Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, April 22, 2020

CẢM TÁC “TÌNH CA” - Thơ Châu Thạch



                   Nhà thơ Thiếu Khanh



CẢM TÁC “TÌNH CA”
(Tập thơ của Thiếu Khanh)

Ta biết danh từ thuở hai mươi
Lúc trăng còn mộng xuân còn tươi
Bây giờ tuổi hạc thu qua trọn
Đông đến đời khuya nhận sách người

Một tập vần thơm trĩu ngón tay
Hương từ xuân trước vẫn còn bay
Ta tìm ta lạl trong thơ ấy
Để thấy trăm năm mộng vẫn đầy

Ta cảm ơn người thơ Thiếu Khanh
Cho hoa lá nở giữa khô cành
“Tình Ca” đem gió năm xưa lại
Tắm mát hồn ta một suối xanh

Ta thấy ta nghe tiếng yến oanh
Tiếng sông, tiếng biển sóng vờn quanh
Tiếng ai vang vọng đôi bờ giấy
Như tiếng hồn ta mộng rất lành!

Ta thấy mùi thơm của chiến bào
Thấy trời xưa vọng tiếng binh đao
Thấy ta lãng mạn yêu em gái
Và nhớ tình xưa đã vẫy chào

Ta gối sách thơ như gối sao
Ru đêm ta thức với ly tao
Rồi ta gối mộng lên trang sách
Để nhớ thương ta tuổi ngọt ngào

                               Châu Thạch

READ MORE - CẢM TÁC “TÌNH CA” - Thơ Châu Thạch

SÀI GÒN THÁNG TƯ - Thơ Nhật Quang



SÀI GÒN THÁNG TƯ
Nhật Quang


Sài Gòn bình minh hồng trên phiến lá
Tháng Tư về, bằng lăng tím ngát hương
Có hay lòng người khắc khoải buồn vương?
Con phố ngủ trong lặng sầu lơ đãng


Sài Gòn niềm vui giấu vào quên lãng
Quán xá, nhà hàng thưa dấu chân qua
Cà phê buồn giọt đắng chỉ riêng  ta
Đếm thời gian những ngày dài ly cách


Sài Gòn gió ru hàng me xanh ngát
Vẫn yên bình, đâu biết em hoang mang
Đôi con mắt ngỡ ngàng…lớp khẩu trang
Khi Côvid đang chập chờn bóng tối


Sài Gòn ơi! đâu áo dài  phất phới
Tháng Tư sân trường ngập tiếng ve than
Hàng phượng vỹ vẫn hoa thắm nồng nàn
Chỉ chơ vơ cánh lá khô xào xạc 


Sài Gòn chiều, dáng em về ngơ ngác
Phố im lìm, hun hút bước cô đơn
Đâu hẹn hò…mà đôi mắt dỗi hờn
Chờ nhé em! Một mai đời êm lắng.


                               SG - 15/4/2020
                                   Nhật Quang
.


                                      





