Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, July 18, 2025

Trần Kiêm Đoàn đọc và giới thiệu tập truyện HẠT U MINH, tác giả TRẦN KIÊM TRINH TIÊN



Xem tập truyện Hạt U Minh, người đọc hình dung nhân gian đâu đó mang tràng hạt u minh – u u, minh minh; mù mù mịt mịt, sáng lòa sáng tỏa – như một chuỗi duyên duyên nghiệp nghiệp tương tác trùng trùng trong dòng đời nghiệt ngã và cô đơn nhưng cũng lắm nẻo đi về thanh thỏa và giải thoát tùy bước đi và hướng tới mà người thiện tâm, quý chữ thường gọi là… tu.

 

Tác giả là Trần Kiêm Trinh Tiên, một khuê nữ xứ Huế thuộc thế hệ Chiến tranh Việt Nam. Biểu tượng khuê nữ trong văn chương nhà Huế hơi khác với khái niệm đời thường. Đó là chỉ dấu hình ảnh “dễ thương dễ sợ” trong văn phong đượm chất thơ, trong suy tư không vướng mùi tục lụy và khổ đau hay hạnh phúc đều chỉ là phương tiện của hoàn cảnh cùng số phận trước mắt trong nẻo về miên viễn.

 

Tập truyện Hạt U Minh của Trần Kiêm Trinh Tiên, gồm tám truyện ngắn với các nhan đề đầy chất thơ và gợi cảm, như: Hạt U Minh, Nguyệt Cầm, Chim Vạc Con ở Badghis, Dáng Xưa, Đoản Khúc Melaleuca, Chiều Rơi Trên Cây Ginkgo, Bản Giao Hưởng Câm và Trong Khu Vườn Chim Hót, là một tác phẩm văn học vừa nhẹ nhàng như một khúc thiền ca, vừa âm ỉ đầy ám ảnh theo như cảm nhận của nhà văn Trần Thùy Mai: “Nhẹ nhàng mà day dứt khôn cùng.”

 

Ngay từ nhan đề Hạt U Minh được chọn cho cả tập sách, tác phẩm đã gợi lên hình ảnh một “hạt giống tâm linh” được gieo vào vùng thâm sâu của tâm thức và vô thức – nơi u minh, tối sáng, sinh diệt, khởi điểm và kết thúc – của chuỗi duyên sinh từ không trước đến không sau. Mỗi truyện ngắn như một mảnh gương tâm linh soi rọi kiếp người trong bóng râm của thời gian và lịch sử; vừa rất riêng tư, vừa mang tính biểu tượng đại chúng. Hạt u minh trong tương quan giải thoát và hệ lụy nhân sinh vượt trên tầm tôn giáo và giới hạn tư tưởng. Như tin mừng trong kinh Thánh “ngày mai để cho ngày mai lo” (Matthew 6) hay chánh niệm (mindfulness) của hành giả an nhiên tự tại trong dòng u minh tồn tục lưu truyền tự trong thể tánh không sinh, không diệt của nó.

 

Tác phẩm Hạt U Minh là một cánh diều căng gió với không gian riêng của nó; một không gian điên đảo mà bình lặng đầy ắp biến cố giữa thuở chiến tranh, ngày hòa bình, buổi giao thời, bước thoát ly, thái độ khước từ, nhập cuộc, khổ hạnh, đóng đinh và hệ lụy lâu dài hay tức thời của nó ở bất cứ vùng trời nào khi mà con người vừa là một sản phẩm mà cũng vừa là động cơ tái tạo của hoàn cảnh.

 

Thế giới trong tác phẩm Hạt U Minh là những mảnh đời hiện thực và chuỗi biến hiện – thánh thiện, bác ái, từ bi, nhỏ nhen, độc ác, âm mưu vừa phản kháng vừa hội nhập – mang đậm tính người vừa gian manh bất ổn như tên chúa đảng hải tặc; vừa thiện lành như vị thiền sư có mặt nhan nhản từ Huế tới muôn phương. Tác giả đã hồi tưởng hay xây dựng nhân vật của tác phẩm với tầm nhìn từ những góc khuất tâm lý, trải nghiệm và hoàn cảnh xuất thân thấm đẫm nếp văn hóa nhạc và hoa nhiều hơn là hận thù và vũ khí.

 

Triết lý Phật giáo bàng bạc như những dấu ấn vô hình thâm xuyên các truyện không theo lối thuyết giảng, mà thẩm thấu qua từng chi tiết đời thường: là tiếng chuông u minh chùa Thiên Mụ vọng về lẫn trong tiếng rền xa của đại bác từ Trường Sơn;  ánh mắt của người thiếu phụ nhìn quanh cảnh đời sinh diệt như thể nhìn vào tâm mình (Nguyệt Cầm), là cánh chim cô đơn bị bỏ rơi vì nhân tính buông tay cho thú tính dẫn đường (Chim Vạc Con ở Badghis), hay là khúc mặc niệm không lời vang lên giữa khu vườn tâm thức im ắng (Bản Giao Hưởng Câm).

 

Cái Sắc và cái Không giữa dòng sống trống không mà thăm thẳm qua tâm “Niệm Tâm Kinh Bát Nhã mà lòng tôi như cơn gió thổi qua thảo nguyên, trống không, thăm thẳm” và vô sắc giới nhân sinh “Cho đến một hôm, tờ ly thư đến với tôi như chén đắng. Cuối cùng tôi đã uống chén ấy với nỗi buồn của Chúa Giêsu ở vườn cây dầu.”

