Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, October 4, 2012

Tuyết Mai - TÀ ÁO EM NGÀY ẤY


Tà áo em bay bay theo chiều gió
Giấu nụ cười dưới những bờ môi
Vành nón nghiêng nghiêng mái tóc em dài   
Bao mơ ước ép vào trong trang sách.  

Ngày hai buổi đường dài em đi học
Nắng nhạt màu đẫm ướt giọt sương mai
Một chút mùa đông áo ấm em vàng
Anh chợt thấy mùa xuân về trong mắt. 

Quang Trung phố nhỏ tà áo em xa lắc
Chân bước dồn anh rảo bước sau lưng
Một trời yêu thương trỗi dậy trong hồn
Muốn nói yêu em nhưng sao anh không dám.  

Em biết anh theo sao má em hồng 
Sao em líu ríu chân không vội bước
Tiếng chuông chiều kéo anh vào mơ ước
Bóng dáng em trắng cả một góc đường. 
 
Thoang thoảng tóc em thơm mùi bồ kết                   
Áo chưa ôm tròn vóc dáng thon thon                    
Nét ngây thơ chao bím tóc em mang
Anh yêu mãi tà áo em từ dạo ấy.                              

Tuyết Mai
phaimai@yahoo.com
TP HCM
READ MORE - Tuyết Mai - TÀ ÁO EM NGÀY ẤY

KỶ NIỆM ĐẦU - Nguyễn Thanh Bá họa thơ Cảm Hoài của Lê Thiên Minh Khoa


Họa:

KỶ NIỆM ĐẦU
Nguyễn Thanh Bá

Giã biệt nhau rồi người ở đâu ?
Để buồn gối lẻ thức canh thâu
Đường hoang màu nắng chừng phai nhạt
Vườn lạnh sắc hoa cũng héo sầu
Nhìn thác Ba Lòng lòng quạnh quẽ
Ngắm trăng Vỹ Dạ dạ buồn đau
Chiều nương cánh nhạn mờ sương núi
Vương đọng trong ta kỷ niệm đầu.

Nguyễn Thanh Bá


Xướng:

CẢM HOÀI
Lê Thiên Minh Khoa

Có phải đi rồi đi mãi đâu !
Người đi để lại những đêm thâu
Mòn khuya chỉ một mình em thức
Nhầu tóc còn bao nửa sợi sầu
Nhìn ngọn Chứa Chan chan chứa nhớ
Trông dòng Thương Bạc bạc thương đau
Chừ tang thương quá, thương thương lắm
Chưa thấy trùng dương đã trắng đầu!

                      LTMK
 
READ MORE - KỶ NIỆM ĐẦU - Nguyễn Thanh Bá họa thơ Cảm Hoài của Lê Thiên Minh Khoa

Nguyễn Thanh Xuân - CHUYỆN DỄ BỎ QUÊN (KÌ 2)


Tác giả Nguyễn Thanh Xuân và bác Nguyễn Văn Hiên - Ảnh từ trang blog của Lê Đăng Mành
 
Do hoàn cảnh khá đặc biệt như trên đã nói, 32 người (trong đó có tôi) ồ ạt ra Bắc chưa một lần có cuộc gặp mặt.

Ai cũng biết làng ta ra tập kết khá đông, nhưng không ai nghĩ ra chuyện thống kê có bao nhiêu người, nói chi đến chuyện gặp nhau. Nói băng một chút: cho đến thời điểm nhạy cảm nhất là ngày thống nhất (30-4-1975). Ra Bắc hơn 21 năm, là những người đi về phía chiến thắng, hãnh diện háo hức về nhà, về quê… Bỏ qua chuyện chính quyền xã thôn thăm hỏi, trình báo. Bây giờ liệu có người nào chưa về với quê lần nào? Ai biết! Và cũng bây giờ ai biết họ (từng người) hiện cư trú ở đâu. Chắc chắn rằng trưởng thôn không biết. Không trách trưởng thôn được vì hộ tịch hộ khẩu mới lập sau ngày 30-4-1975. Chỉ (xin đề nghị) có một tổ chức phi chính phủ ở làng (người hảo tâm và tâm huyết đứng ra) hay tổ chức mặt trận đứng ra làm mới được. Cũng có người hỏi: làm để làm gì? Chắc rằng mỗi người trả lời một khác.
 
