Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 11, 2025

Truyện cổ Brazil: LÝ DO HỔ VÀ HƯƠU SỢ NHAU - Nguyễn Khắc Phước kể

 






Truyện cổ Brazil

LÝ DO HỔ VÀ HƯƠU SỢ NHAU

 

Ngày xửa ngày xưa, trong rừng nọ có một con hươu đực to lớn đẹp trai sở hữu cặp sừng phân nhiều nhánh. Một ngày nọ, hươu tự bảo: “Ta mệt mỏi vì không có nhà cho riêng mình nên cứ sống rày đây mai đó. Ta sẽ xây cho ta một ngôi nhà." Hươu tìm trên mọi ngọn đồi, trong mọi thung lũng, bên dòng suối và dưới mọi tán cây để tìm một nơi thích hợp. Cuối cùng, nó tìm dược một nơi vừa phải: Không quá cao, cũng không quá thấp, không quá gần suối và không quá xa suối, không dưới tán cây quá rậm rạp và không ở nơi  nắng gắt. “Ta sẽ xây nhà ở đây,”  nó nói, và bắt đầu dọn chỗ ngay lập tức. Hươu làm việc cả ngày và không đi  đâu cho đến tối. 

     Vào thời gian ấy, tại chính khu rừng đó có một con hổ to lớn đẹp trai, với hàm răng sắc nhọn và đôi mắt sáng quắc, vẻ độc ác. Một ngày nọ, hổ tự bảo: “Ta mệt mỏi vì không có nhà của riêng mình, đành phải sống quanh quẩn ở bất cứ đâu! Ta sẽ xây cho  chính ta một ngôi nhà." Thế là hổ bắt đầu tìm kiếm một nơi để dựng ngôi nhà của mình. Hổ kiếm trên mọi ngọn đồi, trong mọi thung lũng, bên dòng suối và dưới mọi tán cây. Cuối cùng, hắn tìm thấy một nơi vừa phải. Không quá cao cũng không quá thấp, không quá gần và không quá xa một con suối, không dưới tán cây quá rậm rạp và cũng không xa những tán cây để phải ở ngoài nắng gắt. Hổ tự nhủ: “Ta sẽ xây nhà ở đây. Nơi này đã sẵn sàng cho ta vì ở đây không có nhiều bụi rậm." Hắn bắt đầu ngay lập tức và hoàn thành việc dọn dẹp nơi này sau một dêm. Đến khi trời sáng, hắn bỏ đi. 

     Vào ban ngày, hươu trở lại tiếp tục công việc cho ngôi nhà mới của mình. “Hừm,” nó nói khi nhìn vào bãi đất trống. “Ai đó đã giúp ta. Nơi này đã được giải phóng mặt bằng và sẵn sàng để ta xây dựng nền móng.”

     Hươu bắt đầu ngay lập tức và làm việc cả ngày. Đến tối, khi đặt nền xong, nó bỏ di. 

    Vào ban đêm, hổ đến làm việc tại ngôi nhà mới của hắn. “Hừm,” hắn nói khi nhìn vào nền nhà. “Ai đó đã giúp ta. Nền móng của ngôi nhà đã được đặt xong.” Hổ bắt đầu làm việc và xây dựng các vách tường của ngôi nhà. Hắn làm việc cả đêm và bỏ đi lúc rạng sáng, để lại ngôi nhà với các vách tường đã hoàn thiện. Có một cửa lớn và một cửa sổ nhỏ ngộ nghĩnh ở bên cạnh. 

    Vào rạng sáng, hươu trở lại làm việc nhà của mình. Khi nhìn thấy các vách tường, nó dụi mắt vì nghĩ rằng mình đang mơ. Các mặt của ngôi nhà được hoàn thiện với một cửa lớn và một cửa sổ nhỏ ngộ nghĩnh. “Chắc chắn có ai đó đã giúp ta,” nó tự nói và bắt đầu làm việc để lợp mái nhà. Hươu làm việc quần quật cả ngày và đến khi mặt trời lặn, căn nhà lợp xong bằng cỏ khô. “Ta có thể ngủ trong nhà riêng của mình đêm nay,” nó nói, và sau đó, dọn giường trong góc và chẳng mấy chốc đã ngủ say. 

    Đến tối, hổ trở lại làm việc ở ngôi nhà mới của mình. Khi nhìn thấy nhà, hắn dụi mắt vì nghĩ rằng mình đang mơ. Căn nhà đã được lợp bằng cỏ khô. 

    “Chắc chắn có ai đó đã giúp ta,” hổ tự bảo khi bước vào cửa. Cảnh đầu tiên hắn nhìn thấy khi bước vào cửa là một con hươu sừng to đang ngủ say trên giường trong góc. "Mầy là ai và đang làm gì trong nhà của tao?" hắn xổ giọng trầm nhất của mình. 

    Hươu giật mình thức dậy. "Mầy là ai và đang làm gì trong nhà của tao?" hươu đực nói bằng giọng trầm nhất của mình. 

    “Đây không phải là nhà của mày. Đây là của tao. Tao đã tự mình xây dựng nó,” hổ nói. 

    “Đây là nhà của tao,” hươu nói. "Tao đã tự mình xây dựng nó." 

    “Tao đã phát quang và dọn dẹp khu đất,” hổ nói, “Tao xây tường các bên và làm cửa ra vào và cửa sổ.” 

    “Tao đã bắt đầu dọn dẹp khi đất còn hoang,” hươu nói. "Tao đặt nền móng và lợp mái nhà bằng cỏ khô." 

    Hươu đực và hổ cãi nhau suốt đêm, không ai chịu thua ai. Vào lúc bình minh, chúng quyết định rằng chúng sẽ sống cùng nhau ở đó. 

    Đêm hôm sau, hổ nói với hươu đực, “Tao sẽ đi săn. Mầy lấy nước và chuẩn bị sẵn củi để đốt lửa. Tao đói lắm khi trở về.” 

    Hươu đực đã chuẩn bị sẵn củi và nước.  Gần tối,  hổ quay lại. Hắn mang về nhà cho bữa tối xác một con hươu đực thật đẹp. Hươu đực không thèm ăn và đêm đó nó không ngủ giấc nào. 

    Ngày hôm sau, hươu đực nói rằng nó sẽ đi săn. Nó bảo hổ hãy chuẩn bị sẵn củi và nước khi nó quay lại. Hổ đã chuẩn bị sẵn củi và nước. Hươu đực quay trở lại, mang theo xác của một con hổ lớn. 

    “Ta gần như chết đói,” hươu nói. "Chúng ta hãy ăn tối ngay lập tức." Con hổ không thèm ăn và không ăn miếng nào. 

    Đêm đó cả hổ và hươu đực đều không thể ngủ giấc nào. Hổ sợ  hươu đực sẽ giết hắn nếu hắn nhắm mắt trong một phút, và hươu  sợ  hổ sẽ giết nó nếu nó ngủ hoặc thậm chí giả vờ ngủ. Do đó, nó tiếp tục tỉnh táo.  

    Vào buổi sáng,  hươu đã rất mỏi vì giữ nguyên một vị trí quá lâu. Nó khẽ lắc đầu. Khi làm vậy, sừng của nó đập vào nóc nhà.  gây ra một âm thanh khủng khiếp. Hổ nghĩ rằng hươu đực sắp chồm lên và giết chết hắn. Hắn nhảy vọt tới cánh cửa và chạy biến  ra khỏi nhà. Hắn chạy và chạy cho đến khi thật xa, thật xa căn nhà lợp bằng cỏ khô. 

