Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, July 26, 2020

CHÌM, HOA BỒ CÔNG ANH BAY..., QUÀ QUÊ - Thơ Trần Mai Ngân





CHÌM

Chìm trong khói, chìm trong hương
Chìm trong quên lãng vô thường tôi ơi
Hằng đêm Bát Nhã nghẹn lời
Bóng - tôi đối diện với đời vô ngôn...


HOA BỒ CÔNG ANH BAY...

Gió đưa chiều muộn hoa bay
Lời kinh sám hối những ngày trần gian
Bồ Công bám áo nâu vàng
Ghim con tim nhỏ một hàng cô đơn !


QUÀ QUÊ

Từ quê chồng gửi lên thành
Nải chuối chín bói để dành mấy hôm
Nhãn xuồng đầy đặn dày cơm
Nghe trong tháng bảy hương thơm đủ điều...

Gửi tôm, gửi thịt... gửi nhiều...
Toàn là những món vợ yêu ưa dùng
Gửi đầy, gửi hết riêng chung
Gói trong quà ấy mông lung vợ à...

Nhớ lắm... chồng chẳng nói ra
Chỉ mong vợ sớm về nhà mà thôi!

                            Trần Mai Ngân

READ MORE - CHÌM, HOA BỒ CÔNG ANH BAY..., QUÀ QUÊ - Thơ Trần Mai Ngân

CHÙM THƠ VIẾT VỀ NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ CỦA ÁI NHÂN



ÁI NHÂN
Tên thật Bùi Cao Thế
Đt:0984470914
139- 399- Ngọc lâm – Long biên –Hà nội
TK Bùi cao Thế 10524096395016 Techcombank
Chi nhánh Chương dương – HN


MỘNG DU TÌNH MẸ
(Kính tặng mẹ liệt sĩ VN)

Nắng nhàu ru giấc mơ hoang
Giật mình thảng thốt mẹ mang máng ngờ
Vẳng đâu đó tiếng gọi hờ
Hình như con mẹ đang chờ ngoài đê?

Chợt bừng mẹ tỉnh cơn mê
Hồn con có lẽ đang về đâu đây
Ngước trời mẹ gửi lời mây
Khôn thiêng nghe tiếng mẹ mày gọi không?

Chập chờn ở cõi xanh trong
Hồn con nhớ mẹ cũng ngong ngóng chờ
Sông thương nhớ nối hai bờ
Mộng du tình mẹ... vọng hờ tiếng con

 * 
       
Có nỗi đau vô thừa nhận. cô giáo tôi yêu một người lính. Anh ấy không về…
Hơn ba mươi năm sau tôi trở về trường cô tôi vẫn không lấy chồng.
Bài thơ này tôi viết tặng cô tôi, và bao mối tình thủy chung thầm lặng khác…

CÔ TÔI
(Kính tặng cô giáo Nhuận - cấp 3 Ân thi – HY)

Bài thơ cô đọc ngày xưa
Trời đông bừng nắng giữa mưa dầm dề

Khóa tình neo bến sông mê
Trao người lính trẻ xa quê lên đường
Niềm tin rực đỏ mái trường
Cô gieo hạt nở mười phương hoa đời

Trường Sơn bom đạn tơi bời
Tình tan vào đất phía trời hư vô
Mưa nguồn trong tiếng hát cô
Vầng trăng vụn vỡ… mắt khô lệ hằn

Kiếp người mưa nắng phù vân
Héo hồn tô thị… mây tần xót thu!


GIẤC MƠ TÔI
(Kính tặng đồng đội tôi hi sinh ở biên giới)

Trong giấc mơ tôi bạn về với tay xin ngụm nước
Mắt quầng thâm những ngày thiếu ngủ
Nắng cháy thịt da, mưa dầm thũng nước
Những vết sước trên vai trên cổ
Loang lổ chiến hào… 
pháo địch đêm qua

Đầu bạn quấn băng thương loang máu
Đôi chân lê chẳng chạm đất vẫn cười
“Chúng mày về dưới ấy miền xuôi
Nhớ nói với mẹ tao rằng tao còn ở lại
Giữ biên cương mãi mãi vẹn toàn
Nhớ nói với cô gái nhà bên thường hay sang giúp mẹ
Rằng tao không yêu đâu, nàng hãy lấy chồng!”

