Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, April 5, 2012

MUÔN ĐỜI GỌI MÃI NHỮNG THÂN QUEN - Hùng Vĩnh Phước

                       Cựu học sinh trường Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị
  
(Gởi bè bạn Nguyễn Hoàng)
Trong ký ức giấu muôn vàn kỷ niệm
Ta vụng về cố giấu hết đau thương
Đêm hiện tại ray rứt ngày dĩ vãng
Quá khứ buồn vẫn giấu chút bâng khuâng.
Em hoa lá của vườn cây thơ mộng
Xuân hoa xưa chưa dễ đã tàn phai
Mắt biếc ấy ta một thời chếnh choáng
Tóc mây ai bay trong nắng u hoài.
Ta mưa gió của cuồng phòng bão táp
Giữa thăng trầm mơ ước chút bình yên
Em còn giữ được khung trời xanh biếc
Một khung trời đâu dễ đã mù tăm?
Mơ về lại giữa Nguyễn Hoàng xưa cũ
Để nghe lòng thơm lại tuổi thanh xuân
Hay lạc lối giữa rừng đầy hư ảo
Để muôn đời gọi mãi những thân quen?
Hùng Vĩnh Phước
hungvinhphuoc@yahoo.com
READ MORE - MUÔN ĐỜI GỌI MÃI NHỮNG THÂN QUEN - Hùng Vĩnh Phước

Chùm thơ của Lê Cảnh Tiến


Lê Cảnh Tiến 
Năm sinh 1951
Quê quán : Bích La Đông
Xã Triệu Đông Triệu Phong, Quảng Trị
Hiện sống tại TP Cao Lãnh, Đồng Tháp
Email: letien3010@gmail.com


HỒN QUÊ

Lẻ loi bước chiều quê nhạt nắng
Êm ả hè văng vẳng tiếng ve
Nơi cắt rún ngàn năm nhớ mãi
Giọt nắng chiều chợt đọng trên mi
Ôi thương nhớ đường quê rảo bước
Chợt một chiều bóng mẹ chờ con
Hồn quê mãi hằn sâu trong trí
Ướt mi gầy đêm ngắm trăng quê
Yêu đến thế đong đầy nỗi nhớ
Em bây giờ còn nhớ không em
Nón lá nghiêng chiều đứng bên thềm
 

DÁNG DẤP ĐỜI CHA

Lom khom dáng mẹ chiều trên rẩy
Én buồn chao liệng giữa trời quê
Cha còn lặn lội nơi đồng vắng
Ăn ở một đời khổ nhục lo
Nợ nần năm tháng chồng chất mãi
Hết mượn rồi vay rối tơ vò
Tiền bạc hầu bao khô cháy túi
Rối bời mọi chuyện tối đường lo
Im hơi lặng tiếng ngày Đông giá
Êm ả  Xuân Hè lúa đầy kho
Uống một ngụm trà bàn thiên hạ
Đêm buồn bầu bạn chuyện thơ nho
Ơn trời ban phát bao nhiêu chữ
Nhồi nhét cho đầy chẳng được no
Giờ phút lâm chung giao thế thái


 (Những mẫu tự của mỗi từ đầu câu lấy từ tên Lê Cảnh Triệu Đông - con trai của tác giả.)
                      Lê Cảnh Tiến