    Hươu đực nghĩ rằng con hổ sắp chồm lên và giết chết nó. Nó cũng vọt cửa chạy vụt cho đến khi khuất xa, xa căn nhà lợp bằng cỏ khô. Hổ và hươu đực vẫn chạy trốn nhau cho đến tận ngày hôm nay. 

    Ngôi nhà mái cỏ khô nằm chờ ở nơi không quá cao cũng không quá thấp, không gần cũng không xa sông, không dưới tán cây quá rậm rạp, cũng không phải ngoài trời nắng gắt. Nó đợi chủ đến ở và đợi mãi cho đến khi mệt mỏi đến nỗi nó đổ xuống thành một đống.

 

(Hươu là loài ăn cỏ nhưng trong truyện này, tác giả cho rằng hươu có thể ăn thịt. Đó chỉ là hư cấu của tác giả để cho truyện thêm phần gay cấn. Thực ra, hươu cũng không ăn miếng thịt hổ nào. Nó chỉ mang xác con hổ về để dằn mặt hổ mà thôi.)

 

Nguồn:

Why the Tiger and the Stag Fear Each Other,

Elsie Spicer Eells, January 22, 2015, fairytalez.com.

Tranh minh họa của ChatGPT được gắn giọng đọc của AI.

 



READ MORE - Truyện cổ Brazil: LÝ DO HỔ VÀ HƯƠU SỢ NHAU - Nguyễn Khắc Phước kể

MỘT NỮ LƯU XỨ HUẾ VỚI TRUYỆN KIỀU - Hoàng Thị Bích Hà

 


MỘT NỮ LƯU XỨ HUẾ VỚI TRUYỆN KIỀU


    Bút danh Ninh Giang Thu Cúc (NGTC) có lẽ bạn đọc miền Nam từ năm đầu thập kỷ sáu mươi thế kỷ XX cũng đã từng biết tới. Miền đất sông Hương núi Ngự đã góp phần hun đúc, nuôi dưỡng hồn thơ, mạch văn của tác giả. Mảnh đất Quy Nhơn, Bình Định là nơi chị cống hiến hết mình với lao động nghệ thuật, nghiên cứu, biên khảo và sáng tác. Những trang viết của chị đầy lòng nhân ái, khiêm cung của người phụ nữ Huế cùng với tinh thần từ bi của người thấm nhuần triết lý Phật giáo. Chúng tôi gọi chị là “Con nhà Phật”.

    Với số lượng tác phẩm đã xuất bản rất phong phú về thể loại là những con số biết nói, minh chứng cho sự nghiệp cầm bút bằng tất cả lòng nhiệt tình, sự đam mê cháy bỏng với văn chương trong sáu mươi năm cầm bút. Ngay cả khi có vấn đề về sức khỏe như thời điểm hiện tại chị vẫn lao động, sáng tạo không ngừng nghỉ. Những bài viết của chị sâu sắc và ý nghĩa, thấm đẫm tình người và giàu giá trị nhân văn. Viết - suy cho cùng là một hình thức trao đi sốt sắng chân tình, không vụ lợi. Đằng sau những con chữ “rút ruột như tằm nhả tơ” ấy là cả một tấm lòng bao dung, sẻ chia dành cho đời, cho người với tất cả chân tình, thiết tha ẩn trong sự giản dị, khiêm nhường. Các sáng tác của chị giàu chất trữ tình trong thơ, phong phú súc tích dày dặn trong truyện, tiểu luận phê bình. Ngọt ngào tinh tế khi viết tản văn. Những bài thơ viết về các danh nhân lịch sử đã làm cho người đọc bồi hồi xúc động vì tình cảm, sự ngưỡng mộ, biết ơn của hậu thế dành cho các bậc tiền bối. Đặc biệt những nhận định văn học của chị về Truyện Kiều rất đáng suy ngẫm.

    Truyện Kiều ra đời đã hơn hai thế kỷ của đại thi hào Nguyễn Du đã làm say mê bao trái tim người đọc nhiều thế hệ kể cả trong và ngoài nước. Đã có rất nhiều cây bút phê bình, thưởng lãm hướng đến áng thơ tuyệt tác này. 

    Trong đó có tác phẩm vừa mới xuất bản của một nữ lưu xứ Huế viết về Truyện Kiều có tựa đề: Đọc Kiều Thương Khách Viễn Phương (Nxb Văn hóa Văn nghệ, quý II, năm 2019).

    Tác phẩm với giọng văn giản dị, dễ hiểu và rất lôi cuốn, trình bày khúc chiết, mạch lạc những nhận định rất đáng suy ngẫm với tình thần cầu thị. Đặc biệt đối với truyện Kiều: “đã từng học và đọc Truyện Kiều đến thuộc lòng bằng tất cả niềm yêu quý với tác phẩm và sự trân quý dành cho đại thi hào Nguyễn Du”.

    Theo chị: “Truyện Kiều là một sáng tác vĩ đại của Nguyễn Tiên Điền chứ không phải là tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân có tên gọi là Kim Vân Kiều Truyện. Nguyễn Du chỉ mượn nhân vật, bối cảnh, tình tiết của đất nước Trung Hoa, triều đại nhà Minh để chuyển tải nỗi niềm chìm đắm đau thương, tranh giành đoạt lợi tương tàn tương sát của xã hội Việt Nam thời Lê mạt.” Cuốn sách là một ấn phẩm nhỏ xinh dày 280 trang với hai phần trình bày:

    Phần 1: Lời ngỏ và những bài viết về truyện Kiều và sáu bài thơ vịnh các nhân vật trong truyện Kiều cùng lời kết cho tác phẩm.

    Phần 2: Phần phụ lục: “Mấy dòng sử thi” là những bài thơ vịnh về một số danh nhân lịch sử đã có công trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước của dân tộc.

    Qua tác phẩm chúng ta thấy tác giả NGTC tỏ ra rất am tường văn học sử, bối cảnh thời cuộc tác phẩm ra đời, am hiểu lịch sử và văn học qua các thời kỳ. Vì vậy chị có cái nhìn thấu đáo khi viết về tác giả tác phẩm nói chung và truyện Kiều nói riêng.

    Chị đã lao động tận tụy và nghiêm túc để “rút sợi tơ lòng, “cống hiến cho độc giả những nhận định văn học chửng chạc và tâm huyết của một người cầm bút đầy trách nhiệm.

    “Tôi đã đến với Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Tiên Điền bằng tất cả niềm quý kính”. Chị đã đọc Kiều suốt bao năm tháng với tấm lòng ngưỡng mộ thi tài. Chị “Muốn làm một cái gì đó để bày tỏ lòng ngưỡng mộ như một nén hương lòng dâng lên người thiên cổ đã để lại cho đời thiên tuyệt bút”.

    Bằng những dòng tóm tắt hàm súc và đủ ý chị viết về tác gia: “Nguyễn Du là con trai thứ bảy của xuân quận công Nguyễn Nghiễm và phu nhân Trần Thị Tần- Người phụ nữ mỹ miều xứ Kinh Bắc. Cậu ấm Du sống trong nhung lụa nhưng hạnh phúc không mỉm cười lâu hơn với cậu, vừa lên mười tuổi, nỗi bất hạnh lớn ập đến là thân sinh Nguyễn Nghiễm qua đời và hai năm sau phu nhân Trần Thị Tần cũng theo chồng về thiên cổ, bỏ lại bốn anh em Nguyễn Du côi cút, đành nương tựa vào người anh cả khác mẹ là tả Thị Lang bộ hình kiêm hợp trấn xứ Sơn Tây. Hoạn lộ của người anh Nguyễn Khản gập ghềnh biến động. Tuy vậy Nguyễn Du vẫn được anh cho ăn học tử tế, thi đậu tam trường (tú tài). Nguyễn Du có mối tình đầu với cô thôn nữ đẹp như trăng mười sáu và có giọng hát trong veo như sương mai. Họ yêu nhau nồng nàn”.