Lời nói dối của bạn tôi từ đáy lòng chân thật
Mưa xối chiến hào…
mắt bạn rưng rưng!

Hơn ba mươi năm rồi xa cuộc chiến tranh
Pháo vẫn nổ trong từng giấc ngủ
Khói súng mịt mù vẫn vương mùi khét lẹt
Máu bạn tôi còn ấm dưới tay mình!

Hơn ba mươi năm rồi sau cuộc chiến tranh
Lệ đã cạn hết rồi trong mắt mẹ
Những người lính - đồng đội tôi trẻ lắm
Những linh hồn im lặng giữ biên cương!

Những cột mốc trên đường biên - bia mộ
Chứng nhân lịch sử bạn - thù
Nơi máu xương, mồ hôi đồng đội tôi đổ xuống
Đất nước tôi ơi!
Bao chua xót khóc cười…

 *

Có một người đàn bà điên vẫn ngày ngày ngóng ra phía biển, chị vẫn tin anh ấy sẽ chở về… người đàn bà ấy là vợ người chiến sĩ đi giữ đảo xa…

NGƯỜI ĐÀN BÀ MỘNG DU
(Kính tặng: vợ liệt sĩ Gạc ma!)

Chị vẫn hát, hướng lòng ra phía biển
Vẫy tay cười hi vọng phía xa xăm
Thăm thẳm nỗi niềm rưng rưng lên mắt
Nơi xa vời con sóng vỗ vào trăng...
Người chị yêu đi giữ đảo giữ trời
Mấy chục năm rồi phía xa vời vần vũ
Máu vẫn loang bầm trên đá đảo Gạc Ma
Những người lính ôm nhau thành vòng lửa *
Giữ thiêng liêng màu đỏ sắc cờ!

Người đàn bà vừa đi vừa hát
“Trường sa, Hoàng sa ơi! không xa!”
Chị đã hát ngót ba mươi năm trên bờ nắng gió
Ba mươi năm khôn nguôi khát vọng
Ấp ủ nỗi niềm thương yêu mơ mộng
Mái ấm gia đình và những đứa con ngoan!

Anh ra đi tít tắp phía mây ngàn
Chị vẫn đợi vẫn giơ tay vẫy biển
Xây lâu đài mơ trên cát trắng mịn màng
Sóng vô tình nô rỡn nắng lang thang
Lại nhấn chìm lâu đài mơ của chị...

Chị vẫn hát trong bóng chi
ều mộng mị
Và lại xây mơ ước những lâu đài
Vẫn một mình tin ở phía ngày mai
Anh trở về khuôn ngực trần vạm vỡ
Nồng cháy bờ môi, mặn mòi rạng rỡ
Chị lắc lư say...mộng du khúc tâm tình!

Chị vẫn một mình hát trước bình minh
Cười, vẫy gió phía chân trời ... hi vọng!

                                                 Ái Nhân

READ MORE - CHÙM THƠ VIẾT VỀ NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ CỦA ÁI NHÂN

Ừ THÌ TỰ TÌNH SÔNG TRĂNG...- Chùm thơ: Đặng Xuân Xuyến


Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

Ừ THÌ...