READ MORE - SÀI GÒN THÁNG TƯ - Thơ Nhật Quang

BÓNG MA - Truyện ngắn Lê Yên

Nhà văn Lê Yên
    
BÓNG MA 
Truyện ngắn
Lê Yên
  Cơn mưa chiều vội vàng như không đủ xoa dịu cái oi bức đầu mùa hạ. Đêm trong căn nhà nhỏ nóng bức, hai cánh cửa sổ bên hông được mở rộng, gió từ bên ngoài khu đất trống nhà bên cạnh như thêm sinh khí… Tôi nhắc chừng con đi ngủ, tiếng thở đều đều vang lên trong vắng lặng, tôi nghĩ bụng: “Đúng là tuổi trẻ, nằm xuống là ngủ liền.” Ánh sáng nhợt nhạt từ ngọn đèn đường mơ hồ như bóng trăng xa thẳm trải vàng qua nhân gian, những hình thù không rõ nét có thể trở nên bất kỳ hình dạng nào qua đôi mắt thể lý, báo lên não để rồi cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng khiến tôi rùng mình…
  Khu đất trống có tường bao quanh, một vài cây ăn trái không được chăm sóc, bón phân nên không ra hoa đậu quả. Cơn mưa lớn làm cho nhánh ổi oằn xuống gần sát mặt đất, lắc lư như ai đó đang lom khom, chuyển động. Gío thổi đong đưa cánh cửa, âm thanh từ cái bản lề khô dầu nghe rõ mồn một, cánh cổng không khóa bao giờ của khu đất trống hàng đêm là nơi mời gọi chó và mèo hoang tụ tập, tiếng bước chân trên đám lá khô lúc to lúc nhỏ khiến người nghe như co lại các giác quan với sự nghi hoặc… Tất cả những âm thanh trộn lẫn khiến tôi liên tưởng đến một thế giới ban đêm… Căng mắt nhìn thẳng ra cửa sổ, ánh sáng nhạt của đèn đường cho tôi nhìn được cành ổi lấp lánh nước đọng lại trên tán lá qua cơn mưa chiều cọ vào khung cửa sổ phát ra âm thanh sàn sạt theo từng cơn gió. Phía sau là một màn đêm sâu thẳm, tôi muốn nhìn xuyên qua khoảng tối đó xem có đôi mắt nào nhìn vào căn nhà nhỏ, ấm áp của mẹ con tôi, biết đâu chừng một tai ương…
   Tôi nhớ rất rõ quang cảnh khu đất trống trong những sớm mai. Đó là khoảng thời gian sau khi tập thể dục, đứng bên khung cửa sổ hít thở và quan sát mọi cảnh vật bên ngoài. Tiếng Gà cục tác sau khi đẻ trứng nhảy từ bụi cây này sang bụi cây khác rất vui mắt, một gà mái mẹ khác dẫn đàn con kiếm ăn. Theo như lời chủ nhân chỉ biết sự hiện diện của đàn gà con sau khi mẹ đẻ trứng, tự ấp đâu đó cho đến khi dẫn con về từ những lùm cây, đa số là lá tía tô xanh um, dày đặc. Chị mèo già chỉ còn một mắt ngồi tắm nắng ở góc tường như chiêm nghiệm cuộc đời, một chú chó với khối u lớn trước ngực chậm chạp giữa đám chó to khỏe, cái đầu lắc lư trên lớp da cổ chảy xệ với dáng vẻ buông xuôi, thua cuộc. Tất cả rõ ràng dưới bình mình trong vắt, vậy mà đêm về… Khu đất trống trở nên bí ẩn với những âm thanh rất lạ…
   Tôi thích ngắm hoàng hôn, thành phố luôn bị che chắn tầm nhìn, thỉnh thoảng tôi bắt gặp hoàng hôn trên những con đường trở về nhà, mỗi ngày mang một sắc thái khác nhau, tôi muốn được chiêm ngắm và cảm nhận nơi mình đang sống. Chạy xe thật chậm, tôi có thể ngắm nhìn những tia sáng huyền ảo, thần bí hắt đến từ một nơi xa xăm rồi lẫn khuất sau màn mây tím sẩm huyễn hoặc…
   Thỉnh thoảng có những đêm như thế này, tôi bị cuốn vào luồng suy nghĩ không dứt ra được, cơn buồn ngủ biến mất và đêm nay không ngoại lệ… Tôi không sợ bóng ma ngoài màn đêm đó nhìn vào cửa sổ nhà mình, nỗi lo sợ hiện tại khi dịch bệnh bao trùm cả thế giới, khi cái chết không giới hạn, cứ thế ra đi không một tiển đưa của người thân. Họ trở thành những con ma chết oan, vất vưởng gào khóc… Còn bao nhiêu việc dang dỡ họ đang làm, bao yêu thương chưa trọn, bao ân tình họ chưa trả và đợi chờ họ chưa gặp… Nếu ta nhìn thấu được sự đau khổ cùng tận của những bệnh nhân là nạn nhân của dịch bệnh đang sắp hàng chờ gọi tên đi qua cánh cửa tử thần… Có thể cảm giác đau đớn vì phải mất đi sẽ khiến cơ thể tan ra như bụi mờ trong gió thoảng.Cảnh sự sống chấm dứt và nguyên nhân cái chết cứ quấn lấy nhau, con vi rút mắt thường không thấy được chỉ là công cụ hủy diệt… Họ nằm đó cô đơn với lo sợ cuối cùng, những hình ảnh đi vào ký ức gần, như một ám ảnh ma quái ngột ngạt cho đến khi tắt thở. Dịch bệnh không chỉ lấy đi sinh mạng hàng ngàn người mà còn gây khốn đốn cho người đang sống.
  Trăn qua trở lại vẫn không ngủ được. Tôi nằm im co người cuộn chặt trong chăn vẫn nghe rõ âm thanh của đêm, hai mắt khép hờ dễ chịu vì không bị sự kích thích về thị giác, đầu óc tỉnh táo đến độ năm giác quan trở nên nhạy bén hơn và thế giới trong tôi như trải dài vô tận… Chợt nhớ con ma của ngày xưa… Một làng quê yên ả với lũy tre làng không biết từ bao đời, gốc của nó rộng, dầy lên với nhiều măng non, ngọn tre cao vút rũ xuống đong đưa như tóc dài con gái, trẻ con trong xóm hay rũ nhau chơi trốn tìm vào những đêm trăng sáng. Con đường cái dẫn lên tỉnh và đi qua các làng lân cận, một bên là nghĩa địa, bên này xóm quê nhà tôi với lăng khai khẩn. Đám trẻ con chúng tôi chạy trốn vào lăng ông tổ mờ ảo chỉ có bóng trăng xa thẳm và nụ cười dịu dàng của chị Hằng không biết sợ… Có khi túm nhau đứng dưới gốc cây trứng cá nhìn qua bên kia đường, nhìn đốm sáng bốc lên từ những ngôi mộ bay hổng trên mặt đất rồi tự nhát nhau là ma trơi. Có một hôm, vầng trăng non trên cao không đủ sáng, đám trẻ con vẫn rũ nhau bày trò chơi, không biết từ đâu một bầy heo con trắng muốt chạy lấp xấp trước mặt, ở trong xóm, nhà nào có heo to, heo nhỏ cả bọn đều biết. Bầy heo không có chủ chạy về phía nghĩa địa rồi biến mất…  bầy heo nhà ai xổng chuồng đã trở thành ma heo theo trí tưởng tượng con nít. Rồi đến một ngày, quê tôi chìm trong chiến tranh với nhiều mất mát… Những con ma tuổi thơ vẫn theo tôi với ký ức dài…
    Tôi chợt nghĩ đến một con ma: “Ma trong đầu, ma trong tâm…” đặc tính của nó là thích bóng tối, vậy thì sao? Đừng cho nó cơ hội… Hãy đốt lên ngọn nến thiện lương, đốt thêm một ngọn nến yêu thương và trái tim sẽ tỏa sáng những điều kỳ diệu, hãy xua tan mọi ngóc ngách bóng tối vì biết đâu một lúc nào đó những lời ma quái thầm thì xúi giục ta làm điều ngu xuẫn, độc ác, gây tang thương cho nhân loại… Nó cám dỗ ta bằng mưu ma chước quỷ, những lợi lộc, sân si đời thường, khiến ta làm điều hại người, hại bạn mà không biết…
   Tôi thường dặn bản thân: “Phải biết bắt chước cái máy tính, xuống máy, thoát ra…” để đêm về có một giấc ngủ bình an, nhưng con ma quá khứ cứ trở về trong giấc mơ và trong đó có những cái bóng, đau thương, mất mát, những giọt nước mắt tủi hờn ấm ức, với đau khổ tột cùng tưởng chừng ko vượt qua… Tôi đã phải vật lộn với những con ma đó, có khi bị rượt đuổi đến hụt hơi cho đến khi chạm đến bờ vực của cái chết tôi bật tỉnh dậy, người vả mồ hôi ướt đẩm, nhìn quanh không gian vẫn lặng im đầy bí ẩn. Cuộc đời này chẳng còn lại mấy thời gian, nếu cứ phải lắng nghe  âm thanh từ quá khứ, giao tiếp với những bóng ma ký ức thì  thật bất hạnh. Tôi bước xuống gường đến bên cửa sổ, mở rộng cửa nghe hơi lạnh thoáng qua, bên trong bật lên tiếng nói: “Nước sông không phạm nước giếng…” Nhìn những ánh sao thưa trên xa tít ngân hà tôi thầm nguyện: “Dù ở thế giới nào cũng mong mọi người được toại nguyện với những tốt đẹp.”
   Bên ngoài đêm vẫn mệt nhoài với sứ mệnh riêng mang, thời gian đưa bóng tối đến điểm dừng của ánh sáng… Đừng làm bóng ma ám ảnh cuộc đời của một ai đó!
  Hãy làm một con ma thân thiện… Yêu thương!!!
  Sài Gòn 20/4/2020
  LÊ YÊN 

