Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, June 23, 2020

CHÙM ẢNH BẦY NGỖNG CANADA CỦA CHU VƯƠNG MIỆN



 

 

 

READ MORE - CHÙM ẢNH BẦY NGỖNG CANADA CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

THI 9 HÀO NGUYỄN BÍNH, THI ĐỒNG ẤM HIẾU, NHÀ ĐẠI “VDĂNG QUÁ”





THI 9 HÀO NGUYỄN BÍNH
  
Tên thật Nguyễn Trọng Bính “1918-1966”
Xong một kiếp làm ngừơi ?
Xong nợ trần ai khoai củ
Y nhà văn 8 hào Nguyễn Tuân
Ban đêm say rượu tụt quần
Đái tưới hạt sen trên vũng nước
Xong
Nhìn mặt mình và ánh trăng nơi đó
Văng tục: “đời chó quá ?”
Dòng đời nào cũng thế ? và thế thôi ?
Cũng “cuốn theo chiều gió”
Cũng gió chiều nào che chiều ấy
Chữ nghĩa thủa bấy giờ
“hàng hàng châu ngọc hàng hàng gấm thêu”
Dành hết cho villa thơ Tố Hữu
Đồng loạt khen phò mã tốt áo
Không còn sót lại một chữ nào
Cho Quang Dũng, Hoàng Cầm, Nguyễn Bính, Yên Thao
Trọn thế kỷ 20
Nguyễn Bính chỉ sau có mỗi một Tản Đà
Còn thiên hạ
Nói thẳng “dây” thừng
Là Nguyễn Bính đứng trên đầu đái xuống
Sòng bài con đỏ con đen
Chiếu rựợu chén đục chén trong
Sòng đời có sơn ca hoạ mi
Có dòi và bọ hung
Sòng thơ văn cũng vậy ?
Không thể cứ bổn cũ soạn lại
Bình mới rượu cũ
Toàn tuồng tích cũ
Diễn tới diễn lui
“biết rồi khổ lắm nói mãi”
Một chiều tay dẫn chiếc xe đạp
Vai xắc cốt dừng chân bờ ruộng nhà
Đói quá làm bát cơm nguội
Vừa xong thì hộc máu tươi lăn ra chết ?
Trên hố vôi
Còn con heo đụng sáu người
Chưa kịp thịt
Đã thác ?
Thôi hoàn cảnh chừ
Tôi kẻ đi sau ngừơi miền Nam
“Chúc mừng Huynh thoát”


THI ĐỒNG ẤM HIẾU

Gia thế cậu ấm Cửu
Con quan án sát Nguyễn Danh Kế
Thông làu Bách Gia Chư Tử  “tuất”
Tứ Thư Ngũ Kinh “Tương”
Hai lần thi Hương trường Nam
Đều vỏ chuối “chấm dứt vào năm 1912”
Bước qua Tây học
Không qua trường lớp tự học
Tài ba chót vót không thua thằng Tây Ma rốc
Trí tuệ thông mẫn tự mãn tự cuồng
Không điên một ly ông cụ nào ?
Danh nhân tài tử tài ba đất Hà Thành
Gặp mặt cụ một lần là cạch tới già
Không dám gặp lần thứ hai
Sợ quá
Người bạn già cận kề với cụ là “lão Ngô”
Tức học giả Ngô Tất Tố
Ngoài lão Ngô cụ không tiếp ai ?
Không tri âm tri dương với ai
Hiu hiu tự đắc thiên hạ đệ nhất nhân
Thường thì quần áo bà ba trắng
Đầu húi cao để trần
Chân thấp chân cao mang guốc mộc
Thường xỉn miệng lúc nào cũng hơi rượu
Mắt nhìn lên hay bị vấp ngã xuống lòng đường
Hai túi áo ba hai túi quần
Thường là để hạt dẻ rang
Hay đậu lạc rang “phá xa”
Vừa đi vừa nhai vừa ăn
Nách thường cặp hũ Ngũ Gia Bì
Lâu lâu tu một hớp cho đã nghiền
Coi trời bằng cái vung nồi đất
“Giai thoại văn chương”
Có một nhà văn khổ như chó
Giữa đường gặp cụ bèn chắp hai tay
Lậy cụ 4 lậy và thưa: “lậy thi sĩ ạ”
Nghe xong cụ đỏ mặt giận và quay đi
Nhà văn chó bèn đi sang phía trước mặt cụ
Khoanh tay thưa lần nữa : “Lậy Thi 10 hào và Đồng ạ”
Cụ cười hoan hỉ : có thế chứ ?
Thế là một già một trẻ
Cầm tay nhau ngồi ngay xuống vỉa hè
Chén chú chén anh
Vừa nhai đậu lạc vừa hạt dẻ
Hũ Ngũ Gia Bì chia nhau lúc nào hết
Không biết ?


