Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, October 8, 2020

HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ – Hoàng Dục dịch thơ Hạ Tri Chương

 

Hình minh họa từ trang DKN.TV

 

 Hạ Tri Chương tự Quý Chân là nhà thơ đời Đường, sinh năm 659 và mất năm 744. Ông là người Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay là hợp Phố, Quảng Đông, Trung Quốc). Ông đỗ Tiến sỹ năm 695, làm quan trên 50 năm, rất được vua quan đương thời trọng nể. Ông thích uống rượu, tính tình phóng khoáng, có tài hùng biện, rất uyên bác và giỏi văn từ. Về thơ, ông chỉ để lại khoảng 20 bài, trong đó nổi tiếng nhất là  hai bài “Hồi hương ngẫu thư”.           

Dưới đây là hai bài “Hồi hương ngẫu thư ”, sáng tác khi từ ông quan về thăm quê nhà sau hơn 50 năm xa cách.

 

 Hồi hương ngẫu thư

 

(Thơ viết ngẫu hứng khi về quê)

 

             Bài I


  




 (Phần chữ Hán chép từ thivien.net)


Phiên âm:

 

 Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,

Hương âm vô xải mấn mao tồi.

Nhi đồng tương kiến bất tương thức,

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.

 

                        Hạ Tri Chương

 

 Dịch nghĩa:

 

 Lúc còn trẻ nhỏ rời gia đình khi già cả lại trở về,

Giong quê không hề đổi khác, chỉ có tóc rụng đi.

Các cháu trong làng gặp mặt nhưng không biết là ai,

Chúng cười hỏi ông khách từ đâu đến vậy.

 

 Dịch thơ:

 

 Tuổi trẻ rời nhà già lại về,

Giọng quê chẳng đổi tóc loe hoe.

Trẻ con gặp mặt không hề biết,

Cười hỏi, khách xa đâu đến hè?

 

                 Hoàng Dục dịch

 

            Bài II


  




(Phần chữ Hán chép từ thivien.net)

 

 Phiên âm:

 

 Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa,

Cận lai nhân sự bán tiêu ma.

Duy hữu môn tiền kinh hồ thủy,

Xuân phong bất cải cựu thời ba.

 

 Dịch nghĩa:

 

 Đã nhiều năm tháng xa biệt quê nhà,

Người làng gần đây một nửa đổi thay.

Chỉ có nước Kính hồ ở trước cửa,

Con sóng vẫn như xưa khi gió xuân về.

 

 Dịch thơ:

 

 Xa cách quê nhà cũng đã lâu,

Xóm giềng khác nửa biết ai đâu.

Chỉ nước Kính hồ ngoài song cửa,

Gió xuân chẳng đổi sóng ban đầu .

 

                        Hoàng Dục dịch

 

 Đà Nẵng, 03-10-2020

 

 

 

 

 

 


READ MORE - HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ – Hoàng Dục dịch thơ Hạ Tri Chương

Nhiếp ảnh thế giới: VẺ ĐẸP CỦA TÌNH MẪU TỬ THUỘC 18 NỀN VĂN HÓA KHÁC NHAU - Nguyễn Khắc Phước đọc báo nước ngoài

Mihaela Noroc, sắp làm mẹ. Ảnh do chồng của chị chụp ở Tokyo.
Ảnh từ CNN Travel

Mihaela Noroc, một nữ nhiếp ảnh gia người Rumani sắp sửa ra mắt tập ảnh về vẻ đẹp của phụ nữ thế giới mà chị đặt tên là Atlas of Beauty. Để có bộ ảnh này, chị đã dành bảy năm để đi du lịch vòng quanh thế giới và chụp chân dung phụ nữ thuộc mọi nền văn hóa và hoàn cảnh khác nhau. Trong số đó, chị đã chụp được 26 cặp ảnh mẹ và con và tất cả đều toát lên tình mẫu tử thân mật sâu đậm hết sức độc đáo.


Ảnh từ http://horainamerica.com/

Bản thân nữ nhiếp ảnh gia này đã trở thành một bà mẹ vào năm 2018 và thường đưa con gái Natalia đi cùng trong chuyến du lịch của mình. 