    Kim Kiều hò hẹn:

    “Tiên thề cùng thảo một chương 

    Tóc mây một món dao vàng chia đôi

    Vầng trăng vằng vặc giữa trời 

    Đinh ninh hai miệng một lời song song”

    Cũng chính là nói về mối tình đầu của Nguyễn Du và cô thôn nữ.

Chị cho rằng 3254 câu lục bát mượt như nhung và thơm hương ngọc lan dịu nhẹ toàn tập là từng khúc ruột mang thương tích trầm kha, nhức nhối của thời đại, của mỗi cá nhân tất nhiên có cả tác gia Truyện Kiều.

    Nguyễn Du sinh ra cuối thế kỷ XVIII - thời cuộc đầy biến động. Ông sớm nổi trôi chiêm nghiệm những thăng trầm giông bão của xã hội và cuộc đời riêng. Trải qua những mất mát tang thương của tan vỡ, đổi thay và ly loạn.

    Khi ông theo gương cha đem trí lực phụng sự nhà Lê với một chức quan nhỏ thời Lê mạt. Lê triều sụp đổ. Ông làm thân bèo dạt mây trôi vì biến thiên của lịch sử khi thì ở quê vợ Thái Bình khi “lẳng lặng phiêu bồng sương khói khắp miền non lĩnh Sông Lam đằng đẳng mười năm ngỏ hầu tìm quên thế sự.”Vì vậy có nhiều ức đoán của các nhà nghiên cứu là Đoạn trường tân thanh ra đời trong giai đoạn này. Những ức đoán, khẳng định, phủ quyết về sự ra đời của tác phẩm vẫn còn là một bí ẩn…”

    NGTC đưa ra những nhận định phủ quyết tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh không thể ra đời trong giai đoạn này: “Những tháng năm bất đắc dĩ phải chơi trò tiêu dao vui thú yên hà ở độ tuổi ngoài ba mươi (36), liệu có hội đủ chất liệu, sự trải nghiệm qua những trò đời đen bạc để viết nên “những điều trông thấy”. Dẫu có ít nhiều trải nghiệm nhưng chưa đủ độ chín muồi của dâu bể cuộc đời để viết nên Đoạn trường tân thanh! Chỉ có thể sau khi được nhà Nguyễn mời ra làm quan khi tuổi đã xế chiều với tâm trạng“hàng thần lơ láo” khủng hoảng tâm lý, ốm đau bệnh tật”. “Ba xuân mang bệnh nghèo không thuốc”, rồi chứng kiến những bất cập, mặt trái, hệ lụy của đời sống quan trường “không bệnh mà vẫn phải lom khom”. Những thương ghét, đố kị dèm pha của người đời ở đâu cũng có, thời nào cũng không tránh khỏi. Khi đi sứ Trung Hoa, ông đã tìm thăm những di tích lịch sử để khóc thương, quý trọng những nhân vật lịch sử của đất nước Trung Hoa. Cảm thương số phận nhi nữ tài hoa bạc mệnh (Độc Tiểu Thanh ký- Nguyễn Du). Tất cả những trải nghiệm thăng trầm của chính cuộc đời mình cùng với những biến cố của thế sự trong và ngoài nước, ông đã tích lũy vốn sống, cảm xúc qua bao nỗi đoạn trường đầy chiêm nghiệm suy tư dồn nén để chắt lọc, lắng đọng, bật ra những trang thơ còn mãi với thời gian. Đi qua hai thế kỷ Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng nói nhân văn của một tâm hồn nghệ sỹ lớn với tài năng sáng tạo phi thường. Từ “những điều trông thấy” Nguyễn Du mới có kiệt tác truyện Kiều để lại một gia tài văn học đồ sộ cho hậu thế. Vì vậy Truyện Kiều ra đời trong khoảng 1814 là ý kiến đầy thuyết phục. Ninh Giang Thu Cúc đã tìm đọc nhiều tư liệu để mong hé lộ phần nào về thời điểm ra đời của tác phẩm Truyện Kiều: Hoàng Xuân Hãn cho rằng “Đoạn Trường Tân Thanh được viết khoảng năm 1814- 1820 (Theo Nguồn gốc văn Kiều - Hoàng Xuân Hãn trang 30- Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều- Lê Xuân Lít).Tác giả Lê Quế cũng cho rằng Truyện Kiều được viết vào năm 1814 (So sánh dị bản Truyện Kiều, NXB Văn Học 2006).

Nguyễn Du đã ký thác nỗi niềm của mình hay nói cách khác là chân dung của Nguyễn Du được thể hiện qua bốn nhân vật trong truyện: “Bốn gương mặt, bốn tính cách và những bi kịch của mỗi người cộng lại thành chân dung của Nguyễn Du”: số phận tài hoa mà bị nhiều khổ ải, lên thác xuống ghềnh qua nhân vật Thúy Kiều, hình ảnh một công tử lịch lãm, phong vận thông minh hơn người qua nhân vật Kim Trọng, Tứ Vô Lượng Tâm của nhà Phật qua nhân vật khách viễn phương, thể hiện chí làm trai qua nhân vật Từ Hải. Và mối tình thuở xuân xanh với cô thôn nữ được tái hiện qua mối tình Kim Kiều.

    Tác phẩm Đọc Kiều Thương Khách Viễn Phương là những dòng cảm xúc rất chân thành của tác giả NGTC với Truyện Kiều mà hơn hết là đại thi hào Nguyễn Du người đã “tái sinh lại các nhân vật bất tử, điển hình là Thúy Kiều- người phụ nữ tài sắc vẹn toàn…” phải chịu nhiều đày ải trầm luân của kiếp người. NGTC thương cho nàng Kiều tài hoa bạc mệnh bao nhiêu thì có cái nhìn nghiêm khắc với các nhân vật phản diện bấy nhiêu.

    Nói về Hoạn Thư và mối nhân duyên của Hoạn Thư - Thúc Sinh.Tác giả đưa ra những luận điểm, dẫn chứng để phân tích và kết luận là Hoạn thư không phải ghen vì yêu. Bởi vì cuộc hôn nhân này không “Duyên đằng thuận nẻo gió đưa” khi mà không môn đăng hộ đối theo quan điểm thời bấy giờ. Lấy chồng rồi Hoạn Thư không về nhà chồng làm vợ hiền dâu thảo mà vẫn ở trong phủ đệ của nhà mình.Vợ chồng gì mà cả năm mới gặp nhau một lần. Đối với Hoạn Thư, Thúc sinh sợ nhiều hơn yêu. Hoạn Thư luôn tỏ ra thế bề trên đối với Thúc Sinh mặc dù xã hội phong kiến luôn trọng nam khinh nữ. Tác giả NGTC đặt vấn đề “Không yêu sao lại ghen? Và lý giải ghen để chứng tỏ uy quyền, ghen để thỏa mãn sự chiếm hữu. Mẹ của Hoạn Thư và Hoạn Thư thay nhau hành hạ Thúy Kiều:

    “Trúc côn ra sức đập vào 

    Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh”

    Và:

    “Làm cho cho mệt cho mê

    Làm cho đau đớn ê chề cho coi”

    Nguyễn Du viết: “Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm” nhưng theo NGTC giọt khóc thầm ấy không chân tình. Gã vẫn chẳng việc gì, tan tiệc vào chung phòng với vợ để Kiều “tựa bóng đèn chong canh dài”. Theo cái nhìn nhân ái của trái tim nữ giới chị cho rằng cả hai người phụ nữ đó đều đáng thương, đều là nạn nhân của kẻ chơi bời, nói ngông, ba hoa: “Trăm điều hãy cứ trông vào một ta” nhưng khi tai họa đến Thúc sinh phủi tay: “Liệu mà cao chạy xa bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi”. Tính chất phi trượng phu càng bộc lộ khi được Kiều gọi đến để báo ân, báo oán “Mặt như chàm đổ mình dường dẻ run”.