Ừ thì ngưng nửa cuộc chơi
Ừ thì chấp chới nửa vời chữ yêu
Ừ thì quánh đặc cô liêu
Ừ thì chát mặn niềm đau... Ừ thì...
*    
Hà Nội, chiều 23 tháng 06-2013



TỰ TÌNH


Và em ngúng nguẩy dưới thềm
Và lim dim mắt để đêm phập phồng
Và mênh mông gió ven đồng
Và tôi cùng với bến sông chòng chành.
*.
Hà Nội, đêm 05 tháng 01-2014

SÔNG TRĂNG


Vâng, từ độ ấy đến giờ
Sông trăng dẫu cạn vẫn chờ đò xưa
Cầu trời đổ một trận mưa
Cho sông trắng nước đò xưa trở về.
*
Hà Nội, ngày 26 tháng 06-2013



VẪN LÀ...  
- Với T.L.A -


Vẫn là em, của ngày xưa
Vẫn là thề thốt em chưa bao giờ
Vẫn là em, cứ hững hờ
Vẫn là muôn sóng nghiền bờ, nghiến anh.
*.
Hà Nội, đêm 07 tháng 11-2014

MUỘN


Quờ tay chạm phải gió lùa 
Co ro gác nhỏ đã thừa chín đông
Ngày đi cải chửa trổ ngồng
Ngày về cải rực bờ sông, chín mùa...
*.
Hà Nội, 21 tháng 11.2015


KHỜ


Người đi vá víu nụ cười
Tôi hong tơ ướt cũng mười năm nay
Khật khừ say tỉnh tỉnh say
Cứ ngu ngơ đợi heo may trái mùa.
*.
Hà Nội, 18 tháng 11.2015

HOANG MƠ
- Tặng T.L.A -


Chiều tàn bước thấp bước cao
Đêm mơ hái được chòm sao lưng trời.
Niềm vui đến chỉ nửa vời
Ngẩn ngơ chi sợi tơ trời, bỏ đi.
*.
Hà Nội, 05 Tết Đinh Dậu - 2017



BIẾT LIỀU


Ừ thì... đêm ấy... đêm hè
Nở ngây thơ mới bị đè cưỡng yêu.
Ví rằng đêm ấy không liều
Đời trai Chí sẽ thêm nhiều thị phi...
*.
Hà Nội, ngày 29 tháng 11-2013



VÀ TÔI


Một người góc chợ la cà
Một người lẩn giữa cõi ma ú òa
Và tôi một kẻ mù lòa
Ngu ngơ đặt cược quan tòa xứ gian.
*.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12.2019

TÌNH CHA
- Với con yêu Đặng Tuấn Hưng -


Ba mươi tư tuổi sinh con
Ngẩn ngơ bố nhủ vì con cả đời
Có con có cả đất trời
Ôm con ôm cả nụ cười thế gian.
*.
Hà Nội, ngày 13 tháng 03-2002

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - Ừ THÌ TỰ TÌNH SÔNG TRĂNG...- Chùm thơ: Đặng Xuân Xuyến

THƯ GỬI NGƯỜI XA | EM & MÙA THU - Thơ Trần Đức Phổ




Trần Đức Phổ

Thu Gửi Người Xa


Em hỡi thu về có nhớ anh
Có nghe lá rụng xót thương cành
Có buồn dấu nhạn bay đơn lẻ
Có tiếc hạ nồng vội lướt nhanh?

Nhà bên cơm mới thoảng đưa hương
Vẳng tiếng ru hời rất dễ thương
Thu của quê nghèo êm ả lắm
Mỗi sáng em thơ bước đến trường

Gửi em mộng thắm chửa tàn phai
Cả nỗi tương tư, tiếng thở dài
Gửi áng mây chiều vương sắc tím
Và sợi nắng hồng những buổi mai

Mơ một mùa thu chẳng cách xa
Bên nhau vai tựa ngắm trăng ngà
Cuộc đời sẽ đẹp như thơ nhạc
Khi lòng chung thủy chẳng phôi pha.



