Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, April 26, 2015

Ô LÂU CÒN ĐÓ CÂU HÒ - Nguyễn Đặng Kỳ

Ảnh: Mai Lĩnh


 Ô Lâu Còn Đó Câu Hò
Bút ký của 
Nguyễn Đặng Kỳ

Trăm năm vì lỗi hẹn hò
Cây đa bến cộ con đò khác đưa
Cây đa bến cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi!

Chuyện xưa kể rằng, có chàng thư sinh từ phương Bắc trên đường vào kinh (Huế) ứng thí, đã gặp cô lái đò ngang trên sông Ô Lâu rồi hai người đem lòng mến thương nhau. Sau kỳ thi, chàng về quê và ước hẹn sẽ sớm quay lại gặp nàng. Nhưng rồi, bặt vô âm tín, chàng không trở lại như đã hứa hẹn. Sau thời gian dài mòn mỏi đợi chờ, cô lái đò lâm bệnh mà chết. Lúc chàng trai ngày ấy trở lại tìm người yêu thì cô lái đò năm xưa đã không còn nữa. Câu chuyện đơn giản như hàng ngàn câu chuyện tình khác, nhưng không hiểu sao với tôi cảm giác mến thương cô gái đa tình ngày xưa cứ đọng mãi trong lòng và cứ hẹn với mình thế nào cũng phải tìm đến bến đò ấy một lần.

Để thỏa ước nguyện đó và cũng là dịp thưởng ngoạn khung cảnh trữ tình của sông Ô Lâu thường được nhiều văn nhân, thi sĩ ca tụng. Cuối tháng 6 vừa qua, giữa những ngày hè nắng như đổ lửa, nhóm bạn chúng tôi xuống đò làm một chuyến thám du đường thủy.


Ảnh: Mai Lĩnh.

Xuất phát từ một bến sông làng Hội Kỳ, những bụi tre vươn mình trên dòng sông đẹp như tranh vẽ. Nước trong vắt, mát lạnh, mơn man bàn chân, chúng tôi xuôi theo dòng sông lặng lờ trôi. Bên kia là Mỹ Xuyên rồi đến Phước Tích - ngôi làng nổi tiếng với nghề gốm cổ và những ngôi nhà rường đã hàng trăm năm tuổi. Thuyền chạy khoảng 15 phút, ra đến ngã ba sông, nơi gặp nhau của hai dòng sông Ô Lâu và sông Thác Ma.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí gọi sông Ô Lâu là sông Lương Điền; còn sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí thì gọi là sông Lương Phước, ở địa giới hai huyện Phong Điền (Thừa Thiên) và Hải Lăng (Quảng Trị), tục gọi là sông Độc, có hai nguồn, phía hữu là sông Ô Lâu, phía tả là sông Thác Ma (tên cũ là Tho Lai hay Thu Lai).

Sông Thác Ma (chảy qua cầu Mỹ Chánh trên quốc lộ 1A) bắt nguồn từ vùng đồi núi ở phía tây huyện Phong Điền chảy về phía đông qua đất Hải Lăng rồi nhập vào sông Ô Lâu.

Sông Ô Lâu cũng xuất phát từ vùng núi thuộc huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên, len lỏi qua vùng đồi núi Phong Điền, băng qua quốc lộ 1A tại cầu Câu Nhi, sang đất Hải Lăng rồi gặp hai con sông Thác Ma và Ô Giang (một đoạn nối dài của sông Vĩnh Định từ Triệu Phong vào vùng trũng Hải Lăng) nhập dòng trước khi đổ ra phá Tam Giang.


Ảnh: Mai Lĩnh

Từ ngã ba sông, chúng tôi xuôi dòng Ô Lâu về hạ lưu. Bên này là Lương Điền, Câu Nhi, Văn Quỹ, An Thơ... bên kia là Phước Tích, Mỹ Xuyên, Trạch Phổ, Ưu Điềm... Khung cảnh hai bên bờ êm đềm với những bến nước, con thuyền, những hàng tre đong đưa. Thỉnh thoảng lại có vài cô gái giặt đồ trên bến sông. Lòng tôi bỗng bâng khuâng, tự hỏi những “người đẹp” tên T., V., Kh. tôi từng “quen” trong những ngày bom đạn xưa, nay còn ở quanh đây hay trôi dạt phương nào?

Qua khỏi làng Văn Quỹ đến Hưng Nhơn, Phú Kinh... càng đi xuống sông càng hẹp, hai bên là cánh đồng rộng, thỉnh thoảng một vài cánh đồng sen rực rỡ khoe màu, hoa lá đung đưa trong không gian ngào ngạt hương sen giúp chúng tôi thấy nhẹ nhàng giữa cái nắng chói chang mùa hạ với gió Lào rát mặt.