    Hoạn Thư là nhân vật phản diện, kẻ đã góp phần làm “cánh hoa Kiều” tan tác hơn, mà NGTC vẫn có cái nhìn độ lượng: “sau khi lòng tự tôn đã thỏa, cơn tam bành lục tặc đã được vỗ về yên giấc thì lòng nhân hậu, thiện lương của người đàn bà đã trở về …”. Hoạn Thư cho Kiều ra chép kinh ở quan âm các, giúp đỡ tư trang cho Kiều hộ thân ngầm mở cửa cho Kiều thoát khỏi vòng kiểm soát của nhà họ Hoạn. Đó cũng là “mầm thiện” mà Nguyễn Du đem đến cho Hoạn Thư. Thúc Sinh hèn nhát, bất tài, ăn chơi giá áo túi cơm, động đến việc gì là co vòi thất thủ. Thúc Sinh luôn là người có lợi. Thay vì trách phạt kẻ bạc tình thì được Kiều tặng” Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân? Tạ lòng để xứng báo ân gọi là “vừa được chiêm ngưỡng “dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” hơn một năm trời, khi bị lộ, vợ cũng chỉ hành hạ người làm bé. Thúc Sinh chẳng bị gì. Theo chị “Bản chất nhân hậu bao dung luôn là tố chất của đàn bà”.

    “MỘT VÀI THẰNG CON CON SAU CHÂN NGỰA CỦA KIM TRỌNG”

    Theo NGTC trẻ em phải chăm sóc nuôi dạy ăn học, vậy mà chỉ để sai vặt; hầu hạ cho người lớn như pha trà, đấm bóp, ôm tráp, mang vác những vật dụng phục vụ, chạy theo chân ngựa cậu chủ. Chị còn nghĩ là chúng đói bụng và khát nước nữa đấy! Thật là một tấm lòng nhân hậu của một nữ giới cầm bút giàu lòng trắc ẩn.

    Nói đến tình chị duyên em hay sự hi sinh thầm lặng của Thúy Vân theo đề nghị của chị mình để chắp mối tơ duyên với chàng Kim. Trong khi một số người trước đây cho rằng Thúy Vân hời hợt vô cảm trước biến cố của gia đình. NGTC tỏ ra không đồng tình với nhà thơ Vương Trọng: “Nhà có chuyện coi như người ngoại cuộc/ Vẫn ăn no ngủ kỹ như không”. Mặc dù “Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai” nhưng Kim Trọng và Thúy Kiều đã chọn nhau ngay cuộc gặp gỡ đầu tiên, rồi hai người đã thề non hẹn biển.

    “Sánh vai về chốn thư hiên/ Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non song”

    Nhận người yêu của chị giao cho: “Tôi chắc Thúy vân cũng chẳng sung sướng gì khi phải chấp nhận một biện pháp tình thế do Thúy Kiều áp đặt”. Kiều bán mình chuộc cha thì Thúy Vân cũng là vật thế thân cho Kim Trọng. Thúy Vân và Kim Trọng không yêu nhau. Hôn nhân mà không dựa trên nền tảng của tình yêu mới thấy khổ tâm biết chừng nào! Yêu mến và cảm tạ đức hi sinh của Kiều đã đành, NGTC vẫn dành sự quý mến vì đức hi sinh thầm lặng cho đạo nghĩa của Thúy Vân.

    Nhà thơ Trương Nam Hương cũng có những câu thơ dành cho Thúy Vân: “Giấu đầy đêm những khát khao/ Kiều ơi em đợi kiếp nào để yêu? Lấy người yêu chị làm chồng? Đời em thể thắt một vòng oan khiên.”

    QUAN CHỨC VÀ VƯƠNG ĐẠO 

    NGTC chỉ ra rằng trong xã hội quân chủ thời thịnh trị: mọi người thượng tôn pháp luật. Với quan niệm “Sĩ nông công thương” thì trí thức vẫn được đặt lên hàng đầu. Bởi vì họ chăm lo học hành đỗ đạt làm quan phụng sự đất nước, chăm lo hạnh phúc của muôn dân, góp phần làm cho xã hội yên bình. Khi rũ áo từ quan hay hưu quan thì mở trường dạy học truyền con chữ cho thế hệ mai sau.

    Các bậc sỹ phu thanh liêm quả là đáng kính, nhưng ở nước ta thời loạn thì sao? Có thể “thượng bất chính hạ tác loạn” vì vậy từ vua quan quân, đâu đâu cũng có tham nhũng bất công. Công lý ở đâu khi chỉ vì lời vu oan giá họa của thằng bán tơ mà đẩy một gia đình thiện lương tan nát. Đồng tiền lên ngôi đổi trắng thay đen “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”. Mọi việc đều có thể giải quyết được nếu có tiền “Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong”. Một xã hội từ những kẻ quyền cao chức trọng như quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến không chiêu hàng được Từ Hải một cách đường đường chính chính mà phải dùng mưu ma chước quỹ. Những cửa hàng buôn phấn bán người mọc lên như nấm thì làm gì có “Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Theo chị đây là cụm từ giao đãi, ngụy trang cho sự an toàn của tác phẩm “viết là phải lách” là nỗi khổ tâm của người cầm bút chân chính từ xưa cho đến nay.

    Cuối bài chị có câu cảm thán: “Ôi vương đạo biết tìm đâu?” Đó là điều rất đáng suy ngẫm. Bằng vốn sống trên sáu mươi năm cầm bút và chứng kiến bao biến thiên của lịch sử và thực tế xảy ra trong cuộc sống thường ngày thì tác giả vẫn khẳng định “Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh… tồn tại trong mọi thời đại”. Chúng tôi là kẻ sinh sau đẻ muộn so với tuổi đời của chị, vốn sống chúng tôi chưa nhiều nhưng tôi vẫn khẳng định đó là một đúc kết hoàn toàn có cơ sở.