Em & Mùa Thu



Mùa thu trở lại bên khung cửa
Với nét đan thanh áo lụa vàng
Bầy chim sáo sậu kêu làm tổ
Mây trời chừng mỏi mệt lang thang

Ta chờ em ở nơi đầu ngõ
Chỗ tiễn em đi lúc hạ về
Mùi hương tóc vẫn còn trong gió
Mà người biền biệt nẻo sơn khê

Sùi sụt mưa bay buồn phố cũ
Tả tơi hoa sữa mãn sương mù
Dư âm của một thời hạnh ngộ
Xen vào giá lạnh cả trời thu

Còn nhớ chăng em chiều hôm ấy
Trao nhau nồng thắm nụ hôn đầu
Sóng mắt băng trinh, mùi con gái
Khiến ta chao đảo đến đời sau

Mùa thu trở lại, em không lại
Chiếc lá khô vàng nhớ gót chân
Em ạ, tiếng thu buồn biết mấy
Khe khẽ gọi thầm đâu cô nhân?

tranducpho
READ MORE - THƯ GỬI NGƯỜI XA | EM & MÙA THU - Thơ Trần Đức Phổ

Saturday, July 25, 2020

MINH OAN CHO GIAI THOẠI “TRUYỆN TÌNH TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA” - Hoàng Hương Trang



MINH OAN CHO GIAI THOẠI “TRUYỆN TÌNH TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA”


Từ xưa đa số người Việt mặc nhiên cho rằng Trần Khắc Chung và Huyền Trân công chúa là một mối tình. Họ kể truyền miệng đời này qua đời khác thành ra vô tình đã “Đóng Đinh” đó là một mối tình như có thực. Chính tôi từ mấy chục năm qua cũng tin như vậy. Cứ cho là trước khi đi làm vợ vua Chiêm Chế Mân, Huyền Trân công chúa đã có ý tình dang díu với Trần Khắc Chung, nên khi Chế Mân chết, vua Trần sai Khắc Chung đi cứu con gái khỏi bị hỏa thiêu chết theo chồng theo phong tục của hoàng gia Chiêm Thành, thì hai người “Tình cũ” lại được “tái hợp”, cuộc cứu hộ công chúa thành công và hai người lênh đênh trên biển một thời gian khá dài có đến hàng năm, mới về tới Thăng Long.

Mãi cho đến khi thành phố Huế xây dựng Trung tâm văn hóa Huyền Trân, mà dân Huế gọi là Đền thờ Huyền Trân công chúa; Tôi có dịp đến viếng, tìm hiểu cặn kẽ, đọc kỹ sử liệu và văn bia tại đền thờ, thật sự tôi đã sững sờ, ngỡ ngàng khi biết ra sự thật có trong sử liệu và văn bia tại Đền Thờ do ban nghiên cứu sử uy tín đã viết lại cho đúng sự thật. Ôi! Một nỗi oan đã kéo dài với thời gian mấy thế kỷ, mà không ai minh oan cho hai người. Theo sử liệu, khi công chúa Huyền Trân còn ở Thăng Long, chỉ mới 13 tuổi, đã được vua cha hứa gả cho Chế Mân. Khi đó, lão tướng Trần Khắc Chung đã rất già, vốn không phải họ Trần, mà là họ Đỗ, vì có nhiều công chiến trận nên được vua cho cải ra họ Trần. Lão tướng ngoài tài trận mạc, còn có tài thêu thùa rất khéo tay, vì vậy các công chúa trong triều được lão tướng dạy cho học thêu thùa. Công chúa Huyền Trân lúc đi lấy chồng mới 15 tuổi, là cháu ngoại của danh tướng Trần Hưng Đạo, bạn lão tướng chí thân của lão tướng Trần Khắc Chung. Lúc đó, lão tướng Khắc Chung đã già, đã có 3 đời vợ, con cháu đầy đàn, không thể nào lại dang díu với cô công chúa 13 tuổi là cháu ngoại của bạn mình được. Thuở xa xưa trên 700 năm trước đó, một cô gái nhỏ mới 13, 14 tuổi có dám yêu một ông già bạn của ông ngoại, và đã có vợ, con, cháu đầy đàn? Ngay thời đại ngày nay, điều đó cũng khó có thể xảy ra.