 

Những nhân vật trong truyện, phần lớn đều là những “người đi qua cõi tạm” lặng lẽ gánh những hệ lụy và day dứt nhân sinh – nhưng không tuyệt vọng, mà trong họ luôn có một phần tỉnh thức, một tâm lý chịu đựng “hòa nhi bất đồng” âm thầm đầy suy tưởng trước quyết định dấn thân hay cũng đành buông tay – giữa dòng đời và thân phận, chịu đựng và ước mơ.

 

Dù bối cảnh của tác phẩm trải rộng từ Huế đến toàn cảnh quê hương Việt Nam và thế giới, chất Huế vẫn hiện diện không chỉ trong giọng văn dịu dàng, tinh tế mà còn trong những lối mô tả phong cảnh, phong thái sống và chiều sâu nội tâm nhân vật. Người đọc bắt gặp một không gian trầm lặng như chiều tà trên sông Hương – nơi ký ức và hiện tại giao nhau, nơi vẻ đẹp trở thành điều thiêng liêng để gìn giữ, không phải bằng tay mà bằng tâm.

 

Nét độc đáo của tập truyện là sự hòa quyện nhuần nhị giữa hư và thực, giữa hiện sinh và siêu hình. Người đọc cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới nửa mơ, nửa tỉnh; nơi mỗi câu chuyện là một pháp thoại lặng lẽ  [DT1] – kiến tánh – không nói cho ai và cũng chẳng ai nói cho mình. . Mỗi nhân vật là một “hạt giống tâm linh” đang trên hành trình tự giải thoát khỏi những ràng buộc của vô minh, như chiếc lá cuối cùng còn rung nhẹ trong gió, trước khi lìa cành trong sự chấp nhận thanh thản.

 

Không vọng động, không kịch tính, nhưng mỗi truyện trong Hạt U Minh đều để lại một dư vang – một “đoản khúc day dứt” như tiếng chuông ngân dài trong tĩnh lặng, khiến người đọc không thể không suy ngẫm về chính mình, về cuộc đời, và về những điều tưởng như nhỏ bé nhất nhưng lại mang ý nghĩa lớn nhất trong hành trình tỉnh thức. Hạt U Minh không chỉ là tập truyện mà còn là một nghi lễ đọc, một không gian thiền hành bằng ngôn ngữ, một khu vườn để ta dừng lại, lắng nghe tiếng chim hót trong lòng mình của một văn hóa Huế đã từng đau thương mà vẫn gìn giữ được vẻ đẹp nội tâm.

 

Cầm tác phẩm Hạt U Minh của Trần Kiêm Trinh Tiên chưa tới 150 trang trên tay tôi có niềm vui của lão 80 là muốn đọc văn hay mà đọc ít bởi mắt mờ tay mỏi; rồi bỗng mỉm cười một mình nhớ lại hiện tượng dài ngắn trong văn chương:


Tác giả viết một tác phẩm dài nhất là Marcel Proust – À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất) hơn 4.000 trang với 1.2 triệu từ cùng nổi tiếng như tác giả viết tác phẩm cực ngắn mà nổi tiếng là Ernest Hemingway – Câu chuyện 6 từ: “For sale: baby shoes, never worn.” (Bán: giày trẻ em, chưa từng dùng.) Tác phẩm thuộc thể loại Flash Fiction (truyện cực ngắn) mang ý nghĩa đã gợi một bi kịch sâu xa chỉ qua dăm ba từ là điển hình cho ví dụ về nghệ thuật “hàm súc” trong văn chương.


Mới đó mà đã 50 năm đi qua. Huế có cái thước đo thời gian “mới đó” rất bình dân mà triết lý chi lạ! Một hạt u minh đã mịt mù ký ức huống chi là tràng hạt u minh; nhưng cái mất được tái hiện qua cái còn thầm lặng. Chúc mừng Trần Kiêm Trinh Tiên với một tác phẩm đẹp khi con người phải đối diện với những hoàn cảnh gió bụi nghiệt ngã để nương thuyền từ hóa giải khổ đau và hạnh phúc với chính mình.

 

Đặc biệt, tác phẩm phản ánh nét tài hoa tự nhiên với văn phong mang dáng vẻ nghệ sĩ rất “Trần Kiêm Liễu Hạ” của liễu xanh Hương Cần, sông Bồ uốn khúc đẹp như tiếng hát Hà Thanh, giọng văn tài hoa mà u ẩn của Kiêm Minh, triết văn đầy biểu tượng của Kiêm Đạt, tiếng thơ lãng tử của Kiêm Thêm…

 

Khép lại những dòng viết về Hạt U Minh mà cứ ngỡ như đang viết mảnh tâm tình với Huế. “Ôn Đoàn” tặng các nhân vật trong tác phẩm của Trinh Tiên mấy câu thơ đã thành “quá khứ hiện tiền”:

 

Khi ở Huế thấy Huế buồn chi lạ,

Xa Huế rồi thấy Huế quá mênh mông.

Trong nỗi nhớ một cũng là tất cả;

Khi thương yêu tất cả sẽ vô cùng.

