Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, April 27, 2014

Khaly Chàm - ĐỌC THƠ VÕ VĂN LUYẾN - NGƯỜI CÂU BÓNG MÌNH




Điều quan trọng với  từng cá thể, không chỉ ở con người thuộc vào hàng đẳng cấp cao nhất trong “thập loại chúng sinh” nói chung. Có đúng sự sống là trên tất cả?  Một khi đã trưởng thành về mặt lý trí và tâm thức, con người thiết lập ra một tương quan vững chãi và sáng tạo. Con người đang hành động là để nhân danh cái tôi trong mọi nỗ lực ý thức. Động cơ thúc đẩy tình cảm của con người đích thực là những động cơ nào? Khó mà trả lời thuyết phục. Có thể (ta) đã và đang nhìn thấy được những lực hấp dẫn và xô đẩy, những yêu thương, hờn giận, những lên cơn, đờ đẫn… là trầm hệ trong sự khám phá muôn thuở trên bề mặt quả cầu đất này.



Nhà thơ Võ Văn Luyến
Võ Văn Luyến – người câu bóng mình  đã tìm thấy cái cô đơn diễm phúc đang nhìn sự an bài có trật tự, thi nhân cảm thấy cuộc đời này là  một thảm kịch chứ không phải là một thế giới xô bồ hỗn loạn. Ngôn từ thi ca vốn rất giàu nhân tính, đó là một nét chung mà người viết ra những câu thơ luôn rung cảm theo nhịp đập của trái tim: “người đàn ông giết mình bằng thời gian/  bằng những hạt hồng cầu mê ngủ/ bằng những con chữ U chạy nhanh như gió/ úp ngược chiều trái tim.” (Người câu bóng mình – trang 5).



Có cần diễn tả nhu cầu cảm thông và bất khả cảm thông? Mặc nhiên bút pháp thật thân tình của tiến trình sáng tạo luôn phơi bày màu sắc quê hương toàn diện và hiện thực bất biến, những hình ảnh đã hòa hợp vào tâm hồn thi nhân. Một khuynh hướng tự do khai triển không vượt quá giới hạn văn chương thẩm mỹ, và ngược lại  không bị giam cầm trong những phổ quyết nhất định của kiếp con người: “Mấy mùa sim hẹn tôi về/ Nắng day dưa nhớ, mưa mê mải tìm …” “Mấy mùa trăng lạc ca dao/ Cỏ hoa chúm chím môi đào dạ thưa…” hay là một phản tỉnh vỗ về?: “Nẻo vui phố cưới cơn mê/ Chiều xa ngồi vớt câu thề trôi sông…”(Khúc trầm-Gửi miền sương ngọt – trang 11&12).

Tác giả Khaly Chàm
Có một thứ ánh sáng tinh tuyền xuyên thủng vòm trời tiên thiên của linh hồn thi nhân. Chính vì vậy, nó xác định và tập hợp những gì được gọi là phức số định mệnh , để rồi hòa nhập vào ý thức thượng đẳng: “Khi những sợi mưa tơ giăng trước nhà/ Những nụ xuân nói điều chi rất khẽ…” một khi sự vận dụng của trí tuệ hiện thể: “Tuổi chín mươi ngày gần tháng xa/ Đong mưa nắng ủ mầm hạt nhớ/ Đêm ngắn hơn chiêm bao/ Tự tình mẹ với ngọn đèn trăn trở”… (Mẹ ơi xuân đến rồi kìa – trang 13&14).  



Thi nhân không thể trầm mình vào lòng một vũ trụ với trí tưởng tượng khôi hài. Vì sao? Bởi lẽ sự sáng tạo sẽ hình thành một kích độ khởi diễn cường điệu trong từ chương thi ca giả tạo. Làm thế nào để tìm cách diễn tả được bối cảnh thiên nhiên thực tại? Không cần phải toan tính sắp xếp… thiên nhiên luôn tồn tại và thật gần với con người. Chỉ có những tinh thần phá chấp mới thể hiện rõ cái thiên chức khảo sát và tạo ra thứ ngôn ngữ rực rỡ sắc màu: “Những con chim mang mùa đông đi biệt/ Hàng cây tự tình tay gối gió đêm/ Mắt lá thẳm câu thơ chừng canh tết/ Tuổi khói sương cúi vai mẹ rưng thềm”…(Xuân thức – trang 18&19).



Con người dùng ngôn từ hoặc hình ảnh… để khám phá ra một thế giới siêu việt. Đó chính là mối tương quan mật thiết của nhiều văn-nghệ sĩ, mọi sự cố gắng để được hòa mình với trật tự thiên nhiên bất di bất dịch, có thể hy sinh cả một đời người và nghĩ cái chết là để trở về đại ngã. Sự cấu tạo ngôn từ đều phải được thanh lọc, một khi tâm hồn hết vẩn đục ánh lên sáng ngời: “Dòng sông tự mình rõ nắng mưa ấm lạnh, mặc rối nhiễu giông gió mây vần, mặc sáng tối vây quanh, mặc suối khe dự cuộc chia phần…Dòng sông ơn biển thẳm non cao, ơn chí bền tình sâu đất lặng, ơn tuổi thơ thuyền giấy, ơn con chuồn chuồn tin cậy, ơn tóc xỏa mái nhì mái đẩy, ơn đôi bờ bồi lở sinh thành” (Tâm thức xuân – trang 22).