  
READ MORE - BÓNG MA - Truyện ngắn Lê Yên

Monday, April 20, 2020

ĐIỆU SẦU XÍ MUỘI - MacDung bình thơ




 ĐIỆU SẦU XÍ MUỘI

MacDung

Tôi nhớ như in thuở mới lên đất Sài Thành với miếng cơm vất vả. Lúc ấy Hai Lúa nhập thành nên buổi đầu phải học phương ngữ mới chốn phồn hoa. Anh bạn làm chung mỗi khi diễn đạt một món đồ kém chất lượng, thường hay phán Dung rằng: Đồ Xí Muội…!
Vậy khi nói đến thơ, có khi nào là Thơ Xí Muội? Ấy vậy mà có đấy!
Một nhỏ em chưa chồng mặc dù năm nay được xếp vào Gái Lớn, cứ ở một mình chọc tức cho đàn ông thèm… Nó thấy mọi người vui thơ mắc ham nên cũng tập tành đua đòi tỏ ra sành điệu. Nghĩ nó cũng ngoài 40 mươi, thôi thì tặng đẹp cho cái tên là Tác Giả, kẻo nó giận, lúc dịch bệnh kéo dài lỡ đói chẳng có cơm ăn… Hi…
Xí Muội vốn là món khoái khẩu tuổi học trò. Vị chua chua, mằn mặn, nhưng sau cùng để lại cái “ngót” ngậm mãi không chịu phun. Thơ tác giả này thuộc loại hứng lên là “bừa đại”. Ai chê hay dở không màng, chủ yếu tìm khoái cảm cho bản thân sướng cái đã. Thế là lúc nổi hứng Gái Lớn liền phang hết. Dù có ai muốn cản cứ mặc kệ, như B.52 rải thảm vần… tuốt tuồn tuột…!!!
Tác giả Phan Rang vốn là cô gái xuề xòa chứa cái tinh túy Nam bộ chất phác. Phải chăng vì vậy mà điệu làn chọn sự phóng khoáng đất Tự Do. Ngày đêm du hí, bỏ dở luật vần. Sự sảng khoái này mấy người đua kịp, do có chút lo sợ lỡ vận mất mặt danh gia... Phan Rang không vậy! Bởi cô coi thơ như sự trải lòng tâm sự nhiều hơn là lớn mặt thành đàn chị, đàn anh… Tuy có chút lanh chanh nhưng xét nhanh lại ra Điệu Sầu Xí Muội…
Một chất thơ tung hoành không ngại ngần đã tạo ra phong cách cho tác giả Phan Rang lạc lối đến với thơ. Ngõ nhỏ phút chốc được khai phá bằng thể thơ tự do… không bóng, một đò…! Ngày mới biết tác này tôi tỏ ra kinh ngạc… Bởi lẽ mình khùng lại có kẻ muốn hơn!?
Xí Muội đây… Xin mời:
Nhớ ngày đó
        Anh đưa em về thăm Tháp cổ
        Bóng hai ta in trên vách tường loang lỗ
        Thánh địa linh thiêng in dấu chân chúng mình
        Tình yêu có vị thần trong Tháp chứng minh
                                              .
        Ngày đó
        chắc Thần ngủ quên
        Không nghe rõ lời thì thầm của trái tim lành
        Nên tình yêu qua nhanh chóng vánh
        Tan giấc mộng tuổi xanh
                                                .
        Mười lăm năm trở về thăm Tháp cổ
        Em cũng trở thành… người cổ…”
Chất sảng khoái, ngất ngây trong tứ thơ như liều thuốc tinh thần dành cho người xả stress, cứ thế trải cùng tâm tư tác giả, phụng sự cho bạn đọc một tính cách khó nhập nhòa với dòng tình tự… nữ… cô đơn…
Dù là cô chủ một tiệm làm đẹp phục vụ… lấy phí! Nhưng…
“Tiệm uốn tóc vắng tanh.
        Như chùa bà Đanh
        Lấy tập thơ ra hành
        Cho lòng tịnh thanh…”
Có chút dí dỏm, nghịch đùa đâu đấy trong cách thể hiện, đọc xong dư vị còn lắng đọng bờ môi. Dù là gái đơn côi chưa ra ngôi… nhưng rõ ràng Phan Rang đang làm thơ… Xí Muội! 
Một sự xa xỉ đôi lúc nên nghĩ lại! Bởi tác giả Phan Rang vốn muốn vui chơi cùng con chữ…
Đơn giản vì:
Tôi là Rang
        Sẽ không đi lang thang
        Sẽ không bị lây lan
        Ở nhà ăn gà rán
        Hết dịch đi sàng ngang”
Đoạn cuối, xin mời đọc giả tự đánh giá: Có phải Phan Rang đang làm thơ Xí Muội!?
Một kết tháng với nụ cười. Mong rằng bài giới thiệu mang đến sự sảng khoái cho mọi người… cùng ghé mắt…


VL – 30.3.2020
MacDung

READ MORE - ĐIỆU SẦU XÍ MUỘI - MacDung bình thơ

ĐỌC “MEKONG, DÒNG SÔNG NGHẼN MẠCH” CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGÔ THẾ VINH - Ngã Du Tử


  
         Nhà Văn - Bác Sỹ Ngô Thế Vinh (1969)