Ảnh: Mai Lĩnh

Thuyền chạy khoảng 10 cây số thì đến Vân Trình. Đây là nơi Ô Lâu gặp sông Ô Giang và tiếp tục đổ ra phá Tam Giang. Sau khi vượt qua cầu Vân Trình, lòng sông ngày càng rộng, mặc dầu chưa đến phá nhưng những bè cá, những chiếc thuyền đánh cá, những tiếng lóc cóc đuổi cá của ngư dân vùng sông nước Tam Giang đã rộn rã khắp vùng.

Thời xưa, khi phương tiện giao thông còn thô sơ, đường bộ chưa được mở mang, việc vận chuyển hàng hóa, đi lại giữa Quảng Trị, Huế chủ yếu dựa vào đường thủy thì sông Ô Lâu và các phụ lưu như Vĩnh Định - Ô Giang và Thác Ma đóng một vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ nông sản của hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng.


Ảnh: Nguyễn Vỹ.

Từ sông Thạch Hãn, ghe thuyền vào sông Vĩnh Định đến các chợ thu mua nông sản và đón khách rồi theo sông Ô Lâu vô phá Tam Giang, rẽ vô ngã ba Sình ngược sông Hương để lên Huế và ngược lại trên thủy lộ này. Ghe thuyền dập dìu đi lại, từ đó mới có cảnh:

Thuyền ai đi trước
Cho tôi lướt đến cùng
Chiều về trời đất mênh mông
Phải duyên thì xích lại, cho đỡ não nùng tiếng sương.

Cũng từ đây biết bao nhiêu chuyện tình đã xảy ra, hư có, nên có, mới ra những chuyện: Trồng trầu lộn với dây tiêu, Con đi đò dọc mẹ liều con hư.

Thuyền chúng tôi chạy thêm khoảng gần nửa giờ thì vào đến Đại Lộc (xưa gọi là Đại Lược), nơi đây ngày xưa cũng là nơi hội tụ trên thủy lộ Huế - Quảng Trị. Chợ Đại Lược ngày trước là một ngôi chợ khá lớn, các loại ghe thuyền chở hàng hóa, khách thương từ Huế về đây tấp nập ngược xuôi.


Ảnh: Mai Lĩnh

Tình về Đai Lược
Duyên ngược Kim Long
Đến nơi đây là chỗ rẽ của lòng
Gặp nhau chẳng biết trên sông bến nào.

Không biết ngày xưa chợ Đại Lược có nằm sát sông Ô Lâu hay không, nhưng hiện nay thì chợ cách sông khá xa, nên chúng tôi không ghé vào và cũng không có ý định vào phá Tam Giang nên cho quay thuyền trở ra.

Rời Vân Trình, sau bữa ăn trưa với món lẫu cá dét ngon tuyệt ở một quán ăn bên ngã ba sông, chúng tôi theo dòng Ô Giang đi khoảng hơn một cây số vào vùng trũng của Hải Lăng, nơi có những xóm càng độc đáo.

Đây là một vùng đất trũng mênh mông với hàng ngàn hecta ruộng sâu ngập nước quanh năm. Cảnh vật khiến cho ta liên tưởng đến mùa nước nổi ở miền Tây Nam bộ, có khác chăng là nhìn về phía tây thấy rặng Trường Sơn xanh xanh chập chùng xa thẳm.

Càng là từ để chỉ những xóm nhà và vườn tược trên đất cao nhô ra như những “bán đảo” trên vùng đồng ngập nước mênh mông này. Nông dân các làng gần đó ra càng mở rộng diện tích canh tác rồi làm nhà ở, có lẽ cũng là do nhu cầu mở rộng đất thổ cư khi dân số phát triển. Nhưng, hỏi nhiều người, chưa được ai giải thích vì sao gọi những xóm đó là “càng”, nên tôi đoán rằng địa dạng những xóm càng này giống như những càng cua, vươn ra trên mặt nước chăng?

Sau một hồi vòng vèo quanh co, chúng tôi đến một đoạn Ô Giang thẳng tắp, hai bên bờ có đê bao với những cống thoát nước, phía sau là đồng ruộng bạt ngàn với những sóng lúa nhấp nhô dưới ánh nắng mùa hạ miền Trung. Thuyền cứ chạy, nước sông cứ lững lờ trôi, gió Lào vẫn thổi rát mặt, trời trong xanh không một gợn mây, chúng tôi được “tận hưởng” cái nắng hè Quảng Trị một cách trọn vẹn. Giữa cánh đồng bao la chỉ có lúa và lúa, không một bóng cây, nổi bật trên nền trời là ngọn tháp chuông của một ngôi nhà thờ hiện ra trước mắt. Khoảng nửa giờ sau thuyền cập bến sông ngay trước nhà thờ Cây Da.