    “VÀI VẾT XƯỚC NHỎ TRONG KHỐI NGỌC LỚN: TRUYỆN KIỀU”

    Tác giả nêu ra việc Kiều đã được sư bà Giác Duyên đưa về thảo am:

    “Một nhà chung chạ sớm trưa

    Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng” 

    Bối cảnh sống chung của sư bà Giác Duyên và Kiều rất yên vui thanh tịnh sao Nguyễn Tiên Điền lại hạ bút bằng từ “chung chạ” e không hợp với văn cảnh chăng? Bởi người ta thường hiểu nghĩa chung chạ dành cho trường hợp xấu, bất minh, thiếu rạch ròi… Theo ngôn ngữ hiện đại thì chị thắc mắc như vậy là hoàn toàn có lý (Xem từ điển Tiếng Việt hiện nay). Nhưng tôi đồng ý với Doãn lê là “Ngôn ngữ là một thực thể linh động, ý nghĩa có thể thay đổi theo thời gian và không gian”. Từ trong những áng văn thơ cổ có một số từ nay đã biến nghĩa. Ví dụ trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan viết năm 1941 (Nxb Hội Nhà văn quý IV năm 2000) bài viết về Phạm Quỳnh trang 135, 136 “Ông thường dùng bốn chữ nho đi liền một hơi trong một câu: Ví dụ “Vũ hám phong trần” thì nói nôm ngay là “Mưa dập gió lay” có phải vừa thông thường vừa dễ nghe hơn không. Đó là những điều khuyết điểm mà đối với một văn gia nào, người ta cũng có thể tìm ra được. Nó là cái tật của người có duyên nợ với văn chương không lấy gì làm quan hệ”. Vũ Ngọc Phan dùng từ “quan hệ” thì lẽ ra phải dùng từ quan trọng mới đúng theo ngôn ngữ hiện nay. Không chỉ Vũ Ngọc Phan mà tôi còn thấy các nhà văn, thơ đầu thế kỷ hai mươi vẫn dùng với nghĩa như là từ “quan trọng” hiện nay vậy. Như vậy chưa đầy một thế kỷ kể từ khi chữ quốc ngữ ra đời, nay có nhiều từ đã biến nghĩa, được thay thế bằng từ khác có sức biểu đạt chính xác hơn. Vì vậy Truyện Kiều viết cách thời đại chúng ta hơn hai trăm năm thì từ “Chung chạ” có thể vẫn được xem là nghĩa tốt hoặc nghĩa trung tính, tốt xấu tùy ngữ cảnh. Với tài trí như cụ Nguyễn thì không thể có sự thiếu cân nhắc trong việc dùng từ được. Vì vậy tôi cũng đồng ý với ý kiến Doãn Lê là trong lúc chờ đợi các nhà nghiên cứu chúng ta tạm hiểu “chung chạ” theo nghĩa trung tính.

    2/ Sự “bề trên” của Hoạn Thư đối với Thúc Sinh cũng không đúng trong xã hội thời ấy. Theo tinh thần nho giáo thì bối cảnh xã hội lúc bấy giờ chị đưa ra thắc mắc ấy là đúng. Nhưng có lẽ “Nguyễn Du đã muốn người Phụ nữ thoát khỏi chế độ gia trưởng phong kiến” (GS Hà Huy Giáp) trọng nam khinh nữ chăng? Thời đó “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” chứ làm gì có chuyện “Cọc đi tìm trâu” Thúy Kiều: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Quả thật đây là quan niệm mới đầy tính hiện đại. Trai gái yêu nhau, ai tỏ tình trước đều được cả. Câu “tam tòng tứ đức” đã đến lúc không còn phù hợp nữa. Phải chăng Nguyễn Du muồn đòi quyền bình đẳng cho nữ giới. Cuộc hôn phối của Hoạn Thư và Thúc Sinh không môn đăng hộ đối. Hoạn Thư là con của một vị quan quyền. Còn Thúc Sinh xuất thân tầng lớp buôn bán. Tầng lớp này theo quan niệm “sỹ nông công thương” thì được đặt cuối cùng. Lái buôn muốn quan hệ móc nối với các vị có chức có quyền để dễ dàng trong các phi vụ làm ăn… Đó là mục đích và sự lợi dụng lẫn nhau thời nào cũng có. Hoạn Thư lấy chồng không theo chồng như mọi cô dâu khác. Khi gia đình chồng có tang cũng không về chịu tang: “Tiểu thư trông mặt hỏi tra? Mới về có việc chi mà động dong”, “Sinh rằng hiếu phục vừa xong/ Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên”. Rồi Hoạn Thư ban cho thúc sinh lời khen: “Khen rằng hiếu tử đã nên”. Thúc sinh buôn bán làm ăn xa, lại chời bời vụng trộm bên ngoài.Vậy đối với Hoạn Thư,Thúc Sinh xuất thân tầng lớp dưới lại không đáng mặt đàn ông cho lắm. Gã còn có lỗi lớn với vợ nữa nên trước uy thế của gia đình vợ, Thúc Sinh không khỏi sợ hãi.

    Ở tr 95 NGTC nêu: “Một cuộc ân oán mang tính thù hận cá nhân, có gì mà Từ Hải phải quan trọng hóa sự việc và phung phí nhân lực đến vậy “Ba quân chỉ ngọn cờ đào? Đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Truy”. Tôi xin đồng ý với chị.

    Còn nhiều điều hấp dẫn trong cuốn sách với những bài phân tích lý thú, sáu bài thơ vịnh về các nhân vật trong truyện Kiều… và những thắc mắc khác. Kính mời bạn đọc đến với Đọc Kiều thương khách viễn phương của tác giả Ninh Giang Thu Cúc.


    Trở lại với chủ đề chính về tác giả Truyện Kiều “Nguyễn Du đã đưa ngôn ngữ Việt nam đến chỗ tuyệt đỉnh siêu việt và tiếng nói việt Nam chính là trường sở linh nghiệm nhất của dân tộc tính, Việt tính. Nguyễn Du không chỉ là một bậc đại thi hào mà còn là một bậc đại hiền triết”. Nguyễn Du xứng đáng là “một trong ba nhà thơ vĩ đại nhất của nhân loại cùng với Hoelderlin và Walt Whitman là ba thiên tài lớn nhất của nền thi ca nhân loại trong hai ngàn năm hoang vu trên mặt đất”. (Phạm Công Thiện - Nguyễn Du đại thi hào dân tộc).

Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn mãi là ma lực huyền diệu và bí ẩn, hấp dẫn người đọc và nghiên cứu. Càng đi sâu khám phá càng phát hiện ra những điều mới lạ và thú vị. Theo Phạm Công Thiện thì “Chúng ta chỉ thấy được sự vĩ đại phi thường của Nguyễn Du khi nào chúng ta đã có khả năng đi vào nơi sâu thẳm của của văn chương và văn hóa thế giới”. Đó là điều mà người đọc và nghiên cứu không ngừng khát khao vươn tới. 

    Trân trọng những đóng góp tâm huyết của tác giả Ninh Giang Thu Cúc, gợi mở thêm một hướng tiếp cận tác phẩm giữa người đọc với Truyện Kiều.

    Xin cảm ơn chị với “giọt nước mắt muộn màng” của hậu thế dành cho thiên tài Nguyễn Du, góp phần kích thích niềm say mê khai thác thưởng lãm Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) của độc giả nhiều thế hệ.

    Huế, ngày 13.9.2019

    Hoàng Thị Bích Hà



READ MORE - MỘT NỮ LƯU XỨ HUẾ VỚI TRUYỆN KIỀU - Hoàng Thị Bích Hà

Thursday, January 9, 2025

ĐẤT TRỜI VI DIỆU – Thơ Lê Văn Trung


 


ĐẤT TRỜI VI DIỆU
 
Mỗi tàn tạ là từng lời chia biệt
Lời tạ ơn trời đất cõi vô cùng
Là ân phúc nở màu hoa bất tuyệt
Là con đường đi thẳng tới vô chung
 
Mỗi tàn tạ là hẹn lời tri ngộ
Là hẹn cùng MIỀN IM LẶNG mênh mông
Là thắp lại muôn vì sao rực nở
Là mở ra mầu nhiệm cõi hư không
 
Mỗi tàn tạ là mỗi lời nhắn gọi
Úa vàng kia là thắm biếc hoa vàng
Và sự sống ươm mầm từ hạt bụi
Từ nguyên sơ vi diệu buổi hồng hoang
 
                                       Lê Văn Trung
                                    Tháng 12 - 2024
 
READ MORE - ĐẤT TRỜI VI DIỆU – Thơ Lê Văn Trung

Chùm ảnh HOA TULIP - Thanh Sương Lê

 Bấm chuột vào ảnh để phóng to.