READ MORE - Chùm thơ của Lê Cảnh Tiến

ĐẾN VỚI VĂN CHƯƠNG - Nguyễn Nguyên An



Nguyễn Nguyên An



Hồi nhỏ tôi mê đọc truyện. Thuê được cuốn truyện nào tôi tìm xó nhà, ngồi đọc ngấu nghiến, có bữa quên ăn, mẹ tôi đe, tôi mới miễn cưỡng gấp sách, đứng lên. Lớn lên, tôi vẫn mê đọc sách. Từ 1972 đến năm 1975, phố thị đầy các sắc lính lừ lừ súng ống, gái bán Bar bê bết phấn son cười cợt đả đớt; sinh mạng con người như ngọn đèn loe loét trước gió dông tao loạn ! Phần nhiều thanh niên cùng trang lứa tôi không hoài bão lý tưởng, nhiều người ngập ngụa trong những cuộc truy hoan, quên đời !.. Riêng tôi, nhờ mê sách ngày hai buổi tôi đến ngồi một góc trong thư viện nhỏ, đọc sách… Cũng từ đấy, tôi tập tễnh làm thơ. Bài tâm tôi đắc: "Em con gái có tóc huyền trĩu mộng/ Có nụ cười giăng bũa cánh chim bay/ Tôi con trai có đường hoang lạc lối/ Có trăm năm thương thân phận lưu đày" tôi háo hức gửi các báo Văn, Tuổi Xanh và rơi tọt vào sọt rác các toà báo ấy.
Cách mạng về như cơn bão. Đổi mới bao cuộc đời. Tôi vẫn nguyên niềm mê đọc sách. Là thanh niên lâu nay chìm trong văn chương xa vời thực tế, tôi tìm đến thư viện Nhân Dân, để "cập nhật" văn chương Cách mạng mà tôi không may mắn học từ nhỏ. Đọc riết, tôi ngộ ra rằng, trước đây viết sao cũng được, miễn hay. Giờ viết văn khó hơn, khó ở chỗ, trước hết anh phải là người tốt, viết ra những điều tốt, đừng đứng trên bục lên lớp ngưòi khác và tải được ý tưởng gì đó có thể giúp ích cho đời, dù chỉ viên sỏi nhỏ bé, mới đạt cái hay. Có nghĩa, trước đây vẽ ma, muốn vẽ sao cũng đặng, miễn con ma ấy đẹp, ly kỳ, rùng rợn, không tính tới sự tác hại của nó. Còn giờ, vẽ một cục đất tầm thường mà bật lên, ngời sáng lên vẻ đẹp vô ngôn bao dung sinh nở của đất, mới tài ! Với niềm tin trong sáng, chân thành, tôi làm thơ được đăng báo Cách mạng. Trong khi nhiều bạn tôi phải đến thập niên tám, chín mươi mới có thơ in trên báo. Tôi nhớ, lần ấy tôi gặp nhà thơ Võ Quê ở trong Ban thành lập Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Nghe tôi khoe có bài thơ mới viết, anh bảo chép cho anh. Tuần sau, tôi bất ngờ sung sướng đến lịm người, khi thấy bài thơ của tôi và tên tôi in sờ sờ trên Báo Thừa Thiên Huế (1976). Tôi xin trích ra đây : "Như Bàn tay của Bác / Mương nước màu vàng đục / Chảy từ nhánh sông về / Mang một dòng sữa ngọt / Rẻ khắp ruộng rì rào / Lúa ôm gốc lúa mập / Lúa xanh dưới nắng hồng / Trời sáng nay thật đẹp / Cánh đồng rộng mênh mông / Mây đuổi nhau dưới nước / Cá như lội trên trời / Mai cá khôn lúa lớn / Nguồn lợi đựoc hai nơi / Trong mương nước vàng đục / Cô gái quê hái rau / Thoắt đã đầy hai giỏ / Thẹn thùa đi về mau / Mương nước màu vàng đục / Chảy từ nhánh sông vào / Như bàn tay của Bác / Dịu dàng biết là bao / Bác là con sông lớn / Bác là núi, biển, hồ / Bác cũng là triệu mương nứơc nhỏ / Dẫn nước vào đồng ruộng bao la…"
Bận mưu sinh, tôi gác bút hơn mười lăm năm nhưng vẫn đều đặn đọc sách khi rỗi. Trải qua bao nghề, giáo viên cấp một, đi núi sơn tràng, chụp ảnh dạo… Tôi coi việc đọc sách báo và lao động là góp nhặt tích luỹ kiến thức cho phần chìm của tảng băng trôi ngày thâm hậu. Bước vào thập niên 1990, tôi chập chững viết truyện ngắn. Truyện ngắn đầu đời của tôi, được ba nhà văn nhận xét : "Tay viết khá vững dù mới lần đầu xuất hiện. Khai thác tâm lý nhân vật đủ dung lượng, dựng được nhân vật dậy. Vấn đề nhẹ nhàng nhưng sâu sắc." , "Đây là một truyện ngắn đầu tay, nhưng bút pháp tỏ ra già dặn. Văn chân thật., nội dung tốt. Cuộc sống cứ ùa vào trang viết một cách bình thản. Cần chú ý theo dõi bồi dưõng đầu tư cho tác giả… " ; "Truyện chân thực, khá… ". Và chùm truyện ngắn gần đây, tôi được một nhà văn nữ đương đại gửi thư khích lệ : "…Tôi rất thú vị vì anh viết rất đều tay, có nghề truyện ngắn, chữ nghĩa kỹ, câu cú không phải can thiệp gì…Sở dĩ tôi viết thư này là để khích lệ anh, hãy viết cái gì đó hiện đại (thử xem). Bằng bút lực này. Anh cho tôi kỳ vọng…".
Tôi coi sách là dòng sông miệt mài chở chuyên chữ nghĩa, ý tưởng của người hôm qua, hôm nay đến với các thế hệ mai sau, đến với đại dương thông thái… Cho nên tôi vẫn mê đọc và ngày lặng lẽ bên trang viết của mình. Viết và đọc tôi thường bị nhức đầu, phải đạp xe chạy loanh quanh cho đỡ nhức, ra đường nhìn sợi dây điện thành hai, ba sợi. Nhưng tôi vẫn cố ngồi vào bàn ngày vài tiếng đồng hồ để nuôi dưỡng nguồn đam mê mình. Tôi nghĩ đó là cái nghiệp nhà văn nào cũng mắc phải.