NHÀ ĐẠI “VDĂNG QUÁ”

Chương Dân
Đưa lên bàn cân danh ngang cụ Tản
Tài thì nhiều hơn
Cùng thời cùng tuổi
Hai lão kỳ phùng địch thủ “vô địch thế giới”
Tài danh chỉ còn thua có cọp vằn
Cụ Tản thuộc vào loại “Tài Páo”
Là lúc nào cũng to và có ăn ngon
Còn cụ Chương Dân thuộc loại “Tài Xiểu”
Là khi ăn thì ăn quá lớn
Mà khi thua thì lăn đùng bổ ngửa
Xỉu luôn ?
Lão Tản chầu trời trước 16 năm
Bao nhiêu cái hay cái tuyệt nhận cả
Lão Chương Dân chỉ sau 16 năm
Bao nhiêu công lao theo nước xuôi dòng
Cuốn theo cả rong bèo lòng tong
Sạch như chùi đít ?
Ôi kẻ đi tiền phong “thơ mới”
Nhà bỉnh bút số một
Năm 1957 sống không ra sống
Mà thác không ra thác
Chỉ còn duyềnh
Đám ma dưới mưa phùn chỉ có
Một người cháu gái gọi bằng cậu và hai đứa con nhỏ
Đi theo
Hai bên đường không có ai ?

                                                        Chu Vương Miện

READ MORE - THI 9 HÀO NGUYỄN BÍNH, THI ĐỒNG ẤM HIẾU, NHÀ ĐẠI “VDĂNG QUÁ”