 

 Sacramento, mùa July 4th 2025

Trần Kiêm Đoàn

trankiemdoan@gmail.com

 

READ MORE - Trần Kiêm Đoàn đọc và giới thiệu tập truyện HẠT U MINH, tác giả TRẦN KIÊM TRINH TIÊN

NGƯỜI CHIẾN SĨ NĂM XƯA - Thơ Đàm Ngọc Năm

 

Cựu chiến binh Đinh Thị Lý

Đàm Ngọc Năm

NGƯỜI CHIẾN SĨ NĂM XƯA 


Chào em, cô gái thuở đôi mươi 
Thời đạn bom rời trường ra tiền tuyến 
Thống nhất Non sông luôn là ước nguyện 
Dù ra đi chẳng nghĩ đến ngày về.

Chỉ biết rằng khi Tổ quốc lâm nguy 
Từ mái tranh nghèo, lũy tre, giếng nước 
Ý chí trong tim: Việt Nam là một!
Quyết lên đường để giải phóng quê hương.

Bao tháng năm chịu đựng đạn bom 
Đánh giặc xong trở về xây tổ ấm 
Đất nước thanh bình, trời như mở rộng 
Thỏa sức bay, sải cánh vươn xa…

Đã là lính, đâu quản ngại phong ba
Luôn vượt khó, chẳng thể gì ngăn nổi 
Góp sức mình cho quê hương đổi mới 
Chính em người khơi dậy những niềm tin.
                                                   
Năm 2025
READ MORE - NGƯỜI CHIẾN SĨ NĂM XƯA - Thơ Đàm Ngọc Năm

TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG - Những mùa thu đi / Chia xa / Tiếng chim non chíu chít bên thềm / Tháng bảy chiều, nắng đổ ong ong / Mỗi chúng ta đã từng, đang và sẽ bị cám dỗ

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Những mùa thu đi


Ngõ thu về qua sóng nước hồ Tây

Thong thả đậu trên cành cong liễu rũ

Vạt mây xám, ở đâu về ngưng tụ

Khuất lấp chiều trong, vạt nắng hanh gầy


Mờ khói sóng xa, bầy chim Sâm cầm

Chao chác cánh bèo trôi mùa gọi bạn

Bao nhiêu chuyện đã trở thành dĩ vãng

Mùa thu xưa còn đó những triều âm


Những cụ già lững thững dạo bên đường

Chầm chậm bước bên dòng người xuôi ngược

Bên góc phố em ngồi hong tóc ướt

Lãng Bạc mùa thu, sợi nắng vấn vương


Dõi mắt nhớ, những mùa thu đã qua

Gợn sóng biếc, những sắc màu tươi trẻ

Chiếu lấp lánh, trong chiều buông nắng nhẹ

Bao năm rồi còn đọng lại dư ba


Lắng trong ký ức, những mùa thu xưa

Trong khó khăn, mà niềm tin cháy bỏng

Từng lớp người vẹn nguyên bầu máu nóng

Giữ ngàn đời trong khí phách truyền thừa…



Chia xa


Hoang mang đêm 

Đôi mắt võ vàng
Em bối rối 

Trong lời từ giã
Không lẽ 

Mình trở thành xa lạ?
Gió đông về 

Miết mỏng miên man

Rộn đường xa 

Tím buổi hoang chiều 

Mây lang thang 

Nỗi buồn rũ kiệt

Không lời hẹn 

Chắc gì vĩnh quyết

Rớt bên đời 

Một chấm quạnh hiu…


Tiếng chim non

chíu chít bên thềm


Đôi chim sâu ở đâu về làm tổ

Trên cây hoa vàng, bên hiên nhà em

Mùa quả chín và hoa vàng nở rộ

Lúc lỉu tiếng chim vọng đổ êm đềm


Nghe rạo rực một nỗi niềm đâu đó

Trong không gian oà vỡ tiếng chim non

Nụ biếc chồi xanh, trên cành để ngỏ

Thảng thốt rơi, nghiêng vạt nắng hanh giòn


Tiếng chiêm chiếp đồ chừng lạc giọng

Em đắn đo, trong một thoáng ưu tư

Trời trở gió, ngọn nam cồ đánh võng

Nhưng đất lành, đôi chim nhỏ ngụ cư


Ánh nắng ban mai, ngập ngời óng biếc

Sáng long lanh trên từng cánh hoa vàng

Tiếng chim non ngập ngừng như rũ kiệt

Trong vắt trời xanh, gió chảy miên man


Chợt vống lên, chim mẹ bên bờ lá

Em ngẩn ngơ nhìn, liên tưởng xa xôi

Tự nhiên nhớ một người dưng xa lạ

Dờn dợn sóng lòng, mộng ước lứa đôi


Tháng bảy chiều,

nắng đổ ong ong


Giồng cát trắng tả tơi hoang mạc

Gió thổi mùa, tiếng em cười lấn át


Đất Hòa Thắng sáng bừng, rạng rỡ một niềm tin

Cuộc sống mới, tiếng em cười trong vắt

Khu du lịch trẻ trung, gợi mở một tầm nhìn…


Mỗi chúng ta đã từng,

đang và sẽ bị cám dỗ


Bởi vô vàn trăm thứ trời ơi

Cứ sóng sánh bên đời hiển lộ


Những cạm bẫy ngọt ngào, rộng hẹp đường khơi

Ai cũng biết, nhưng dễ đâu qua được

Nên rơi rụng đi, cũng là một lẽ đời…

   Lê Thanh Hùng

   Bắc Bình, Lâm Đồng

   lethanhhung4625@gmail.com

READ MORE - TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG - Những mùa thu đi / Chia xa / Tiếng chim non chíu chít bên thềm / Tháng bảy chiều, nắng đổ ong ong / Mỗi chúng ta đã từng, đang và sẽ bị cám dỗ

