã kiến tạo.

          Chợ Phiên đã thấm sâu vào máu thịt quần chúng. Với người dân làng Cam Lộ, nhắc tới chợ Phiên, ai ai cũng tự hào, lòng dâng lên nỗi bâng khuâng, xao xuyến vì đây là một di sản văn hóa huyết thống có tính đặc thù đã đi vào sử sách.

Lê Văn Trạch


 

 

                                                                                                                      

 

READ MORE - CHỢ PHIÊN CAM LỘ - Lê Văn Trạch

Tuesday, February 9, 2021

NÉT HUẾ - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Bá Nhơn - Ca sĩ: Vân Khánh

READ MORE - NÉT HUẾ - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Bá Nhơn - Ca sĩ: Vân Khánh

LỤC BÁT CHÀO XUÂN - Thơ Nhật Quang

 


Nhật Quang

LỤC BÁT CHÀO XUÂN


Bên hiên gió nhẹ sang mùa

Ngoài kia nắng ấm khẽ lùa đông qua

Triền đê trải ngát hương hoa

Đàn trâu gặm cỏ nhẩn nha trên đồng


Én theo mây lượn chao vòng

Khói bay luẩn quẩn bếp hồng bánh chưng

Tung tăng đám trẻ cười mừng

Chợ xa mẹ gánh thơm lừng quà xuân


Cha ngồi tựa cửa trước sân

Nhìn gốc mai đã tần ngần nụ đơm

Bên vườn hoa cúc vàng thơm 

Đàn gà bươi rác đống rơm tìm mồi


Vườn xuân lộc biếc đâm chồi

Líu lo chim sáo, vang lời yến, oanh

Sẻ nâu quẹt mỏ trên cành

No mùa thóc mới - ấm lành mùa sang


Giàn xanh mướp trổ hoa vàng

Nhởn nhơ ong, bướm từng đàn rong chơi

Ngõ xuân chú Cún vẫy đuôi

Người qua, kẻ lại ngược xuôi chợ chiều


Nam thanh, nữ tú dập diù

Hẹn chờ vai sánh - lời yêu ngọt ngào

Nụ hôn e ấp…vội trao

Vòng tay xuân ấm phút giao thừa về.


                                       Nhật Quang







READ MORE - LỤC BÁT CHÀO XUÂN - Thơ Nhật Quang

Monday, February 8, 2021

BÊN VƯỜN – Thơ Lê Phước Sinh

 
   
                         Nhà thơ Lê Phước Sinh


BÊN VƯỜN 
 
Cội Mai già chờ Tết
gắng gượng để ra Bông
xóm thôn còn ngái ngủ
chẳng màng ánh minh hồng.
 
Uể oải Trời nhìn Đất
Mùa Xuân biến tướng rồi...
 
         LÊ  PHƯỚC SINH

READ MORE - BÊN VƯỜN – Thơ Lê Phước Sinh

TRẮNG | BIẾT ĐÃ VỀ ĐÂU? | AI HỎI GIÙM EM - Thơ Hoải Huyền Thanh

 

Nhà thơ Hoài Huyền Thanh

Trắng

 

Trong đắng dòng nước mắt

trong rát hạt mưa rơi

trong bão giông tơi bời

trong lũ tràn lũ quét

trong lòng anh lòng tôi

 

bao nhịp đời gẩy khúc

bao rừng vàng tan tác

bao sông núi thê lương

bao mái nhà đổ nát

bao thảm cảnh khôn lường

 

Nước trắng trời trắng đất

không thấy bến thấy bờ

đất đổ vùi đổ dập

hốt xóm làng chơ vơ

 

Dân hãi hùng thiên tai

dân kinh hoàng thuỷ điện

xả lũ đúng qui trình

khiếp đảm mùa nhân tai

 

Có khi nào anh hỏi

có khi nào anh đau

có khi nào anh nghĩ

dân khốn khổ thế nào!

vì sao và vì sao?

 

Hoài huyền thanh

(29.10.2020)

 

 

 Biết đã về đâu?

1

Gió hắt hiu

se se triền nhớ

anh về đâu

biết đã về đâu?

ráng chiều tím cả hoàng hôn

hoang vu mộ gió phơi sương bạt ngàn!

2.

Bến sông nặng hạt mưa chiều

ánh nhìn ái ngại gieo neo nỗi lòng

mưa vùi mưa dập tầng không

Em tôi vượt cạn mà không thấy về

 

 

Hoài huyền thanh

(Mùa mưa bão tháng 10. 2020)



Ai hỏi giùm em  

  

Ai hỏi giùm em  

Vì sao gió xô sóng dữ

trăng non tơ róng riết nỗi buồn

bàng bạc biển trời

chìm trong vô vọng

phận người dập dềnh như chiếc lá trôi


Ai hỏi giùm em

rừng biến đi đâu?

mà lũ tràn lũ cuốn 

nhà thoi thóp

ruộng lúa hoa màu ngạt thở

chết tức chết tửi gia súc gia cầm

đôi mắt thẩn thờ uất nghẹn lặng câm 


Ai hỏi giùm em

thủy điện lợi ích cho ai

mà dân mình quá khổ

sông hồ tích nước

ruộng đồng nứt nẻ

chớp bể mưa nguồn

xả vùi xả dập

dìm xóm dìm làng

ngập tràn nước mắt

chiếc đủa cũng không còn

Dân sống sao đây?