TRẢ GIÁ - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân


Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân


TRẢ GIÁ
Truyện ngắn
Lê Hứa Huyền Trân

           -Hôm nay tao nhận được việc mới rồi, làm cày không nghỉ, lương hơn bốn triệu, thế nên tao sẽ đãi mày ăn một bữa. Chừ thì thay đồ đẹp đẹp rồi tao dẫn ra tiệm bà Thu ăn hủ tiếu.
          -Thế ra lương ba triệu mà có tô hủ tiếu thôi à. Ki bo thế.
          -Bốn triệu là làm cho đã mới nhận, ngày đầu đi làm quái gì có tiền, này thì còn bốn chục ngàn trong túi, có đi ăn không thì bảo.
          Tôi  bật cười trước con bạn thân của mình. Nhã là bạn hàng xóm của tôi, chúng tôi lớn lên cùng nhau từ tấm bé. Chúng tôi sinh ra ở vùng quê nghèo nơi mở mắt ra là thấy cha đang chăm bẵm đàn vịt còn mẹ còng lưng gặt lúa trên đồng. Gái quê nhưng chưa bao giờ chúng tôi thôi cầu tiến, dở dang việc học đại học, năm hai mươi tôi và nó lên phố kiếm việc làm, cũng kinh qua đủ thứ để cải thiện miếng ăn. Trong khi tính tôi ít thay đổi với công việc của một công nhân giày lương ba cọc ba đồng thì Nhã lại có chí cầu tiến hơn, nó thích bay nhảy và luôn thay đổi chỗ làm việc sao cho phù hợp với sở thích và tăng thu nhập. Nhưng cái cản trở lớn nhất của nó là thực tế nó vẫn chỉ có một tấm bằng cấp ba ở một cái trường huyện nghèo xác xơ thì chẳng thể kiếm được công việc nào ra hồn, chỉ có thể là vài công việc tạm bợ bán tay chân. Nhưng kì thực là tôi phục nó, vì ở bất cứ công việc nào nó cũng vô cùng tận tụy, nên khi nó xin chủ nghỉ, hầu như ai cũng tiếc nuối, muốn giữ nó ở lại, ở điều đó tôi thực không bằng nó. Nó từng nói:
          -Tính tao vậy, thích coi việc của người ta như việc của mình. Nếu người ta giao tao việc nào đó nghĩa là người ta tin tưởng tao, đã được tin tưởng mà phản bội niềm tin, tao… làm không được.
          Chính vì thế tôi luôn tin rằng bất kì ai có một người làm thuê như Nhã  hẳn người đó may mắn lắm. Thế rồi nó xin được việc bán quần áo với lương hơn những bốn triệu, con số ấy có thể quá nhỏ với nhiều người nhưng với những đứa làm tối mặt mũi chỉ toàn kiếm được hai ba triệu như chúng tôi đó đã như là một điều kì diệu nên không chỉ nó cả tôi cũng hào hứng với việc nó được nhận vào đó.
           -Làm cũng dễ thôi, chào mời khách đến mua, siêng năng dọn dẹp, việc cũng nhàn, chủ lại dễ tính.
           Ngày đầu nó đi làm mang về cho tôi hai quả ổi:
           -Chủ cho.
           Nó nói gọn lỏn, hai quả ổi nhỏ xíu trong lòng bàn tay nhưng có vẻ nó vui khi nghĩ rằng mình được chủ thương. Ngày thứ hai nó mang về cái bánh nậm ăn dở, ngày thứ ba nó hào hứng với lời hứa của chủ “sẽ được tăng lương”. Tôi nghi ngờ:
          -Một là chủ mày quá tốt, còn không thì chỉ được cái lợi dụng. Sao tao thấy như mày bị dụ ấy, người ta cho thì toàn mấy thứ vụn vặt trong khi cái cơ ngơi ấy thì to nhường kia.
         -Mày rõ dở người lại tị ganh vớ vẩn, cứ đế đến tháng xem nhé.
          Đến tháng, nó nhận về hai triệu rưỡi, mặt tiu nghỉu:
          -Cô chủ bảo tháng đầu chưa được lương như những người làm lâu.
          Nhưng như thế càng không làm nó nản chí, nó siêng đi làm hơn, người ta quy định
          Bảy giờ có mặt thì mới sáu rưỡi đã thấy nó mở cửa hàng, tám giờ tối về, hôm nào hơn chín giờ cũng thấy mặt nó vác ở cửa. Tôi dò hỏi:
           -Mày đang bị cái số bốn triệu làm mờ mắt đấy, thế mấy đứa ở đấy làm lâu có được từng ấy lương không?
           -Chả ai làm quá hai tháng mày ạ, nhưng đừng lo, chị ấy hứa rồi mà, mấy đứa kia nghỉ sớm chắc do làm không nổi chứ tao chẳng thấy chủ tao tệ.
          Nó luôn mù quáng với những người nó làm công cho, nhưng việc chẳng bao giờ có ai làm quá hai tháng luôn khiến tôi phải suy nghĩ. Nhã yêu thương cô chủ nó thật, còn bộ sưu tập “những thứ bỏ đi” của chủ nó cho nó cứ chất đầy phòng trọ nhỏ của chúng tôi. Hôm nào nó về cũng mệt lả vì làm cả ngày, tôi còn phải đi giặt đồ cho nó. Nó đã quyết thì tôi cũng không dám cãi. Cho tới ngày lãnh lương của tháng thứ hai, nó đi làm về mặt tiu nghỉu:
           -Tao bị đuổi rồi mày ạ
           -Ơ hay, rồ à con? Sao dưng đuổi?
           -Chẳng biết, cô chủ bảo vì tao lười, có con bé khác được nhận vô làm rồi.
           Phải nói tôi chưa bao giờ thấy ai siêng năng như nó nên lấy lí do đó ra để đuổi thì rõ là cho có. Chúng tôi bắt đầu tìm hiểu từ những người xung quanh đó mới biết cô chủ mà bấy lâu nó yêu thương luôn có một kế hoạch cho những người làm. Kì thực, ai cũng biết những người mới xin được việc thì lúc nào cũng năng nổ và nhiệt huyết, lợi dụng sự nhiệt huyết đó và cho thêm vài món đồ bỏ không dùng tới sẽ khiến cho những người làm cảm tháy nhiệt tình với công việc hơn. Sau đó tháng lương đầu tiên bao giờ cũng lấy lí do người mới vào làm, còn tháng thứ hai thì tìm lí do rồi cho nghỉ, như thế con số bốn triệu sẽ chẳng bao giờ có được. 
                Bẵng đi ít lâu đột nhiên Nhã rủ tôi đi ngang qua cửa hàng quần áo đó xem thử nó như thế nào. Đi qua thì thấy người ta bu đen bu đỏ, thấy bên trong có mấy cô nhân viên đang cãi tay đôi với chị chủ, có vẻ người ta phát hiện được mục đích và cả đám rủ nhau đòi công bằng. Tôi cũng hất tay bảo Nhã vào nhưng nó nói không cần, cái giá phải trả và uy tín nhất định sau lần này cũng theo gió mà đi rồi. Vài người tiếc rẻ:
            -Cửa hàng lớn thế mà kẹt xỉ. Sáng nay còn bị ai quăng mắm cái đầy cửa hàng hôi rình nữa chứ.
           Tôi sực nhớ tới việc hôm qua con nhỏ bạn của tôi mua về nhiều mắm cái lắm, làm gì đó hì hục, còn dư bắt tôi ăn. À, thì ra… Tôi bật cười rồi kéo tay nó đi, có gì đâu mà quá đáng, đó là cái giá phải trả cho việc đi lừa những người đã yêu thương mình.