ÔNG HOÀNG PHẾ LIỆU - Truyện ngắn của Trần Duệ


                   


                 

Chiếc xe tải gầm rú, thở phì phò như trâu kéo gỗ nhưng chẳng làm ai chú ý, bởi họ đã quá quen với cái âm thanh quái lạ này. Chiếc xe tải đã bong tróc, rỉ sét, nhiều mối hàn và đủ các loại ốc vít, nhưng hầu như tất cả mọi sự gá lắp đều lỏng lẻo, khiến mỗi dao động đều tạo ra những âm thanh ồn ào tới mức người ngồi trên xe muốn nói chuyện với nhau phải quát lên như cãi vã.

Người ta gọi chủ xe là ông Hoàng phế liệu.

 

Mới nghe, chắc nhiều người nghĩ, cái tên “ông Hoàng phế liệu” là cách nói thậm xưng để ghi nhận sự thành đạt một người trong nghề thu mua phế liệu. Nhưng không, chỉ đơn giản là ông tên Hoàng, chuyên làm nghề vận chuyển phế liệu, bằng một chiếc xe cũng đáng được xếp vào hàng phế liệu!

 

Đêm nay, khối phế liệu được gọi là xe ấy về tới nơi cần tới thì trời đã khuya. Một điều khác thường là trong lúc ông Hoàng còn nấn ná trên xe thì cửa bên lơ cọc cạch mở, một người đàn bà dè dặt bước xuống. Người phụ nữ nhìn quanh, vẻ lạ lẫm, rờn rợn, bất an. Qua ánh đèn pha mờ mờ của chiếc ô tô phế liệu, hiện ra ngôi nhà nhỏ nằm giữa một khu đất khá rộng được che chắn bởi những tấm tole rỉ sét. Chung quanh ngôi nhà được vây quanh bởi những thùng phuy, bồn nước, vỏ đạn các loại. Người đàn bà không hiểu mình đang ở đâu, rồi chuyện gì sẽ đến với mình, đêm nay, và cả những ngày sắp tới. Rồi suy nghĩ liều mạng thoáng nhanh trong đầu: tới cái chết còn dám cân nhắc thì đời này có quái gì phải sợ? Cảm nghĩ hỗn độn đó đã bị cắt ngang bởi tiếng nói cộc lốc như ra lệnh của Hoàng: “Vô nhà ngủ đi!”

 

Người đàn bà bước vào, chậm rãi nhìn kỹ ngôi nhà sau khi Hoàng bật điện lên. Gọi là nhà cũng đúng, gọi là chòi cũng không sai, vì dù nhếch nhác nhưng nó có đủ vật dụng cho cuộc sống, nhưng chỉ rộng chừng non  ba chục mét vuông. Điểm mà người phụ nữ này chú ý là ngôi nhà không to, phần bày biện khá đơn giản, sơ sài. Giữa nhà là một bộ bàn ghế được lắp ghép từ những tấm thép khá dày; một cái tủ sắt đã cũ và một cái giường sắt được lót bằng một tấm ván đủ cho một người nằm ngủ.

 - Lên đó mà ngủ. Đóng cửa hay không cũng được.

 Nói xong Hoàng bước ra khỏi nhà. Sau một ngày mệt nhoài, dù dè dặt nhưng rồi người đàn bà cũng đặt lưng xuống giường, mở mắt nhìn lên trần nhà, thầm nghĩ, rồi sáng mai mình sẽ đi đâu? Về đâu? Về nhà cha mẹ ruột ư? Không. Tuyệt đối không!

 

***

Chiếc xe phế liệu của Hoàng đang ì ạch chạy qua những đoạn đường vắng ngắt. Bên đường loáng thoáng rừng cao su tối đen. Một người đàn bà đứng bên đường đưa tay vẫy xe. Hoàng cho xe chạy qua nhưng vẫn tò mò liếc nhìn gương chiếu hậu, thấy người đàn bà chạy theo xe vài bước rồi tuyệt vọng dừng lại. Trong suy nghĩ của Hoàng, trời đã tối mà có người đón xe ở nơi hoang vắng là điều cần cảnh giác. Chạy hơn một trăm mét, Hoàng lại nghĩ: biết đâu người này muốn đi nhờ thiệt, nếu bị bỏ lại giữa rừng đêm, họ gặp phải rủi ro thì sao? Cũng có thể đây là một vụ dàn cảnh để cướp. Thích cướp thì cho cướp! Mà, họ cướp chiếc xe không ra xe này để làm gì? Hoàng chép miệng rồi cho xe lùi lại, nhoài người qua mở cửa cho người đàn bà bước lên. Có thể đây là số lùi định mệnh của hai người. Chạy được một đoạn khá xa, Hoàng bật nói như gắt:

- Về đâu?

- Không biết!

- Sao không biết?

- Chồng bỏ.

- Mai về lại không?

- Không về nữa.