Ảnh: Mai Lĩnh

Ngôi thánh đường khá bề thế và đẹp ở làng Cây Da (thuộc xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng). Ngày trước, muốn đến đây người ta phải dùng xuồng, thuyền hoặc men theo các đường đê, bờ ruộng đi vòng khá xa. Ngày nay việc đi lại đã thuận tiện hơn nhiều. Trong khuôn viên nhà thờ Cây Da có một ngôi trường do cha xứ lập nên để dạy cho các con em trong làng và các càng chung quanh.

Rời Cây Da, lại theo dòng Ô Giang trở về Ô Lâu, bên này sông là Hà Lỗ, Câu Nhi, bên kia là Lương Điền, chúng tôi đã trở lại ngã ba sông nơi cái doi đất hình đầu con rùa của làng Câu Nhi nhô ra sông, là nơi mà dân làng Câu Nhi cho rằng linh địa của làng. Từ đây chúng tôi trở về bến sông ở Hội Kỳ, nơi xuất phát chuyến du ngoạn này.

Sau gần một ngày rong ruổi trên dòng sông huyền thoại, vui thì vui nhưng lòng tôi vẫn mang nặng nỗi băn khoăn là chưa ghé thăm nơi bến sông xưa, nơi diễn ra câu chuyện tình làm nên câu hò quen thuộc, truyền khẩu trong dân gian Quảng Trị.

Nhiều lần hỏi thăm người địa phương. Nơi nào là bến đò ngày xưa ấy? Có người nói là bến đò nơi làng Cây Da, theo họ thì câu ca dao là “Cây Da, bến Cộ con đò khác đưa” (viết hoa).Tôi vẫn băn khoăn vì bến đò phải nằm trên đường cái quan trong khi đó làng Cây Da nằm ở giữa vùng trũng nên đường cái quan không thể đi qua đó được.




Ảnh: Mai Lĩnh

Có người lại nói là bến đò ấy nằm phía tây cầu Mỹ Chánh trên đường quốc lộ hiện nay. Tôi vẫn băn khoăn vì nếu bến đò ở đó là qua sông Thác Ma chứ không phải Ô Lâu. Cũng có người cho biết ngay tại Lương Điền có một bến đò gọi là Ba Bến vì từ đây có đò vượt Ô Giang qua Câu Nhi và có đò vượt Ô Lâu qua Mỹ Xuyên, nghe thì biết vậy chứ chưa chắc chắn gì cả. Thôi đành lòng vậy, lại hẹn với Ô Lâu một dịp khác chứ biết làm sao hơn!

May mắn khi về nhà, đọc lại một số sách xưa như Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí của Lê Quang Định hoặc Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc sử quan triều Nguyễn, trong đó có ghi rõ có bến đò Lương Điền ở huyện Hải Lăng và bến đò Mỹ Xuyên thuộc huyện Phong Điền và con đường cái quan từ Huế ra đến Mỹ Xuyên qua Lương Điền đến Trường Sanh, Diên Sanh. Tại Mỹ Xuyên lại có nhà trạm là nơi có nhiệm vụ chuyển công văn thư từ của triều đình. Từ những tài liệu trên, tôi tin rằng bến đò năm xưa nằm ở làng Lương Điền và Mỹ Xuyên, trên đường cái quan từ phía bắc vào Huế.


Cây đa, bến cũ nay đã khác xưa, nhưng không nhiều thì ít cũng mong còn một số dấu tích, hoặc phần mộ cô lái đò năm xưa ở đâu đó. Nếu xác định được thì đó chính là một điểm tham quan thú vị biết bao!

**********

Đã đăng trên Blog Bên Dòng Thạch Hãn (http://tamc6869.blogspot.com/)

READ MORE - Ô LÂU CÒN ĐÓ CÂU HÒ - Nguyễn Đặng Kỳ

Saturday, April 25, 2015

THU - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân


Tác giả Nguyễn Hữu Minh Quân

                  
THU

Có một mùa thu đã hẹn mà sao không về kịp
Để giấc mơ mười tám vội vã trôi
Để tóc em dài hơn hẹn ước
Ta lỡ nhịp câu thơ lục bát
Giọt mắt nào rơi về phía xa xôi…

Có một mùa thu mà tóc em không dài hơn được nữa
Tay lược đan mấy chiều tóc rối
Cánh chim nào mỏi
Chiều hoang mang…

Những mùa
Những ngày
Những đêm…
Không giấc mơ nào vỗ cánh!