N.N.A
Địa chỉ liên lạc: NGUYỄN VĂN VINH (NNA) - 50 Trần Thái Tông, Huế -Tel: 01688971486
READ MORE - ĐẾN VỚI VĂN CHƯƠNG - Nguyễn Nguyên An

Tuệ Thiền Lê Bá Bôn - ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT


 (Từ trang 81 đến trang 87)

Ngày Xuân Lễ Chùa

Ở nơi đâu hoa xuân rồi cũng úa
Chỉ sắc Thiền tươi thắm đoá nghìn năm
Niềm vui nào lòng người rồi cũng nhạt
Chỉ hương Thiền vương vấn mãi trong tâm

Nên ngày xuân em đến chùa lễ Phật
Để gặp lại mình trọn vẹn nguyên sơ
Uống ngụm nước tận đầu nguồn chân phúc
Nghe thời gian biêng biếc buổi khai mùa

Nên ngày xuân em đến chùa lễ Phật
Để biết kính yêu tâm nguyện hoà bình
Biết chào nhau lời búp sen vô ngã
Dâng tặng cõi đời năng lượng tâm minh

(Trang 81)
------------


Vu Lan Trong Tôi

Cha đã sống như loài cây đứng thẳng
Không tham ô, không luồn cúi đảo điên
Thì ắt hẳn linh hồn xa nẻo ác
Bầu bạn chính nhân, gần gũi thánh hiền

Mẹ tháng ngày chắt chiu từng miếng sống
Nuôi đàn con, lòng mẹ cảm đất trời
Mai nhẹ bước mùa vui dâng trước mắt
Chốn thần tiên chắc đón mẹ về chơi

Lũ chúng con có đứa đi đứa ở
Mùa Vu Lan: mùa hội tụ tình thâm…
Tháng bảy qua rồi, niềm tin ở lại:
Vu Lan vĩnh hằng giữa cõi thiện tâm

(Trang 82)
------------



Dòng Thương

Qua trăm ngược nghìn xuôi
Chưa nơi nào như thế:
Đá cũng đẫm mồ hôi
Nghỉ lưng bờ Thạch Hãn (*)

Nên chẳng có gì lạ
Khi chúng mình hơi khô
Lạ: giữa đời ô trọc
Vẫn trong xanh dòng thơ…

Nụ cười em lắng đọng
Những nỗi niềm quê hương
Mười năm ta thiền định
Còn bâng khuâng dòng thương

(*)Tên một con sông lớn ở Quảng Trị.
Thạch” là “đá”, “hãn” là “mồ hôi”.

(Trang 83)
------------


Trà Thiền

Hương trà thanh thoát
Dứt bặt tâm ngôn
Tuệ giác siêu việt
Thắm hoa cõi Thường

Trời đất bao la
Về trong một niệm
Quên người, quên ta
Vầng trăng tịch chiếu

Vị trà thoát tục
Dứt bặt tâm hành
“Chúng sinh tức Phật” (*)
Pháp giới thanh xuân

Tâm Không - diệu dụng
Bất lập nhị nguyên
Duyên lành toả khắp
Rong chơi cõi Thiền

(*) “Phàm phu tức Phật/
Phiền não tức Bồ đề”- một thiền
thoại cho trực giác tâm linh.

(Báo Giác ngộ, 13/01/2005)

(Trang 84)
------------


Những Chiếc Thùng Từ Thiện

Chất chứa lỗi lầm của tất cả chúng sinh
Trời đất quặn lên cơn đau lũ lụt
Nước mắt phố làng chảy xuôi chảy ngược
Những chiếc thùng từ thiện đến an ủi sẻ chia…

Tận đáy lòng từ bi
Có lời sám hối
Trong bàn tay thân ái
In hằn thao thức về sự công bằng…

Những chiếc thùng từ thiện-nhân văn
Chắt chiu chân tình hiếu nghĩa

(Trang 85)
------------


Chợ Đình Bích La

Gìn giữ sắc hương xuân tiên tổ
Vui Tết, mồng ba nhóm chợ Đình (*)
Đến đây hội ngộ tình muôn thuở
Ước mơ nào cũng hoá thân quen

Nhộn nhịp bao ngả đường phô sắc
Ánh mắt bừng lên nét xuân tươi
Ra chợ mà lòng quên mua bán
Chỉ nhớ trao nhau những tiếng cười

(*) Ở làng Bích La Đông,
Triệu Đông, Triệu Phong, Quảng Trị.
Chợ này mỗi năm chỉ nhóm một lần).