 

Những lời trao đổi cộc lốc cho thấy vẻ bất cần của cả hai người. Không hiểu hai người ít nói hay tiếng động và tiếng gầm rú của máy xe làm cho họ không muốn nói. Trên cả đoạn đường dài gần năm chục cây số, Hoàng chỉ nói bâng quơ, chẳng ra mời, chẳng ra biểu: “Về nhà tôi ngủ rồi mai tính!”. Người đàn bà không trả lời, yên lặng nhìn vào màn đêm tối mịt và mải theo đuổi những suy nghĩ của riêng mình. Không biết những ngày tháng tới sẽ như thế nào nhưng hiện tại thì cô không muốn sống nữa. Cô xuất thân từ một gia đình vào hạng trung lưu của một huyện khá đông dân cư. Cha mẹ đặt tên con là Thu, với niềm tin rằng những người con gái mang tên Thu thường là những người có mệnh số sung sướng. Hình như vậy. Từ nhỏ cho tới lúc trưởng thành, Thu chỉ biết đi học trong sự cưng chiều của cha mẹ và đứa em trai kém Thu ba tuổi.

 

Tình yêu đến với Thu khi cô vừa học xong Đại học sư phạm Anh. Người thanh niên lịch thiệp, giàu có và trí thức như mong ước của Thu đã xuất hiện. Họ hẹn hò và mong ngóng nhau từng ngày như bao nhiêu người yêu nhau khác. Anh ấy đến đón cô sau giờ tan buổi dạy, rồi chở cô đi chơi đây đó. Tất cả đã thêu dệt nên những kỷ niệm tưởng chừng không thể nào quên trong tâm hồn của người đang yêu, được yêu. Và cô giáo dạy tiếng Anh đã tràn ngập niềm vui khi người yêu ngỏ lời cầu hôn. Ngày đám cưới của hai gia đình giàu có và trí thức trong huyện được bà con khen xứng danh “Môn đăng, Hộ đối”. Sóng bước bên người chồng cao to, khuôn mặt thanh tú khiến cô dâu trào dâng nỗi vui sướng, tự hào. Đêm động phòng là một kỷ niệm đáng nhớ trong cuộc đời của mỗi người con gái khi lấy chồng, nhưng đối với Thu là khởi đầu cho sự bi kịch và dấu chấm hết một tình yêu mà Thu đã nuôi dưỡng hơn hai năm qua. Bước vào phòng tân hôn, Thu ngả mình trên chiếc giường cưới sang trọng được đặt trong căn phòng khá rộng, thơm nức mùi nước hoa đắt tiền mà nhà trai đã chuẩn bị sẵn. Người chồng đi vào phòng và anh nhẹ tay khép cửa. Hai người nằm cạnh nhau rồi trao nhau những lời yêu thương về một gia đình đầy ắp sự hạnh phúc sau này. Rồi điều gì đến cũng phải đến. Cô dâu trân mình lên, đôi chân duỗi thẳng và cứng ngắc, hai bàn tay nắm chặt lại và rung rung theo một phản xạ tự nhiên, cặp mắt trợn ngược, hai hàm răng cắn chặt vào nhau, dòng nước bọt chảy dài bên khóe miệng. Một hình ảnh đáng sợ của cô dâu xuất hiện khi đôi vợ chồng trẻ kết thúc cuộc giao hoan. Chú rể vùng chạy ra khỏi phòng, bỏ mặc cô dâu đang nằm trên giường, khi trên người không một mảnh vải che thân. Người nhà hoảng hốt đưa cô dâu đang bị động kinh đến bệnh viện.

 

Trường hợp con người bị lên cơn động kinh khi gặp sự hưng phấn và kích thích cao độ rất hiếm xảy ra, không hiểu vì sao sự hiếm hoi ấy lại đến với một người con gái vừa đẹp, vừa phơi phới ước mơ như Thu. Thật ra điều này Thu đã biết vì lúc còn nhỏ cô đã từng vài lần lên cơn động kinh, nhưng khi trưởng thành thì không còn nữa. Mẹ cô là người có học vấn cao, đã từng khuyên con gái không nên lấy chồng, nhưng tất cả những lời khuyên đầy trách nhiệm đó đã bị cô bỏ qua để nuôi lớn tình yêu của bản thân. Tình yêu đầy lãng mạn trong cô đã tan chảy từ khi người chồng chỉ thẳng tay vào mặt Thu: “Cô là người đã đem tai họa đến cho gia đình tôi, ba mẹ tôi không muốn cô có mặt trong ngôi nhà này nữa”. Lòng đau như cắt, Thu tự thấy như mình là một loại phế liệu của gia đình nhà chồng, cô bước ra khỏi nhà ngay trong đêm. Sau hai ngày đêm lang thang trong sự tuyệt vọng, Thu được ngồi lên chiếc xe thuộc loại phế liệu để về đến một ngôi nhà chất đầy phế liệu.

 

Thu mừng run người nhưng vẫn giữ thái độ thận trọng, chậm rãi quay trở lại ngôi nhà khi Hoàng nói theo “Không đi đâu cả. Tôi cho cô sống ở đây”. Đó là tất cả những gì đã diễn ra khi Thu đến cảm ơn Hoàng đã cho mình ngủ nhờ qua đêm. Thu kể hết cuộc đời của mình cho Hoàng nghe, Hoàng im lặng, mắt nhìn vào khoảng xa xăm. Cuộc sống của hai người cứ lặng lẽ đi qua. Hằng ngày, Hoàng vẫn chở phế liệu là các loại sắt thép, vỏ đạn… còn sót lại sau chiến tranh mà người dân đi thu lượm ở trong rừng đưa về. Đôi bàn tay rướm máu nhưng Thu vẫn cần mẫn dọn dẹp căn nhà và cả khu vườn. Căn chòi đã được làm lại nhìn ra dáng một ngôi nhà; khu vườn rộng mênh mông của ông Hoàng phế liệu trông cũng  không còn hoang tàn như trước.