Nghệ thuật đã được khẳng định, là cảm giác của trường tượng trưng nhưng đem kết tinh lại theo một tinh thần nghiêm khắc, có thể sẽ đạt đến mức lấy sự trầm tư mà thấu triệt nội tâm và ngoại giới: “Khe Sanh giọt sương không tan/ Long lanh dưới tán lá rợp/ Tôi có bốn mươi tám giờ tơ nõn diệp lục/ Nhói giấc mơ trốn tìm” Sao lại chỉ bốn mươi tám giờ. VVL có đúng là một thi nhân cô đơn hay đã tràn đầy hạnh phúc? Một lối viết trải nguồn tâm sự: …“Khe Sanh đập nhịp chập chùng/ Câu thơ ướm tà áo mỏng/ Ngựa hí nhà ai khớp móng/ Kiệu vàng rước một đơn côi” (Khe Sanh mắt chớp – trang 26).


“Ta ngồi đó chờ đợi, không chờ đợi gì cả, chờ đợi vô thể, chờ đợi không chờ đợi – Nietzsche và tiếng nói heo hút của Heidegger …” (Im lặng Hố Thẳm – Phạm Công Thiện dịch). Thi ca xuất phát từ xúc cảm chủ quan trong sự sáng tạo tâm tư, thi nhân luôn vượt lên trên đời sống thực dụng. Tất cả những hiện thể chỉ là cái cớ để thử thách khả năng chính (ta) khi chạm vào ngôn ngữ: “Những núi đồi cỏ xanh ngậm sương/ Có gì đăm chiêu trong mắt ngựa chiến/ Kinh thành sau lưng lửa trời binh biến/ Cháy tâm can . Rạn vỡ đêm dày”…(Sự minh triết trong thành Tân Sở - trang27&28).


Trong khoảng khắc đi tìm vĩnh cửu, thi nhân dừng bước chân để chiêm nghiệm sự mầu nhiệm của đất trời và vẻ vô thường của đời sống, nhưng với niềm tin cùng những rung cảm thì đời sống biến thành sự thật vĩnh tồn: “Biển gọi anh về/ Con sóng trắng miên man ngực bể…Những mắt đèn chong thức vào khuya/ Bóng đổ dài trên cát… Về đây nghe gió ngân vô hồi/ Hạt muối quên có mình làm chứng/ Con tàu quên đếm tuổi đi ngày tháng… (Biển xưng tụng – trang 32&33).



(Khi tiếp xúc có thì cảm thụ có, khi tiếp xúc không thì cảm thụ không”. Đó là nói về tiến trình của sự thay đổi phù hợp với các tác dụng tức thời. Câu hỏi: “ai tiếp xúc, ai cảm thụ” nếu đặt ra sẽ không hợp lý vì cho dù sự suy tưởng theo cách quy giản đến vô tận thì cái “ai” làm chủ thể này vẫn không thể xác định được…  lời giảng do Gotama Siddhatha). Một sự tái tạo tư tưởng mãnh liệt, những gì thấp hèn “rất ký sinh” nó được chuyển thể thành thứ chất liệu từ chương tinh túy:  “Những con rận lạc nhau trong rừng tóc hoa râm/ Trăm năm ngàn năm trước vẫn còn ngơ ngác…Những con rận yêu nhau có theo mùa không nhỉ/ Có hờn ghen khi tranh chấp bạn tình?…Tôi rỗng không chốn hoang đường nắng đổ/ Ngọn gió nào cũng thổi phía xa xôi. (Gió thổi phía hoang đường – trang 36&37).


Quá khứ sẽ tái hiện lại khi (ta) hoài niệm hay trong giấc mơ… chính là sự mạc khải làm cho văn-nghệ sĩ hiểu rằng đời sống có cái gì rất đáng sống, cho dù tiềm thế đang ngủ vùi dưới lớp bụi thời gian, nhưng nó sẽ được thể hiện trong tâm trí của con người: “Bọc trong hạt cát trắng tinh/ Từ tâm soi tỏ dáng hình quê hương/ Nắng mưa dầu dãi vô thường/ Cao sâu chín chữ tạ ơn sinh thành” (Tạ ơn sinh thành – trang 42).



Võ Văn Luyến cấu tạo nét chân thực ở bên trên thực tại đời sống, thi nhân đã làm nổi bật yếu tính đời sống. Không thể tìm thấy nỗi bất bình với mọi người và bất bình với cái tôi. Niềm tự hào chính mình trong sự yên lặng và trong sự cô đơn của bóng đêm: “Khi không tự hành hạ mình mất ngủ/ Khi không lũ chó sủa đêm chọc tức…Khi không thấy triết lý kỳ nhông đổi màu đáng sợ/ Khi không kẻ quỵt nợ tình chui vào mặt nạ…Khi không muốn làm ăn mày sang trọng/ Khi không viết những câu thơ vô hồn. (Lan man đêm mất ngủ - trang 66).



Có biết bao người chống lại hoặc tìm phương cách thoát ly ra ngoài hiện tại. Có phải đó là thái độ trú ẩn vào tháp ngà? Chỉ là sắc thái mong manh của tâm tình! Văn-nghệ sĩ là những con người thật sư tự do, họ cố đi sâu vào ẩn mật tiềm tàng: “Ửng trên ngọn nắng không mùa/ Bỗng dưng cơn gió năm xưa xanh màu/ Từ hồn mục rã thương đau/ Ta như mới thấy cây sầu trổ bông. (Hóa hiện – trang 82). Thì hãy cứ giam mình vào mê lộ cô đơn lúc bấy giờ (ta) đã hoàn tất những gì thuộc về ước vọng: “Trời thả một chiếc lá vàng/ Thế là mặt đất nguyện làm mùa thu/ Em đi từ buổi sương mù/ Chiêm bao tôi gặp lời ru vọng buồn.” (Vọng – trang 83).