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

READ MORE - TRẢ GIÁ - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Monday, June 22, 2020

SÔNG - Thơ Trần Mai Ngân





SÔNG

Sông hôm nay đầy lắm
Chở nỗi buồn em đi
Có một cánh chim Di
Cũng vừa bay qua bão

Một nhánh hoa Lục Bình
Dập duềnh còn sót lại
Cứ miên man khờ dại
Đi tìm bến bờ xưa...

Trưa hôm nay giăng mưa
Trắng nơi ta hò hẹn
Xoá dấu ngồi năm xưa
Cho trôi vào quá khứ...

Sông hôm nay đầy lắm
Thuyền thì cứ xa xăm
Đôi bờ lỡ âm thầm
Một vết trầm thiên thu...

Sông hôm nay đầy lắm
Chở nỗi buồn em đi
Có một cánh chim Di
Cũng vừa bay qua bão...

            Trần Mai Ngân
                7-6-2020

Hôm qua một ngày mưa tôi về lại bến sông... tháng sáu!

READ MORE - SÔNG - Thơ Trần Mai Ngân

ĐỘC ẨM, SẦU QUÊ - Thơ Nguyên Lạc





ĐỘC ẨM

Dallas tìm đâu người tri kỷ?
Để ngất cùng ta khúc Hồ Trường
Nhìn quanh nhìn quất cao ốc Mỹ
Rượu uống mình ên có đau không?


SẦU QUÊ

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu” [*]

Chiều xuống vời quê nơi nao hở?
Đèn Cali xanh đỏ phát rầu
Trên sông khói sóng nơi đâu tỏa?
Ở đây cao ốc dựng bóng sầu

Tri kỷ nhìn quanh… một tiếng thở!
Rượu uống mình ên có sao đâu?

                                   Nguyên Lạc

…………

[*] Trời về chiều muộn, tự hỏi quê nhà nơi đâu?/ Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn! – Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu

READ MORE - ĐỘC ẨM, SẦU QUÊ - Thơ Nguyên Lạc

CHÙM ẢNH HOA FUCHSIO CỦA CHU VƯƠNG MIỆN







READ MORE - CHÙM ẢNH HOA FUCHSIO CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

Sunday, June 21, 2020

TỰ KHÚC THÁNG SÁU - Thơ Nhật Quang






TỰ KHÚC THÁNG SÁU

Tháng Sáu về vương ngọn gió dịu êm
Trời giao mùa ươm lên màu xanh lá
Khúc tự tình ta nghe chợt xa lạ
Xuân còn hương để ru ngát con tim?