 

Nghe nói cách đây hơn bốn chục năm, có cặp vợ chồng trẻ trông dáng cũng đẹp đôi lắm, về đây chặt cây rừng làm nhà rồi tối tối dạy chữ cho bà con trong xóm. Không biết vợ chồng này dạy bằng cách gì mà đã làm cho cái đầu của những thợ rừng vốn đã quanh năm, suốt tháng trong rừng và tưởng chừng như chai lì trước cái chữ, vậy mà họ đọc được, viết được rồi làm được cả toán cộng và toán trừ. Cái chữ đã làm cho xóm rừng này thay đổi hẳn, không còn tăm tối như trước. Nhưng không may, sự xui rủi của cuộc đời đã đến với đôi vợ chồng mà bà con nơi đây đều gọi bằng cô, bằng thầy. Cả hai đều chết vì sốt rét cách nhau khoảng hơn mười ngày, bỏ lại đứa con trai mới hai tuổi. Đứa nhỏ đó chính là ông Hoàng. Có hai vợ chồng trẻ làm nghề rừng, đến với nhau đã lâu nhưng không sinh con, đã đưa Hoàng về nuôi như một sự trả ơn cho thầy, cô của mình. Hoàng lớn lên trong sự yêu thương của hai người. Không hiểu có phải do định mệnh hay không mà người cha nuôi của Hoàng lại bỏ làm nghề cưa gỗ để chuyển sang đào phế liệu trong rừng. Hồi đó cuộc chiến tranh dài đăng đẳng kết thúc chưa lâu, nên trong rừng còn cơ man nào những quả bom, mìn chưa nổ và chính quyền cũng chưa đề ra chính sách thu hồi vật liệu nổ. Bà con trong xóm đặt cho ông là “Bình Liều”, nhưng họ chỉ nói mỗi khi ông vắng mặt, họ hiểu rằng ông ta dám liều mạng để tháo kíp nổ của quả bom, trái đạn là do nhu cầu mưu sinh. Vợ của ông hình như không chịu nổi sự căng thẳng thần kinh với “nghề” của người chồng, hay vì lý do nào đó mà đành bỏ chồng đi làm vợ người đàn ông khác ở ngoài tỉnh. Những người hàng xóm sợ những quả đạn ông đem về nằm trong vườn sẽ phát nổ, nên họ cũng dọn nhà đi cách xa tầm sát thương của quả nổ. Vậy là ngôi nhà cha con ông Bình Liều nằm cô độc giữa khoảng đất rừng trống vắng. Và sau này khoảng đất mênh mông đó đã trở thành tài sản riêng của Hoàng. Từ tình thương dành cho người cha nuôi, đã tạo cho Hoàng trở thành một con người chai lỳ trước nỗi sợ hãi và cái chết. Sau mỗi buổi đi học về là Hoàng ngồi cưa bom với cha của mình, mặc cho sự rủi ro có thể đến với họ bất cứ lúc nào?

 

Trong những đứa bạn học với Hoàng thì chỉ có Lâm là người thường đến nhà chơi. Bạn học cùng lớp đều xếp Lâm vào loại liều mạng. Tình bạn của họ kéo dài cho tới lúc học xong trung học phổ thông thì Lâm vào Đại học, còn Hoàng đi nghĩa vụ quân sự. Vào quân đội, Hoàng được đưa vào binh chủng công binh và cũng chuyên làm nhiệm vụ rà phá bom mìn, nhưng lần này thì khoa học hơn và ít rủi ro hơn. Ra quân không lâu thì cha nuôi qua đời, Hoàng chọn nghề lái xe chở phế liệu như một cách kế nghiệp. Lâm tốt nghiệp Đại học khoa kinh tế và về làm ở ủy ban nhân dân huyện nhà, rồi cưới vợ sinh con.

 

Cuộc sống lặng trôi, mỗi người tự an phận với cái hiện có của mình. Hoàng vẫn chở phế liệu. Thu vẫn cần mẫn với công việc dọn nhà, dọn vườn. Lâm vẫn chăm chỉ với công việc nhân viên văn phòng và luôn đau đáu với ước mơ được lên lương, lên chức cao hơn. Mỗi tuần, Lâm đến nhà Hoàng một lần nhưng tuyệt nhiên không đưa vợ con theo. Từ lúc Lâm được lên chức chánh văn phòng ủy ban nhân dân huyện thì chuyện thăm viếng cũng thưa dần. Chức càng to công việc càng nhiều, rồi phải họp hành nhiều hơn, Hoàng luôn nghĩ như vậy, nên tình bạn của họ không vì ít gặp mà thay đổi.