Văn-nghệ sĩ là người mãi đi tìm những hình thái và câu chữ Đẹp để làm một phương tiện tri thức. Tất nhiên là để tra vấn cái chưa từng biết được ý nghĩa của đời sống. Khi tác phẩm hiện hữu thì nó trở thành: mệnh đề tuyệt đối với khả năng tri thức… “ Với Thi ca, quan hệ với  chúng ta như là một kinh nghiệm, nghĩa là một cái gì phải được sống qua. Chúng ta coi đó là một trong những hình thức tối thượng… Vì vậy ta không nên lấy làm ngạc nhiên rằng tình yêu và thi ca hiện thân với chúng ta, hai khuôn mặt cùng chung một thực tại… - Octavio  Paz Lozano”. 


Người câu bóng mình Nxb Hội nhà văn – 2011 (gồm 67 bài thơ). Những câu thơ  tiêu biểu tôi trích ra trong bài viết, là để cảm nhận nghệ thuật thơ Võ Văn Luyến một người “mần” thơ của đất Quảng Trị.



Thành phố Tây Ninh - cuối mùa xuân 2014

Khaly Chàm


READ MORE - Khaly Chàm - ĐỌC THƠ VÕ VĂN LUYẾN - NGƯỜI CÂU BÓNG MÌNH

Thơ Huy Uyên - THÁNG TƯ VỀ LẠI BẾN NINH KIỀU

      


Tháng tư về lại bến Ninh-kiều

Đêm Ninh-kiều chao sóng vỗ
bến không trăng em gái cùng thuyền
trôi về đâu sông nước ngày xưa cũ
đợi chờ chi ai mà xao xuyến trong đêm .

Hoang phế xa xăm bến đổ con phà
bên công-viên em cùng ai trò chuyện
lối cũ gánh-hàng-rong ngang qua
tiếng rao bạc lòng lữ-khách
buồn xưa xưa chưa đến .

Em bỏ thuyền bỏ sông đi từ đó
để tôi một mình ngơ ngẫn với Cần-thơ
để Ninh-kiều mãi hoài tương-tư thương nhớ
mái tóc ai dài và nụ cười ngẫn-ngơ .

Xưa rồi em nón lá áo bà ba
sắc hồng nắng chan lên má
mát lành sông trôi tận biển đi về
quạnh hiu đời ai khép ngang bến đổ .

Lênh đênh gởi tình theo sông Hậu
em chèo thuyền dưới nắng cháy đôi vai
dịu ngọt bốn mùa sương gió
chở riêng ai tình phai nhạt tháng ngày .

Em lớn chi hoài , trôi đám lục bình
đọng bên trời ngợp lòng sắc tím
đồng chiều hoa lặng lẽ trổ bông
nhớ ngày xa em
phương trời đó ai đem lấp kín .

Em đi bỏ tim ai mòn mõi
Ninh-kiều ngày đêm chín-đợi-mười-chờ
xa nhau thuyền đưa về Mĩ-khánh
ngang qua Cái-răng sao mắt ngó lơ .

Thôi em tôi gởi tim ở lại Cần-thơ
mùa hạ tháng tư
về lại bến Ninh-kiều.
Huy-Uyên
READ MORE - Thơ Huy Uyên - THÁNG TƯ VỀ LẠI BẾN NINH KIỀU

LÊ ĐÌNH CÁNH VÀ BÀI THƠ TÌNH THỊ NỞ- CHÍ PHÈO - Phạm Ngọc Thái




    
         

                    TRĂNG NỞ NỤ CƯỜI

Đâu Thị Nở, đâu Chí Phèo,
Đâu làng Vũ Đại đói nghèo Nam Cao ???
Vẫn vườn chuối gió lao xao
Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền...

Ả ngớ ngẩn. Gã khùng điên.
Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người!
Vườn xuông trăng nở nụ cười
Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau.

Giữa đời vàng lẫn với thau
Lòng tin còn chút về sau để dành
Tình yêu nên vị cháo hành
Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi!