                                           (Thu Hai ngàn)
                                    Nguyễn Hữu Minh Quân
READ MORE - THU - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

COOKIE & NINO - Chu Vương Miện











Cookie và Kino

con chó Kino lai giữa Mouty và
Boudo 4 tuổi ăn đồ ăn Việt
 Nam là con chó của tôi nuôi
hiểu và nghe được tiếng Việt chủ
và chó ngày ngày đi bộ khoảng
 4 km ngoài công viên trừ ngày
mưa và sương mù

*
con Cookie là của em vợ tôi
chó thiên hạ đi lạc vào tiệm
in và tiện thể mang về nhà
nuôi luôn chó họ Lasa cảnh hồng
có nguồn gốc từ Tây Tạng chó
ở chùa khôn hơn con Kino khách
tới nhà thường lấy mồm mang dép
đến cho khách khi nào khách mang
dép vào chân chó mới đi lâu
rời bạn bè thì quá xa kẻ bên
này và kẻ bên kia gần nhau
cũng vài trăm dậm xa thì cỡ
1/2 trái đất già bệnh chà muốn
đi đâu luẩn quẩn tại gia thì
có Kino mà đi thăm bà ngoại
thì có Cookie chợt nhớ tới người
bạn năm xưa là họa sĩ tài hoa
Âu Như Thuy vẽ bức tranh "Chó
 và Người" giờ còn sống hay đã
thác?


                    chuvươngmiện
READ MORE - COOKIE & NINO - Chu Vương Miện

GIÂY PHÚT THONG DONG - thơ Trần Ngọc Hưởng

Tác giả Trần Ngọc Hưởng


Giây Phút Thong Dong

Cởi trần ra chẳng ngại ngần,
Sài gòn ơi phút tình xuân cuộn trào.
Thật mà đâu phải chiêm bao,
Bên anh, em đã tựa vào lòng anh.

Cởi trần ra gặp chính mình,
Đang làm mới một chút tình đã xưa
Môi yêu như dính phải bùa,
Lắc lay quả bí, đung đưa quả bầu.

Cởi trần ra bén hơi nhau,
Má xuân hôn mãi nụ đầu giêng hai.
Trêu ngươi kìa nốt ruồi ai,
Cỏ non xanh rợn tình hoài thẳm sâu.

Cởi trần ra thấy tận đâu,
Đường đi không đến đổi sầu làm vui.
Ôm  nhau bất chợt rụng rời,
Ta yêu em giữa muôn người thế gian

Sài gòn phố xá ngổn ngang,
Cảm ơn em đã dịu dàng chân quê.
Tháng ngày cơm áo nhiêu khê,
Thong dong là phút anh về bên em


                    Trần Ngọc Hưởng


READ MORE - GIÂY PHÚT THONG DONG - thơ Trần Ngọc Hưởng

TÓC THỀ NĂM CŨ - thơ Hoàng Anh 79




TÓC THỀ NĂM CŨ

Còn bao năm nữa mình thương nhớ
Em có quay về nắng tháng tư
Thời gian theo gió phai màu áo
Biết có còn không dáng tiểu thư

Em có quay về theo cánh chim
Còn gì đâu nữa để ta tìm
Một đời rong ruổi cùng vinh nhục
Rồi chết một lần trong lặng im

Em có quay về theo áng mây
Lang thang quên mất tuổi ngày dài
Ta hụt hẫng chờ em tuyệt vọng
Hiu quạnh  bên đời tay trắng tay

Em có quay về trong đêm sương
Để nhìn hoa đỏ chết bên đường
Và nghe lá rụng bên thềm vắng
Còn chút bụi lầm em có thương

Ở đây sông núi còn muôn thuở
Em ở xứ người có tuyết rơi
Còn thương sợi tóc thề năm cũ
Dâu bể lạc nhau một phía trời!

Ngày 19/4/2015

Hoàng Anh 79
READ MORE - TÓC THỀ NĂM CŨ - thơ Hoàng Anh 79

Friday, April 24, 2015

BÓNG RỪNG - thơ Vũ Miên Thảo




Vũ Miên Thảo

BÓNG RỪNG


hoàng hôn lạc nhịp vó câu
phương xa lạ chỗ
rượu rầu rầu cay
tri âm khó gặp chốn nầy!
mấy ly lẻ
uống
lại say với... mình
cheo leo quán vắng tênh hênh
mới hay nhân thế lại quên...
bóng rừng!

VMT
READ MORE - BÓNG RỪNG - thơ Vũ Miên Thảo

THÁNG TƯ CÒN TRONG TIM - thơ Trúc Thanh Tâm











THÁNG TƯ 
CÒN TRONG TIM

Người một lần họp mặt
Rồi nghìn trùng xa nhau
Mùa xuân vờ trôi mất
Trần gian đầy chiêm bao

Cầu tre qua xóm nhỏ
Hoàng hôn lạc nẻo tìm
Tháng tư người cất giữ
Nên tình còn trong tim

Như đời ta buổi sáng
Chờ mặt trời biển đông
Tình chưa phai màu nắng
Nên thích má em hồng

Áo bạc màu sương gió
Ta treo nỗi buồn cao
Thương miền trăng thơ ấu
Ru nhau buổi ban đầu

Chín dòng sông hò hẹn
Ta một đời bôn ba
Buộc hồn nhau sợi khói
Thơm ngát hương quê nhà

Bốn mươi năm tình lỡ
Nước xa nguồn ra khơi
Thời gian mờ nhân ảnh
Tìm nhau giữa cõi đời

Nửa đời ta lận đận
Nửa đời người hư hao
Cánh chim trời bay mỏi
Nên thèm về bên nhau .