(Trang 86)
------------


Khi Lòng An Định

Khi lòng an định
Xuân về xanh non
Tâm thiền tỉnh thức
Buông nhịp sống mòn

Nhẹ nhàng quán chiếu
Ngũ uẩn thanh bình
Từ bi thấp thoáng
Quên điều nhục vinh

Chung trà tịch lặng
Thay chén rượu nồng
Đất trời đối ẩm
Chan hoà vô ngôn

Phút giây “bất nhị”
Tri ân cuộc đời
Công trình tuệ quán
Muôn thuở chia vui…

Khi lòng an định
Xuân về xanh non
Tâm thiền tỉnh thức
Buông nhịp sống mòn

(Trang 87)
------------
READ MORE - Tuệ Thiền Lê Bá Bôn - ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT

Wednesday, April 4, 2012

NGỠ NGÀNG ĐỔI THAY THÁP MƯỜI - Bút ký của Lê Bá Lư

         Đã khá lâu tôi mới có dịp về thăm lại Tháp Mười, một huyện vùng sâu của tỉnh Đồng Tháp, thành lập cách đây hơn 30 năm, từ một vùng đất chua phèn,  còn nhiều hoang sơ, thuộc khu vực Đồng Tháp Mười - Tây Nam bộ.

     Từ trung tâm thành phố Cao Lãnh, men theo Quốc lộ 30  hướng về Quốc lộ 1A khoảng gần 10 km, đến ngã 3 Ông Bầu, ô tô rẽ trái vào tuyến đường N2, đi thêm chừng 30km đến Thị trấn Mỹ An -  trung tâm huyện lỵ Tháp Mười. Dọc đường đi, xe chạy với tốc độ chậm, mất hơn 1 tiếng đồng hồ mới đến nơi, bởi nhiều đoạn đường đang thi công mở rộng, tráng nhựa cùng nhiều cây cầu kiên cố đang xây dựng. Đường N2 là một phần của đường Hồ Chí Minh chiến lược tại khu vực Nam bộ, đi qua 8 tỉnh: Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau với tổng chiều dài 440 km. Cách đây 30 năm, về Tháp Mười, chúng ta chỉ có thể đi bằng thuyền, hoặc xe đạp trên con lộ đất chật hẹp phải qua nhiều cầu khỉ, mất hết nửa ngày trời.




     Tuyến N2-  đường Hồ Chí Minh đi vào Tháp Mười đang xây dựng.
      Tôi thật sự ngỡ ngàng trước đổi thay của Tháp Mười. Vùng đất nghèo khổ ngày xưa trong ký ức:  nhà cửa đa số là tranh lá ẩm thấp; đường sá, cầu cống chật hẹp, lầy lội; giao thông đi lại chủ yếu là ghe thuyền; chợ búa nghèo nàn, hàng hóa chủ yếu là  nông- thổ - thủy sản địa phương; trường học, bệnh xá đơn sơ; những cánh đồng ngập phèn sản xuất năm một vụ lúa,  chỉ giải quyết được cái ăn cho người dân; mùa nước lũ hàng năm coi như thất nghiệp…; cái ăn cái mặc của người dân hầu như chỉ cầu trời cho được no, được ấm…




     Tháp Mười, trước mắt tôi bây giờ là một đô thị mới, với nhiều công trình hạ tầng khang trang, hiện đại. Phố chợ, siêu thị, quán xá sầm uất. Đường sá rộng rãi, hầu hết là bê tông và tráng nhựa, nhộn nhịp xe máy. Nhiều ngôi nhà cao tầng đã mọc lên san sát. Khu hành chính, trường học, bệnh viện xây dựng chính quy, hiện đai…Các em học sinh đồng phục sạch sẽ, chỉnh tề… Điện, Đường, Trường , Trạm - ước mơ bao thế hệ của người dân nơi đây đã thành hiện thực.  Những ao sen hoa nở 4 mùa; những cánh đồng lúa bạt ngàn tốt tươi. Hệ thống trạm bơm điện đảm bảo nguồn nước tưới cho đồng lúa sản xuất mỗi  năm 3 vụ và chống úng, chống ngập trong mùa lũ, đã làm cho bộ mặt nông thôn đổi mới, người dân  ấm no và yên tâm sống hòa bình với lũ dữ… Ai đã từng về đây một lần cách đây vài chục năm mới thấy hết sự đổi thay kỳ diệu của Tháp Mười.
      Ông Đinh Minh Dũng, Phó chủ tịch UBND huyên Tháp Mười cho biết, huyện có diện tích 517,7 km2, với số dân hơn 140.000 người. Từ lúc mới thành lập, Tháp Mười  là một trong những huyện nghèo nhất tỉnh Đồng Tháp; đất đai bị chua phèn, mọc đầy cỏ hoang, lúa chỉ sản xuất mỗi năm 1 vụ  nhờ vào nước trời. Qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, huyện đã vươn lên nhiều mặt. Tiềm năng và thế mạnh của Tháp Mười đã được khai phá. Đến nay sản xuất lúa đã tăng lên 3 vụ/năm. Diện diện tích gieo trồng đã tăng lên gần 100.000 ha/năm; sản lượng lúa năm 2011 đạt gần 600.000 tấn, tăng gấp 10 lần so với thời kỳ huyện mới thành lập, trong đó gần 70% dành cho xuất khẩu.
    Theo lãnh đạo huyện, tiềm năng huyện được khai phá và đời sống nhân dân được nâng cao có nhiều nguyên nhân, trong đó khâu đột phá là Chương trình điện khí hóa nông thôn đã mang lại hiệu quả to lớn nhất. Đến nay 98,5% hộ dân Tháp Mười đã sử dụng lưới điện quốc gia. Hệ thống trạm bơm điện phát triển đều khắp đã giải quyết  nhiều khó khăn cho nhân  dân. Đến nay, 88% diện tích gieo trồng được tưới từ nguồn nước các trạm bơm điện, giúp nông dân chủ động gieo trồng và giảm giá thành sản xuất. Các trạm bơm điện còn giúp chống úng, thoát ngập  trong mùa lũ. Hệ thống kênh mương và đê bao, cống đập chằng chịt  đã tạo thành hệ thống giao thông nông thôn liên hoàn cho nhân dân đi lại dễ dàng, thuận lợi.
                                          