Cho đến khi vua Trần sai đi cứu công chúa là vì lão tướng đáng tin cậy, có nhiều mưu kế, từng trải trận mạc, mới có thể cứu được công chúa thoát khỏi lên giàn hỏa thiêu. Lúc này công chúa mới sinh hoàng tử được 2 tháng. Lão tướng Khắc Chung đã tương kế tựu kế, vừa thay mặt vua Trần để phúng điếu với triều đình Chiêm Thành (Chế Mân chết, Chế Cũ lên nối ngôi vua cũng chỉ mới trên dưới 15 tuổi, là con trai của bà Hoàng hậu lớn của Chế Mân, còn con của Huyền Trân là Chế Chí mới sinh được 2 tháng) vừa đề nghị với triều đình Chiêm Thành cho phép công chúa Huyền Trân ra biển Đông để hướng về quê hương bái biệt vua Cha, rồi sẽ trở vào để lên giàn hỏa.

Triều đình Chiêm Thành đã bị mắc mưu của lão tướng Việt Nam, đã bằng lòng cho công chúa Huyền Trân ra biển để bái biệt vua cha. Vừa hay trời phù hộ cho lão tướng, sương mù dày đặc bao phủ cả biển khơi, ba bên bốn bề đều không thấy rõ, nhân cơ hội đó, lão tướng đưa công chúa qua thuyền nhẹ, và dông tuốt về phía Bắc. Trên thuyền chỉ có mấy thủy binh chèo thuyền, thuyền nhẹ đi rất nhanh, sương mù đã che khuất bóng họ. Khi thuyền vào đến vùng biển Quảng Trị thì bị bão lớn, sóng đánh dữ dội suýt chìm thuyền, phải tấp vào bờ. Vùng đất Quảng Trị bấy giờ thuộc hai Châu Ô, Lý là đất mà Chế Mân đã dâng cho vua Trần làm sính lễ để cưới công chúa nhà Trần. Đất đã là của nước Việt, có quan trị nhậm do vua Trần Cử đến cai quản. Chính quan cai quản đất mới này đã giấu nhẹm rất bí mật tung tích của lão tướng và Huyền Trân, chờ hết mùa giông bão, sửa chữa thuyền xong mới có thể tiếp tục hành trình ra Bắc. Tại sao phải giấu tung tích? Bởi thủy quân Chiêm Thành rất giỏi thủy trận, đã từng đánh ra tận Thăng Long thời Chế Bồng Nga, do đó họ có thể cho thuyền truy lùng thuyền của Khắc Chung và công chúa. Hai người được vị quan Việt Nam giấu kỹ đồng thời lo sửa chữa thuyền bè đã bị bão làm hư hỏng nặng. Hơn năm sau, hết mùa bão, trời yên biển lặng, quân Chiêm không truy đuổi nữa, thuyền cũng đã sửa chữa xong, họ mới tiếp tục cuộc hải trình ra Bắc.

Tuy được cứu thoát, nhưng công chúa trong tâm trạng mất một đứa con trai đầu lòng mới 2 tháng tuổi, cùng với nỗi đau vừa mất chồng, cùng nỗi sợ hãi vừa thoát lên giàn hỏa thiêu. Thử hỏi trong tâm trạng đau buồn mất chồng, mất con, và lo sợ như thế, còn tâm trạng đâu để dan díu, ngoại tình? Sở dĩ người đời sau thêu dệt nên mối tình Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân là do họ đồng hóa với mối tình Tây Thi – Phạm Lãi bên Tàu, sau khi báo thù vua Tàu, Tây Thi đã theo người tình cũ là Phạm Lãi chèo thuyền chu du vào Ngũ Hồ sống với nhau, lênh đênh bềnh bồng trên sóng nước, bỏ lại thế gian sau lưng. Do đó người Việt đời sau cứ thản nhiên đồng hóa mối tình Tây Thi – Phạm Lãi và Huyền Trân – Trần Khắc Chung như là một. Đó là nỗi oan của Lão Tướng Trần Khắc Chung và là nỗi oan của sương phụ Huyền Trân mà ngày nay chúng ta phải hiểu và đánh giá lại cho rõ ràng.