ĐỌC “MEKONG, DÒNG SÔNG NGHẼN MẠCH” CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGÔ THẾ VINH
                                                                           Ngã Du Tử

       
                   Tác giả bài viết Ngã Du Tử


“Mekong, dòng sông nghẽn mạch” của nhà văn, Bs Ngô Thế Vinh là cuốn tiểu thuyết ký sự khá kỳ công, ly kỳ và hấp dẫn mà tác giả đã tận mắt đến chứng kiến như chuyến du khảo bắt đầu từ cuộc thâm nhập con đập Mạn Loan (Manwan) thuộc Vân Nam, Trung Quốc cho đến kỳ cùng của con sông Hậu, Việt Nam, cũng như vùng Tràm chim, Tam Nông thuộc Đồng Tháp Mười khu sinh thái của các loài dã hạc quý còn lại của miền Nam, sự gặp gỡ giáo sư Võ Tòng Xuân ở đại học An Giang, dến về Bến Tre và thay lời kết Cho một dòng sông, cùng với nhiều suy nghĩ của các bậc thức giả viết về nó. Với sự trang trãi nổi lòng mình từ sự yêu mến con sông Mê Kong nói riêng và tổ quốc Việt Nam nói chung nhằm cảnh tĩnh và khuyến cáo với dân tộc và quốc gia Việt Nam hãy làm điều gì có thể trước khi sự cuồng nộ của thiên nhiên nhận chìm cả đồng bằng phì nhiêu châu thổ sông Cửu Long, với tham vọng quá dữ dội của chính quyền Bắc Kinh, chắn dòng chính Mekong làm các con đập bậc thềm trên thượng nguồn, họ chỉ muốn làm lợi cho chính quốc gia Trung Cọng bất chấp các dân tộc khác tan hoang và điêu linh, nhất là những dân tộc cuối nguồn như Cam Bốt và Việt Nam chúng ta.

Câu chuyện ông kể lại suốt hành trình khá mạch lạc và lý thú bởi nhiều chúng cứ và dữ liệu trung thực từ thực tế chuyến đi, rất may là ông cũng là nhà nhiếp ảnh nên đến đâu là có hình ảnh minh họa đến đó làm cuốn hút hơn cho người đọc, rất may là tôi đọc vài lần thấy rằng đây là quyển sách quý và dữ liệu rất đáng để độc giả Việt Nam biết càng nhiều càng tốt hầu sau nầy nếu may mắn được góp sức vào sự cải thiện dòng sông Mêkong to lớn đã đi qua 6 quốc gia: Trung Hoa, Miến Điện, Thái, Lào, Cambodia và Việt Nam. Nó nuôi sống cho hơn 60 triệu dân của các nước của dòng Mekong đi qua, đặc biệt hơn là hệ sinh thái cùng hàng ngàn loài cá nước ngọt khá phong phú.

Ví dụ như cá quậy (Bow fish) thường sống ở phụ lưu Mêkong là sông Xi‘er gần Hồ Nhĩ Hãi thuộc Đại Lý, có đặc tính ngậm đuôi vào miệng và bung nhảy, vì vậy dân làng đặt là cá quậy. Những ngư dân ở gần hồ Nhĩ Hải, cũng như dọc dông Xi’er có nuôi loài chim Cốc (Coromorants) rồi huấn luyện bắt các chú cá Bow fish, ông kể lại với giọng văn điềm tĩnh khá lý thú, tôi nghĩ ai đọc cũng thấy thích thú.

Hay là loài cá Pla Beuk, tương truyền hàng năm và khoảng tháng 4, đoàn cá Pla Beuk ngược dòng từ thung lũng Luang Prabang phía bắc Vạn Tượng, Lào về hồ Nhĩ Hải, Đại Lý hơn 2000 km để đẻ trứng, sinh sản. Nếu như ở Đại Tây dương có loài cá Hồi rất đặc biệt ngược dòng hơn 20.000 cây số rất khổ sở nhiều hiểm nguy tìm về cội nguồn nơi sinh ra để đẻ trứng duy trì nòi giống và kết thúc vòng đời, thì loài cá Pla Beuk ở MêKong cũng vậy. Thế giới sinh vật trong thiên nhiên biết bao điều kỳ thú.

Dĩ nhiên trong cuộc di chuyển trở về của loài cá Pla Beuk, ngư dân hai bên bờ sông bội thu về thực phẩm, “ngư dân Lào, Thái cho rằng cá Pla Beuk là linh ngư, đem đến vận may cho ngư dân, nó có thể dài 3m nặng đến 300kg là loài cá nước ngọt đặc biệt chỉ có ở sông Mêkong”. (Trang 64)

Từ mười năm nay, khi con đập Mạn loan(Manwan) chắn dòng 1993, người ta không còn thấy loài cá đặc biệt Pla Beuk/ Pangas Sianodon nầy lên hồ Nhĩ Hải sinh sản!!!

“Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một sự kiện đáng ghi nhớ và gây nhiều tranh cãi là vào giữa Năm 1993 xảy ra một hiện tượng được coi là bất thường: Mực nước con Sông Mê-Kông phía hạ lưu đột ngột hạ thấp xuống mà không vào mùa khô, chỉ lúc đó người ta mới được biết lfa Trung Quốc đã xây xong con đập Mạn Loan (Manwan) và đó là thời điểm bắt đầu lấy nước từ con Sông Mê-Kông vào hồ chứa. Và họ cũng chẳng thèm thông báo gì cho các quốc gia dưới nguồn. Chỉ riêng với con đập Mạn Loan mà đã giữ tới 20% nguồn nước trên dòng chính, khúc Sông Mê-Kông chảy qua Vân Nam. Sau biến cố đó, phải nói là càng ngày càng có mối lo âu về ảnh hưởng của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam. Mối quan tâm đó càng ngày càng gia tăng do nguyên nhân thiếu hẳn nguồn thông tin cung cấp bởi Trung Quốc.” (Ct.Ly)

Cũng trong chuyến đi thực tế ấy, tình cờ nhưng may mắn ông gặp Giáo sư tiến sĩ Mika, người Nhật đang làm việc ở đại học Anh tại trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á (Centerfor South East Asian studies) dù không phải là chuyên môn của tác giả Ngô Thế Vinh nhưng ông cũng trao đổi về các sắc dân thiểu số, đặc biệt là các sắc dân thiểu số người Thượng ở Tây nguyên, Việt Nam. Hy vọng sau nầy ông cùng Ts Mika ấy mở rộng đề tài nầy.