Trạm điện 110 KV
        
      Cùng với mở rộng diện tích gieo trồng, tăng vụ, huyện chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vận động và tạo điều kiện cho nông dân sử dụng các giống lúa năng suất cao, có khả năng chống sâu bệnh và sử dụng phân bón hiệu quả; đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu trong quy trình sản xuất, từ làm đất, chăm sóc cho đến thu hoạch. Hiện nay, hơn 80% nông dân Tháp Mười đã thu hoạch lúa tươi và sấy bằng máy, đã làm tăng chất lượng hạt lúa để xuất khẩu ổn định. Việc đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã làm giảm đáng kể lực lượng  lao động nông nghiệp; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp qua các ngành nghề khác.

  Cơ giới hóa nông nghiệp
                            
   Huyện đang triển khai xây dựng các cánh đồng mẫu rộng từ 100 đến 300 ha sản xuất lúa hàng hóa, tạo nguồn nguyên liệu xuất khẩu ổn định; hình thành các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã sản xuất để ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nông dân, tránh tính trạng nông dân bị tư thương thao túng giá lúa. Nông dân còn được ngân hàng hỗ trợ vốn đầu tư ngắn hạn thực hiện các dự án ngắn ngày và cho vay dài hạn để mua tư liệu sản xuất…
      Ngoài đẩy mạnh phát triển cây lúa, huyện còn khuyên khích nông dân trồng các loại cây hoa màu có thế mạnh.  Tháp Mười hiện có hơn 1.000 ha diện tích ao hồ trồng sen và hàng ngàn ha trồng các loại hoa màu khác. Nhiều trang trại nuôi heo và tôm, cá, nhất là tôm càng xanh và cá rô đồng đang phát triển mạnh trên địa bàn..
      Sản xuất công nghiệp cũng đang phát triển khá mạnh, nhiều nhà máy cơ khí chế tạo đã mọc lên trên địa bàn để sản xuất các công cụ máy móc phục vụ nông nghiệp.  Một số nhà máy sản xuất hàng may mặc,  giày da xuất khẩu, chế biến lương thực… đã  hình thành, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương, trong đó có một số nhà máy của các nhà đầu tư nước ngoài có quy mô sử dụng đến hơn 3.000 công nhân.
     Huyện đã quy hoạch xây dựng 1 cụm công nghiệp và 2 khu công nghiệp, tổng diện tích hơn 400 ha và sẵn sàng “trải thảm đỏ”, tạo mọi thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến hoạt động.
      Thương mại, dịch vụ cũng đang trên đà phát triển mạnh. Trên địa bàn huyện có 18 chợ hoạt động. Một số doanh nghiệp từ nhiều nơi đã đến đầu tư xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại. Huyện đang tập trung phát triển hệ thống chợ trên địa bàn với nhiều hình thức, như Nhà nước đầu tư;  kêu gọi doanh nghiệp đầu tư trên cơ sở cho thuê đất  hoặc mua đất với giá ưu đãi để xây dựng chợ, khu thương mại….             


      Công tác y tế, giáo dục, an sinh xã hội của Tháp Mười đã đạt những thành tựu đáng kể. Tất cả trẻ em trong độ tuổi đều được tới trường. Học sinh thi tốt nghiệp phổ thông các cấp hàng năm đạt tỷ lệ cao. Năm học 2010- 2011, học sinh tốt nghiệp PTTH đạt tỷ lệ 99,05% , là đơn vị đứng đầu tỉnh Đồng Tháp. Sức khỏe người dân được chăm lo chu đáo, với hệ thống cơ sở y tế gồm 1 bệnh viện và 13 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được huyện quan tâm. Hộ nghèo của huyện chỉ còn hơn 11%. Hộ dân sử dụng nước sạch đạt 90%...
       Qua hơn 30 xây dựng và phát triển, diện mạo Tháp Mười đã có những đổi thay to lớn trên mọi lãnh vực. Từ một vùng đất hoang sơ, đồng chua nước mặn, huyện đã trở thành một trung tâm kinh tế, một vùng đô thị mới với nhiều tiềm năng phát triển. Tháp Mười như một bông sen tươi đẹp đang hé nở giữa vùng Đồng Tháp Mười mênh mông - vựa lúa khổng lồ phía Nam Tổ quốc.