   Nếu có thể cũng nên thống kê dân số (số đinh, số dân) làng ta có trước 1945. Có công phu một chút nhưng làm đươc vì thời gian chưa xa và người lớn tuổi đang còn nhiều. Chỉ cần cầm sổ đi hỏi từng nhà, nếu chưa tin chắc, truy tìm thêm trong gia phả, tộc phả. Để càng về sau thì không làm nổi nữa. Cũng có người hỏi: Làm để làm gì?

    Biết được số dân và dân trí của làng năm 1945, ta thấy được qui mô tăng trưởng về chiều rộng, chiều sâu của chúng ta mà học tập, mà tự hào, làm nhân tố tích cực cho sự phát triển bền vững của quê hương. Xin lỗi, tôi nêu hơi ngoài chủ đề bài viết một chút.

Trở lại người ra Bắc, không ai chủ trì nắm, ai biết phận mình, muốn biết cũng không biết được.

Tôi lấy cá nhân tôi làm ví dụ. Nhà nước vừa thoát ra cuộc chiến tranh khốc liệt… trăm thứ mới, ngàn thứ mới. Ở Nghệ Tĩnh, lúc đó đê vỡ, dân tình đói khổ. Chung quanh mình toàn người lạ, cảm thấy bơ vơ, mà bơ vơ thật. Sau khi tôi tự nguyện làm công nhân công trường đại đội 313 ít lâu thì gặp Nguyễn Đức Bốn đến làm công nhân đại đội 314, tiếp đó Nguyễn Đức Ba vào làm công nhân đại đội 316. Công trường Nông Giang bắc Nghệ An người làm đông lắm. Ra hiện trường đôi lúc gặp nhau, rời hiện trường ai nấy về nhà dân ở rải rác mấy xã nên rất ít gặp và chuyện trò. Công việc ngày nào cũng như ngày nào, nhàm chán. Tôi cũng không nhở cái Tết đầu tiên xa quê (Ất Mùi - 1955) ăn Tết thế nào. Có khi tự hỏi vẩn vơ (đài báo không có). Lâu lâu nghe Tuyên huấn về nói chuyện, là chuyện tuyên huấn nói theo bài tuyên huấn, không trúng bài trong đầu mình nhưng nào dám hỏi. Tuy vậy công việc tôi làm hăng lắm, năng suất nhất nhì trong đơn vị.

Đùng một cái, tôi bị dính vào “phần tử bất hảo” trong CCDC, sau đó tôi nghe phong phanh Nguyễn Đức Bốn cũng bị. Từ đó, chúng tôi không gặp được nhau nữa do bị tước công quyền. Chính tôi cũng không biết mình bị nặng như vậy, mặc dầu bên tôi luôn có hai người (từng cặp) công khai bàn giao nhau (có sổ) giám sát và quản lí (những người đó cũng trong đơn vị). Họ đi theo tôi là cho có thế thôi, còn tôi thích gì là tôi làm, kể cả vào hiệu chụp ảnh ở Thị xã Thanh Hóa. Tôi chỉ nói: ảnh thì mình cất kĩ, các bạn thì xem như không thấy (cười).

   Với tôi, tôi tự bằng lòng cái may, cái rủi mà bản thân có được: cái rủi đứt từng khúc ruột; cái may lại nở từng khúc ruột. Tôi dùng khái niệm may rủi (có phải là mê tín? ) để diễn đat nội dung nói trên, chứ cho đến bây giờ tôi chưa “Đã tin điều trước ắt nhằm điều sau” (Nguyễn Du), hay như Đức Khổng “tích thiện phùng thiện” hoặc như Đức Phật “nhân nào quả nấy”. Tôi nghĩ đó là lời khuyên, lời răn, lời dạy. Có lúc tôi cho khái niệm (may rủi) ấy thuộc phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên. Qua đó, tôi cũng như nhiều bạn cũng na ná như tôi, tất nhiên không loại trừ sự tự vươn lên và tự buông thả.

    Suốt hai năm chờ Nhà nước hiệp thương, tôi tự thương mình. Tôi cũng không nhớ là có nhớ nhà hay không vì lúc đó tôi tự nghĩ: mình như không phải là mình trước khi đi tập kết. Có cái hay là ở đâu tôi cũng được giao cho dạy bổ túc văn hóa, mà dạy thì phải đọc sách để trả lời học sinh. Thế là có thêm nghề đọc sách ngoài nghề lao động.