Trong chuyến hành trình bằng thuyền xuôi dòng từ cảng Tư Mao (Simao) xuống tận bắc Thái Lan và Lào, ông mới thấy hết sự tàn phá dòng chảy của dòng sông MêKong mà Trung Hoa là thủ phạm:

“Vào tháng 4/2001Trung quốc đã ký một thỏa ước về thủy vận trên sông Mekong nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông cả dùng cốt mìn, chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng dòng sông cho tàu lớn với trọng tải 500 đến 700 tấn để có thể di chuyển từ cảng Tư Mao, Vân Nam xuống Chiang Khong, Chiang Sean Thái Lan tận đến thủ đô Vạn Tượng, Lào. Trong khi Cam bốt và Việt Nam là 2 quốc gia trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy lại gạt ra ngoài.  Hậu quả ra sao chẳng ai lượng giá được, nhưng chắc chắn nhịp độ thiên nhiên điều hòa của dòng chảy sẽ rối loạn, ảnh hưởng dây chuyền lên hệ sinh thái sông Mê kong”.

Đọc đến đây tôi mới hiểu rằng chính quyền Trung Quốc họ thích đàm phán song phương, bởi họ dễ bề khuynh đảo được những “ông chủ” quốc gia nhỏ bé đó để làm lợi cho chính họ bất chấp những ràng buộc của quốc tế, và tàn hại mội trường sinh thái thiên nhiên khi chuyện đã rồi thì chỉ có trời mới cứu vãn được mà thôi.

Đường lên Tư Mao (Simao), cách thị trấn Cảnh Hồng 165 Km về hướng đông bắc được coi là cửa ngõ xuống phương nam ta, cũng có con đập Cảnh Hồng khởi công nắm 1998.

Hồ Điền Trì/ Dian Côn Minh và Con sông Hồng thì thế nào? chính phủ Việt Nam có lẽ chưa biết được những gì về kế hoạch “Giải quyết môi sinh” của họ theo lối “Ném bùn sang ao” của Côn Minh nói riêng và Trung Quốc nói chung. Tác giả viết:

“Những chuỗi hồ lớn nhỏ chạy dài đến tận Hà Khẩu (Hekou) biên giới phía bắc Việt Nam, một địa hình đặc biệt của cao nguyên Vân Nam. Hồ Điền Trì/ Dian là biển hồ lớn nhất Vân Nam…Hồ có diện tích 300 Km2, phía tây là núi đồi, phía đông hồ địa hình bằng phẳng, nguyên là khu chài lưới thịnh vượng , nhưng vì ô nhiễm từ các khu kỹ nghệ bờ đông nam nên không còn nhiều cá và thực sự không còn một nền ngư nghiệp, không sao xử lý được khối nước quá ô nhiễm trong Hồ lớn Điền Trì”  (nghĩa là khu công nghiệp xả nước vô tội vạ xuống hồ) và “một kế hoạch táo bạo của chính quyền Vân Nam: dự trù chi phí 2 tỷ Yuan để khai thông một đường dẫn ra sông Hồng chảy qua Việt Nam rồi đỗ ra biển Đông, sau đó thay thế bằng nước sông Dương Tử dẫn vào hồ”.

Tuy chưa có kiểm chứng được bao nhiêu phần trăm kế hoạch đầy sáng tạo và độc ác của các “công trình sư Đại Hán” ấy. Làm sao ta có thể kiểm chứng khi các kế hoạch luôn bị “bưng bít, dấu nhẹm” bởi chính quyền Trung Quốc.

Và điều gì sẽ xãy ra, phải chăng cả dòng sông Hồng sẽ ô nhiễm trầm trọng và cư dân Việt Nam lãnh đủ cả, nguy hiểm và tàn độc như thế nhưng biết làm sao hơn?!

Một nỗi uất nghẹn tràn dâng trong cả cộng đồng dân tộc Việt chứ nào phải chỉ có người dân dọc sông Hồng, con sông lớn nhất phía Bắc tưới tiêu cho cả đồng bằng sông Hồng trù phú nuôi sống cả hang triệu người dân miền Bắc. Trung Quốc muốn xẻ vụn, xâm thực từng mảnh với dân ta, liệu rằng điều nầy chính phủ và dân tộc Việt có thấy?

Lào và giấc mơ Kuwait

Có lẽ ở Đông Nam Á, Lào là đất nước hiền lành, con sông Mekong ngang qua quốc gia nầy tạo nên sự trù phú cho cư dân và nuôi sống hàng triệu ngư dân dọc con sông, nhưng bây giờ ra sao?

Thực ra từ năm 1975 Lào đã có 3 đập thủy điện với quy mô nhỏ, nhằm phục vụ cho các thành phố. “Nam Ngum 30MW, thuộc tỉnh Vạn Tượng. Nam Dong 1MW thuộc tỉnh Luang Prabang và Sélabam 2 MW thuộc Champassak.

Chính phủ Lào đã vay thêm ngoại tệ để tăng công suất cho các nhà máy có sẳn đồng thời xây thêm 2 con đập. Cho tới năm 2000, điện lực công cộng Lào lên tổng sản lượng 270 MW”.

Như vậy là sản lượng điện của Lào ngoài cho nội quốc còn xuất khẩu sang các quốc gia lân cận như Việt , Thái, giấc mơ Kuwait đã thực hiện, nhưng dòng sông Mẹ (Mae Nam Khong) kiệt sức và hầu như phía dưới các con đập làm ra điện kia tan hoang, nước cạn dòng, cá tôm cũng cạn kiệt, bờ bãi trống huơ, ngư dân thưa thớt thỉnh thoảng cả ngày chỉ lưới được tí cá độ nhật, bởi trên họ cả một số con đập bậc thềm của Trung Quốc đã chặn dòng chính.