 

Lâm gặp nạn. Không biết đây là tai họa, hay Lâm đang phải trả giá cho những hành vi thật sự của mình? Lâm bị kiện, người đứng đơn kiện là một cán bộ trong huyện và cũng là chồng của một nữ nhân viên dưới quyền của Lâm, kèm theo tờ đơn là những tấm hình chụp hai người từ trong một khách sạn đi ra. Lâm và cô nhân viên chối bay, chối biến cái tội ngoại tình mà người chồng nêu ra trong đơn. Họ đều thanh minh là cùng đi công tác rồi ngủ chung khách sạn nhưng mỗi người đều thuê phòng riêng. Cái lý do này đã chọc giận ông chồng bị cắm sừng, anh quyết tâm điều tra cho ra nhẽ. Thật ra, chuyện tư tình của Lâm và cô nhân viên thì phần lớn cán bộ trong huyện đều biết, nhưng không ai dám nói ra, dù cho đó là bạn thân. Ai cũng hiểu cái chức chánh văn phòng rất gần với chức phó hoặc chủ tịch ủy ban nhân dân huyện. Câu chuyện cán bộ văn phòng ủy ban huyện ngoại tình tự nhiên lắng xuống một cách bất ngờ. Người chồng rút đơn kiện và xin lỗi vì sự hiểu lầm lòng chung thủy của vợ.  Gia đình họ trở lại đầm ấm như xưa, còn trong lòng họ nghĩ sao về nhau thì chẳng ai biết. Cái kết là Lâm được chuyển sang làm nhân viên phòng tài chính ở một huyện kế bên. Vợ Lâm làm đơn xin ly hôn, và tòa án huyện cũng sớm quyết định đồng ý theo đơn, khi Lâm thuận tình để lại mọi tài sản cho vợ và con gái. Nhiều cán bộ cứ thắc mắc, là chuyện động trời cả huyện đều biết mà sao lại kết cục nhanh gọn như vậy? Chị nuôi căn tin của huyện tiết lộ, là trước khi kết thúc chuyện kiện cáo, chị có thấy ông bí thư huyện ủy mời Lâm đến ăn cơm chung và trò chuyện rất lâu. Không nghe ông bí thư huyện nói gì, nhưng chị nuôi thấy Lâm khóc và nói “Cháu sẽ làm theo lời chú”. Nghe qua câu chuyện, nhiều người khen ông bí thư huyện ủy xử lý có tình có lý, vì họ hiểu rằng trên đời này không có ai là thứ bị bỏ đi.

 

Từ ngày Thu về sống chung với Hoàng tới nay đã hai năm, cuộc sống chung quanh cũng nhiều thay đổi. Đường sá được mở rộng và tráng nhựa, nhà cửa mọc san sát ra dáng phố thị chứ không không còn là một vùng quê miền núi. Khu vườn rộng hơn bốn cái sân bóng đá của ông Hoàng phế liệu đã trở thành một thứ tài sản quá lớn mà không ai dám ước mơ được sở hữu. Riêng Hoàng và Thu vẫn không thay đổi. Hoàng vẫn lái xe chở phế liệu thuê hằng ngày, Thu vẫn là người làm vườn và chừng vài ngày dẫn một số người nước ngoài đi thăm chơi trong thị trấn. Lâu lâu Lâm về thăm, tình bạn của hai người vẫn như cũ.

 

Gần trưa, Hoàng đi bộ về nhà sau khi chạy chiếc xe tải vào gara do  lâu ngày chưa được kiểm tra. Thấy Lâm từ trong nhà đi ra rồi vội vã dắt xe đi, Hoàng thấy vui vì có bạn tới thăm, Lâm đứng lừng khừng khi nghe lời mời vô nhà của Hoàng. Bước vô nhà, trước mắt của Hoàng là một cảnh tượng đáng sợ. Thu đang nằm giữa nhà, toàn thân co giật biểu hiện của một cơn động kinh. Lâm nói lí nhí với Hoàng: “Tao xin lỗi mày. Tao xin lỗi mày...”. Từ lúc biết Thu mắc bệnh động kinh, Hoàng đã tìm hiểu và biết được người từng bị động kinh sẽ rất dễ lên cơn mỗi khi gặp sợ hãi vì tác nhân bên ngoài.  Hoàng nhận ra là mình đã lờ mờ hiểu một phần câu chuyện.

 

Hai người bạn ngồi đối diện nhau trong khu vườn nhà Hoàng và câu chuyện của họ là sự sòng phẳng của những người đàn ông:

 - Tao chỉ mới ôm nhưng cô ta quá hoảng sợ dẫn đến động kinh.

 - Chắc mày nghĩ tao với Thu không phải là vợ chồng.  

 - Tao xin lỗi mày, bởi vì tao thấy Thu quá đẹp nên tao không kìm được cảm xúc.

 - Lỗi lầm lần đầu của mày đã được ông bí thư huyện ủy tha thứ, nhưng lần này thì không biết tao có nên tha thứ cho mày hay không?

 - Tao mong mày tha lỗi cho tao.

- Tao chỉ yêu cầu mày không nên làm cán bộ nhà nước nữa. Nếu không biết kìm chế bản thân trước sự ham muốn thì cách tốt nhất là nên nhường cho người đàng hoàng, chín chắn.

 

Cuộc nói chuyện của hai người kết thúc. Nhiều người thấy tiếc nuối và khó hiểu khi một cán bộ giỏi chuyên môn như Lâm lại xin nghỉ việc để đi ở đâu đó mà không ai biết. Hy vọng một con người được “tái chế” thêm một lần nữa sẽ thay đổi hoàn toàn?