Tháng Sáu về thơ thẩn mãi đi tìm
Vần yêu đương ghép vào đầu nỗi nhớ
Mênh mông lắm hai phương trời cách trở
Còn trong nhau chút say đắm tình thơ

Tháng Sáu về ươm lại những mộng mơ
Lên môi mắt long lanh người xưa ấy
Một chiều Thu đánh thức tim ta dậy
Hồn chơi vơi theo cánh lá vàng bay

Tháng Sáu về còn thoảng chút hương say
Cơn nắng nghiêng đưa Hạ về qua ngõ
Chiều tan trường áo dài bay trong gió
Góc phố buồn, ta ngơ ngẩn…tìm ai?

                                     Nhật Quang

READ MORE - TỰ KHÚC THÁNG SÁU - Thơ Nhật Quang

KHOẢNG LẶNG TÂM HỒN, THEO DẤU CHÂN TRẦN - Thơ Văn Thiên Tùng





KHOẢNG LẶNG TÂM HỒN

(Riêng tặng các bạn 2 lớp 11C&10A3 
Nguyễn Hoàng Non Nước, Đà Nẵng)

Thương phượng lắm - Phượng mùa hè năm ấy!
Cùng nỗi đau ly tán bởi chiến tranh
Tất tả di dân câu chuyện chẳng đành
Phượng nằm lại - ta lạc vào xứ lạ

Trại tạm cư lắm điều không kể ngạ
Mì gạo cấp đến nhận lại ăn nằ
Phòng học chia - ván chắn với nền băm
Trò đi học tay nách xách chiếc ghế

Cảnh trường lớp lúc này là như thế!
Chẳng khuôn viên bàn ghế lẫn sân chơi
Nay phòng này - mốt dãy nọ chuyển dời
Nhà ở chỉ một góc ô chắn nhỏ…

Hè ở đây không sắc màu phượng đỏ
Chẳng hề nghe dù một tiếng ve ngân
Nắng chói chang như thiêu đốt ngoài sân
Đường nhựa nóng cát xới tung nồm ngát

Ngày cuối khóa rộn vang lời ca hát
Nào đồng ca nào phần thưởng tặng khen
Tiếng tau mi tên họ vốn từng quen
Từ cửa lớp gắn kết nhau nào tả xiết

Tập lưu bút lẹ làng chuyền tay viết
Gởi chút gì đọng lại với thời gian
Giữ bao nhiêu tình cảm sáng trong ngần
Vùng kỷ niệm dọc dài theo nét bút

Phút chia tay ai nào không sùi sụt
Chín tháng rồi - sao nhanh quá thế vầy
Bọn chúng mình vổ cánh kể từ đây
Người trở lại quê  - người hoài viễn xứ


Những chuyến xe chẳng chút nào do dự
Lăn bánh đưa dân Quảng đến muôn phương
Lại chở theo tên đất lẫn tên trường
Nguyễn Hoàng- Bồ Đề - Thánh Tâm - Đắc Lộ

Dân về quê giữa hoang tàn sụp đổ
Người vào Nam lập ấp kiếp lưu dân
Người tỉnh này - kẻ chốn nọ xa gần
Cuộc sống mới giữa muôn vàn gian khó

Tuổi chúng mình ngày xưa là thế đó
Rất vô tư và quá đỗi thân thương
Năm tháng qua đồng chung một mái trườn
Bao kỷ niệm ngùi ngùi hoài lắng đọng…

Bài tình ca lời ai hoài vang vọng
Lá thư tình trau chuốt ý thiệt hơn
Nhét vào cặp… ấy đọc nhẹ “nguýt hờn”   
Nên chúng bạn cặp đôi thật “đỡ chết”…

Sau giờ học chụm đầu nhau tán phét
Học hết mình giành điểm cố tranh đua
Nữ hay nam cứ thế chẳng chịu thua
Nên luôn được thầy cô khen ngưỡng mộ

Lắm câu chuyện không thể nào hé lộ
Của lớp mình ngày ấy mười một xê
Trường Nguyễn Hoàng hai buổi cứ đi về
Hẳn sâu lắm!  tình thầy cô - bè bạn…

Nhóm Diễm Trang - Mười A thường ghép gán
Với lớp Xê dùng thun bắn thư qua
Trên đường về hùa nhóm lại chọc đùa
Ta đỏ mặt chỉ biết cười nhìn nớ…!