READ MORE - Chùm ảnh HOA TULIP - Thanh Sương Lê

RIÊNG MỘT CÁCH NHÌN - Thơ Khaly Chàm

 


khaly chàm

riêng một cách nhìn

 

hoàng hôn trổ nụ u trầm

bụi cùng đá ngậm nhật tâm mơ người

thời gian xô lệch nụ cười

bước chân khật khưỡng mấy mươi năm dài

 

lá khô gom nhóm lửa ngày

mùa vàng hóa sợi khói bay lên trời

trắng đầu vỡ giọt nắng rơi

chợt nghe ảo giác buông lời gọi tên

 

dễ chừng khi nhớ rồi quên

thì thôi! em thuở bồng bềnh như mây

khúc tình trầm lạnh trên tay

chắt chiu là để trắng đầy chiêm bao

 

bóng cùng thể phách theo nhau

sinh linh ở trọ nơi đâu tìm về

xoay-vòng-tự-tại-điên-mê

nhìn xuyên viễn kính tư bề hư không

 

                                     khaly chàm 

                                    khalycham1954@gmail.com

READ MORE - RIÊNG MỘT CÁCH NHÌN - Thơ Khaly Chàm

Chùm thơ THÁNG CHẠP | TÂM TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ - Hoàng Thị Bích Hà

 



 Chùm thơ THÁNG CHẠP


1. 

Khi bước sang tháng chạp

Xuân về đến ngõ rồi

Mai vàng e ấp nụ

Về vui tết người ơi.

 

***

2.

Thu qua, đông tới lại xuân sang

 Đếm mỗi mùa đi nhặt lá vàng

Ghi dấu tháng năm cùng kỷ niệm

Mang về nỗi nhớ khắc thành tên.

 

***

3. 

Huế yêu ơi xin đừng mưa sướt mướt

Lòng tôi chừ đã ngấm đủ buồn thương

Chiều Lương Quán tôi lại về với Huế

Cầu Giã Viên còn đâu thuở đợi chờ!

 

***

4. 

Đường qua An Cựu chiều ni vắng

 Áo trắng ai về một thuở xa xăm

Phố vẫn vậy tấp nập người qua lại

Anh chưa về ngọn gió cũng đơn côi.

 

***

5. 

Biết viết gì đây khi phố đã vào xuân

Mưa thấm lạnh ướt giọt buồn lối nhỏ

Em vẫn chọn cho mình màu áo ấy

Đợi người về trong bóng dáng thân quen.

                 

Hoàng Thị Bích Hà

 

 

TÂM TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ

 

Ta chẳng quên nhưng khó trở về

Tâm tình cố xứ vẫn còn vương

Nhớ vườn phảng phất mùi hương bưởi

Vị ngọt thanh trà, cơm gạo de

 

Vườn bưởi ngày xưa còn sai quả

Bên khóm mận hường, ổi quýt cam

Mùi hương gạo tám thơm làn khói

Ấm cúng mâm cơm thuở quây quần

 

Nhớ chăng ngày nhỏ loanh quanh xóm

Huyên náo bạn bè chơi bắn bi

Cò cò, banh thẻ, … chơi nhiều lắm

Quên cả giờ cơm, cả giấc trưa

...

Nơi xa có nhớ về cố xứ

Xin nhớ giùm tôi bấy nhiêu thôi.

 

Hoàng Thị Bích Hà

 

 

 

READ MORE - Chùm thơ THÁNG CHẠP | TÂM TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ - Hoàng Thị Bích Hà

SƯƠNG KHÓI MÙA XUÂN - Bùi Hoàng Linh

Tác giả Bùi Hoàng Linh

 

SƯƠNG KHÓI MÙA XUÂN

 

Tết không đơn thuần là cột mốc đặc biệt của tháng năm ghi dấu nơi tờ lịch mà là một phần của tâm thức tồn tại vĩnh viễn bên trong hồn người. Chỉ cần đến tháng chạp nó thức dậy những kỷ niệm tưởng tạm ngủ yên suốt gần một năm qua và gửi gắm những ước muốn vào năm mới với biết bao hy vọng mong chờ...

    Những cái tết xưa, dưới khói bếp của nồi bánh tét trước sân nhà với hai cây mai mà ông nội chắc trồng từ trẻ, khi mình sinh ra đã thấy nó trước sân rồi, cảnh vật đó như một bức ảnh mùa xuân mà người ta hay sắp xếp để chụp hình thì mình may mắn trải qua cái không gian sống rất thực đó. Có ông bà cha mẹ cùng quây quần gói bánh tét, và những đứa bé như mình thì làm những đòn bánh tét nhỏ như cái cổ tay xinh xắn, nhỏ bé nhưng lại chứa đựng niềm vui rất lạ. Hay khói bếp củi của những mẻ mứt mẹ làm dưới những đêm sương ngày giáp tết đủ để làm cay mắt một đứa bé, nhưng vẫn cứ ôm cánh tay mẹ, chờ những mẻ mứt đầu tiên để cảm nhận những cái ngọt ngào của mứt đậu trắng, mứt cà rốt, bí đao. Sự thèm thuồng của trẻ thơ rất đơn giản và vì thế dấy lên những hạnh phúc mà chỉ tuổi thơ mới có thể đón nhận tuyệt đối vẹn tròn. Để rồi khi lớn lên, dù không còn khói xám nơi mái tranh ngày cũ, mà mắt vẫn cay khi kỷ niệm ùa về, ùa về vì nó không về từ từ, vì ngày tháng cứ nghiêng xuống biết mấy nhớ thương như những cơn mưa xuân cứ thả bụi mờ gương trời đất, lan man như không muốn tạnh bao giờ.

    Những ngày chuẩn bị Tết là khoảng thời gian tưởng như đời thường, vẫn còn mặc những chiếc áo cũ, nhà cửa vẫn còn ngổn ngang, mứt bánh hoa quả đang chuẩn bị dần nhưng khi nhớ lại thì người ta lại dễ nhớ nhất. Bởi cái cảm xúc cộng hưởng của tình cảm, sự gắn bó của các thành viên trong gia đình Việt. Ông và ba sẽ chuẩn bị lau dọn bàn thờ, sơn lại cửa, quét lại tường vôi. Bà và mẹ thì làm mứt, làm dưa món, và đi chợ mua những thứ cần thiết để cúng chiều ba mươi, đêm giao thừa, sáng mồng một. Sắm những bộ đồ đẹp nhất cho con cái để mặc vào ngày đầu một năm.

    Sự đồng hành cùng nhau đã kết nối sợi dây tình cảm của nhiều thế hệ. Tết thiêng liêng nhưng bắt nguồn từ những điều bình dị.