Tháng 4. 2015
TRÚC THANH TÂM

( Châu Đốc )
READ MORE - THÁNG TƯ CÒN TRONG TIM - thơ Trúc Thanh Tâm

EM ĐỪNG VỘI - thơ Vĩnh Thuyên





Em Đừng Vội...

Mưa đầu mùa đổ xuống
Con kinh
Chảy ra biển thành sương
Trên mi mắt
Em đâu biết
Những giọt mưa bong bóng
Đã vỡ oà tan tác
Trong tôi

Cầu Tầm Phương*
Một thương
Mười đợi
Trời tháng 3
Chim én lạc bầy
Đêm Giồng Trôm*
Nhớ người dịu vợi
Buổi cơm chiều
Một đợi
Mười thương

Con nước ròng
Theo dòng
Kinh cạn
Tiếng sáo diều
Gọi bạn
Dáng xưa
Cá lòng tong giật mình
Nước lớn
Chạy quanh cánh đồng
Bất tận
Tôi ơi...!

Vĩnh Thuyên


*Tầm Phương, *Giồng Trôm là địa danh của H. Châu Thành, Tỉnh Trà Vinh.


Tên thật: Dương Văn Thạnh.
KM22, QL22B, Long Thành, Nam Hòa Thành, Tây Ninh. 
ĐT : 0913 955 275. 
EMAIL: duongvinhthuyen@gmail.com.



READ MORE - EM ĐỪNG VỘI - thơ Vĩnh Thuyên

TRẢNG ĐẤT TÂY ĐÔ - thơ Phan Minh Châu




TRẢNG ĐẤT TÂY ĐÔ

(Viết tặng khu dự án Lê hồng Phong 2
Thành phố Nha Trang)

Đất rạch ròi mảnh đất mới sinh sôi
Được chào bán cho những người mở đất
Không xa phố và cũng không xa biển
Người hôn mê bên miếng đất vừa tầm

Miếng đất phèn ủ nhựa bốn mươi năm
Nay bỗng cựa mình đơm hoa nhú mật
Tiếng máy xới cứ ngày đêm tất bật
Đất thay da đổi thịt từng giờ

Miếng đất mềm mà cứ ngỡ trong mơ
Tưởng đi suốt cuộc đời không với tới
Trưa nắng rát da trên vùng đất mới
Tiếng máy reo ầm ỉ cả công trường

Tiếng máy nhồi êm ả đến yêu thương
Từng thước cọc đâm sâu vào đất
Đêm trằn trọc bao niềm vui trong mắt
Phố vươn vai đô thị lớn lên dần

Đất một thời là trảng đất xa xăm
Đất èo uột thiếu tay người vun bón
Bao nhiêu năm đất đau cùng năm tháng
Đến hôm nay đất bổng tượng hình

Mảnh đất phèn bổng chợt hồi sinh
Bổng toả sáng qua bàn tay người thợ
Người với đất cùng chung nhau nhịp thở
Đất vươn vai thành phố thị cao tầng

Những con đường mềm mại đến yêu thương
Chạy thẳng tắp trên vùng đô thị mới
Những mắt đèn đêm như một lời sám hối
Cho tháng năm đất hẩm... đất hờ.

Những hàng cây nứt nụ đâm bờ
Đang hứa hẹn một ngày không xa nữa
Cây phủ bóng cho những chiều êm ả
Khi mùa thu ngào ngạt sắc hoa vàng

Khi mùa xuân thổn thức tiết xuân sang
Khi mùa hạ cháy bung hàng phượng đỏ
Và cứ thế đất qua tay người thợ
Mảng trời xanh hút mắt lại đơm mầm

Chạnh lòng không em? Những buổi tan tầm
Tiếng tàu rót vào ta ngày xa biển
Trên sân ga với bao người đưa, tiễn
Lại trở về trên mảnh đất yêu thương. 

Ôi thương quá TÂY ĐÔ mảnh đất đã tượng hình
Đã toả sáng đã bùng lên mạnh mẽ
Xin cảm ơn anh những người thợ trẻ
Đã thổi hồn lên mảnh đất TÂY ĐÔ .