                            
  Lê Đình Cánh


Nhà thơ Lê Đình Cánh
 
                                 Lời bình Phạm Ngọc Thái

   Vào một đêm trăng. Gã Chí Phèo đi ăn vạ về say khướt vì rượu, khật khưỡng qua vườn chuối. Ả Thị Nở dở người đang nằm ngủ say sưa ở đó. Gió đêm từ bờ sông thổi về mát rượi. Ánh trăng dọi xuống soi lên người ả, trật cả chiếc yếm cùng lớp da trắng hởn. Chí Phèo, một gã điên khùng từ lâu đã tưởng không còn ý thức gì về sự vui thú, bỗng lúc này lòng khát khao được sống đầy đủ lại bùng lên trong gã? Gã mê man nhìn Thị Nở và tiến đến... Thế rồi, cả người gã đè lên thân thể ả. Ả kêu, nhưng Chí Phèo lại còn kêu to hơn| Thì trong làng, ngoài nước, ai còn lạ gì cái thằng Chí Phèo hay ăn vạ? Nên nghe tiếng kêu của gã chẳng ai buồn đến. Mới lại, tiếng kêu của Thị Nở cũng chỉ là tiếng kêu của một mụ đàn bà đang thỏa mãn, thích thú vì... được yêu! Để rồi sau đó, người ta nghe thấy cả hai giọng cười sung sướng đã phát ra từ cái vườn chuối ấy...
    Gặp lại vườn chuối xưa, trong một chuyến về thăm quê hương của cố nhà văn Nam Cao - Ở làng Đại Hoàng ( tức làng Vũ Đại trong chuyện ), thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Vẫn bên con sông Châu ngày đêm thao thiết chảy. Tâm hồn nhà thơ Lê Đình Cánh đã rung lên. Cứ như anh đang hồi tưởng lại một tình sử nào đó, chứ không phải là cuộc tình của " Ả ngớ ngẩn. Gã khùng điên. " kia!? Cảnh quê trong thơ anh trào ra bồi hồi, tha thiết:
                   Vẫn vườn chuối gió lao xao
                  Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền...
     Đó chính là cảm tác dẫn dắt nhà thơ viết lên "Trăng nở nụ cười " này. Anh không đi vào diễn tả tấn bi kịch xã hội như trong chuyện Chí Phèo, chỉ xoay quanh cuộc tình trăng gió... mà đề cập về giá trị tình yêu đối với đời sống con người.
    Nếu đoạn thơ đầu mới chỉ là cảm xúc khi nhà thơ gặp lại tình và cảnh cũ - Thì sang đoạn thứ hai, đoạn thơ cốt lõi, trung tâm của toàn bài. Tác giả đã khoáy sâu vào  để khẳng định về chân giá trị của tình yêu ấy:
                  Ả ngớ ngẩn. Gã khùng điên.
                  Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người!
     Hai chữ "thành người" ở đây có thể hiểu: Tình yêu đã biến đổi kẻ xấu trở nên người tốt, ác hóa thiện, thằng điên loạn Chí Phèo trở nên hiền lành, ả ngớ ngẩn dở hơi như Thị Nở cũng thành phúc thảo, thiết tha. Đó chính là ý nghĩa hoàn lương sâu sắc của tình yêu gái trai, trong mối quan hệ xã hội và con người. Đọc đến câu thơ:
                  Vườn xuông trăng nở nụ cười...
    Ta thấy rõ thái độ cảm đồng của nhà thơ về cuộc tình Thị Nở - Chí Phèo đó. Thời ấy, tầng lớp thống trị đã đẩy chúng ra khỏi lề cuộc sống như một quái thai. Một cuộc tình không luật pháp công nhận. Ấy vậy mà, với tính chân thiện và lương tri... nhà thơ đang ca ngợi chúng. Hai chữ " vườn xuông..." mà thật đầy hương vị. Cả đến bóng trăng còn... " nở nụ cười" . Cảnh tình trở nên huyền ảo, rung rinh.
                  Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau...
    Cùng với câu thơ: Khi tình yêu đến bõng nhiên thành người! - Tạo thành hai câu thơ hay nhất bài.
     " Tan chảy vàng mười trong  nhau..." là thứ vàng thực sự của lương tri, thảo thơm và thanh khiết tựa thiên thai. Là một tình yêu không vụ lợi, không tính toán.  Chúng trao nhau hết thảy, trái tim cùng thể xác lẫn linh hồn. Tình yêu ấy tự nguyện và khát vọng!
     Bài thơ viết theo thể lục bát được chia ngắt làm ba đoạn, mỗi đoạn bốn câu, chuyển đoạn là chuyển tứ. Các tứ tuy vẫn nhất quán trong chủ đề tình yêu, nhưng được phát triển từ chuyện đến đời một cách khái quát, hàm súc.
     Đoạn thơ cuối được tác giả đúc rút ra qua thực tiễn, những ý nghĩa về tình yêu - cuộc sống:
                   Giữa đời vàng lẫn với thau
                   Lòng tin còn chút về sau để dành
                   Tình yêu nên vị cháo hành
                   Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi!
     Ngẫm ra: thì đời nào, thời buổi nào... "vàng lẫn với thau " cũng có. Nhưng anh vẫn tin, lòng tin ấy không đặt vào bất cứ một giá trị vật chất nào, mà vào tình yêu của trái tim! Chỉ có "tình yêu trái tim" mới đầy đủ khả năng hoàn thiện, dẫn dắt nhân tính con người cùng xã hội tốt đẹp hơn! Đó chính là nhân sinh quan của nhà thơ và cũng là tính nhân bản trong thi ca. Khi ta đã có một tình yêu thực sự trong nhau... thì:
                   Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi!
      Bài thơ "Trăng nở nụ cười" đã được kết thúc ở đó, một cách rất... "hương vị cháo hành", mà thấm đầm nghĩa tình chốn nhân gian.

READ MORE - LÊ ĐÌNH CÁNH VÀ BÀI THƠ TÌNH THỊ NỞ- CHÍ PHÈO - Phạm Ngọc Thái

ĐỢI YÊU - thơ Bình Địa Mộc



cỏ mềm đợi giọt sương đêm
nắng lên lá nõn nà thêm một ngày

giếng trong đợi mảnh trăng gầy
cau hai hàng cúi đầu say đắm nhìn

hoang đồng nứt nẻ chân chim
đợi cơn mưa đất lặng im thầm thào

dây tơ hồng quấn quanh rào
đợi duyên thắm lẳng lặng bào nhẵn trưa

yêu em tôi khắp nơi thưa
rằng xin đợi dẫu tuổi vừa năm mươi

tình già đôi lúc bập bươi
quờ tay đâu cũng đụng người năm xưa ...

Sài Gòn, 23.04.2014
Bình Địa Mộc

READ MORE - ĐỢI YÊU - thơ Bình Địa Mộc

TÂM SỰ VỚI EM - thơ Trúc Thanh Tâm



Quê hương đã qua mùa chinh chiến

Vẫn còn đọng lại nỗi buồn xưa

Em giấu đời mình trong nuối tiếc

Chiều xuống mình ta, chợ Hàng Dừa


Mùa hè tám chín rời Tham Tướng

Bỏ lại Cần Thơ phía trời xa

Kỷ niệm học trò vù trôi mất

Đã lỡ tình nhau một chuyến phà


Mấy chục năm rồi nơi đất khách

Yêu dấu một thời chỉ chiêm bao

Ta nhìn hạnh phúc mà bật khóc

Vết thương đau sao lại ngọt ngào


Đôi lúc muốn dửng dưng thế sự

Nhưng dòng đời đâu có ngừng trôi

Ôi, vinh nhục những ai từng trải

Mộng phù du của một kiếp người


Thôi em nhé, chuyện đời cứ để

Như trời đang làm chuyện nắng mưa

Vài trăm năm biết ai còn nhắc

Chuyện hôm nay đau khổ quá thừa !