Khi về đến Thăng Long, Huyền Trân lên núi Yên Tử trình diện vua cha là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, rồi quy y đi tu, lấy pháp danh là Hương Tràng ni sư. Bà vừa tu hành vừa dạy dân dệt vải và làm thuốc cứu bệnh cho dân. Tôi ước mong rằng người Việt Nam ta ai cũng có dịp đến viếng đền thờ Huyền Trân công chúa ở Huế để có dịp tận tường đọc kỹ văn bia và sử liệu chính thức đáng tin cậy để minh oan cho công chúa Huyền Trân và Lão tướng Trần Khắc Chung. Riêng tôi, sau lần có dịp đến viếng đền thờ và đọc cặn kẽ sử liệu, văn bia. Tôi đã thắp hương cúi đầu chân thành tạ lỗi với người xưa, vì mình đã lầm tưởng mấy chục năm qua chỉ vì hai chữ “tương truyền”, oan cho một người phụ nữ đoan hạnh và một vị lão tướng tài ba.

                                                        Hoàng Hương Trang

READ MORE - MINH OAN CHO GIAI THOẠI “TRUYỆN TÌNH TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA” - Hoàng Hương Trang

MẸ ƠI, NẮNG QUÊ MÌNH | CHUYỆN CHÚNG TÔI - Thơ Đàm Ngọc Năm

Nhà thơ Đàm Ngọc Năm


MẸ ƠI, NẮNG QUÊ MÌNH

Những hàng cây bên ngõ
Nắng hạ chẳng ra bông
Ruộng lúa chờ giọt nước
Lá héo rũ khắp đồng.

Mẹ ngồi nhìn ra ruộng
Buồn, Mẹ nói thành lời
“Hạn mùa này nặng lắm
Chắc lại đói nữa rồi! “

Thời con còn rất bé
Đâu hiểu được, Mẹ ơi
Thuở “hai sương, một nắng”
Mẹ cứ thế một đời...

Con đâu nghĩ mình đói
Vì đã có Mẹ lo
Cứ ra đường trưa nắng
Đuổi bắt bướm trên bờ.

Lớn lên con mới hiểu
Lam lũ cảnh quê mình
Ngày mưa, đồng trắng nước
Mùa nắng lá phơi cành.

Khi hiểu được cuộc đời
Mẹ đã đi xa lắm
Suốt một thời trĩu nặng
Vai Mẹ gánh đời con.

Quê mình nay nắng gắt
Hàng chuối lá héo khô
Bỗng con nhớ ngày ấy
Những tháng năm dại khờ...

Cả cuộc đời của con
Nợ Mẹ, không trả được.
Điều con hằng mong ước
Mãi bên Mẹ, Mẹ ơi !



CHUYỆN CHÚNG TÔI

Bốn lăm năm trước chúng tôi cùng học
Thuở “hai hai đồng”, Nhà nước nuôi ăn
Nơi ở chẳng lo, chỉ sợ rét thiếu chăn
Manh áo trên người nhiều khi không đủ ấm.

Dẫu quá nghèo nhưng nghĩa tình sâu nặng
Chiếc bánh mì mỗi sáng bẻ làm đôi
Những bữa cơm, hạt bo bo quá nửa nồi
Vẫn hát, đùa vui, vẫn yêu đời là thế!

Có những người từng một thời đánh Mỹ
Thay phiên nhau giữ Chốt dưới đạn bom
Cũng có người quen sốt rét từng cơn
Chốn thâm sâu rừng thiêng, nước độc
Về lại trường, anh em mình cùng học
Cùng yêu thương không phân biệt tuổi đời.

Năm năm rồi qua, mỗi đứa một nơi
Hăm hở lắm, lòng cứ như mở hội
Gian khổ đang chờ, chúng tôi đâu lường tới
Chỉ biết vui vì được khẳng định mình.