    Chuyện trên trời rơi xuống, tôi được đi học ở trường Trung cấp Nông lâm Trung ương tận thủ đô Hà Nội, trong lúc tôi đang bị quản thúc. Khi tốt nghiệp ra trường, tôi có nhật ký thơ “Trường giữa Thủ đô”.  Thời gian sau tôi có bài “Độc thoại” xin trich ba khổ đầu:

                 1. Tôi cũng không ngờ thật
Đang bị tước công quyền
Được đi học Trung cấp
Nghe tin sướng như điên
Mừng rưng rưng nước mắt

                 2.  Tôi cũng không biết nữa
Đến Hà Nội tựu trường
Ra ngay mé sông Hồng
Thấy phù sa như lửa
Trời cao xanh mênh mông

                 3.  Tôi không hiểu nổi tôi
Học mà như ăn cướp
Ba năm dồn kiến thức
Tốt nghiệp đẹp bằng người
Vượt xa tầm mơ ước
…..
    Ra Hà Nội trong những năm 1957-1960, tôi có điều gặp được người làng như Nguyễn Đức Châu ở Xưởng sửa chữa xe lửa Gia Lâm; Nguyễn Đức Chúc, chỉ huy Đoàn vận tải Cơ giới của quân đội ở Văn Điển; Nguyễn Đức Bảng giám đốc Xưởng Cơ khí 1-5; Nguyễn Thị Hồng ở 23 Lò Đúc, bộ Nông nghiệp; Bà Tươi, kho vật tư Thương nghiệp ở Bích Câu; Nguyễn Đức Ba ở Xưởng sửa chữa ô tô 73 Lý Thường Kiệt; Nguyễn Đức Bốn Xưởng Hóa chất Đức Giang; Nguyễn Đức Mau đội sửa chữa cầu Long Biên; Nguyễn Đức Khanh và Nguyễn Đức Năng học Trường Trung cấp Sư phạm ở Cầu Giấy…

    Tôi dồn sức học 6 ngày trong tuần. Từ 17 giờ chiều thứ bảy cho đến 17 giờ chủ nhật là thoải mái đi chơi. Chủ nhật nào cũng đi nên tất cả chỗ ở của những người nói trên tôi đều đến nhà (cơ quan, nhà tập thể). Có nhiều đêm thứ bảy ngủ nhà bạn, nhiều nhất là Nguyễn Đức Ba. Hè 1958 về Hải Phòng thăm, ngủ đêm nhà Nguyễn Đức Chiêu ở Nhà máy xi măng Hải Phòng. Riêng Hà Nội cũng đông đấy chứ, nhưng không ai nghĩ ra chuyện gặp mặt đồng hương.
    Đến cái tết thứ ba (1957), được dự cuộc gặp mặt đồng hương tinh Quảng trị. Đặc biệt lần này có Đ/c Lê Duẩn (trong Nam vừa ra), chủ tịch đồng hương Tỉnh Đặng Thí, giới thiệu rất kính cẩn. Thực tình lúc ấy tôi chưa biết ông Duẩn làm chức vụ gì, chi biết ông ngồi trên và ai cũng nể trọng; nhiều nhà văn nhà thơ trong đó có nhà văn Hồng Chương, nhà thơ Chế Lan Viên, nhà thơ Lưu Trọng Lư mà tôi đã đọc tác phẩm và ngưỡng mộ.

    Nội dung cuộc gặp mặt đồng hương hôm đó ngắn gọn nhưng đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp, tôi sẽ trình bày tiếp trong bài “Chuyện dễ bỏ quên kỳ 3”


Kính chào bà con
Nguyễn Thanh Xuân
Email:  nhuxuan29@gmail.com

READ MORE - Nguyễn Thanh Xuân - CHUYỆN DỄ BỎ QUÊN (KÌ 2)

TÌNH QUÊ - Phạm Hòa Việt


Hồ Long Ẩn - Bửu Long - Biên Hòa - Đồng Nai


Gió đưa sương sớm ngát hương trang
Thấp thoáng hàng tre lóe ánh vàng
Một thuở Cù Lao đò bến đợi
Mơ về Long Ẩn khách thuyền sang
Sông Đồng núi Bửu tình Chan Chứa
Nước Hản non Mai nghĩa Phố Làng
Dạo bước quanh hồ lòng rộn rã
Tình quê đôi ngã dạ đa mang...