Hãy nghe tác giả viết về hồ chứa đập Nam Ngum của Lào:

“Hồ chứa đập Nam Ngum trải rộng trên một diện tích 250km2 (lớn hơn 1/3 đảo quốc Singapore) như một thắng cảnh thiên nhiên có vẻ đẹp hung vĩ với cảnh trí núi non và hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, tuy không còn thú lớn vẫn là nơi trú ngụ của khỉ, chút, các loài chim và rắn”

Có điều thú vị là chuyến đi ấy ông tìm đến ngôi mộ của nhà thám hiểm người Pháp là Henri Mouhot (1826-1861) với các thông tin còn rất rõ ràng qua 3 lần trùng tu với cảm xúc “khó mà tưởng tượng nổi cách đây 140 năm trong cảnh hoang sơ của rừng rậm, cùng dòng sông chảy xiết, nổi hiu quạnh và can trường của H. Mouhot lớn đến dường nào”

Và điều đặc biệt nhất của xứ sở hiền hòa nầy có cánh đồng chum còn khá nhiều bí ẩn thách thức các nhà khảo cổ Lào và thế giới. “Cánh đồng Chum (Tiếng Lào: ທົ່ງໄຫຫິນ [tʰōŋ hǎj hǐn]) là một cảnh quan khảo cổ cự thạch ở Lào. Nó bao gồm hàng ngàn chum đá nằm rải rác dọc theo thung lũng và cánh đồng thấp của đồng bằng trung tâm thuộc Cao nguyên Xiengkhuang. Hầu hết chúng nằm thành từng cụm với số lượng từ một cho đến vài trăm cái chum                 

Cánh đồng chum là một khu vực văn hóa lịch sử gần thi xã Phonsavan, thuộc tỉnh Xiengkhuang của Lào” (2)

Một thoáng Thailand

Cũng trong ký sự nầy, ông ghé thăm Thái Lan, đã cho chúng ta nhiều thông tin rất thú vị nếu không đọc chắc gì biết, ví dụ trong thời chiến tranh qua các thời kỳ một số người Việt ta sang ấy tỵ nạn rồi định cư, những thăng trầm của họ đến nay đã qua 3, 4 thế hệ là dân Thái chính thức nhưng vẫn còn nhiều vấn đề với dân Thái bản xứ và những sinh hoạt của dân Việt trên đất Thái.  Cũng nhân lưu lại đất Thái ít ngày ông biết khá rõ việc nhà thám hiểm Pháp Henri Mouhot từ Thái sang Lào và được vua Lào trân trọng tiếp đón, ông viết:

“Phải hơn 7 tháng trời lặn lội từ kinh đô Bangkok đến kinh dô Luang Prabang là một thị trấn quyến rũ như Genève và tại đây Mouhot được vua Tiantha đón tiếp trọng hậu”… “và chỉ hơn 3 tháng sau ông bị cơn sốt rét rừng/forest fever – có lẽ cơn sốt rét ác tính và chết ở cái tuổi 35, mộ ông đuộc chon bên bờ song Nam Khan, một phụ lưu của con sông Mekong, con chó Tin Tin của ông hằng ngày bên mộ chủ tru lên” những tiếng thống thiết.

Dịp nầy ông cũng đến được hang Phật bản Pak Ou, nằm êm đềm ở tả ngạn sông Mekong, Pak Ou caves là tên chỉ chung 2 hang Phật Tam Ting (Hang dưới) và Tam Phum (Hang trên), ông cũng chẳng ngờ được rằng nơi đây dung chứa đến 4000 tượng Phật cổ từ hơn 300 năm trước, được biết nơi đây cũng nổi tiếng linh thiêng người dân thường đến dâng lời cầu nguyện.

Hay là cũng từ nơi đây ông được thấy tận mắt và trao đổi với ngư dân cũng như chụp được  con cá Pla Beuk, tuy con cá chỉ 45kg và cá Irrawady. Cả 2 loại cá nầy đứng trước sự tuyệt chủng vì môi trường ô nhiễm trầm trong và khai thác cạn kiệt.

Có một điều kinh ngạc nữa mà rất ít người biết, nhân chuyến đi của nhà văn Ngô Thế Vinh đã tiếp xúc “Làng tiền sử Ban Chiang”.

Ban Chiang (tiếng Thái: บ้านเชียง, phát âm tiếng Thái: [bâːn tɕʰīa̯ŋ]) là một địa điểm khảo cổ học nổi tiếng nằm ở huyện Nong Han, tỉnh Udon Thani, Thái Lan. Nó được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1992(1) mà theo tác giả có lẽ văn minh cổ xưa nhất là thời kỳ đồ đồng của con sông Mekong bị vùi lấp, được coi là sự phát hiện quan trọng của vùng Đông Nam Á từ sau thế chiến II, tác giả viết :

“Như một giai thoại cách đây 44 năm, năm 1966 một sinh viên khảo cổ học người Mỹ khi đi vào cánh đồng của khu làng Ban Chiang anh đã bị vấp ngã trên một gốc cây bông gạo kapok và chẳng thể ngờ rằng anh đã ngã vào một kho tàng cổ sử.
Quanh anh là vô số mảnh sành nhô ra từ mặt đất. Anh thu thập những mảnh vỡ ấy gửi về Bankok, sau đó đại học Pannsylvania để nghiên cứu”...