 

Khu vườn rộng hơn bốn cái sân bóng đá của ông Hoàng không còn nữa, thay vào đó là một ngôi trường trung học phổ thông. Nghe bà con nói là vợ chồng ông Hoàng hiến toàn bộ đất vườn của mình cho huyện để xây trường, chỉ giữ lại một khoảnh đất đủ cất lại một căn nhà để ở. Thu được trường nhận vào dạy Anh văn và Hoàng làm bảo vệ của trường. Cuộc sống của cô Thu và ông Hoàng vẫn đằm thắm và lặng lẽ trôi qua nhưng suốt đời họ chỉ là đôi nhân tình, là hồng nhan tri kỷ chứ không phải vợ chồng.                                                 

 

Trần Duệ


READ MORE - ÔNG HOÀNG PHẾ LIỆU - Truyện ngắn của Trần Duệ

Tuesday, July 15, 2025

MÙA NGUYÊN TRĂNG - Thơ Mặc Phương Tử



MÙA NGUYÊN TRĂNG (*)


Tiếng chuông xưa

Vọng bên thềm

Nghe tình sử cũ qua miền ảo hư.

Bây giờ

Trời sắp tàn thu,

Trăng nghiêng bóng xuống trời mù sương khuya.


Đời dù lắm nỗi nọ kia

Ngược xuôi 

Cũng lắm đường chia nẽo về.

Nhưng ta còn một trời quê

Hồn lau điểm trắng tư bề thu phương.


Mùa trăng thuở ấy còn hương...

Mây tuôn dốc mộng,

Ngàn sương rụng sầu !

Gió về bạt đỉnh chiêm bao,

Dấu xưa 

Còn tạc nguyên màu trăng xưa.


Trăm năm cuộc lữ

Rằng thưa;

Ta-người

Vẫn vẹn một mùa nguyên trăng! 


MẶC PHƯƠNG TỬ

minhtongks74@yahoo.com

 (*) Nhân gặp lại sư G. Hiền (Tâm Quảng).

READ MORE - MÙA NGUYÊN TRĂNG - Thơ Mặc Phương Tử

KHÔNG CÒN TRẺ NỮA - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Lời: Phạm Anh Dũng & Mỹ Ngọc - Phương Thảo trình bày

READ MORE - KHÔNG CÒN TRẺ NỮA - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Lời: Phạm Anh Dũng & Mỹ Ngọc - Phương Thảo trình bày

LỤC BÁT NGẮN - Huỳnh Liễu Ngạn

 


HUỲNH LIỄU NGẠN

 LỤC BÁT NGẮN

 

THUYỀN QUYÊN

 

cơn mưa nào rớt giữa hồn

tháng giêng về muộn nỗi buồn chung thân

mai em quẩy gánh chợ gần

để cho mẹ thấy lại tần tảo xưa.

 

QUAN SAN

 

chiều rơi từng nhánh sương mù

anh nghe phố thị hoang vu một ngày

cũng mùa thu đó heo may

tiếng hò ơi lại trùng vây anh rồi

quan san chi một kiếp người

em như giấc mộng anh đời mây trôi.

 

PHONG VÂN

 

thôi còn đâu thôi còn đâu

bước đi lay động nhịp cầu đêm xưa

qua nhà tìm dấu trăng đưa

phương tôi mây xám trời mưa giăng sầu

hương cau ngây dại ban đầu

phải em tiền kiếp nhiệm mầu hóa thân

tôi về bóng nhập phong vân

nghe đêm khép lại vô ngần chiêm bao.

 

TƠ VƯƠNG

 

người đi như thế trăng chìm

qua sông đợi bóng gió tìm ngọn cây

tôi xin thêm chút hao gầy

góp trăm năm một góc đầy nhớ thương

người đi hoài vọng tơ vương

hỏi thăm mộng có vô thường tay đan

người đi gió núi mưa ngàn

nên tôi lạc giữa gian nan của người.

 

PHÙ VÂN

 

phải đêm là bóng của ngày

từ vô lượng đó đã gầy dấu chân

người đi mang nặng căn phần

để sông nước lại phù vân với đời

tôi ngồi nhìn buổi chiều trôi

trăm năm hoài nỗi đơn côi lớn dần.

 

XA KHƠI

 

từ em ngành ngọn trơ vơ

quê hương anh đợi chiều ngơ ngẩn về

bóng đêm nghìn dặm sơn khê

đã che hết cả đường về xa khơi

bấy lâu lạc giữa cuộc đời

mà thương con nước xa vời đâu đây.

 

LỤA LÀ

 

đêm dài thở bóng trăng đưa

sầu tôi con nước xế mùa trôi xa

đêm qua bước xuống hiên nhà

thấy nguyên một nét lụa là ngày xưa.

 

LƯNG ĐÈO

 

thôi em lỗi hẹn giang đầu

ngày đi nắng xế một màu viễn khơi

từ em tóc ngát hương đời

hoang vu thành cánh chim trời bay theo

em đi bóng mộng lưng đèo

bỏ tôi với tháng năm vèo theo năm.

 

MÊNH MÔNG

 

tròn đôi mắt của nhớ thương

em nghiêng xuống cõi hoang đường của tôi

về khuya trăng lẻ bóng rồi

sao hôm tịch lặng giữa trời mênh mông

với tay có thấu vô cùng

mà người thì vẫn nghìn trùng xa xôi.

 

HOANG VU

 

thôi xin người chút hoang vu

để tôi đi giữa sa mù bủa dâng

thôi xin người chút phù vân

để tôi tìm lại căn phần của tôi

thôi xin người chút đơn côi

để tôi đối mặt với đời lạnh căm

thôi xin người chút mù tăm

để tôi lạc giữa xa xăm của người.

 

HUỲNH LIỄU NGẠN

READ MORE - LỤC BÁT NGẮN - Huỳnh Liễu Ngạn