                                                                Lê Bá Lư
READ MORE - NGỠ NGÀNG ĐỔI THAY THÁP MƯỜI - Bút ký của Lê Bá Lư

Tuesday, April 3, 2012

ƯỚC NGUYỆN NGÀY VỀ - Lê Cảnh Tiến


Bao giờ về lại quê hương
Bích La Đông mãi vấn vương một thời
Ngày nào tiếng Mẹ ầu ơi
Ru con man mác giữa trời mùa Đông
Mơ về thăm lại dòng sông
Đôi bờ Vĩnh Định nhớ nhung thuở nào
Về thăm lại xứ Mồ Cao
Lúa vàng mà mượt chim chao lưng trời
Về thăm bến Cọi một thời
Đêm trăng gánh nước từng lời hẹn trao
Mồ Chương xóm cũ năm nào
Bên căn nhà nhỏ biết bao nghĩa tình
Về thăm quê buổi bình minh
Bến Cầu còn đợi ân tình dở dang
Ngày xưa đây bến đò ngang
Đưa em qua tận Đình làng cầu may
Cửa Chùa ngày ấy còn đây
Anh cùng em với tháng ngày sẻ chia
Giờ đây kẻ ở người đi  
Bao năm nhung nhớ mãi ghi trong lòng
Anh về ghé lại vạt Đùng
Thăm từng nấm mộ yên lòng nghìn thu
Về đây thăm lại Cột Mồ
Thăm khu Cồn Bói, thăm bờ Nương Hoang
Hà Canh đây buổi chiều vàng
Bóng ai còn đó ? Phải nàng chờ ta !
Cửa Rào yêu mến thiết tha
Cồn Ông đất Thánh tinh hoa ngàn đời
Về thăm quê lại bồi hồi
Nỗi lòng xa xứ ngàn đời khó quên

LÊ CẢNH TIẾN

letien3010@gmail.com
Bích La Đông, Triệu Đông, Triệu Phong, Quảng Trị

READ MORE - ƯỚC NGUYỆN NGÀY VỀ - Lê Cảnh Tiến

Saturday, March 31, 2012

THƠ NHẶT VỘI TRÊN ĐƯỜNG* - Hồ Sĩ Bình đọc thơ Đinh Tấn Phước



Tôi quen với Phước từ thời còn ở Đại học Sư phạm Huế, cùng một khóa nhưng khác khoa, anh học toán và sau này anh lấy bằng tiến sĩ toán học, có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học thuộc ngành giáo dục và hàng không. Cứ ngỡ là anh theo nghiệp toán thì rất xa lạ với thơ. Thế nhưng sau nhiều năm gặp lại, không ngờ anh lại xuất bản trong vòng mấy năm 2 tập thơ : Gió mùa (Nxb Hội Nhà văn) và Chạm bóng (Nxb Văn học )

-Tác phẩm đạt Giải thưởng Thơ 2009 của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và mới đây là n bài thơ ngắn.

Khác với 2 tập thơ trước, tập thơ mới nhất nghe cái tên không đã gợi lên hình ảnh cái chất toán ở con người tác giả. Nói đến toán là người ta nghĩ đến tư duy logic, thiên về trí tuệ, lý tính mà thơ lại thiên về cảm xúc. Đọc n bài thơ ngắn, bỗng dưng 2 cái thuộc tính tưởng như đối lập đấy lại trộn lẫn giao hòa, tạo ra những liên tưởng bất ngờ thú vị. Nói là ngắn, tưởng là gọn nhưng lại không gọn, giản dị mà không hề giản lược bởi vì thơ anh ý tại ngôn ngoại buộc người đọc phải trầm tư nghĩ ngợi, đào sâu tự vấn của một kiểu thơ có lượng từ rất ít ỏi mà chiều kích thông tin thì trải rộng. Tác giả như mời gọi người đọc tiếp tục suy ngẫm theo cảm nhận của riêng mình.

Nhiều bài thơ vang vọng một âm hưởng thiền, nói mà như tịnh không, không mà như nói, dửng dưng nhẹ nhàng mà khơi gợi thâm thúy. Thơ thiền xưa Vương Duy viết : Sơn lộ nguyên vô vũ / Không thủy thấp nhân y (Đường núi vốn không có mưa / Chỉ màu xanh hư không ướt áo người). Tại sao trời không mưa mà ướt áo người. Chỉ với tinh thần tánh không, trung quán bao la mới thấy màu xanh hư ảo là chốn trần ai, chở nặng thân phận con người. Nhặt đâu đó trong thơ Phước, phong vị thiền vẫn ẩn hiện như con nhện nước / lăn tăn / chiều giông gió (Bài 29). Chiều giông gió phải chăng là khổ nạn trần thế  đầy âu lo bất trắc mà con người bé nhỏ như con nhện nước loay hoay tất tả xuôi ngược. Tất cả như giấc mộng huyễn hóa, như bọt nước lăn tăn trong dòng nghiệp lực. Bài thơ đầy ấn tượng, thiết tha với đời mà không bám víu, giải thoát mà không lìa bỏ.