Chuyện học trò dại khờ chừ nhơ nhớ!
Bao mến yêu trên lăng kính xanh hồng
Bao nhớ thương thoang thoáng lẫn hương nồng
Mãi còn đó chẳng bao giờ nhòa úa.

                                       Quảng Trị, 15.6. 2017
                                      Mai Vân Văn Thiên Tùng




THEO DẤU CHÂN TRẦN

Những dấu chân trần hằn in đây đó
Mỗi sớm tinh mơ hay những trưa chiều
Kể sao xong với đủ chuyện muôn điều
Xuyên suốt cả Thu - Đông cùng Xuân-Hạ.

Mỗi hửng xuân sương phủ mờ lụm lá
Tụi chúng mình đi học chẳng quên mang
Cái vợt hóp* men theo khắp nẻo làng
Vớt mành nhện rồi úp chuồn chuồn tướng

Con chuồn tướng đẹp kia nào chịu vướng
Chẳng mấy con để ta bắt được nào
Những bụi cây lắm quả trái ngọt ngào
Cho vào miệng ngon lành thật thấm thía

Nào chuông chuổng từng chùm màu tím tía
Cà gai xanh vàng đỏ lủng lẳng treo
Bòng bong hồng, đùm đũm chín cố khèo
Lắt lẻo đấy chùm thù lù ngây mọng…

Bụi dây vằng từng chuỗi quả đen mòng
Ăn vào thôi tím ngắt miệng cùng môi
Chuyện về cây trái dại thuở thiếu thời
Thi nhau vặt theo bốn mùa đơm quả…

Đều gặm chửng thay thức ăn trừ bữa
Từ ngọt, bùi, chan chát lẫn chua cay
Cứ theo nhau từng nhóm suốt cả ngày
Lắm khi lại say mèn vì ham chén

Nhưng hạt trơng hái về làm phoóc bắn
Không có trơng leo hái quả bời lời
Cả trưa hè tụm trước ngỏ đùa chơi
Bắn đì đạch bởi chù ke - súng chuối

Cứ chia phe tha hồ reo rượt đuổi
Chán ngấy rồi bày trò khác vui hơn
Nắp keng lia - thuốc mít tán - vụ lăn
Ném đồng kẽm - đôi long hay dép táng

Lắm trò chơi chẳng trò nào chán ngán
Cứ luân phiên theo bước trẻ xa gần
Cứ theo nhau muôn nẻo chẳng ngại ngần
Rất thuần thục trước ngày ta khôn lớn

Dẫu giờ đây vốn việc vàn bề bộn
Vẫn không quên một thuở bước chân trần
Đạp bụi tre, leo trèo thịt da banh
Chẳng biết đau hay khóc nhè trước bạn

Bao lần ngã té đau hay trúng đạn
Vẫn gượng cười chẳng trách mắng bạn đâu
Chui vào rơm - xót xáy tận đến đầu
Suốt đêm vẫn trốn tìm dầu bị mắng

Tuổi thơ ơi! Thuở quê nhà yên ắng
Bao khu vườn đầy mít, ổi, khế, chanh
Những hàng cau, giàn bí, mướp rờn xanh
Mỗi hoa trái theo từng mùa cho quả

Mỗi sắc hoa tạc nền thêu nhung lụa
Đơm hương thơm ngát tỏa mỗi chiều tà
Từ xoan - cau, lý - bưởi rộ tứ mùa
Hằn ngâm ngấm trong ta từ tấm bé. 

                             Quảng Trị,19.6. 2017
                                 Văn Thiên Tùng

*Là cây hóp thon nhỏ dài trên 1m, thân nhỏ bằng ngón tay, ngọn hóp uốn cong thành vòng tròn để quơ cá ổ mạng nhện đang ướt đấm sương trên từng sợi tơ thành một cái mạng để bắt chuồn chuồn

READ MORE - KHOẢNG LẶNG TÂM HỒN, THEO DẤU CHÂN TRẦN - Thơ Văn Thiên Tùng

VIẾT VỀ NGƯỜI BA CỦA TÔI - Lê Phước Sinh





VIẾT VỀ NGƯỜI BA CỦA TÔI 
FATHER' S DAY -  21 tháng 6. 2020
                                                            Lê Phước Sinh

Chiếc xe đạp giàn ngang, màu xanh nước biển buổi sáng đưa con đến trường Tiểu học Trần Quốc Toản trong Nội Thành.
Tan việc, vội vội vàng vàng, Ba chờ đón con bên hàng Phượng trước cổng.
Trưa Hè trời nắng chang chang
Sáng Đông se lạnh u u âm âm gió buốt
Ngày ngày.
Năm, sáu năm đi học trường xa , Ba là Bạn - Cùng -  Lớp,  luôn  thấp thoáng cạnh con ngồi...