    Phạm Hòa Việt
hoavietqt@yahoo.com.vn
READ MORE - TÌNH QUÊ - Phạm Hòa Việt

Wednesday, October 3, 2012

CHÙM THƠ MÙA THU - Hoàng Văn Chẩm

Tác giả HOÀNG VĂN CHẨM

CHO EM TÌNH THU

Em yêu mùa thu bao giờ 
Đêm chong mắt đợi giấc mơ nghìn trùng                               
Chia đều nhau một tận cùng                               
Đêm hồi sinh ngọn lửa nồng nàn duyên

Như giọt sương tan vô biên                               
Thảo thơm áo lụa giữa miền cỏ hoa                               
Em yêu mùa thu chia xa                               
Phương em cúi mặt phương ta ngậm ngùi.



MÙA THU XA EM 
                                                            
Ru em cơn mộng nữa vời                               
Mùa thu ở lại níu thời xuân qua                               
Em nghiêng mình giữa mùa hoa                                
Ngày về không đợi người xa bỗng gần
                           
Tìm nhau trả chút nợ nần                               
Em về trong mắt một lần đẩy đưa                               
Ru em một nữa cơn mưa                               
Chiều rơi nỗi nhớ tình vưa lên men  
                            
Lá thu phai nhẹ gót sen                               
Em tan hơi thở chong đèn từng đêm                               
Ta đong một bờ môi mềm                               
Ru em từ ấy đời thêm mặn nồng 
                               
Bên nhau đốt ngọn nến hồng                               
Mênh mông em một bế bồng ban sơ.

                                     
                                  
PHÔI PHA THU VÀ EM
                                
Em về hái một mùa thu                                 
Nắng phai chiều xuống hoang vu lòng người
                                
Xa nhau nhặt trái buồn rơi                                
Lá diêu bông thắm một lời sang ngang
                                
Mượn câu thơ giữa muộn màng                                 
Theo chân em giữa thênh thang góc trời
                                
Mượn thêm một giọt chiều rơi                                
Ai ru tóc gió buông lời trăm năm
                                
Em về bỏ mặc xa xăm                                 
Mù sương ngàn bước kêu thầm một tên.  
  
                                                                           HOÀNG VĂN CHẨM  
     hoangvancham@yahoo.com                       
READ MORE - CHÙM THƠ MÙA THU - Hoàng Văn Chẩm

Tuesday, October 2, 2012

CHÍ PHÈO DIỄN CA 1- Nguyễn Tường

Tác giả Nguyễn Tường

Diễn ca hay thi hóa một tác phẩm là chuyển hình thức của tác phẩm đó từ văn xuôi sang văn vần, có thể dễ dàng truyền miệng vì dễ nhớ nhờ có vần và nhạc điệu. Nói cách khác, diễn ca là đại chúng hóa một tác phẩm bằng cách chuyển từ văn viết sang văn truyền khẩu để gần gũi với hình thức phổ biến của văn chương bình dân: tục ngữ, ca dao, hò, vè,...

Với mục đích đó, cha ông ta đã chuyển lịch sử Việt Nam sang văn vần.

Nghìn thu gặp hội thăng bình,
Sao Khuê sáng vẻ văn minh giữa trời.
Lan đài dừng bút thảnh thơi,
Vâng đem quốc ngữ diễn lời sử xanh.
...
là đoạn mở đầu Chương 1: Nhà Hồng Bàng của Đại Nam Quốc Sữ Diễn Ca.

Những câu sau trong đoạn Hai Bà Trưng dựng nền độc lập được nhiều người thuộc:

Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
...

Để dễ học, người ta còn vần hóa những bài chữ Hán (Tam tự kinh), Pháp Văn, toán...

Gần đây, nhà thơ Phạm Thiên Thư đã thi hóa nhiều bộ kinh, "làm cho giáo lí của đức Phật gần gũi và dễ nhớ đối với mọi người".

Chuyển văn xuôi sang văn vần  là đam mê từ lâu của Nguyễn Tường - một người Quảng Trị hiện đang sống với con cháu ở New York. Anh đã chuyển thể những truyện ngụ ngôn của Aesop - một nhà văn Hy Lạp sống vào khoảng 620-564 trước CN, ngụ ngôn của Jean de La Fontaine  (1621-1695) - một nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng của Pháp. Anh còn chuyển thể Thánh Kinh và nhiều truyện khác.

VNQT vừa nhận được công trình gồm 1.732 câu văn vần do anh chuyển thể truyện ngắn CHÍ PHÈO, một truyện ngắn nổi tiếng của Nam Cao được đưa vào dạy ở chương trình phổ thông. Xin giới thiệu  CHÍ PHÈO DIỄN CA cùng bạn đọc.

1.