1. Andrea và con trai Benjamin, Iceland.

Ảnh này và các ảnh phía dưới lấy từ ba-bamail.com

2. Arpita và con trai, Kolkata, Ấn Độ.


3 Juliana và con trai Alex, dảy núi Andes, Peru.



4. Shiori và con gái  Kanade, Tokyo, Japan.



5. Mẹ và hai con gái đã trốn khỏi Syria, trại tỵ nạn Idomeni, Hy Lạp.



6. Mẹ và con trai, Bahir Dar, Ethiopia.



7. Barbara và con gái Caterina, Italy.



8. Mafalda và con trai, Lisbon, Bồ Đào Nha.



9. Ina và con gái mới sinh, Chisinau, Moldova.



10. Leila và con trai Abtin, Tehran, Iran.



11. Carmen và các con gái Ranya và Zara, Bucharest, Rumani.




12. Rachelle mang bầu đang nghỉ ngơi sau một ngày làm việc,  Amsterdam, Hà Lan.




13. Mẹ và con, Úc.



14. Jenny và con gái Lily, New York, USA.



15. Mẹ và con trai, Osh, Kyrgyzstan.



16.Trên đường đi sinh, Quảng Châu, Trung Quốc.



17. Mẹ và hai con gái, Rio De Janeiro, Brazil.




18. Emma và con gái Emily, London, Vương quốc Anh.



&

Theo Tạp chí BabaMail - Everything that interests you

https://www.ba-bamail.com

READ MORE - Nhiếp ảnh thế giới: VẺ ĐẸP CỦA TÌNH MẪU TỬ THUỘC 18 NỀN VĂN HÓA KHÁC NHAU - Nguyễn Khắc Phước đọc báo nước ngoài

Wednesday, October 7, 2020

CHÙM ẢNH GHI Ở BA LÒNG - Hồ Phú

 










READ MORE - CHÙM ẢNH GHI Ở BA LÒNG - Hồ Phú

THU KHÔNG… - Thơ Hồ Viết Thắng

 

Nhà thơ Hồ Viết Thắng

THU  KHÔNG…


Thu dấu gì trong sắc vàng của lá

Để mùa về cúc rưng rức màu hoa

Em dấu gì trong ánh mắt kiêu sa

Ta lòng nhớ ngày qua ngày ủ rũ...

Bài thơ tình đã bao ngày viết dở

Bao ưu tư chất nghẹn ứ trong tim

Nổi thế nhân như giấc mộng nổi chìm

Bao lần viết... bấy nhiêu lần vội xóa...

Nỗi buồn đau không thể nào lấp khỏa

Như mùa thu ai ngăn được lá rơi

Như hoàng hôn mây tím phủ lưng đồi

Đêm nguyệt tận... đâu cung thiềm ngời tỏ...

Một thoáng nhớ chạm vào miền trăng vỡ

Trùng âm ba đồng vọng sóng thẳm sâu

Nỗi thương xa trùng điệp bóng mây sầu

Giăng mắt nhớ... cho bầu trời tím thẩm...

Thu trút lá câu thơ buồn ngùi ngậm

Hồn thu đau thơ thấm giọt lệ lòng

Khúc tình thu vàng nổi nhớ thương mong

Rơi chấp chới... giữa thu không vời vợi...!!!


 Hồ Viết Thắng

05.9.20

READ MORE - THU KHÔNG… - Thơ Hồ Viết Thắng

NGỌN GIÓ TÌNH EM - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Bá Nhơn - Ca sĩ: Đông Nguyễn

READ MORE - NGỌN GIÓ TÌNH EM - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Bá Nhơn - Ca sĩ: Đông Nguyễn

NGƯỜI ĐÀN BÀ SINH CON MỘT MÌNH | MÙA THU LOANG TRONG VẠT NẮNG VÀNG NHUỐM BẠC | RỤT RÈ CÓ MỘT GIẤC MƠ - Thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng


Người đàn bà sinh con một mình


Trời nín gió, tảo tần nắng xế

Nghe ong ong từng vệt lấm lem

Xa đăm đắm, mắt mòn dấu lệ 

Tiếng ru con ngắt ngứ bên thềm

                 *

Hâm hấp một nỗi buồn tĩnh lặng

Người đàn bà sinh con một mình

Trong những ngày chợt mưa, chợt nắng

Quặn thắt đời lao nhọc mưu sinh

                 *

Bóng nắng dội chùng chình trên vách

Chút phiêu sinh, hồi tưởng ân tình

Chiều quê nghèo, hoàng hôn đỏ quạch

Vẫn cưu mang, em tự trở mình

                 *

Đong đưa một dặm đời vỡ nát

Lời ru buồn nghe như thở than

Bong lên mảnh nhớ đời rời rạc

Còn nguyên nỗi trầm tư dịu dàng

                 *

Nắng dịu rồi, lời ru ẩn ức

Cũng ngập ngừng trong nỗi nguôi ngoai

Một quầng sáng nữa hư nữa thực

Em bước qua, cay đắng lạc loài ...

Lê Thanh Hùng



Mùa thu loang trong vạt nắng vàng nhuốm bạc


Tiếng hát, gợi lại một mùa thu khác

Rực rỡ sắc cờ, hồn vía của núi sông


Tiềm thức cộng đồng

Đứng dậy

Bước những bước dài, về phía biển mênh mông

Lê Thanh Hùng



Rụt rè có một giấc mơ


Đã là cây to, sao lại đòi làm tằm gửi

Lóng cóng mùa, đứng đợi gió nồm lên

Lao xao sóng, theo dòng giăng mắc cửi

Trong nắng mới vần xoay, mờ dấu vết gập gềnh

                         *

Sao không chịu vặn mình lên, để thấy

Không phải muốn làm cái gì, mà phải cần không nên làm cái gì?

Thói quen dựa dẫm vào tập thể, để cò cưa đùn đẩy

Biết đâu trí tuệ tập thể, còn có ngu xuẩn tập thể, biện chứng ỷ y

                        *

Chỉ là cây lưu niên với giấc mơ trở thành cổ thụ

Già thì đã sao! Bao phận người đã không kịp đến già

Phấp phỏng mơ hồ, quanh những điều tập chú

Rợn ngợp điệu đà và niệm khúc hoan ca ...

                        *

Sự việc không đánh giá đúng, mà cứ loay hoay đổi mới

Dẫu đã biết “Ai thực sự làm việc mà chẳng có lúc mắc sai lầm?!” (*)

Nhưng thất bại trong công việc của mình, sao lại còn răn đời nhắn gởi

Rơi vương vãi trên đường trong nắng sớm vang âm

                        *

Những bàn chân tướp máu, vạch nên đường, sao lãng quên con đường đó

Không phải ta già đi, mà ngày một đã lỗi thời

Kiêu hãnh còn lại chỉ là tuổi tác, chập chờn xiêu xó

Thì trong suốt niềm tin, cố đừng để hao vơi ...

Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận

________

(*) V.I Lênin


READ MORE - NGƯỜI ĐÀN BÀ SINH CON MỘT MÌNH | MÙA THU LOANG TRONG VẠT NẮNG VÀNG NHUỐM BẠC | RỤT RÈ CÓ MỘT GIẤC MƠ - Thơ Lê Thanh Hùng

HẠNH PHÚC - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

 

Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân


HẠNH PHÚC

Truyện ngắn

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN


Cái cách bà Sáu nhớ về chồng luôn khiến người trong xóm tôi xót xa. Cứ mỗi buổi sáng sớm bà sẽ đun một ấm nước nhỏ, đi hái một ít lá trà non rồi cứ thế đun trần, chờ hương trà bay đi phảng phất khắp xóm cũng là lúc lũ trẻ chúng tôi mụ mị dậy đi học. Bà sẽ nhẹ nhàng thay trên bàn thờ tách cúng ông, đều đặn mỗi ngày đều thay trà mới cho ông vì ngày còn sống ông sáng nào cũng thích nhâm nhi một tách trà. Rồi cứ đến khi chiều tà, bà hay ngồi phía trước căn thềm nhỏ, nhìn xa xôi vô định vào một nơi nào đó, đôi mắt nheo lại trên gò má nhăn nheo, nước mắt cứ chảy ra không ngớt, có lẽ vì buồn, cũng có lẽ vì mắt người già vốn yếu. Bà không nói gì đằng đẵng, cứ ngồi im cho đến khi có ai đó gọi nhắc bà đi ngủ bà mới vào. Mẹ tôi mỗi khi thấy vậy lại bảo:

-Chắc bà lại nhớ ông. Ông và bà trước cứ giờ này lại ngồi trước hiên buôn chuyện già.