Ba sinh năm 1920 (Tân Dậu) tại làng Thượng Xá, Hải Thượng, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Gia đình có 4 anh chị em : “Lực - Điền - Viên - Cận”. Ba là con út. Khu vườn nằm ngay trên đường quốc lộ 1 (cũ) bên cạnh hói nước chảy qua Cống Lở về dòng sông Nhùng. Là vùng đất bồi nên vườn khá tốt, cây trái quanh năm hoa quả xanh tươi. Gia đình thuộc diện “tiểu nông”  sống cần kiệm, chu tất. Cách nhà khoảng cây số là nhà thờ La vang.
Thuở thiếu thời Ba đi học ở lớp tư trong làng (bác Giáo Châu), sau đó xin vào học Trường Tiểu Học Công Lập, cho đến khi thi đỗ bằng “Sơ học yếu lược” thì nghỉ. Lúc bấy giờ Ba đã có một số trình độ cơ bản về tiếng Pháp, Hán. Phụ việc đồng áng cùng gia đình một thời gian. Khoảng năm 1940, Ba mua vé xe lửa, một túi hành lý xuôi vào Nam tìm công ăn việc làm... Xuống Quảng Ngãi, tại ga Bồng Sơn, Ba được nhận vào phụ việc. Những công việc nặng nhọc vất vả cần sức trai trẻ, nhanh lợi... Ba đều vào cuộc... Cũng có lúc làm việc “bẻ ghi” tại Ga (tàu), có khi cầm Đèn Gió đi tuần đường rail giữa đêm khuya, mưa lạnh... Ba chính thức là công nhân ngành hỏa xa của Pháp thuộc Liên Khu 5, luân chuyển trong địa bàn Nam-Ngải.

Ba là người khéo tay và sáng dạ, cần kiệm... ngoài giờ, Ba thường nhận làm thêm gò, chữa các nông cụ, đồ dùng gia đình... như lưỡi cày, cuốc, dao, rựa, liềm, xoong nồi, ấm nước... Về mộc, Ba có thể cưa bào, đóng bàn ghế... Về điện, có thể những sửa chữa những động cơ vận hành không quá phức tạp... Vì vậy Ba được nhiều người thương quý, giúp đỡ.
Sau thời Pháp rồi Nhật. Hiệp định Đình Chiến 1954 ký kết, Ba quyết định về lại quê Quảng Trị. Tháng 03. 1955, Ba vào Huế, xin việc làm. Điều kiện: trong độ tuổi phải đi quân dịch. Nhập ngũ, sau mấy tháng huấn luyện, Ba được tuyển vào Quân Vận, học tài xế, đóng tại  “Bồ-ghè”. Cuối tháng 12, lập gia đình. Trong trận bão mùa đông 1957, khi cùng anh em che giữ mái tole của doanh trại,  Ba bị té, chấn thương, phải chuyển vào quân y viện Duy Tân, Đà Nẵng chữa trị.

Trong hai năm 1956, 1957...  Ba mua sách, tự học chương trình lớp nhì, lớp nhất rồi đi thi lấy bằng Tiểu Học, theo dạng thí sinh tự do, đỗ khóa 1957.
Tháng 12, 1958  được đưa ra Hội Đồng Giám Định Y Khoa xét, cho giải ngũ với giấy chứng nhận “Phế Thải Vĩnh Viễn Số 2”.
Tháng  02.1959, Ba viết đơn và được nhận vào làm tài xế cho Tòa Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, thường lái chiếc xe màu xanh 12 chỗ ngồi, đưa đón giáo sư và sinh viên đi công tác, thực tập. Giúp đỡ, hướng dẫn Ba chân tình, gần gũi là Bác Nguyễn (văn) Trường - Chủ sự Phòng nhân viên, người cùng quê  Quảng Trị, từ giai đoạn đầu và  thân thiết mãi đến sau nầy. Đầu năm 1964, Ba chuyển công tác từ tài xế ở Tòa Viện trưởng về Trường Đại Học Khoa Học Huế làm công tác Tống Thư Văn (giao nhận công văn, thư từ)  đến tháng 5.75 ; sau  đó  chuyển làm công tác bảo vệ  cho đến giữa những năm 1980.