 


    2. Với mình đêm ba mươi của những ngày thơ bé là đêm với chập chờn mộng mị. Bởi tuổi thơ thì thèm ngủ, nhưng tiếng phaó hoa đêm giao thừa lại đánh thức mình dậy, nửa tỉnh nửa mơ. Để như lạc một miền không gian rất lạ giữa cái đêm trời tối hơn mọi khi, nghe mùi trầm hương lẫn mùi tiền vàng mã vừa đốt, bước ra sân trước với cành mai gầy guộc giữa cái bàng bạc của màu khói chơi vơi cùng sương khuya mà ngỡ như bước lạc vào không gian cổ tích. Và trong cái thời khắc hoán đổi tháng năm của đất trời người ta thành tâm cầu nguyện mong bình an cho gia đạo mới thấy tết nó mang đến cái điều gì đó kỳ diệu của nhân gian, mà những ước mong đã được con người ký thác hết nỗi niềm của mình trong khoảnh khắc chia tay cái cũ để đón nhận cái mới. Cũng có khi là hoài niệm ngày cũ, ôn cố tri tân để biết có hôm nay đã phải trải qua biết bao bước đường rong ruổi của đời người đầy gập ghềnh dâu bể. Giao thừa có lẽ là thời khắc thiêng liêng mà cũng gần gũi như những câu chuyện tâm tình cùng nhau giữa các thành viên. Ở cái thời khắc cuối cùng của một đoạn hành trình người ta thường lặng lẽ nghĩ về nhau, mong cầu cho nhau và cả những lời hứa với chính mình về một năm mới sẽ cố gắng hơn nữa, yêu thương hơn nữa để những mái nhà Việt vẫn mãi ấm nồng như ly rượu vừa nhấp những ngụm thấy cay đó, chát đó mà nghe sao rất đỗi ấm lòng.

 

    3. Sáng mồng một thức dậy với nụ cười và lời chúc đầu năm trong bộ đồ mới mà mẹ dẫn đi may những ngày giáp tếp, áo quần mới đến độ cảm giác lòng người cũng như những đường chỉ vừa mới khâu lại những tách rời và chia cắt những mảnh vải thành một cái áo hoàn thiện. Có lẽ ngày đầu một năm mọi sự trọn vẹn là điều mà ai cũng hướng tới và đặt dấu chân hướng tới cột mốc tương lai cùng niềm hy vọng. Mình vẫn nhớ bà nội, cả năm vẫn trong bộ áo bà ba màu nâu cũ, khoác ngoài cái áo len. Đến sáng mồng một là thay một bộ đồ ba ba màu trắng mới, rồi trong bọc áo là gói thuốc cẩm lệ bọc trong bịch ni lông, và lấy tiền mừng tuổi cho các cháu. Ba mẹ cũng lì xì đầu năm để lấy may mắn cho năm mới. Nhưng mình vẫn nhớ nhất là lời dặn khi có ai lì xì thì vòng tay cám ơn và không được mở ra xem trước mặt khách. Cũng như khách có đến thì ra chào dạ thưa rồi lui vào nhà sau để ba mẹ nói chuyện, không được hóng hớt chuyện người lớn. Tết ngoài là những ngày lễ hội còn là những sinh hoạt mang bao phong tục tập quán. Ở đó những bài học về văn hoá, tập tục cũng được truyền dạy cho những thế hệ tiếp theo. Để khi lớn lên thì vẫn mang theo những lời dặn đó, những bài học rất đời mà cũng rất cần thiết để thành nhân.

    Tết đã lưu truyền tự bao đời để nhắc nhớ con người về nguồn cội với lễ chạp mộ trước tết, và những sớm mai đầu năm viếng mộ thắp nhang để thấy có những cuộc trò chuyện tưởng như với chính mình qua lời khấn khẽ mà hoá ra là đối thoại với tiền thân. Và cảm nhận rằng sợi dây tình cảm của người Việt vẫn nối tiếp hai cõi hữu hình và vô hình thông qua kỷ niệm. Kỷ niệm tưởng thiu thiu ngủ êm trong đời sống, tết bước tới lay thức để làm chỗ dựa tâm linh cho con người hướng về tổ tiên khi kính cẩn dâng hương với tấm lòng thành.

 

    4. Có lẽ không ai biết tết đã có tự bao giờ, cũng như không ai dạy người ta ăn tết chơi tết. Nhưng đời sống trên quê hương Việt Nam với sự gắn bó của tình cảm gia đình đã làm người ta ngóng đợi mùa xuân đoàn viên khắc khoải đến nhường nào. Những năm không về quê ăn tết, nghe những bài nhạc xuân về mái nhà có bà mẹ đang chờ con, có người cha vẫn trầm ngâm đợi bước con về hẳn ai cũng ngậm ngùi vì còn lưu lạc tha phương để xây ước mơ đời mình nơi viễn xứ. Nỗi đoạn trường là thước đo thử thách sự thuỷ chung của tình cảm, để rồi khoảnh khắc sum vầy mới vỡ oà hạnh phúc sau những tháng năm dài cách trở. Người ta biết trân trọng những lần đoàn viên ngày một hiếm hoi hơn khi mùa xuân cứ gieo xuống mái đầu màu của thời gian nhuộm theo tuổi mình. Và người ta vẫn hoài mong ngóng ngày về quê hương, nỗi ngóng chờ cứ như những giọt sương nhớ đất nhớ trời mùa xuân mà lắng đọng lại trên những cánh mai vàng sân trước. Và tấc lòng mình cũng ướt sũng bởi những kỷ niệm của những ngày tết Việt như thế. Như những cơn mưa phùn cứ bay nhẹ trong xuân như sương như khói mà ám ảnh trọn đời.

Saigon, ngày 8/01/2025

Bùi Hoàng Linh

 

 

READ MORE - SƯƠNG KHÓI MÙA XUÂN - Bùi Hoàng Linh

EM - MỘT TÌNH THƠ HAY CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Giáp Kiều Hưng

 

Tác giả Giáp Kiều Hưng


EM 

.

Ta gạ em cạn chén

Thế là em cạn ta

Nửa đời ta trễ hẹn

Em nồng nàn đốt ta.

.

Run rẩy, em ghì ta

Quấn vào ta hoang dại

Thẫn người, ta ngây dại

Uống em từng giọt say.

.

Trời đất như cuồng say

Ngả nghiêng theo nhịp phách

Nửa đời trai trinh bạch

Em nhuộm ta ngả màu.

*. 

Hà Nội, đêm 21.01.2015

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

LỜI BÌNH: 

Người ta ví von người phụ nữ như lửa, có thể thiêu đốt cả thành trì, lâu đài, thậm chí cả một vương triều... quả thật không sai. Ở EM, ngọn lửa ấy đã thiêu đốt một thành trì TA “trinh bạch” sừng sững được “nửa đời” người rồi. 

Mở đầu, “TA” rất hồn nhiên, rất tự tin vào bản lĩnh đàn ông vững chãi của mình nên đủng đỉnh “gạ” EM cạn chén. Vâng, chỉ là “gạ” thôi, chứ không mời, không ép, không nghĩ sâu xa, mưu mô gì cả. Chỉ đơn giản điều vì “TA” là đàn ông, còn EM là đàn bà, nên mới “gạ” em “cạn chén”. Nghĩa là “ta” chỉ bông đùa chút chút với “em” cho vui, cho có khí thế, chứ “ta” thừa biết, “em” sao uống được rượu với ta mà “cạn chén”. Ngạo nghễ là thế, đủng đỉnh là thế, ấy vậy mà “ta” phải sững người với hành động của em: “Thế là em cạn ta”. Ô hay. “Gạ” người ta cạn chén lại để người ta “cạn” mình thì chỉ có thi sĩ họ Đặng mới được trải nghiệm. 

Ở khổ thơ đầu, thi sĩ họ Đặng đã vẽ một khung cảnh có 2 kẻ đang “vờn” nhau, chỉ để bông đùa nhau rất nhẹ nhàng, êm ái, không một tiếng động nhưng đằng sau những cử chỉ (gạ rượu) rất nhẹ nhàng ấy lại là những chuyển động thật mãnh liệt, kinh khủng và máu lửa ở sinh lý, ở tâm trạng:

    “Ta gạ em cạn chén

    Thế là em cạn ta

    Nửa đời ta trễ hẹn

    Em nồng nàn đốt ta.”