Đến hôm nay đã đi hết tuổi xuân xanh
Bốn mươi năm giờ mới cùng ngồi lại
Có những người ngày vui không kịp tới
Đã đi xa, xa mãi - Một kiếp Người.

Ngày gặp nhau không có bạn - Bạn ơi !
Ở nơi đó bạn nhớ chúng tôi không vậy?
Anh em giờ vẫn nhắc tên bạn đấy
Nhớ một thời chiếc bánh bẻ làm đôi...


   
Đàm Ngọc Năm

(Đàm Ngọc Năm, the Oasis2, Khu đô thị Việt Nam - Singapore, 
Thành phố Thuận An, Tỉnh Bình Dương, namdnvietsing@gmail.com)
                          



READ MORE - MẸ ƠI, NẮNG QUÊ MÌNH | CHUYỆN CHÚNG TÔI - Thơ Đàm Ngọc Năm

Friday, July 24, 2020

KÍ ỨC TUỔI THƠ - Hoàng Hữu Chiểu






KÍ ỨC TUỔI THƠ
Tác giả: Hoàng Hữu Chiểu


Đời người …

Có lẽ ai cũng nghĩ rằng thời thơ ấu là cái thời đáng nhớ nhất, cái thời mà sự vô tư, hồn nhiên, trong trẻo luôn luôn ngự trong tâm hồn; để rồi, khi thời gian làm bạc mái đầu, da hằn sâu những dấu chân chim, con người ta còn nhớ mãi về những kỉ niệm thuở ấy. Và ngậm ngùi hoài niệm !....
Tuổi thơ của tôi gắn liền với những lũy tre làng, những ao cá, cây đa, bến nước, sân đình, đặc biệt những cánh đồng của làng ...

Cánh đồng làng tôi, phần lớn, trồng lúa.

Đầu tháng 11 âm lịch, dân làng tôi ra đồng cày ải, “làm giường” (“phạng” cỏ bờ ruộng và bồ thêm đất vào bờ để giữ nước), chuẩn bị cấy lúa vụ Đông Xuân.

Thời ấy, chưa có máy cày bừa, việc làm đất phải cậy đến sức trâu. Bác nông dân đứng trên chiếc bừa làm bằng gỗ, con trâu kéo chiếc bừa xé đất cho tơi và bàn đất cho phẳng; chiếc bừa tiến lên, nước dạt ra hai bên; lũ trẻ chúng tôi đi theo để bắt cá và đam (cua đồng). Cá hay đam trôi theo dòng nước; phát hiện chúng tôi chồm xuống tranh nhau, ngã chúi mũi xuống bùn, mặt đứa nào đứa nấy lấm lem rồi nhìn nhau cười toe toét.
Hết buổi, cá và đam đem về nhà; có đứa trong chúng tôi ghé hàng xóm xin mấy quả khế chua; thế là mạ chế biến cho một bữa gồm cá đồng kho gừng, đam nấu với khế chua … Ăn với cơm độn sắn khô hay khoai khô, ngon chi lạ!

Vào mùa đông, đang tuổi ăn, tuổi ngủ, bụng đủ no, chúng tôi leo lên giường nằm co mình trong chiếc chăn cũ, rách; mùi hăng hăng, tanh tanh của bùn bốc lên làm thổi dậy những giấc mơ đẹp.

Rồi Tết qua, giêng, hai, ba vụt tới, dân làng tôi chuẩn bị nào liềm, nào hái để giữa tháng ba âm lịch, thấy lúa chín đều, ra đồng thu hoạch.