BA là người  mẫu mực về  việc học hành, của  các con: giờ giấc theo đúng quy định. Trong phòng học của gia đình, mỗi người có một vị trí riêng, trước mặt là bản Thời Khóa Biểu dán  giấy, sách vở cặp táp  đồ dùng đặt gọn gàng, bao bọc chỉnh chu, không được quăn góc, nhàu  nát . Giờ học bắt đầu thường buổi sáng sớm, chừng độ 5 giờ, khi học phải đọc lên trọn thanh âm, dù nhỏ nhẹ, câu chữ rõ ràng. Ba bảo: buổi sáng thức dậy, đầu óc còn “thanh khiết”  dễ dàng “nhập tâm”. Học bài cũ hôm trước để  khi lên lớp Cô Thầy dò khảo, kế xem sơ bài giảng trước để xem hôm nay sẽ học cái gì... Ba  còn dặn, sau giờ học ở trường về, nghỉ mệt một chút, lấy cặp sách vở ra, xem qua “còn mất, thiếu, đủ” lời dặn dò, bài tập về nhà của  Thầy Cô...

Khi các con học ở trong, bên giường ở phòng kế, Ba ngồi hút thuốc, đôi lúc nghe radio, với thanh âm nhỏ, như ngồi cùng để  “đồng hành” với các con. Những đợt nghỉ dài ngày: hè, tết Ba ra bài tập  con cái làm thêm :  Toán pháp trong sách trong sách Trần Tiếu, Cao Văn Thái;  luận văn, tập làm văn với các đề: ca dao , tục ngữ , thành ngữ , Ba  biết  một số  căn bản  về tiếng Pháp, tiếng Hán, thỉnh thoảng Ba  giảng giải cho các con, tạo  những “ngoại khóa” rất lý thú...

BA đã rời con cháu mấy chục năm nay.
Những kỷ vật như chiếc radio, thẻ nằm viện, bài thơ Ba viết... đặt trên đầu tủ thờ như vẫn vương vấn, gợi nhớ những hình ảnh  ngày xưa...

                                                                   Lê Phước Sinh

READ MORE - VIẾT VỀ NGƯỜI BA CỦA TÔI - Lê Phước Sinh

CHÙM ẢNH LỰU PHUN LỬA CỦA CHU VƯƠNG MIỆN






 

READ MORE - CHÙM ẢNH LỰU PHUN LỬA CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

MẤY ĐỘ TÀN PHAI - Thơ Phan Quỳ, nhạc Võ Triêm


                                               Nhà thơ Phan Quỳ


MẤY ĐỘ TÀN PHAI

Ta về xếp lại xưa sau,
Vời trông bóng đổ, nhuốm màu thời gian.
Xuân qua rồi mấy thu tàn
Tịch dương mấy bận, vội vàng bóng câu.
Ta về nghe hạt mưa mau
Nghe cơn nắng hạ trên màu mây xanh
Một mai gom lại chút tình
Ta về chăm chút cho mình với ai?
Ngàn lau xa khuất dặm dài
Đâu rày thưa vắng hình hài, dạ vâng?
Tìm trong hơi gió ân cần
Thoảng nghe nhỏ nhẹ một lần hỏi han.
Tìm trong đáy nước vừa tan
Khuôn trăng còn lại muôn ngàn vỡ mau.
Ta về xếp lại xưa sau
Nghe từng rơi rụng nhuốm màu thời gian.
Về đâu lá đổ hàng hàng
Thu sang mấy độ, đông tàn mấy phen.
Hoàng hoa vương lại bên thềm,
Bên song mình nhớ hạt mềm sương bay...

                                               Phan Quỳ





READ MORE - MẤY ĐỘ TÀN PHAI - Thơ Phan Quỳ, nhạc Võ Triêm