Tháng 4. 2014

TRÚC THANH TÂM





PHỤ CHÚ :

Chợ Hàng Dừa: Người dân xứ nầy biết ngay là chợ Cần Thơ.

Tham Tướng: Nơi đây xưa có cầu và chợ mang tên Tham Tướng (Giờ thì cầu không còn nữa, chỉ còn lại chơ tên Xuân Khánh, thuộc phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ ).


READ MORE - TÂM SỰ VỚI EM - thơ Trúc Thanh Tâm

Thursday, April 24, 2014

PHẬT ĐẢN QUA CÁI NHÌN LỤC PHƯƠNG - Mặc Phương Tử








Là một trong những vị thầy, bậc đạo sư sống và hành động tốt về giáo lý của Đức Phật, ở miền Đông Tây Tạng, đó là Za Patrul Rinpoche, Ngài đã có lời phát biểu đến với chúng ta rằng : “ Chúng ta cần hiểu rằng: chúng ta đã có phước đức được sanh trong một thế giới nơi đã có một Đức Phật đến và dạy Pháp, và chúng ta đã gặp một vị thầy tâm linh và những giáo huấn của Ngài. Bấy giờ là lúc chúng ta phải dùng cuộc đời làm người quí báu nầy để tiến bộ trên con đường giải thoát.”



Đó là lời phát biểu, lời dạy quí báu của bậc thầy, bậc đạo sư giúp cho chúng ta tự tin, gần gũi và hiểu biết về Đức Phật và giáo lý của Ngài, mặc dù dòng thời gian đã trải qua trên hai ngàn năm trăm năm. Năm nay, đại lễ Vesak lần thứ 11, năm 2014- PL. 2558, lại một lần nữa được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội. VN. Đây là một trong những cơ hội giúp cho Tăng Ni Phật tử VN tự tìm về sự khởi động bổn nguyện đầu tiên khi Đức Phật hiện hóa đến hành tinh mà chúng ta đang có mặt. Không phải chỉ vì niềm tin tín ngưỡng, cầu xin khát vọng lòng tham của bản chất phàm phu, để chúng ta mới đến với Đức Phật hay Đạo Phật.





Nhân dịp nầy, chúng ta cùng hướng về  đoạn Kinh Ưu Bà Di, để cùng cảm nhận tính cách vĩ đại bất tuyệt của Đức Phật hơn bao giờ hết, như :



Thị Đông Phương giả, vị chư chúng sanh tác đạo sư cố” (nhìn về phương Đông, vì các chúng sanh, nên làm người dẫn đến tối thượng).

Phương Đông là phương mặt trời lên, mở đầu cho một ngày, khởi động ánh sáng và sự sống, sinh hóa cho muôn loài vạn vật. Nhưng với sự sanh trưởng bởi những chen lấn tham chấp đưa đến ác tri kiến, lấy ác tư duy phục vụ cho mọi sự sinh tồn, từ cá nhân đến tập thể, từ quan điểm ý thức nầy đến quan điểm ý thức khác, từ chủng loại nầy đến chủng loại khác.v.v… để rồi từ đó tạo thành nguồn lực tác động  cạnh tranh và đấu tranh, đưa đến tàn hại, nhiệt não, khổ đau, đọa xứ…



Chính vì thấy rõ sự bất toàn ấy, mà bổn nguyện đầu tiên của Đức Phật hướng về Phương Đông, dùng những pháp an bình tối thượng để hướng dẫn chúng sanh, để thiết lập một nền móng giáo dục, nhất là đối với loài người đang làm chủ trên hành tinh cuộc sống, nhận biết rõ giá trị đạo đức tâm linh, thấy và biết, tôn trọng và bảo vệ môi trường sinh thái trong mọi lãnh vực, và sự bảo vệ ấy đưa đến tuyệt đỉnh, chính là ý niệm tỉnh giác của tâm hồn trong mỗi chúng ta. Sự lợi lạc ấy sẽ lan tỏa những ý vị hạnh phúc cho chúng sanh, chư thiên và loài người, tạo thêm những nhân tố phước đức, một trong những điềm lành khi Đức Phật xuất hiện, đó là :”khi Đức Phật xuất hiện, thì tất cả cây có hoa đều trổ hoa, tất cả loại cây có trái đều tự nhiên kết trái.” (kinh Ưu Bà Di). Đó chính là sự thành tựu pháp của bậc thánh thuyết, giúp cho số đông loài người được an lạc thân tâm.v.v… Đó là đạo lộ thứ nhất hay bước đi thứ nhất của Đức Phật.



“Thị Nam phương giả, vị chư chúng sanh tác lương phước điền cố.” ( nhìn về phương Nam, vì tất cả chúng sanh, mà hướng dẫn làm ruộng phước, quy giới, tu tập các thiện pháp).