           PHAN MINH CHÂU
3 b Âu Cơ thành phố NHA TRANG KHÁNH HOÀ
           D.đ. 0922992662
READ MORE - TRẢNG ĐẤT TÂY ĐÔ - thơ Phan Minh Châu

Thursday, April 23, 2015

NGƯỜI PHỤ NỮ HỌ TRƯƠNG VÀ NGÔI MỘ CHUNG TRÊN ĐỒI TỪ HIẾU - Lê Thí

Lăng mộ chung của Thái Phiên và Trần Cao Vân.
Ảnh từ art2all.net

Lê Thí
NGƯỜI PHỤ NỮ HỌ TRƯƠNG 
VÀ NGÔI MỘ CHUNG TRÊN ĐỒI TỪ HIẾU

Hai nhà cách mạng người Quảng tuy không sinh cùng năm nhưng lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau trong một ngôi mộ chung. Đó là Thái Phiên và Trần Cao Vân.

Trong cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội (thường được gọi là cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân) năm 1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên là nhân vật chủ chốt, có vai trò quan trọng hàng đầu. Điều này được thể hiện trong tờ chiếu khởi nghĩa của vua Duy Tân đề ngày 27 tháng 3 năm Duy Tân thứ mười (29-4-1916) hiện còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (The Archives Nationales d’Outre-Mer, viết tắt là ANOM) của Pháp ở Aix-en-Provence và Văn khố Toàn quyền Đông Dương. Tờ chiếu này có sao gửi cho 4 người gồm: Trần Cao Vân, Thái Phiên, Lâm Nhĩ, Nguyễn Quang Siêu.
Nguyên văn trong tờ chiếu (được dịch ra quốc ngữ):
“... Trong tất cả mọi việc, Trẫm trao quyền hành động cho Hồng Việt, Hoàng Anh, Thanh Minh và Lam Giang, với sự hợp tác của những người có tấm lòng cao cả trong ba kỳ của Quốc gia Annam, dù họ là quan chức, viên chức, đương nhiệm hay không đương nhiệm, các nho sĩ, thân hào, người bình dân, và tất cả đều vì mục đích theo đuổi là đem lại một kỷ nguyên Văn Minh.
Ngay sau khi sự nghiệp hoàn thành, tất cả những ai có cống hiến sẽ được nhận những phần thưởng xứng đáng và sẽ trở thành bất tử qua thời gian.
Bất cứ ai cản trở sự nghiệp này sẽ bị truy tố và trừng phạt không tha thứ.
Nay kính báo.
Chuyển để thi hành:
-  đến đạo nhơn Trần... (tức Trần Cao Vân - LT), tự Hồng Việt - chức vụ và cấp bậc: Cố vấn cao cấp, Tể tướng để phục hưng, phòng vệ đoàn tùy tùng hoàng gia, phụ trách các vấn đề quân sự.
- đến đạo nhơn Thái... (tức Thái Phiên - LT), tự Hoàng Anh, Phó cố vấn cao cấp, Tổng đốc Hoàng Thành, phụ trách các vấn đề tài chính và kinh tế”.
- đến…”
Cuộc khởi nghĩa được dự định tổ chức vào đúng 1 giờ sáng ngày 3-5-1916.  Trần Cao Vân và Thái Phiên phân nhiệm cho các nhân vật, chiếm các tỉnh, còn hai ông điều khiển việc chiếm kinh đô Huế, rước vua Duy Tân ra khỏi Đại Nội, đi vào phía Nam chờ bình định xong sẽ phò nhà vua trở lại ngôi.
Đại sự bị bại lộ, cuộc khởi nghĩa thất bại. Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị bắt tại chùa  Ngũ Phong (gần An Cựu, thành phố Huế).
Thái Phiên và Trần Cao Vân đã bị Viện Cơ mật kết án: “Thủy nhi Hậu hồ thùy điếu, thiện tả chiếu văn, nhi Thương Bạc đình thuyền, yêu nghinh thánh giá, Hà Trung mạch phạn,Ngũ Lĩnh kê thang, thừa dư chí thử phong trần, môi nghiệt giai do thử bối” (Tạm dịch: “Ban đầu buông câu ở Hậu Hồ, tự thảo chiếu văn, kế đến neo thuyền ở bến Thương Bạc, chờ rước nhà vua, mời vua dùng cơm lạt ở làng Hà Trung, ăn cháo gà ở núi Ngũ Phong, mình rồng phải chịu dãi dầu sương gió, tội lỗi này đều do bọn kia tạo ra) và ra lệnh xử chém.
Chiều 17-5-1916 Thái Phiên cùng Trần Cao Vân, Nguyễn Quang Siêu và Tôn Thất Đề ra trường chém ở An Hòa đền nợ nước.