Tập thơ gồm 101 bài, phần lớn sử dụng thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, trường dụ và đối lập. Miêu tả hình ảnh hiện thực, cụ thể để biểu đạt liên tưởng đến một ý tưởng khác, tả cái cụ thể để nói đến cái trừu tượng. Và để khắc họa hình ảnh một cách ấn tượng sâu sắc là những kết thúc bất ngờ gần như đối lập:

thẻ tôi đeo
tôi sửa
lại lật trái, tôi không sửa (Bài 99)

n bài thơ ngắn, là con số nguyên tự nhiên bất kỳ trong tập hợp từ 1 đến 10, 100, 1000… nên phải hiểu 101 bài thơ ngắn là một chặng đường thơ với những nghĩ suy bất chợt, những phát hiện tình cờ. Tác giả không hề có ý thức lập ngôn gì to tát nên trong thơ không thiếu những hình ảnh rất gần gũi, quen thuộc nhưng thật là se buốt tâm can. Chỉ là ký ức sống dậy của chim chèo bẻo / cánh đồng vừa
gặt / tuổi thơ
(Bài 32); là nỗi cô đơn trên đường về với Đom đóm khuya / lạnh ngắt/ lối về (Bài 31) là Nắng trẻ con / trên mặt sông / long lanh và nhẹ; là ngọn tre / cánh cò / mong manh chiều gió (Bài 94), là động đậy cánh sen /có gì / tan loãng (Bài 18). Những hình ảnh đan xen của nhiều tâm trạng, khi bồi hồi bổi hổi, khi nhẹ lòng một chút niềm vui, khi dùng dằng nỗi nhớ… nhưng có điều tất cả đều mong manh, đìu hiu nhuốm màu phai nhạt. Những tứ thơ nhiều khi bất chợt nhặt vội trên đường của một tâm hồn lắm đa đoan trần thế lại dạt dào cảm xúc. Con người ấy luôn hé lộ trong thơ sự giằng xé nội tâm nhiều khi đầy mâu thuẫn, xung đột, mà biết đâu thơ đã làm tâm hồn anh cảm thấy cân bằng hơn.

 Nói là nhặt vội trên đường nhưng thơ của Đinh Tấn Phước có khi mang một tính  khái quát cao. Những hình ảnh nặng lắm lòng người, đầy thương cảm, như tiếng vọng kêu gào : tiếng sóng / chạm bát cơm dân chài / mặn chát (Bài 2), hay vẩn vơ triết lý đậm chất suy tưởng : chỉ có kiến là giỏi / bò qua đêm thâu / ngủ ở linh hồn (Bài 11); là nỗi cô đơn khủng khiếp của thi nhân trước trang giấy : mang câu thơ / đi qua một câu thơ / chiều sa mạc (Bài 19).

n bài thơ ngắn đầy chất ngẫu hứng. Ngôn ngữ thơ được nén lại như không thể dồn nén hơn được nữa, gần như vô ngôn thiền định, nhưng có lẽ đánh thức nơi tâm hồn người đọc bởi một thế giới nội tâm đa cảm và đầy bất an của nhà thơ. Chọn cho mình một kiểu thức thể hiện trong thơ một cách khiêm cung nhưng chứa đầy sự an nhiên tự tại của một con người nhiều từng trải suy nghiệm, thơ của anh là thơ của một người nhìn ra mọi sự phù du của thế sự.

Hồ Sĩ Bình
hosibinh@gmail.com 


(*) n bài thơ ngắn. Đinh Tấn Phước . NXB Văn học - 2012.
 dinhtanphuoc1@yahoo.com.vn

READ MORE - THƠ NHẶT VỘI TRÊN ĐƯỜNG* - Hồ Sĩ Bình đọc thơ Đinh Tấn Phước

RAU TONG - Lê Đăng Mành


   Thuộc họ Rong nhưng sống đời tinh khiết chỉ mọc ở “trằm, bàu” nước chảy, thân mềm ẻo lả thả tóc bồng bềnh theo dòng nước. Là món ăn dân dã của người quê đôi bờ sông Ô Lâu thuộc Bắc Thừa Thiên - Huế và Nam Hải Lăng, là cây trời cho khỏi trồng mọc nhiều ở dưới đáy sông hồ vùng nước ngọt có đất pha cát trắng tinh như “trằm, bàu” ở Thôn Niêm thuộc xã Phong Hòa - Thừa thiên Huế thu lượm trong mùa thu đông mò tìm rất khổ cực, bán nhiều ở chợ Hôm Ưu Điềm (chợ chiều Ưu Điềm) và các chợ nhỏ ở những vùng phụ cận. Vì mang thân phận “rong” nên giá rất “bèo”.