Ngày ông Sáu mất, bà không khóc mà chỉ đứng chết lặng. Trong khi các con bà gào khóc.

Bên linh cữu thì bà chỉ ngồi im bất động một góc nhà. Mẹ tôi bảo dường như cả ông và bà đều biết khi nào ông mất, nghe cứ như tâm linh, nhưng trước khi ông mất ít hôm, đột nhiên ông đi thăm khắp hàng xóm, lại dặn dò nếu ông ra đi thì chăm sóc bà hộ ông. Tôi còn nhớ như in ngày đó, khi tôi đang ngủ trưa thì ông ghé chơi nhà, nói chuyện với mẹ tôi rất lâu, vì nhà tôi ở sát nhà ông, rồi tôi thấy mẹ tôi khóc… Hôm sau, ông mất.             

Sau khi ông mất, căn nhà nhỏ của ông bà thường được các con ghé lại nhà. Nhà có ba cô con gái mà ồn ào thành cái chợ. Miếng đất nhỏ bỗng thành thước đo đong đếm tình người. Ngaỳ ông còn sống, họ nhất quyết không về thăm lấy một lần, lấy chống rồi theo chồng, khi có việc gì cần tiền lại về bòn rút của vợ chồng ông bà. Thương con, bà Sáu còn dấm dúi cho chứ ông cấm tiệt. Nay ông mất, lại đua nhau về năn nỉ ỉ ôi mẹ để cho mảnh đất, dù bà Sáu còn sống sờ sờ nhưng cứ đòi bán mà thậm chí về phần nuôi bà thì lại không thấy ai lo. Những lúc ấy, mẹ tôi thường từ bên nhà vác chổi qua đuổi đi hết, bà Sáu lúc ấy chỉ biết khóc vì biết đó là những gì cuối đời ông dặn dò mẹ, lại đau xót vì con cái vốn xem nhẹ chữ tình.

-Tôi bàn với các chị như thế này, bà Sáu lạ mẹ các chị, xét cho cùng dù thương bà tôi cũng chỉ là người ngoài. Tài sản bà Sáu có cũng sẽ vì thương các chị mà để lại cho các chị nhưng các chị phải sống sao cho xứng đáng với những gì được nhận chứ. Thôi thì các chị thay phiên nhau chăm dưỡng bà những ngày tháng còn lại, rồi tự khắc sẽ được đền đáp chữ hiếu xứng đáng.

Dù không hài lòng nhưng các cô con bà cũng thuận nghe theo, vì không biết cãi đâu cho được, rồi cứ thế chia nhau ra mỗi người một tháng nuôi bà. Nhưng được non tuần, bà lại về căn nhà nhỏ, quẩn quanh trong nhà, cố gắng giấu mình tới mức nghĩ rằng một bóng dáng nhỏ thó của bà cũng đủ để người qua đường bắt gặp nhưng cũng không thoát khỏi ánh mắt của mẹ tôi. Tại mẹ khi bà vắng nhà vẫn hay tạt qua quét dọn bàn thờ ông để căn nhà bớt hiu quạnh.

-Sao bà lại về? Còn các cô?

-Tôi không quen cô ạ. Nhà chúng nó còn chồng, còn con… Tôi già rồi nhưng tự lo mình được, tụi nó gồng gánh cả gia đình riêng cũng khổ rồi.

Ấy là bà nói thế chứ mẹ tôi biết trong mắt bà ánh lên sự cô đơn quá rõ. Có lẽ lòng tham của mỗi con người chưa đủ để có thể níu kéo sự hiếu thảo quay trở lại. Phải đến tận hôm sau các con bà mới biết bà đã bỏ về nhà, lại ì xèo cả xóm, lại thấy người ta bu lại thì ỉ ôi mẹ bỏ nhà ra đi không nói một tiếng làm tìm hết làng trên xóm dưới. Lúc ấy mẹ tôi chỉ bảo:

-Bà đi cả ngày trời các chị mới biết thì các chị có quan tâm tới mẹ không? Bà chỉ có mỗi nhà này để ở, các chị không về tìm tự dưng đi khắp nơi rồi than van làm gì?