Nếu phương Đông là phương kết tinh tụ hội bắt đầu cho mọi sự sống của vạn vật, và với nguyện lực cũa Đức Phật là bậc đạo sư để hướng dẫn cho một lối đi, một nền tảng cho sự sống ấy. Do đó, đối với Phương Nam, với nguyện lực của Đức Phật, là vì sự sống của chúng sanh cần phải có sự tăng trưởng mọi nguồn lực tốt đẹp, đem lại sự lành mạnh chung cho con người và muôn loài, tức là tạo tác duyên-phước lành. Vì sự tụ hội của con người càng đông nhiều, thì lực tác động thiện và bất thiện càng mạnh trong môi trường sống trong mỗi lúc, mọi nơi.v.v…



Cũng chính vì vậy, mà tinh thần Đại Bi và Đại Trí của bậc đạo sư khi xuất hiện vào đời, là cần phải chuyển hóa những nhân tố ác xấu trở nên thanh thiện, những nhân nghiệp đọa lạc tội lỗi trở nên bình an hạnh phúc và siêu thoát. Bởi vì :”Vô lượng chư Phật đã ra đời để làm lợi lạc chúng sanh. Nhưng do tội lỗi quá khứ mà ta không gặp được sự cứu độ của các Ngài.” (Shantideva).



Chắc chắn rằng trong mỗi chúng ta một khi có mặt trong đời, không một ai muốn mình phải rơi vào hạ liệt, nghèo hèn và đau khổ. Thế nhưng, hạnh phúc chỉ đến với chúng ta bằng mọi hình thức của hành động tốt, tương thân tương ái là hành động tốt, biết bố thí tài vật và hiểu biết đúng đắn là hành động tốt, biết tôn trọng và tôn kính các bậc Thánh đức, Hiền nhân, là hành động tốt, biết hướng tâm hướng thượng trở về tu học và thực tập các pháp lành của bậc Thánh là hành động tốt.v.v…Đó là những nhu cầu cần thiết có được các công đức, và phước lành cho con người cho cả cõi đời hiện tại và mai sau, để tránh cho sự sống không bị lầm lạc, hổn loạn, mất nhân tính, đảo lộn trật tự, tạo kết nhiều ác xấu, não hại trong xã hội… Đây là nguyện lực trên đạo lộ bước thứ hai của Đức Phật.



“Thị Tây phương giả, vị chư chúng sanh dĩ tối hậu thân cố” (nhìn về phương tây, vì chúng sanh là thân sanh tử cuối cùng, cần được thanh lọc tâm ý, chấm dứt luân hồi.)

Vì muốn đem đạo giác ngộ giải thoát sanh tử khổ cho chúng sanh, Đức Phật mượn thân tứ đại giả hợp nầy, đến với cõi đời để thắp lên ánh sáng chơn lý cho chúng sanh được tỏ thông đạo lý. Do đó, bài pháp “Vô Ngã Tướng” Đức Phật đã thuyết minh về thế giới 5 uẩn và 5 thủ uẩn, nhằm giúp cho chúng sanh thấy rõ tiến trình sanh hóa và tiêu tàn của các pháp vạn vật và chúng sanh, với lời dạy tỉnh thức giữa cuộc sống trong cõi dục, ô nhiễm, tham động, đầy dẫy sự bon chen và đấu tranh, đưa đến tàn hại và hủy diệt do sự tối tăm của dục tham, dục sân và dục tưởng của chúng sanh, như : “Cười gì, hân hoan gì, khi đời mãi bị thiêu. Bị tối tăm bao trùm, Sao không tìm ngọn đèn ?”PC. 146.



Chúng ta càng nhận biết thêm lời dạy khác của Đức Phật, rằng : “Với những ai nói hay suy nghĩ chơn chánh như sau : ít oi là đời sống con người,nhỏ bé không đáng kể,, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí tuệ hãy giác ngộ ! Hãy làm điều lành ! Hãy sống phạm hạnh ! Với người đã sanh, không có bất tử….” (kinh Tăng Chi, chương 3).



Với chừng ấy lời dạy, chúng ta thấy Đức Phật đã giúp cho chúng sanh những gì…? Bậc đạo sư đã nhấn mạnh vào sự sống ngắn ngũi, bọt bèo của dòng đời, chỉ vì sự bận rộn, chật hẹp tâm tư, những tư duy cùn mụt, tạo tác khổ lụy quanh quẩn qua bao ngõ thế đời, nên không tận hưởng được cõi giới của bậc Hiền-Thánh. Qua cái nhìn khác, chúng ta thấy Phương Tây là phương mặt trời lặn, là cõi giới bình yên tịch lặng như như, sau khi đã thanh lọc tâm ý, chuyển dòng lực nghiệp để được tịnh hóa, vượt thoát tử sinh, với sức vi diệu mầu nhiệm ấy, nay đã trở thành pháp thân hiển bày muôn trùng pháp duyên và vô tận thời gian. Như vậy, chính vì mượn thân sanh tử để chuyển tải đạo giác ngộ giải thoát, đem đến chúng sanh chư thiên và loài người nguồn an lạc đích thực, và chấm dứt sự khổ đau. Đó là nguyện lực hay đạo lộ thứ ba của Đức Phật khi xuất hiện.



Thị Bắc Phương giả, vị chư chúng sanh ngã đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (nhìn về phương Bắc, vì chúng sanh mà thị hiện ra cõi đời ngũ trược bằng thân người mà thành tựu quả Chánh Đẳng Chánh Giác, thuyết minh chơn lý thực tướng giải thoát cho chúng sanh).