Về cái chết của hai ông, các tài liệu đều cho là diễn ra vào ngày 17-5-1916.  Nhưng gần đây nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Đàn trên tạp chí Xưa và Nay và báo Đà Nẵng Cuối tuần lại dẫn các tờ báo Trung Bắc Tân Văn (số ngày 27-5-1916), Lục Tỉnh Tân Văn, Nông Cổ Mín Đàm (8-6-1916) lại cho rằng cuộc xử chém diễn ra vào lúc 16 giờ 30 chiều 16-5-1916. Đây là mẩu tin ngắn trên báo Trung Bắc Tân Văn: “Hồi 4 giờ rưỡi chiều 16 Mai, bốn người mưu việc khởi loạn Trung Kỳ, đã phải xử tử tại đường Quảng Trị, cách la-ga An Hòa 100 thước. Một người tên là Trần Cao Vân và một người là Thái Phiên, cùng ở Quảng Nam cả...”.
Cho đến nay vẫn không biết vì sao có sự vênh lệch này!
Tương truyền, tại pháp trường hôm ấy, khi đầu Thái Phiên rơi xuống đất, một thiếu phụ mặc đồ tang đã chạy ngay đến, ôm chặt thi thể người chí sĩ vào lòng, khóc thương thảm thiết. Khi bị lôi ra, thiếu phụ đã xõa tung mái tóc đen thấm lấy dòng máu tươi từ cơ thể người chí sĩ. Thiếu phụ ấy là bà Trần Thị Băng, thiếp của Thái Phiên. Bà đã giữ máu ấy trên đầu, không chịu tắm gội. Mấy tháng sau bà mang bệnh nhưng kiên quyết không uống thuốc để chết theo chồng.
Cái chết của Thái Phiên, Trần Cao Vân và các chí sĩ của cuộc khởi nghĩa đã gây xúc động lớn. Huỳnh Thúc Kháng lúc này đang thụ án ở Côn Đảo nghe tin cái chết oai hùng này đã có thơ tặng Thái Phiên (được dịch ra quốc ngữ): Âu học không đem rút của người,/ Chả thành đời sống vứt như chơi./ Kìa phường học mới đông như kiến,/ Đêm hỏi lòng chăng có hổ ngươi? (Huỳnh Thúc Kháng, Thi Tù Tùng Thoại, Nam Cường, 1951).
Người Pháp và Nam triều đã cho vùi xác của 4 vị ngay tại pháp trường với hy vọng sẽ tóm thêm được những đồng chí của các vị khi họ đến viếng.
Năm 1922, con trai của Trần Cao Vân đã làm đơn gửi khắp nơi ở Huế để xin được đưa hài cốt của cha về cải táng ở quê nhà nhưng tất cả đều bị từ chối.
Tại bãi chém An Hòa, hai ngôi mộ lâu ngày không được chăm sóc có khả năng bị mất dấu. Nên năm 1925, một đồng chí của Trần Cao Vân và Thái Phiên là bà Trương Thị Dương đã lén đưa thi hài hai ông đem chôn trong một ngôi mộ chung tại đồi Từ Hiếu nay thuộc xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Ngôi mộ chung này đã được công nhận là Di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia vào ngày 14-7-1990. Về việc hai chí sĩ được cải táng chung trong một ngôi mộ được bà Dương thuật lại như sau: “Ngày 5 tháng 5 năm Ất Sửu (1925), tôi và đứa cháu là Đặng Khánh Di vừa đi đến cầu Vân Căn, bỗng một chiếc guốc bị gãy đôi. Tôi nghi có điềm chẳng lành. Đến chùa Đại Trung, gặp ông Nguyễn Hữu Cảnh (trị sự chùa), ông giục tôi đi, không nên do dự.
3 giờ sáng ngày hôm sau (mồng 6), chúng tôi đi thẳng tới chỗ di hài hai cụ. Người giữ nấm mộ ấy là Thủ Tỵ), y có người con bị bệnh phong, làm chòi ở khít bên mộ để giữ, ai đến gần, nó bắt.
Tới nơi, tôi cho thằng phong ấy 3 đồng, trả cho ông Thủ Tỵ 6 đồng, và thuê 5 người nữa với ông Thủ Tỵ 24 đồng, xin dời hộ, vì tôi nói là mộ của ông chú tôi.
Hốt cốt lên, tôi lấy giấy tinh (tức giấy trong có viết chữ Hán) bỏ vào hai thúng đầy, rồi qua cửa Chính Tây ngồi đợi. Khi hốt xong, bọn làm thuê thấy không có mặt tôi, hỏi, thì ông Thủ Tỵ nói tôi đi mượn tiền, và có nhờ gánh cốt qua bên ấy (cửa Chính Tây) mới trả tiền đủ (đã trả trước 12 đồng). Bọn họ dùng dằng một lúc rồi cũng phải gánh đi.
Đến cửa Chính Tây, tôi trả tiền đủ, liền thuê hai chiếc xe kéo: một chiếc tôi chở cốt, một chiếc cho người cháu tôi và Nguyễn Hữu Cảnh ngồi. Xe đi thẳng tới tháp Hòa thượng Kiết Mao gần chùa Châu Lâm, tôi đặt cốt lên bàn, thắp hương ngồi giữ. Đến sáng ngày, tôi thuê Trùm Ngữ mua hai tiểu sành cùng giấy tờ, lại thuê gánh nước tới, tôi rửa sạch cốt hai cụ, liệm vào tiểu sành.