Hắn chân vừa đi, miệng vừa chửi.
Bao giờ cũng thế, hễ rượu vào.
Bắt đầu chửi trời, thì đã sao?
Trời có của riêng nhà nào nhỉ?
Rồi hắn chửi đời. Thì cũng thế:
Đời là tất cả, chẳng là ai.
Tức mình, hắn chửi cả làng này.
Nhưng làng Vũ Đại ai cũng nhủ:
“Chắc nó trừ mình ra thôi chứ!”
Không ai lên tiếng cả. Tức nhề!
Ồ, thế nầy tức thật. Tức ghê!
Đã thế, hắn chửi cha những đứa
không chịu chửi nhau với hắn nữa.
Nhưng cũng không một ai ra điều.
Mẹ kiếp! Thế phí rượu quá nhiều!
Thế thì hỏi sao hắn không khổ?
Không biết đứa chết mẹ nào đó
đã đẻ hắn khổ đến nỗi này!
A ha! Phải đấy, hắn chửi hoài,
hắn chửi ai đẻ ra thân hắn,
cái tên Chí Phèo mà chắc chắn
chỉ có trời may ra biết chăng?
Hắn không biết, và ngay dân làng,
cả Vũ Đại cũng không ai rõ.

***
   Có anh đi thả ống lươn nọ,
sáng kia thấy hắn nằm trần truồng,
xám ngắt bên lò gạch bỏ không
trong chiếc váy đụp, anh rước lấy
đem cho một bà mù gần đấy.
Bà lại gặp phó cối không con
bán lại nó; khi bác không còn
thì hắn bơ vơ, đi ở đợ
hết nhà nầy lại đi nhà nọ.
Hai mươi tuổi, hắn làm canh điền
cho ông lý Kiến, để kiếm tiền
cụ bá Kiến hiện ăn tiên chỉ.
Hình như, mấy lần nhà ông lý
bà ba trẻ hay ốm lửng luôn,
bắt xoa bụng, đấm lưng, bóp chân.
Người ta bảo ông lý hóng hách
cả làng sợ, ra đình rất oách,
mà về nhà phải sợ bà này.
Người bà phốp pháp, má hây hây,
mà ông lý hay đau lưng nữa;
người đau lưng thì hay sợ vợ
mà chúa đời là cái khỏe ghen.
Người bảo ông ghen anh canh điền
mà sợ bà ba không dám nói.
Người thì bảo anh canh điền giỏi
được bà ba quyền bổ quyền thu
tin tưởng nên anh trở thành hư
lấy trộm tiền trộm thóc nhiều lắm.
Mỗi người nói thêm muối, thêm mắm.
Chẳng biết đâu mà lần đúng sai
Chỉ biết rằng đã có một ngày
Chí bị bắt giải lên quan huyện
rồi nghe đâu đi tù vụ kiện.
Không biết hắn bị tù mấy năm,
chỉ biết bảy, tám năm biệt tăm,
bỗng một hôm lù lù xuất hiện.
Mới đầu, không ai để ý đến,
hắn trông rất khác hẳn lần này
không một ai biết hắn là ai.
Trông hắn đặc như thằng sắng cá!
Cái đầu trọc lốc, răng trắng xóa,
Cái mặt đen mà rất cơng cơng,
trông gớm chết, hai mắt gườm gườm!
Hắn mặc quần áo nái đen nữa,
với cái áo tây vàng, ngực hở.
Ngực phanh đầy nét chạm phượng rồng,
bên cạnh cầm chùy đứng một ông,
cả hai tay nữa. Trông gớm chết!
Về hôm trước, hôm sau uống miết
ngồi chợ, rượu, thịt chó tới say.
Rồi hắn xách một cái vỏ chai
đến ngay cổng nhà lão bá Kiến,
gọi tên tục ra chửi đủ chuyện.
Cụ bá Kiến lúc nầy vắng nhà.
Bà cả đùn bà hai, bà ba,
ra nói chuyện lỗi phải với hắn
nhưng thấy hung hăng chẳng ai dám.
Mắc phải thằng liều lĩnh lại say,
tay nó lăm lăm cái vỏ chai
mà nhà lúc này đàn bà cả...
Thôi cứ đóng cổng cho chặt đã,
rồi mặc thây cha nó bên ngoài,
nó chửi nó lại nghe còn ai!
Thành thử chỉ còn ba con chó
với một thằng say rượu là nó...
Thật ầm ĩ! Hàng xóm hôm nay
bỗng dưng có một bữa điếc tai,
nhưng có lẽ trong lòng họ xả:
xưa nay họ chỉ nghe bà cả,
bà tư, bà hai hoặc bà ba
nhà cụ bá chửi bới người ta,
bây giờ họ mới thấy chuyện lạ
người ta chửi cả nhà cụ bá.
Mà chửi mới sướng miệng làm sao!
Mà ngoa ngoắt thiệt! Họ bảo nhau:
Phen nầy cha con thằng bá Kiến
hết dám vác bộ mặt xuất hiện!
Mồ mả tổ tiên nó lộn lên.
Cũng có người bảo, giọng còn hiền:
“Phúc đời nhà nó, ông lý vắng...”
Ông lý đây lý Cường chắc chắn,
con cụ Bá hách dịch, khinh người.
Phải lý Cường ở nhà, thử chơi!
Quả nhiên họ nói không sai thật!
Đấy, có tiếng người sang sảng quát:
Mầy muốn lôi thôi chuyện gì đây?..
Cái thằng không cha, không mẹ nầy!
Mầy muốn lôi thôi gì? Đợi đấy!..”
Đã bảo mà! Tiếng lý Cường ấy!
Lý Cường về! Lý Cường đã về!
Phải biết...A ha! Nghe chưa kìa?!
Một cái tát rất kêu thấy rõ!
Ôi! Mà cái gì thế nầy hở?
Tiếng đấm đá bình bịch ngoài đường.
Thôi thì cứ gọi là tan xương!
Bỗng, một tiếng “choang” nghe rất lớn,
phải rồi, hắn đập chai vào cổng...
ồ! Hắn vừa chửi vừa la làng
làm như ai cắt họng không bằng.
- Ôi làng nước ơi! Cứu tôi với...
Ôi làng nước ơi! Làng nước hỡi!
Bố con thằng bá Kiến giết tôi!
Thằng lý Cường đâm chết tôi rồi!...
Và họ thấy Chí Phèo lăn lộn
vừa kêu vừa lấy mảnh chai nhọn
cào vào mặt mình, máu chảy loang.
Mấy con chó xông vào sủa oang.
Lý Cường hơi có chút tái mặt
đứng nhìn khinh bỉ, miệng cười nhạt.
Hừ! Ngỡ gì hóa ra thế nầy!
Thì ra hắn định nằm vạ đây!
   Người ta tuôn đến xem cho rõ.
Bao người đùn ra từ các ngõ!
Thật như là cái chợ ồn ào.
Bà cả tới bà tư, bà nào
thấy có anh lý cũng vững dạ
bèn xưng xỉa, chửi góp cho hả.
Thật ra, các bà kéo hết nhau
muốn ra xem Chí Phèo làm sao?
Không khéo nó cố ý gieo vạ
cho cụ ông phen nầy sao hả?..