Thấy người ta xì xào các cô lại lườm nguýt mẹ tôi rồi bỏ về, không quên văng lại một câu:

-Cô coi mẹ như ruột thịt thì để phần cô. Gớm, mẹ xem cái ngữ này, nó cũng nhắm vào cái nhà của mẹ thôi. Mẹ liệu mà nhắm mắt xuôi tay xem con ruột là hơn hay cũng để phần người dưng nhé.

Rồi cứ thế những tháng ngày còn lại bà cứ quanh quẩn dọn dẹp cần mẫn. Khi bà buồn, mẹ lại hối tụi tôi sang chơi, thi thoảng cũng thấy các cô con gái tạt ngang nhưng thấy mẹ tôi đứng ngoài sân ngó vào thì lại lủi đi đâu mất. Ít năm sau, vào một ngày thu sang như năm ấy, bà lại sang nhà tôi, và mẹ tôi lại khóc…           

Bà mất và các cô con gái lại kéo về khóc vang cả một xóm. Mẹ tôi quấn vành khăn tang được bà ủy thác không nhìn lấy một lần nhưng cũng không có quyền ngăn các cô cúi lạy. Lại sau ít hôm các cô kiện cáo lên chính quyền đua nhau mảnh đất, mẹ chỉ xin cho di ảnh ông bà về thờ. Các cô lại như bắt được vàng rồi quay sang thân tình với mẹ nói ở chung nhà chồng khổ lắm, và thông cảm các thứ, mẹ tôi chỉ im lặng.    

Hương trà mà ông thích vẫn được đun đều vào mỗi sáng ở nhà tôi, cái hương ngai ngái nhưng khiến người ta thèm thuồng. Mẹ vẫn dặn tôi thường xuyên lau bàn thờ và cứ mỗi khi rảnh lại kể về ông bà Sáu với sự yêu thương và biết ơn khi mẹ mất đi người thân đã cưu mang như thế nào. Bỗng dưng tôi nhìn lên di ảnh, ông bà dường như đang rất hạnh phúc, cuối cùng họ lại được ở cạnh nhau, như thế là hạnh phúc rồi.


Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

READ MORE - HẠNH PHÚC - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

ĐÓN CÁC ANH VỀ QUÊ HƯƠNG - Thơ Trường Hải Lê Văn Đông

 


ĐÓN CÁC ANH VỀ QUÊ HƯƠNG

      

Các anh ra đi lứa tuổi thanh xuân

Nghĩa vụ công dân khi Tổ Quốc cần

Tạm biệt gia đình, quê hương, bè bạn

Phơi phới niềm tin ngày chiến thắng trở về.

Bảo vệ biên cương, nghĩa tình quốc tế,

Chiến trường xa rộn bước quân hành.

Bom đạn mịt mù, trời chẳng màu xanh,

Nhắm thẳng quân thù vững vàng tay súng.

Anh ngã xuống cùng với bao đồng đội,

Một lần ra đi và mãi mãi không về.

Cha mẹ người thân cạn khô dòng lệ,

Nghĩa trang Tây Ninh, Bình Dương, Long Khánh…

Mong tìm nơi anh nằm để được viếng thăm!

Thông tin báo về nơi đó có các anh.

Khát vọng quê hương bao năm chờ đợi,

Những người thân yêu đi đón các anh về.

Mừng tủi rưng rưng chờ ngày gặp lại

Về với quê ta nay đổi mới nhiều rồi.

Thêm lần nữa vành khăn tang trắng đội,

Yên lòng người, tiện hương khói thăm nom.

Xe đưa các anh về dọc chiều dài đất nước,

Các anh vẫy chào đồng đội thân thương.

Về đây các anh, quê hương đang chào đón,

Giấc ngủ vĩnh hằng nơi Đất mẹ Con Cuông !