Hai di cốt này trải qua trên 9 năm, đến nay vẫn còn nguyên vẹn. Cốt cụ Thái vàng rực, bỏ vào tiểu sành có dư, phải lấy bớt giấy lót ra. Cụ Thái lúc lâm hình mặc áo lương, máu dính sát vào cốt, gỡ ra nghe rạt rạt. Cụ Trần bận áo vải dù, cũng dính sát vào cốt. Tôi thuê người đào huyệt và đắp nấm hết 4 đồng. Ai dè chôn được 11 ngày, Thừa Phủ hay tin, cho lính đến canh gác. Nhờ có người báo tin về ông Nguyễn Hữu Cảnh, ông Cảnh báo về tôi, tôi thừa đêm khuya thuê 4 người, mỗi người 4 cắc hết 1 đồng sáu, đem chôn nơi khác, hiện nay ở gần chùa Châu Lâm, nhưng chôn thành một nấm.
Nơi đã dời đi, tôi vẫn cho đắp lại thành nấm tử tế, rào giậu kỹ càng, làm như không ai đụng chạm đến. Thế là nơi ấy vẫn có hai cái nấm mồ, nhưng không có cốt người!”. (Dẫn lại Nguyễn Trương Đàn, trong tạp chí Hồn Việt)
Bí mật này được bà Dương giữ kín cho mãi đến năm 1956, khi thấy không còn nguy hiểm nên đã tiết lộ với con cháu và ông Võ Như Nguyện là con trai của nhà cách mạng Võ Bá Hạp, vốn là đồng chí của bà. Ông Nguyện lúc này là Dân biểu Quốc hội của Việt Nam Cộng hòa. Sau đó bà đã khắc tấm bia bằng chữ Hán “Trần Cao Quý Công-Thái Duy Quý Công” và dựng trước ngôi mộ chung của hai ông. Tấm bia này hiện nay vẫn còn.
Chính vì ngôi mộ chung nên cho đến nay hai ông vẫn chưa thể về lại quê nhà.Có khi đó là ý nguyện của hai ông, không muốn xa nhau và … xa Huế!.
Bà Trương Thị Dương có biệt hiệu là Quảng Hà, sinh năm 1881 tại làng Tân Điền, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị là người được Phan Bội Châu kết nạp vào phong trào Đông Du năm 1903, phụ trách việc vận động tài chánh cho du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản. Năm 1914, thông qua bà Mai Thị Vàng (con gái Mai Khắc Đôn và là vợ vua Duy Tân) bà được kết nạp vào tổ chức Việt Nam Quang phục hội, được vua Duy Tân giao nhiệm vụ làm liên lạc với các nhà cách mạng. Bà đã từng được nhà vua sai vào tận làng Tư Phú nay là xã Điện Phong, huyện Điện Bàn để trao nhiệm vụ cho Trần Cao Vân. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại bà đã về ẩn mình ở xóm Nhà Trưa, nay là thôn Tân Trưng, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Thời gian này bà luôn đau đáu một ý nguyện là tìm cách đưa hài cốt hai đồng chí của mình đến chôn ở một nơi đường hoàng hơn để sau này có điều kiện sẽ đưa về an nghỉ ở quê nhà, để con cháu được hương khói. Bà đã nhiều lần đến thăm mộ nhất là sau lần cải táng năm 1925. Bà mất ngày 24 tháng 7 năm 1957, hưởng thọ 76 tuổi . Đám tang của bà được tổ chức trọng thể có sự tham gia của nhiều quan chức, đặc biệt là có cả mẹ của vua Duy Tân. Hiện nay mộ bà vẫn còn ở xã Hải Chánh huyện Hải Lăng.
Ở Đà Nẵng, trên đường Trần Cao Vân có ngôi trường phổ thông trung học lớn mang tên Thái Phiên, như một gợi nhớ về hai nhà cách mạng tuy sinh không cùng năm nhưng lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau chung trong một ngôi mộ. Có lẽ ở Tam Kỳ, Đà Nẵng… nên có một con đường mang tên Trương Thị Dương, để thể hiện sự tri ân của người dân xứ Quảng cho tấm lòng mà bà đã dành cho hai chí sĩ cách mạng kiệt xuất của quê hương mình.



Hậu duệ của các vị Thái Phiên,Trần Cao Vân, Trương Thị Dương trước ngôi mộ chung của Thái Phiên và Trần Cao Vân tại Huế.

                                                       

Tác giả LÊ THÍ
cựu giáo viên trường THPT Trần Phú, 
Đà Nẵng


READ MORE - NGƯỜI PHỤ NỮ HỌ TRƯƠNG VÀ NGÔI MỘ CHUNG TRÊN ĐỒI TỪ HIẾU - Lê Thí