(Còn tiếp)
READ MORE - CHÍ PHÈO DIỄN CA 1- Nguyễn Tường

CỌNG RƠM VÀNG - Võ Văn Hoa


"Em mãi là ngọn gió"
Cảm ơn em thổi về
Cọng rơm vàng đón mở
Nồng nàn đến si mê !"



CỌNG RƠM VÀNG

Anh về thăm nhà
Quê mình đang vào mùa lúa chín
Thơm cọng rơm vàng !

Anh qua xóm Làng
Đất ngấu bùn cuống rạ
Gánh thóc về muôn ngã
Em nói gì em ơi !

Anh đến Hộ Phiên, Ruộng Đìa, Thượng Đạc
Biển lúa vàng mênh mông
Chiền chiện, dế mèn ngân lên khúc hát
Vỡ oà trong anh tuổi ấu thơ  hồng.

Anh thương từng cọng rơm
Ủ anh mùa động biển
Anh thương từng bát cơm
Mẹ độn nhiều khoai sắn

Con chúng ta hiểu mơ hồ về xe đạp nước
Chưa hiểu thế nào về đất gan gà
Chưa biết móng chân của mẹ, của bà
Chua phèn đóng váng.

Anh về thăm nhà
Muốn em và con ôn từng kỷ niệm
Thời mẹ đẻ cha sinh, thời hàn vi lận đận
Ta lớn lên từ cọng rơm vàng.
                                                                             22/04/2003
                                                                          VÕ VĂN HOA

* Rút từ tập thơ CÒN TA VỚI MÌNH - NXB THANH NIÊN -2004 của tác giả
READ MORE - CỌNG RƠM VÀNG - Võ Văn Hoa