Khá trễ sau 4 năm, các nhà khoa học khảo cổ Mỹ + Thái mới khai quật có hệ thống. Chỉ trong 2 năm họ đã đào được 18 tấn di chỉ gồm các dụng cụ bằng đồng, bình chậu sứ, cả đồ dệt và hài cốt trong ngôi mộ cổ. Nghiên cứu cho biết đây là ngôi mộ cổ hơn 5000 năm, và có lẽ thú vị nhất là các vật dụng bằng đồng được đúc cách đây hơn 3600 năm TCN- nghĩa là sớm hơn các đồ đồng cổ xưa nhất của Trung Đông 500 năm. Phát hiện nầy đã phủ nhận luận cứ cho rằng kỹ thuật luyện đồng khởi đầu từ lưu vực song Tigris và Euphrates năm 3000 TCN, cũng phủ nhận luôn rằng giả thiết đồ đồng từ Trung Quốc du nhập về phương Nam (Đồ đồng cổ nhất của Trung Hoa chỉ 2000 nămTCN)

Như vậy có thể nói rằng kỹ thuật luyện đồng từ Đông Nam Á du nhập sang Trung Hoa thay vì ngược lại. Đó chưa kể với những trang sức bằng đồng rất mỹ thuật phản ảnh một xã hội thái hòa có văn hóa cao chứ không man di như Trung Hoa nhận định”.

Như vậy, trên dòng sông Mekong có 2 quốc gia: Lào, Thái Lan nhỏ hẹp nhưng có hai điều bí ẩn là: Cánh đồng Chum và làng Ban Chiang, không hiểu thế nào lại đồng loạt biến mất và nhân loại hầu như quên lãng.

Cambodia, Tonlé Sap và Biển Hồ

Xứ sở chùa Tháp với quần thể kiến trúc Ankor khá đồ sộ nhưng đã suy tàn từ rất xưa xa thế kỷ XIII, tác giả đến xứ sở nầy chỉ là ghé tham quan đúng nghĩa, chứ không có mục đích lớn hơn, cái quan tâm của ông là con sông Mekong, biển Hồ. Tuy vậy đứng trước Ankor Wat buổi bình minh ông cũng cảm nhận được điều mình nhận ra từ kiến trúc nầy. Ông viết:

“Bước lên những bậc thang, đi vào khu đền đài với hàng ngàn thước đá chạm trổ như pho sử đá cảnh trần gian, vươn lên là các tượng đá hùng vĩ gây cảm giác choáng ngợp để tưởng như thời gian ngưng lại cho phút trầm tư phù du về một triều đại, kiếp người”

Từ Siem Reap bằng thuyền máy về hướng nam ra đến khu Chong Khnea còn gọi khu làng nổi của người Việt, lòng chùng xuống với biết bao nổi thống khổ của người Việt nghèo, cuộc sống quanh quẩn với Biển Hồ làm sao cho thế hệ phía sau khá hơn, không thể khá được bởi hoàn cảnh con đông kiếm cái ăn đã rã rời và họ sống như công dân hạng hai ở xứ sở ấy.

Ông viết:

“Nguồn tài nguyên phong phú của Biển Hồ đã thu hút các sắc dân từ các nơi đỗ tới, và hình thành khu làng nổi trên Biển Hồ, nếp sống ấy hầu như không thay đổi hàng trăm năm nay…”
Tới khu làng nổi là tới với vẻ đẹp của một sinh cảnh thiên nhiên đồng lầy còn hoang dã, những khu làng nổi cũng di chuyển theo mùa tùy theo nước lên xuống. Bình minh hay hoàng hôn trên khu làng nổi là một trong những cảnh quan tuyệt đẹp của Biển Hồ”.

Tới Tràm chim vùng sinh thái Prek Toal:

Thuyền máy băng băng qua Biển Hồ hướng về nam để tới Prek Toal, thuộc tỉnh Battambang lại là khu làng nổi khác của người Khmer, nơi có văn phòng Sở Bảo tồn Biển Hồ (Environmental Reseach Station for Tonlé Sap Biosphere Resever), diện tích Biển Hồ tùy theo mùa nước, khi hồ cạn có thể 2500km2, nhưng mùa mưa nước dâng, nước chảy ngược từ Tonlé Sap vào Biển Hồ, có thể nước dâng cao từ 8-10 met, diện tích có thể lên 12.500km2 tức gấp 5 lần so với mùa khô, thực phẩm và cá ở đây rất phong phú quyến rũ nhiều loài chim về sinh sống, vì vậy sắc lệnh Hoàng gia tháng 11/1993 qui định Biển Hồ Tonlé Sap là khu Đa dạng bảo tồn (Multiple Use Protected Areas), tới tháng 10/1997 Biển Hồ mới được Unesco công nhận là Khu bảo tồn sinh thái (Biosphere Reserve).

“Để quản lý, Khu bảo tồn sinh thái được chia làm 3 khu: Khu trung tâm (Core), Khu Đệm (Buffer zones). Mục đích lâu dài là bảo vệ các khu trung tâm để tương lai trở thành công viên Quốc gia.

Ba khu trung tâm bảo tồn là:
1.    Prek Toal rộng 31.282 ha
2.    Boeng Tole Chhmar hay Moat Kla rồng.969 ha
3.    Stung Sen 6.586 ha.

Khu sinh thái nầy hơn 190 chủng loại sống dưới nước, riêng loài cá có hơn 200 loài, khảo sát sơ khởi còn cho biết hàng trăm loài chim, trong đó có 12 loài được cho là quý hiếm đối với thế giới.
Rừng lũ Biển Hồ còn là sinh cảnh các loài bò sát, loài có vú, 23 loài rắn, 13 loại rùa, 1 loài cá sấu, vượn, khỉ, mèo, báo, rái cá v.v…”

Cũng may tác giả điện thoại trước cho người quản lý khu bảo tồn tên là Meas nên anh hỗ trợ phương tiện trong công việc quan sát, ghi lại hình ảnh cũng như trao đổi khá trôi chảy, nhà văn còn biết thêm “thời gian lý tưởng để thăm Tràm chim từ tháng giêng đến tháng ba, cũng là mùa nước cạn (cùng thời gian với Tràm chim Tam Nông, Đồng Tháp Mười). Được biết những loài chim cần được bảo vệ như: Spot Billed Pelican/ Chim Bồ nông mỏ đốm, Oriental Darter/ Bồ nông cổ rằn Đông Phương, Lesser Adjutant, Black Necked Stork/ Sếu cổ đen, Painted Stork/ Sếu vằn, Milky Stork/ Sếu sữa, Glossy Ibis/ Cò quăm, Grey-headed Fish Eagle/ Chim ưng đầu xám”

Khi lưu lại ở Cam Bốt nhà văn có dịp thăm vài bệnh viện và có gặp bác sĩ Beat Richner gốc Thụy Sĩ là giám đốc 3 bệnh viện: - Bệnh viện Jayavaman, bệnh viện Katha Bopha 1 và 2. Beat Richner cũng là nhạc sĩ cello, một khuôn mặt huyền thoại của Cambodia dù bận rộn về công việc chuyên môn ông cũng không quên mỗi tối thứ bảy bao giờ cũng có buổi hòa nhạc Back ở bệnh viện để gây quỹ nhưng vào cửa tự do khá thú vị, người nghe nhạc phần đông là du khách ngoại quốc tới thăm khu đền Ankor.  