Ở khổ thơ này, tác giả viết như là rất tự nhiên, như là không hề sắp xếp, bài trí, cứ nhẹ nhàng, cứ thanh thoát giữa “ta” với “em”. Và người đọc dễ bị đánh lừa bởi khung cảnh yên ả, rồi trở chiều (có vẻ) thuận chiều ấy. Người đọc như thấy tác giả của EM từ thế chủ động thành thế bị động, từ “hung thủ” trở thành “nạn nhân” rất nhẹ nhàng, êm ái và khá ngọt:

    “Ta gạ em cạn chén

    Thế là em cạn ta”

Một câu thán xuôi chiều, chấp nhận tự nguyện không hề miễn cưỡng (Thế là em cạn ta), cũng rất “hồn nhiên”, tự nhiên như sự gạ (rượu) ban đầu của “chàng”. Tâm trạng ấy cứ nhẹ nhàng, đều đều dẫn người đọc đi hết khổ thơ, để bạn đọc chỉ hình dung thấy “chàng” đang bị “nàng” “ăn thịt” trở lại. Và sự trở chiều ấy lại rất ngọt, rất khoái bởi “nửa đời ta trễ hẹn” nên giờ “Em nồng nàn đốt ta” là hợp lẽ, là trên cả mong đợi. 

Chỉ 4 câu thôi, “chàng” đã bộc bạch cho mọi người biết là cả “chàng” và “nàng” đều đã cảm nhau từ lâu rồi, từ “nửa đời” trước nhưng chỉ vì sự nhút nhát của chàng, sự e lệ, giấu kín của nàng mà chuyến đò tình của 2 kẻ cảm nhau, yêu nhau mới “trễ hẹn”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ồ thì ra việc “gạ” rượu của chàng chỉ là cái cớ, là phép “lửa đổ thêm dầu” để tình yêu của nàng dành cho chàng bấy lâu phải bùng cháy.

Vào khổ thơ thứ 2, cũng vẫn sự nhẹ nhàng, đều đều ấy nhưng mạch thơ nhanh hơn, nóng hơn, ngùn ngụt hơn:

    “Run rẩy, em ghì ta

    Quấn vào ta hoang dại

    Thẫn người, ta ngây dại

    Uống em từng giọt say.”

Ở khổ thơ này, tác giả rất thành công: Mỗi một câu thơ là một hình ảnh đẹp, say đắm của tình yêu đến từ hai phía. Cả “em”, cả “ta” đều say đắm đến hoang dại, đến quên tất tật để tận hưởng sự ngọt ngào của tình yêu. Rõ là viết về một cuộc làm tình, mà làm tình lại bạo liệt, ấy thế mà không hề có một tiếng động nào mới lạ?! Chẳng lẽ cuộc làm tình này cần kín đáo nên âm thanh hoan hỉ phải được điều tiết, cấm tiệt? Không phải vậy! Cái tuyệt vời chính ở chỗ không có tiếng động ấy! Đọc, ta thấy 2 kẻ yêu nhau đang rất trân trọng cái khoảnh khắc được đốt nhau ấy. Họ lặng lẽ cháy, lặng lẽ dâng hiến và lặng lẽ tận hưởng men say của ái tình. Họ đến với nhau bằng tình yêu, bằng sự dồn nén “thèm muốn” lâu ngày nên họ trân trọng thời khắc yêu ấy mà lặng lẽ cùng nhau hoan hỉ!

    “Run rẩy, em ghì ta

    Quấn vào ta hoang dại.” 

Ở 2 câu này, người đọc hình dung “nàng” đang rất ngỡ ngàng, rất hạnh phúc bởi tiến triển tình cảm với “chàng” nên “nàng” lặng lẽ dâng hiến, lặng lẽ tận hưởng. Nàng sợ, rất sợ sẽ mất chàng, mất khoảnh khắc được yêu chàng nên nàng “run rẩy”, nàng “ghì”, nàng “quấn” chàng bằng cái tình yêu mãnh liệt mà bản năng của con người (hoang dại) nhưng rất gượng nhẹ, êm ái và trân trọng, nâng niu. Một loạt động từ mạnh được nàng sử dụng khi làm tình, ấy thế mà ta lại không nghe thấy một tiếng động nào, dù chỉ là tiếng rên, tiếng phì phò, hổn hển phải có để cuộc làm tình được gọi là thăng hoa. Cái hay, cái tuyệt của thi sĩ họ Đặng là ở đây, là ở cách tả tình nóng bỏng mà không cần đến sự phụ trợ của âm thanh.

Tiếp 2 câu cuối của khổ 2:

    “Thẫn người, ta ngây dại

    Uống em từng giọt say”

Ở 2 câu này, hình ảnh TA (chàng) hiện lên khá hoàn chỉnh sự hoan hỉ của chiến thắng. Từ “thẫn người” đến “ngây dại” đều chung biểu cảm trạng thái hoan hỉ của sự toại nguyện, của niềm vui chiến thắng. Hình ảnh chàng nhâm nhi “uống em từng giọt say” đã chỉ rõ chàng là gã thợ săn đích thực và nàng tưởng là kẻ đảo chiều quay lại ăn thịt chàng thì thực chất nàng chỉ là con mồi trong bữa tiệc ân ái của chàng mà thôi. 

Từ thế chủ động tấn công: “Ta gạ em cạn chén”, rơi vào thế bị động, trở thành nạn nhân: “Thế là em cạn ta”. Rồi từ thế bị động: “Thẫn người, ta ngây dại” lại chuyển sang thế chủ động: “Uống em từng giọt say”... đọc qua, tưởng vậy mà lại không phải vậy vì để ý kỹ mới thấy “TA” hoàn toàn làm chủ “thế trận”, “em” chỉ là người bị “TA” giật dây, điều khiển. 

Đến khổ 3, là khổ cuối của bài thơ, theo cảm nghĩ của riêng tôi thì hình như tác giả viết để kết thúc bài thơ cho phải phép nên không đầu tư câu chữ, cảm xúc, vì thế mà kém hay: 

    “Trời đất như cuồng say

    Ngả nghiêng theo nhịp phách

    Nửa đời trai trinh bạch

    Em nhuôm ta ngả màu!”

Đọc xong bài thơ, điều tôi thắc mắc vẫn cứ ở sự khó hiểu của 2 câu kết:

    “Nửa đời trai trinh bạch

    Em nhuộm ta ngả màu”

Tôi hỏi mà không trả lời được là sao “ta” phải giữ gìn sự trinh bạch ấy? Chẳng lẽ “ta” không ham ái tình? Và nữa, “em” là thế nào mà “nhuộm ta ngả màu”? Sự ngả màu ấy là hàm ý tiếc nuối bị mất đời trai trinh trắng hay sự hoan hỉ vì đời trai khờ khạo đã được ngả màu?

Ôi! Chàng Đặng Xuân Xuyến này, sao cứ bắt người đọc phải trăn trở về tình yêu của mình như thế? Chẳng lẽ không thể viết rõ hơn được sao, chàng Đặng?!

*.

Hà Nội, tháng 02 năm 2015

GIÁP KIỀU HƯNG

(Ảnh tác giả Giáp Kiều Hưng)

 

READ MORE - EM - MỘT TÌNH THƠ HAY CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Giáp Kiều Hưng