Lũ trẻ chúng tôi cũng háo hức ngóng chờ mùa gặt không kém. Người lớn thì phấn khởi vì sau mấy tháng trời chân lấm tay bùn, vất vả vì dãi nắng dầm mưa, thành quả lao động sắp được gánh về nhà. Còn chúng tôi thì nôn nóng mong mùa gặt để được ra đồng chạy nhảy, thả diều, tìm bắt những tổ chim "chắt chắt" gắn chặt giữa những chẽn lúa trĩu hạt, những tổ chim chiền chiện khéo giấu mình dưới gốc lúa, hay theo tiếng kêu, lần tìm, đào những chú dế mọi, dế lửa, dế pha nép mình dưới những đường nẻ hay hang giữa ruộng khô về nuôi trong những chiếc thùng các-tông, cho đá nhau, xem … thích lắm!
Dế được bắt giữa cánh đồng lúa lúc nào đá cũng mạnh mẽ, dẻo dai, hấp dẫn hơn dế bắt được giữa nương khoai, cồn bắp … Chắc nhờ môi trường sống … Ruộng lúa có hàm lượng đất sét cao, khi lúa chín, người ta tháo nước để dễ gặt, đất sét khô nên rất cứng, dế phải thích nghi với môi trường ấy, muốn đào hang, phải có sức mạnh và nhất là phải có đôi hàm khỏe .

Mùa gặt, cánh đồng làng tôi như một bức tranh của tạo hóa. Cả cánh đồng mênh mông toàn một gam màu vàng óng dưới ánh nắng đầu hè, vọng lên tiếng hò xen lẫn tiếng nói cười râm ran của mấy toán thợ gặt.

Lũ chúng tôi thì thả lên không trung xanh biếc, lúc chiều về,  những chú diều màu sắc sặc sỡ. Mỗi chiếc diều mang theo những ước mơ hồn nhiên của chúng tôi bay lên trời cao, chúng tôi hi vọng ông Trời ở trên tầng cao ấy nắm bắt được, soi xét, thoả mãn những ước mơ ấy để chúng tôi có tương lai tươi đẹp hơn.
Xa ở đằng kia, tiếng máy tuốt lúa (thời ấy máy tuốt thủ công quay bằng sức chân người đạp) ầm ầm, người thì tuốt, người thì đứng cạnh hốt những hạt lúa đã tuốt cho vào bao chất lên chiếc xe bò đang đợi sẵn, í ới vang đồng hối nhau kéo mau về kẻo trời sắp mưa…
Chừ nhớ lại, thấy vui vui! Và tiếc tiếc vì không còn chi nữa!

Bây giờ, ở quê tôi, đà đô thị hóa diễn ra nhanh lắm. Những cánh đồng làng tôi bị lấp để làm khu dân cư.

Còn đâu những cánh đồng xanh mướt khi lúa đang thì con gái!
Còn đâu những cánh đồng vàng ươm khi lúa đang kì thu hoạch.
Còn đâu những cánh đồng mà ở đó bao thế hệ dân làng tôi đều gởi gắm kỉ niệm thời thơ ấu vô tư, hồn nhiên!
Còn đâu cái mùi hăng hăng tanh nồng của bùn mà tôi và đám bạn ngày nào đem theo vào giấc ngủ để có những giấc mơ đẹp!
Còn đâu cái vị của nồi canh khế nấu với đam ngon miệng!
Còn đâu tiếng dế kêu báo hiệu bình minh hay hoàng hôn mỗi ngày!
Còn đâu trò chơi bắt dế, đá dế của trẻ thơ!

Đồng ruộng không phải tự nhiên mà có; đồng ruộng nên hình nên dáng là do công sức của bao thế hệ dựng nên. Tổ tiên đã đổ bao mồ hôi nước mắt, thậm chí cả máu đương đầu với ma thiêng, nước độc, thú dữ để khai hoang, lên bờ vùng, bờ thửa, Các Ngài lao động bất chấp hiểm nguy vì các Ngài ôm ấp kỳ vọng là tạo nguồn sống muôn đời cho con cháu mai sau. Các Ngài chắc không bao giờ nghĩ ruộng đồng sẽ bị san lấp ồ ạt như bây giờ …

Không biết hồn thiêng các Ngài nghĩ thế nào khi thấy ruộng đồng biến mất nhanh đến thế!

                                                              Hoàng Hữu Chiểu

READ MORE - KÍ ỨC TUỔI THƠ - Hoàng Hữu Chiểu