Về Miền tây Nam bộ và Đại học An Giang

Khi trở về Tây nam bộ ông phải gặp bằng được giáo sư Võ Tòng Xuân đang là “viện trưởng viện đại học An Giang”, một đại học non trẻ mới “thôi nôi” bởi đã trao đổi với nhau nhiều lần (kỳ thinh) nhưng chưa tận mặt mày bởi ông biết rõ vị giáo sư nầy có cả tấm lòng “khai dân trí, chấn dân khí” cho sinh viên trường và “hậu dân sinh” với người dân đồng bằng miền tây nầy khi ông theo dõi dòng chảy của con sông Mekong từ khi Trung Quốc bắt đầu chắn dòng cho con đập Mạn Loan cho đến nay, nhà văn Ngô Thế Vinh viết:

“Phải nói rằng số lượng giảng viên của nhà trường còn rất hạn chế, với sĩ số 600 chỉ 50% có bằng thạc sĩ (Master) và tiến sĩ (Ph.D). Qua các em tôi được biết các giảng viên trẻ của Đại học An Giang đi ngoại quốc học thêm để tăng cường chất và lượng cho ban giảng huấn.”

Gs Xuân còn còn những dự án dỡ dang khác:

1.    Tìm gène giống lúa mới chịu được nước lợ do Cửu Long cạn dòng và thêm nhiễm mặn
2.    Vận động nông dân ĐBSCL áp dụng kế hoạch “3 giảm, 3 tăng” trong đó giảm thuốc trừ sâu nhiễm độc tới mức độ nguy hiểm cho môi trường sống
3.    Lập khu bảo tàng cây lúa ĐBSCL với sưu tập các nông cụ mà tiền nhân sử dụng từ thưở khai hoang

Ngoài ra nhà văn, Bs Ngô Thế Vinh cũng quay về thăm nhiều vùng nữa trên miền tây Nam bộ thân yêu chịu ảnh hưởng trực tiếp với sự nghẽn mạch của dòng sông Mekong bởi các con đập bậc thềm của dòng chính mà thủ phạm là Trung Quốc cọng với những đập thủy điện khác của Thái, Lào…, hầu như họ chỉ thấy cái lợi trước mắt cho quốc gia họ và bất biết những quốc gia phía hạ nguồn thế nào và hệ lụy đến nay các độc giả đã rõ.

Tiếng thở dài ngao ngán của ông với nỗ lực cá nhân thâm nhập có thể nguy hiểm cả tính mạng, để có dữ liệu đầy đủ hầu đóng góp cho đất nước, cũng có thể là tiếng thở dài của toàn dân tộc, không biết rồi đây chính phủ đương thời có giải pháp nào khả dĩ giải quyết yên bình đời sống để thần dân của miền tây Nam bộ nói riêng và cả đồng bằng Cửu Long - vựa lúa châu thổ ấy còn tiếp tục cung cấp lương thực nuôi sống cả toàn dân tộc Việt Nam, chứ đùng nói đến xuất cảng.  

Để kết thúc bài nầy tôi trích một đoạn của Long Ân -Người Việt (12/2001)

“Con người phương Đông đang gặp đại nạn khoa học kỹ thuật mà con người phương Tây đã từng thọ nạn ở đầu thế kỷ 18. Ô nhiễm chính trị, ô nhiễm nhân văn và thê thảm nhất là ô nhiễm môi sinh…chỉ mới hôm qua, Enstein đã hốt hoảng tìm một lương tri cho khoa học qua con đường của đạo học. Ông cho rằng “Khoa học không tôn giáo thì què quặt, tôn giáo không khoa học thì mù lòa”

Còn nhiều điều nữa rất bổ ích và thú vị, hy vọng các độc giả sẽ đọc được để thấy sự thật trong chừng mực đã có trong 320 trang sách: “Mekong, Dòng sông nghẽn mạch của bác sĩ”, nhà văn Ngô Thế Vinh đã dày công cũng từ lòng yêu mến con sông và trên hết là tổ quốc và dân tộc.

                                                              Ngã Du Tử
                                                      Sài Gòn, 2019 - 2020
….

* Bài của Ct Ly
* (1), (2) trong Wikipedia

READ MORE - ĐỌC “MEKONG, DÒNG SÔNG NGHẼN MẠCH” CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGÔ THẾ VINH - Ngã Du Tử

GỞI QUỲNH NHƯ ! - Thơ Phan Quỳ



                       Nhà thơ Phan Quỳ



GỞI QUỲNH NHƯ !

Em đi, sương lạnh chiều năm ấy,
Mưa gió bên đời em có hay?
Vai gầy, bước nhỏ em về đấy,
Hiu quạnh lòng ta những tháng ngày.

Môi mềm nhấp mãi chén rượu cay,
Thấp thoáng hình em vơi lại đầy,
Mưa đêm phố nhỏ buồn câm nín,
Đường về xa ngái với cơn say.

Chấp chới trong ta một hình hài,
Vai kề bước mộng lối thiên thai,
Áo bay vấn vít bàn chân nhỏ,
Ôi hạnh phúc đầy, em có hay?

Chợt tỉnh cơn say chợt bẽ bàng,
Tàn cơn mộng mị, giấc mơ hoang.
Em ơi ! một phút huy hoàng ấy,
Cháy giữa đời ta những lỡ làng!

                                  Phan Quỳ

READ MORE - GỞI QUỲNH NHƯ ! - Thơ Phan Quỳ