Đức Phật hay chư Phật xuất hiện vào đời không ngoài mục đích giúp cho chúng sanh trở về nhận ra bản giác tự tánh vốn thanh tịnh xưa nay, và sự chiến thắng vô song, đó là tinh thần bất tuyệt của dòng dõi chư Phật ba đời, cũng phải bắt đầu từ sự kiên trì và nổ lực, đồng thời với tinh thần tỉnh thức chủ lực vẫn là “Không-Vô tướng-Vô tác.”  Cái nhìn từ mọi sự vật hiện tượng…



Thế nhưng, đức Phật lại phải chỉ về phương Bắc mà thệ nguyện ; vì chúng sanh mà ra đời bằng chiếc thân 5 uẩn nầy, để thành tựu quả Phật và trình bày giáo pháp. Điều nầy giúp cho chúng ta cần quán chiếu rằng: đứng về hình thức của quả địa cầu, thì phương Bắc thường dày đặt bởi băng tuyết, giá lạnh, ảm đạm, trầm nặng u tối, khó có những sinh vật tăng trưởng.v.v… Cùng cách ấy,  giống như một tâm hồn không bén rễ với các thiện sự và phát sinh lòng kính tin vào Tam Bảo. Hay nói một cách khác, chính là một thế giới ở phía Bắc của ngọn núi Tu di, một trong những cõi trời Dục giới, vì mãng lo thọ hưởng phước, đam mê bởi đời sống nhiều lạc thú thiên giới, để khi phước hết, thì bị đọa vào ba đường khổ, hay trở lại cõi người, mà không khởi tâm tu học pháp của các bậc Thánh, đôi khi chỉ biết dựa dẫm tín ngưỡng cầu nguyện suông bên ngoài, thì càng đánh mất đi năng lực trí tuệ, và sự kiên định nơi chính mình. Do đó, chỉ có bậc đại bi đại trí, minh triết viên mãn mới đủ năng lực chuyển hóa cho chúng sanh chư thiên và loài người nhờ công đức thù diệu từ nơi đức Phật khi vừa thị hiện, như : Khi Bồ tát sanh, thì người đi thuyền bị trôi được trở về. Vì Bồ tát đắc nhập Bát Chánh Đạo để dạy chúng sanh.” (kinh Ưu Bà Di). Đắc nhập Bát Thánh Đạo là đạo lộ duy nhứt của ba đời chư Phật, là con đường dẫn chúng sanh về cõi Phật giới thênh thang, chấm dứt sự trôi dạt xuôi theo dòng lạc thú cõi đời, như người bị trôi thuyền được về lại bến cũ.



Vì muốn đem lại lợi ích đích thực cho chúng sanh, nên Phật thi hiện có tu tập, có chứng đắc, và có du hóa, để lại pháp thân vi diệu muôn đời cho chúng sanh quá khứ và đến mai sau, ở lời dạy khác, Bồ tát Tịch Thiên dạy : “ Được gặp Phật xuất thế, được làm người có lòng tin Phật thích hợp để tu thiện hành, đấy là những điều kiện hiếm có, biết bao giờ ta mới được lại ?” (Nhập Bồ Tát Hạnh – 15). Như vậy là đạo lộ thứ tư mà đức Phật thị hiện vào đời.



“Thị Hạ phương giả, vị chư chúng sanh, dị dục hàng ma cố.” ( Nhìn về phương dưới, vì chúng sanh mà thị hiện hàng phục các loài ma…)

Hơn ai hết, từ các bậc Thánh Hiền, đức Phật là vị thầy tối tôn, là bậc có vô lượng công đức, có đầy đủ lục thông, với Phật trí  Ngài thấy và biết rõ hành sự các loại chúng sanh phàm tâm hạ liệt từ trong cõi giới chư thiên và loài người. Và cũng hơn bao giờ hết, cuộc chiến đấu gay gắt nhứt, lại cũng xuất phát từ cái thiện và cái ác, cái chơn chánh và cái bất chánh.v.v… Có nhận nhận thức, rõ biết như thế, đức Phật giúp cho chúng ta tự đặt cho mình một sự quyết định minh triết, một hướng đi như pháp, là : “… Ai điều phục được tâm, thoát khỏi ma trói buộc” (Pc.37).



Nhìn về phương dưới, là nhìn vào tầng lớp thấp kém, phiền tạp, hổn độn của chúng sanh, những điều quấy nhiểu đàn áp và bất an, những điều khổ đau và đọa lạc, nó luôn diễn biến cuồng vọng của tâm hồn, quay cuồng theo ý tưởng ác quấy, nhằm tạo tác xung đột áp đặt vào nhau giữa chân thật và dối trá, giữa tham ác và hiền thiện, giữa biết ơn và vô ơn, giữa đức hạnh và gian tà.v.v…



Giáo dục và đạo đức luôn là nền tảng nhân bản chuẩn thằng của con người, nhưng bởi sự manh động do những quyền lợi ích kỷ và thế lực tôn quyền, thì đây chính là lực lượng của ma vương đang và đã bảo vệ thành trì của ma vương. Như vậy,  Ma ; là những gì làm mất đi những tinh chất đạo đức và giáo dục, làm đảo lộn sự thăng bằng trật tự đạo lý đời sống con người trong xã hội. Ma, còn có nghĩa là đánh đổ đời sống đức hạnh. Các bậc Thánh Tổ cho rằng : “ Phật, đấng luôn nói lên sự thật, đã dạy rằng; tất cả những nỗi lo sợ cùng vô lượng thống khổ đều từ tâm mà sanh ra.” Do đó, với nguyện lực của Đức Phật thị hiện vào đời vì chúng sanh mà Ngài trình bày pháp để hàng phục ma nơi cõi đời và nơi chính mỗi tâm dục tham, phiền não và mê lầm của chúng sanh, để được cuộc sống an tịnh lạc, vượt thoát mọi trói buộc của lưới rập ma vương, dứt trừ tội nghiệp. Như vậy là bổn nguyện hay đạo lộ thứ 5 của Đức Phật thị hiện vào đời.



“Thị Thượng phương giả,vị chư chúng sanh quy y thiên nhơn cố” (Nhìn về phương trên, vì chúng sanh mà làm chỗ nượng tựa của trời người, hướng về Tam Bảo).