     Rau tong ăn sống, cách chế biến đơn giản ít hao tốn: Mua về mở giây buộc, rau bung ra như mái tóc thề xanh rêu ngan ngát, tay cầm trên “troốc  ác”(1), gốc của cây rong,  mà rung cho tim non và rong bèo rơi rụng rồi cắt, nhưng vặn đứt từng đoạn khoảng 10cm thì ăn ngon hơn cắt, nhồi sơ cho mềm nhàu rồi rửa sạch trộn thêm húng quế, rau thơm diếp cá cải con để ăn.

     Quan trọng là nước chắm, rau tong thì quấn quýt gắn bó với mắm "đuốc"(2) nên “nhị vị tri âm” gặp nhau “mới bắt”, kho "nác đuốc"(3) mỡ heo phải giã chứ không xắt, đổ mỡ vào chảo hay “tréc”(4) đất nung phi khử gia vị nghe thơm, đánh quậy "nác đuốc" lóng cặn rồi cho vào, "nác đuốc" sôi mỡ nổi lềnh bềnh, đập ớt tươi, củ ném củ hành thêm vào đốt rơm lửa nhỏ sôi đều là được.

     Đi đồng (làm ruộng) về đập chân cái bộp, rũ bụi ngoài thềm, thoảng mùi ngầy ngậy khói rơm quyện hòa cùng hơi thơm "nác đuốc" trong “tréc” tỏa ra thơm lừng nằm cạnh “đúa”(5) rau tong bên nồi cơm nóng hoặc môn khoai “sỏn sẻn e ấp” nghiêng nằm chờ đợi… Nghe tiếng Mạ kêu hỏi ai mà không cuống cẳng quay về?

     Ăn theo lối phàm phu mới ngon, nghĩa là: bới cơm ra chén, gắp một nùi rau chan nước ruốc lên, ớt tươi nằm vắt đỏ lòm “vô tâm và” cả búng nhai ngồm ngoàm rau ráu mới thẩm thấu cái hương vị cay, chát, ngọt, bùi vô phân biệt của Rau Tong, cùng đinh cũng như Quan viên một lần ghé gắp thì muôn thuở không quên trong cái se lạnh của hơi đông quê nhà.

    Ăn cao lương mỹ vị như cung đình còn xâu xé, hơn thua, ghét ganh thừa mứa thì mần răng “thế tử“(6) khỏi "thề lê"(7) cái “rọt”(8)  đi hút mỡ, ăn như rứa răng bì nổi với rau tong.

     Món rau tong rất hiền như đời của rau. khi sống là nơi nương náu của tôm tép rong rêu trong cơn mưa lũ dữ, khi hoá thân rau là bạn của tiêu hành ném ớt cay sè. Cho nên từ cổ chí kim chưa nghe ai ăn rau tong bị rối loạn tiêu hoá hoặc tiêu chảy.

     Người viết ở quê khi trái mùa cũng quay quắt nhớ Rau Tong,nên “mần nghếch”(9) cảm khái đôi ba vần gửi tặng bạn lữ tha hương và người quê Văn Quỹ mến yêu .




Nh mùa rau tong!

Ngút ngàn độộng(10) cát Thôn Niêm
Đưới trằm(11) lấp lánh Mạ(12) tìm Rau Tong
Bồng bềnh rau lướt sóng đông
Rét run triêng gióng(13) Mạ còng lưng sương(14)
Phận nghèo rau cũng cảm thương
Chêm(15) cùng khoai sắn đoạn trường giêng hai
Đời con phiêu bạt trần ai
Cao lương thì kệ(16), nhớ hoài Rau Tong

    

CHÚ THÍCH:

(1)-Tróc ác : đnh đu
(2)-
ruc (mm ruc)
(3)-
nước ruc, nước chm làm t mm ruc
(4)-Tréc: bng đt nung dùng đ kho tht cá, min Nam gi là “t” (cá rô kho t)
(5)-Đúa: r rá đan bng tre
(6)-Thế tCon c ca chúa hay ca vua chư hu.
(7)-Th
lê: lê môt cách nng nhc
(8)-Rt: rut, ni tng ca cơ th.
(9)-Mn nghếch: làm nhng điu vô ích v vn
(10)-Độộng cát: cn cát, gò cát
(11)-Đưới trm: dưới bàu, dưới ao, h
(12)-M: m
(13)-Triêng gióng: quang gánh
(14)-Sương (đng t): gánh
(15)-Chêm: nêm, nhét thêm, kèm thêm.
(16)-K: b qua, xem như không có gì

 ledangmanh@gmail.com

READ MORE - RAU TONG - Lê Đăng Mành