Ai hỏi giùm em

Quảng Trị điêu linh

Quảng Bình thê thảm

U am Huế mộng Huế mơ

Sạt lở  khắp nơi

bao người bỏ mạng

Ai cũng hiểu

mà cố tình không hiểu

Ai cũng biết

mà vờ như không biết

chen lấn nhau 

khai thác kiệt cùng

bầm vập mẹ thiên nhiên

lạy trời đừng mưa

lạy đất nương dân

gượm mình bão tố

lạy bốn phương tám hướng

Xin đấng linh thiêng cứu lấy dân lành!


   Hoài huyền thanh

   (Mùa thiên tai 2020)



 

 

 

 

 

 

 


READ MORE - TRẮNG | BIẾT ĐÃ VỀ ĐÂU? | AI HỎI GIÙM EM - Thơ Hoải Huyền Thanh

MIỀN TRUNG ƠI! - Chùm thơ Nguyễn Thế Kỹ (Quang Vũ)

 



Miền Trung ơi!

(Quang Vũ)


Miền Trung ơi! Miền Trung ơi! 

Quanh năm mưa bão có vơi bao giờ.

Tháng mười hun hút đón chờ

Lũ chồng lên lũ bất ngờ về đây.


Ngoài vườn tan tác cỏ cây

Cam, xoài, mận, táo lung lay, đổ nhào

Nước về tuôn chảy ào ào

Trâu bò, gà vịt trắng phau ruộng đồng.


Hai bờ nước cuộn đỏ sông

Người dân lầm lũi gánh gồng ngày đêm

Cửa nhà ngập lũ khổ thêm

Bao nhiêu đồ đạc lấm lem đất bùn.


Bão về phá nát một vùng

Tang thương, chết chóc không ngừng bủa vây

Tóc xanh nằm xuống từ đây

Người thân tóc bạc khóc ngày, khóc đêm.


Lặng người đôi mắt trẻ em

Hồn nhiên cười nói ở bên quan tài

Cầm nhang đứng trước di hài

Ngây thơ chẳng chút đoái hoài nhìn cha.


Miền Trung bão táp phong ba

Mùa hè nắng cháy bỏng da gió Lào

Mùa đông bão lũ thét gào

Ba miền đất nước tuôn trào lệ rơi.


Miền Trung ơi! Miền Trung ơi

Quyết tâm chiến đấu ắt rồi vượt qua

Tương thân truyền thống bao la

Ngàn năm vẫn mãi nở hoa sáng ngời.




Mùa bão quê tôi

(Quang Vũ)


Bão đến

Mưa trút liên hồi

Chớp giật, sấm gào

Gió thổi ào ào không nghỉ.


Lũ về

Nước cuồn cuộn chảy

Cây cối lật nhào

Nhà cửa hoang tàn đổ nát.


Đứa bé

Hồn nhiên ngơ ngác

Đầu chít khăn tang

Tay cầm nén nhang cười nói.


Vợ trẻ

Số phận long đong

Đêm đêm khóc ròng

Thương chồng hy sinh vì nghĩa.


Mẹ già

Ngồi bên khung cửa

Ngày ngày chờ con

Giọt nước mắt đầm đìa hai má.


Than ôi!

Thương quá

Chỉ mong bão lũ đừng về

Để miền quê tôi yên ả

Cuộc sống hạnh phúc mãi trường tồn.




Viết cho anh

(Quang Vũ)


Mấy hôm nay đài báo nhắc về anh

Người thiếu tướng luôn gần dân mọi lúc

Trong thời bình anh sẵn sàng dốc sức

Cùng đất nước vượt qua mọi gian lao


Khi miền Trung ngập chìm trong lũ bão

Nhóm công nhân chẳng tin nhắn báo về

Bao hiểm nguy trước cái chết gần kề

Anh hăng hái để cứu người gặp nạn.


Chặng đường dài chỉ cây rừng làm bạn

Phút dừng chân căn nhà tạm đón chờ

Bỗng từ đâu đất ập xuống bất ngờ

Vùi thân xác giữa núi rừng tĩnh lặng.


Anh đi rồi biết bao người chẳng đặng

Vẫn gọi tên một vị tướng hùng anh

Lòng đau xót như thấu tận trời xanh

Tiễn biệt anh! Người cha, người đồng đội.


Trời Quảng Bình cơn mưa còn giăng lối

Sáng tinh mơ người xếp gọn hai hàng

Tỏ lòng mình trong giây phút nghiêm trang

Thắp nén nhang kính dâng lên linh vị.


Tạm biệt anh về lòng đất quê mẹ

Bên nấm mồ hãy yên nghỉ nghe không

Thủy điện Rào Trăng mọi người sẽ chung lòng

Để thay anh quyết hoàn thành nhiệm vụ.


Mười ba người sẽ bên nhau đoàn tụ

Hát vang lên khúc chiến thắng ngọt ngào

Thắm quân dân bao tình nghĩa dâng trào

Cho đất nước thêm tự hào tươi đẹp.



Nguyễn Thế Kỹ

xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, Tp Hồ Chí Minh



READ MORE - MIỀN TRUNG ƠI! - Chùm thơ Nguyễn Thế Kỹ (Quang Vũ)