 

Trung Thu 2020

Trường Hải Lê Văn Đông

READ MORE - ĐÓN CÁC ANH VỀ QUÊ HƯƠNG - Thơ Trường Hải Lê Văn Đông

MẪU ĐÀO NƯƠNG: VỊ SƯ TỔ CỦA MÔN HÁT CHÈO - Đặng Xuân Xuyến

 

                                       Lễ hội Đào Nương


Đền Mẫu hay còn gọi là đền Đào Nương, nằm bên đường 39B, thuộc địa phận xã Đào Đặng, tổng Cao Cương, huyện Tiên Lữ, phủ Khoái Châu, nay là làng Đào Đặng, xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên.

 

Sự tích kể rằng, vào cuối đời nhà Hồ, khoảng cuối thế kỷ XV, ở làng Đào Đặng có một ca nữ họ Đào tên Huệ, nổi tiếng khắp vùng là người xinh đẹp, hát hay múa khéo. Năm ả Đào 18 tuổi, quân giặc phương Bắc (nhà Minh) lúc bấy giờ đã mượn cớ "phù Trần diệt Hồ" xâm lược nước ta. Khi giặc kéo đến làng Đào Đặng, nàng ca nữ họ Đào và mấy chị em chậm chân không trốn được đành chịu ở lại. Chúng bắt nàng phải múa hát, hầu hạ trong các dịp yến tiệc. Nhờ có tài nghệ xuất sắc, các nữ nhi làng Đào Đặng đã biến nhà ca lâu thành nơi đi lại, nghỉ ngơi của bọn giặc. Rượu tiệc no say, chúng lăn ra ngủ. Vừa sợ lạnh, vừa sợ muỗi đốt, chúng nảy ra "sáng kiến" làm những chiếc túi bằng bao tải gai. Đêm đến là chui vào ngủ, buộc túi lại sáng mai mở túi ra. Đào Thị nhiều lần được chúng tin tưởng giao cho việc thắt và mở túi.

 

Quen với việc, nàng đã nghĩ ra kế để giết giặc. Nàng bí mật tìm các bô lão và trai tráng đang ẩn nấp trong làng, ước hẹn cứ đêm khuya khi giặc đã ngủ say, anh em đến khiêng từng túi vất xuống sông Mai Nguyên. Khi vất xuống sông lại buộc thêm đá, nút thắt chặt phía ngoài, dù chúng có tỉnh dậy cũng chịu chết đuối, làm mồi cho cá. Cứ như thế, quân số của giặc ngày càng hao hụt mà không biết duyên cớ tại đâu, cuối cùng chúng tin rằng vùng đất này "động", "nghịch", "linh thiêng".. không thể ở được, chúng sợ hãi liền nhổ trại kéo đi. Dân làng Đào Đặng được trở về làm ăn sinh sống.

 

Sau khi bà Đào Nương mất, dân làng đã lập đền thờ Bà ngay trước chợ làng Đào Đặng (nay là làng Đào Xá) để bà con qua lại hàng ngày tưởng nhớ công lao to lớn của người liệt nữ tài hoa, mưu trí.

 

Đất nước thanh bình, vua Lê Thái Tổ xét công trạng dùng mưu giết giặc cứu dân giữ nước của bà đã phong bà làm "Phúc thần", sai trích tiền kho, tu tạo lại đền thờ cho thêm tráng lệ và ban ruộng Tự Điền để dân làng đèn hương cúng tế hàng năm.

 

Lễ hội hàng năm được tổ chức từ ngày mồng 1 đến mồng 6 tháng 2 âm lịch. Lễ hội được tổ chức tưng bừng, nhộn nhịp với nhiều cuộc vui như đấu vật, ném vòng... đặc biệt là hội chọi gà và thi hát chèo.

 

Bà được suy tôn là một trong những vị sư tổ nghề hát chèo của nước ta, nên trong những ngày hội làng không thể thiếu được những làn điệu chèo truyền thống cùng những tiếng "tom, chát" của tiếng trống đế chèo.

 

                                                                              Đặng Xuân Xuyến

 

.....................