Đối với Đức Phật, không những là vị thầy tối tôn của các hàng trời người, Ngài còn là vị thầy siêu vượt trong hàng Tứ thánh, Bồ tát và Duyên giác. Và hơn thế nữa, trong những bậc đạo sư, giáo chủ, thị hiện vào đời tuyên thuyết khai mở con đường, thì con đường mà đức Phật trình bày luôn thắp sáng lộ trình nhân sanh và võ trụ, vì đó là chơn lý lẽ thực tự nhiên, sanh hóa và tiêu tàn của các pháp chúng sanh vạn vật, với chân trí chứng hiểu của Đức Phật, đã trở thành 10 đặc ân siêu hóa thù diệu cho chúng sanh.



Con đường (hay giáo pháp) của Đức Phật có hiệu năng hướng thượng, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, chứng và trú vượt thời gian, vì đó là chân nghĩa pháp thanh tịnh, có năng lực giúp chúng sanh một khi thực hành sẽ được an lạc trú, chấm dứt sanh tử.Và đối với chúng Tăng, đệ tử của Đức Phật đã thành tựu Thánh hạnh, là nền tảng niềm tin tuyệt đối, bởi do có một đời sống nghiêm túc, trung thực với mọi hành sự, đoạn diệt pháp trần cấu, thành tựu những pháp hành, xứng đáng làm ruộng phước cho trời người.



Thế nhưng, qua cái nhìn khác, ngay ban đầu đức Phật đã lập nguyện sẽ là vị đạo sư hướng dẫn cho chúng sanh thấy và biết con đường vô thượng, sống một nếp sống hạnh phúc và chơn chánh, nhận ra được rằng các pháp hữu vi là vô thường, khổ, vô ngã, cũng như phân biệt rõ các cõi giới thấp kém, tội lỗi đưa đến khổ đau cho mình và cho người.v.v… Nhưng tựu trung qua những lời lập nguyện của Đức Phật hướng về 6 phương vẫn không ngoài tinh thần thuyết minh lý cơ bản Tứ Diệu Đề trong thế giới hằng hữu nầy. Và 6 phương ấy cũng chính là những hoạt dụng tâm thức của mỗi chúng ta đã và đang hiện hữu trong thế gian. Một khi con người có sự cần cầu hướng thượng, an ổn không còn bị các khổ ách do tu tập pháp của Đức Phật trình bày, do thánh đệ tử thực hành tu tập, và truyền thừa bất tận nguổn chân pháp, chân nghĩa ấy. Đây chính là sự trở về nương tựa nơi mỗi tâm hồn của chúng ta ngay trong hiện tại, bây giờ.



Thế giới con người hôn nay, không một quốc gia tiến bộ nào lại không chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tinh thần trở về một đời sống gieo đầy mầm Phật chất, để thật sự có ý thức, thể hiện quan điểm vì quyền sống và hạnh phúc của con người, vì môi trường và bảo vệ môi trường từ mọi lãnh vực sinh hoạt trong cộng đồng cuộc sống nhân loại, và trừ khử những sai lầm, ác quấy, phi đạo đức, phi giáo dục, phi nhân tính. Ngay trong pháp luật của tuyệt phần đa số những quốc gia trên thế giới, cũng không vượt khỏi 5 giới căn bản của đức Phật đã dạy cho người đệ tử tại gia, và cũng chính nội dung 5 giới nầy, đã thật sự giúp cho tự thân con người, gia đình, xã hội có một trật tự, lành mạnh và thuần thiện, là nguyên nhân đem lại an lạc và hạnh phúc lâu dài, không những cho cõi người mà còn cho các cõi trời và những cõi giới khác nữa ngay trong hiện tại và đến tận mai sau.



Nhân ngày đức Từ phụ thị hiện vào đời, và ngang qua tinh thần lập nguyện 6 phương của Đức Phật cách đây đã trên 2500 năm về trước, suy niệm và tu tập, phát huy và trưởng dưỡng nguồn năng lực giác ngộ nơi chính mình, thực hiện những điều thiện lành, để được siêu hóa trong dòng luân lạc quay cuồng của thế đời ác trược nầy. Xem đây là một hành động tích cực của những người con Phật chúng ta đồng kính mừng ngày Đản sinh của đức Từ phụ Bổn sư. Và Đức Phật vẫn hằng Đản sinh trong lòng cuộc đời.



                                                 

An Giang, tháng tư 2014,mùa Phật Đản PL. 2558

MẶC PHƯƠNG TỬ










READ MORE - PHẬT ĐẢN QUA CÁI NHÌN LỤC PHƯƠNG - Mặc Phương Tử

Thơ Thúy Ngân - NỖI NHỚ, MIỀN CÁT





NỖI NHỚ



Lất phất mưa rơi

Từng hạt

Từng hạt

Mưa rơi trong lòng

Từng hạt..

Long lanh như nước mắt

Mằn mặn bờ môi

Thấm vào tôi

Cồn cào nỗi nhớ

Kỷ niệm xưa - không thể!

Lất phất

Mưa lại rơi






MIỀN CÁT

                   (Đồi cát Mũi Né)


Gió rát mặt

Hạt cát đến từ đâu?

Kết thành triền sóng

Mênh mông cát vàng

Em gieo hạt giữa miền cát khát

Nguồn nước tưới

Là niềm tin - hy vọng

Trưa nắng hè

Người để lại dấu chân rộp bỏng

Gió phiêu bồng phả cát bằng đi

Óng ánh, mịn màng

Những doi cát xoay vần trong cơn lốc

Độ bấc về, khắc khoải nằm nghiêng

Chợt qua giêng

Nàng trầm tư - thanh thản

Miền cát đợi chờ... !



         Thúy Ngân

           Bưu điện tỉnh Bình Thuận
         nganthuybt@yahoo.com.v
READ MORE - Thơ Thúy Ngân - NỖI NHỚ, MIỀN CÁT