 

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2006)

 

READ MORE - MẪU ĐÀO NƯƠNG: VỊ SƯ TỔ CỦA MÔN HÁT CHÈO - Đặng Xuân Xuyến

Tuesday, October 6, 2020

CHÙM THƠ “BÓNG…” CỦA LÊ VĂN TRUNG

 



BÓNG CHIM HUYỀN THOẠI


Có con chim lạ bay về

Làm rơi hạt lệ bên bờ chiêm bao

Gọi ngàn xưa, tìm ngàn sau

Tàn phai theo những sắc màu thời gian

 

Có con chim lạ xa đàn

Bay hoài vô định chưa tàn giấc mơ

Lệ người úa một câu thơ

Buồn rơi lên nấm hoang mồ tình xưa

 

Bay về đâu giữa hư vô

Tiếng kêu buốt nghẹn phút giờ tử sinh

Tóc người chảy một dòng sông

Có nghe sóng động chập chùng nỗi đau

 

Chim về đâu? Tôi về đâu?

Nghìn xưa nối với nghìn sau mịt mờ

Lệ người rụng một tiếng kêu

Còn nguyên tôi với niềm đau cuối cùng.

                                                                              

 

BÓNG MÂY THIÊN CỔ BÂY GIỜ CÒN BAY

 

Ta về nhìn bóng ta xưa

Bóng mây thiên cổ bây giờ còn bay

 

Ta về tàn cuộc thiên tai

Cạn cơn dâu biển, cạn ngày thanh xuân

Ta về như sóng vô âm

Vỗ vào hiu quạnh lạnh bầm máu xương

Ta về lạc giữa mù sương

Nghe sầu tận tận nghìn phương dội về

 

Dòng sông nào đợi chờ ta

Chảy về đâu những cơn mơ nhạt nhàu

Ta về lạc giữa đời nhau

Tay cầm giọt lệ nhớ màu mắt xưa

 

Bóng mây thiên cổ bây giờ

Còn bay với bóng đời ta mịt mù.

                            


BÓNG QUÊ HƯƠNG

 

Nghe bạn nói trời Houston lạnh buốt

Nhìn mù sương thương sợi khói quê nhà

Tôi ở miền Đông đang mùa nắng hạn

Giọt mồ hôi bỏng rát đất cằn khô

 

Khi tàn cuộc cũng đành thân lưu lạc

Như dòng sông đã biệt cội xa nguồn

Kéo vạt áo lau khô dòng nước mắt

Phương trời nào cũng thấy bóng quê hương

 

Nghe bạn nói thèm một lần trở lại

Tôi ôm thầm trăm khát vọng ra đi

Mà vết thương chung vẫn còn sưng tấy

Lịch sử là những bi khúc phân ly

 

Tôi miền Đông, chẳng là tên lưu xứ

Cũng đau lòng buổi muối mặn gừng cay

Cũng canh cánh bên trời xưa áo lụa

Thuở vàng thu, vàng cả giấc mơ dài.

                           

 

BÓNG TÌNH AI VỪA CHẠM GIẤC MƠ CHIỀU

 

Tôi cứ mơ màng nghe trong những chiều gió muộn

Tiếng của một người thảng thốt gọi tên tôi

Tiếng của một người nghe như tiếng của chiều rơi

Rất gần gủi mà vô cùng xa vắng

 

Và tiếng nói mang mang như tiếng đàn trải dài nhiều nốt lặng

Mà làm rung thanh sắc của hư vô

Mà làm rung nhịp phách những dòng thơ

(Ôi đôi mắt trầm hương môi ngà mắt ngọc)

 

Em có nghe không tiếng chiều rơi thảng thốt

Tiếng chiều rơi như tiếng lá tình bay

Như giấc mơ tôi chạm xuống vai gầy

Ôi phố thuở vàng thu Vàng lời nhung lụa

 

Ôi phố thuở quàng tay ôm vàng nỗi nhớ

Em qua phố vàng vàng lụa cõi thơ tôi

Không biết chiều đang gọi tên tôi

Hay tôi thảng thốt gọi tên người

 

Lời của gió? Của mưa?

Của vàng vàng ảo mộng?

Lời của thiên thu? Của trăng sao?

Của chiều phơi áo mỏng?

Bóng tình ai vừa chạm giấc mơ chiều

 

                                     Lê Văn Trung


READ MORE - CHÙM THƠ “BÓNG…” CỦA LÊ VĂN TRUNG