*
Như vậy, các bài thơ THÁI TẦN trong Kinh Thi và chú giải của Chu Hy kể lại việc phụ nữ Trung Hoa thuở xưa hái rau Tần, rau Tảo về làm dưa, xào nấu ở trong cái nồi đồng ba chân hay nồi không chân. Trong lễ cúng tế, người chủ phụ đứng cúng tế, dâng lên những dĩa đựng dưa.
Việc chế biến thức ăn, người phụ nữ Trung Hoa có thể để rau Tần, rau Tảo riêng biệt như một dược liệu, họ có thể pha trộn với thịt gia súc, gia cầm qua xào nấu hoặc làm món nộm (món gỏi) rau Tần, rau Tảo đặc biệt. Trong lễ vật cúng tế có thể có rau Tần, rau Tảo do phụ nữ hái lượm và thịt cầm thú do người đàn ông săn bắt...
*
Nhà thơ Hàn Dũ cũng nhắc đến rau Tần, rau Tảo và việc tế cúng trong bài thơ TƯƠNG TRUNG 湘中 trong dịp ông ghé sông Tương cùng sông Mịch La, cảm khái về nhà thơ Khuất Nguyên:
Mịch La là con sông nhỏ nhập vào sông Tương trước khi chảy vào hồ Động Đình. Xưa, Khuất Nguyên, người nước Sở cuối thời Chiến Quốc, là người yêu nước nhưng bị gian thần hãm hại đày đi Trường Sa. Trên đường đi, ông phẫn chí viết ra nhiều bài từ nổi tiếng còn lưu truyền tới nay. Khi qua sông Mịch La, ông nhảy xuống tự vẫn.
湘中
猿愁魚踊水翻波,
自古流傳是汨羅。
蘋藻滿盤無處奠,
空聞漁父扣舷歌。
韓愈
TƯƠNG TRUNG
Viên sầu ngư dũng thuỷ phiên ba,
Tự cổ lưu truyền thị Mịch La.
Tần tảo mãn bàn vô xứ điện,
Không văn ngư phủ khấu huyền ca.
HÀN DŨ
Dịch nghĩa
TRONG VÙNG SÔNG TƯƠNG
Vượn hú buồn, cá quẫy, sóng xô nhấp nhô,
Từ xưa đã lưu truyền về sông Mịch La này.
Nơi đây có nhiều rau Tần và rong Tảo mà không có nơi thờ ông,
Chỉ nghe tiếng ông chài gõ vào mạn thuyền mà hát.
HÀN DŨ.
Xét các từ ngữ liên quan trong bài thơ trên, ta thấy:
VÔ XỨ ĐIỆN 無處奠 : Không có nơi để tiến cúng
無 VÔ : Không, không có
處 XỨ: Xứ, nơi, chỗ
奠 ĐIỆN
Tiến cúng.
Bày đồ tế — Sắp đặt, bày biện
Rau Tần và rau Tảo là đồ cúng mọc đầy dẫy ra đó, thế mà Điện thờ (chỗ thờ cúng) Khuất Nguyên trên sông Mịch La này không có (thời điểm Hàn Dũ làm bài thơ TƯƠNG TRUNG 湘中)
TẦN TẢO ĐỂ TIẾN CÚNG LÀ LOẠI RAU CỎ CÓ GIÁ TRỊ KHÔNG ?
Khổng Tử đã viết: “hái rau tần, ở bờ khe núi nam. Hái rong tảo
ở chỗ nước mưa chảy cuốn nơi ngòi rãnh”. Vậy tẩn, tảo là loại rau cỏ mọc hoang dưới nước hoặc bên bờ.
Tìm hiểu qua từ điển:
蘋 TẦN (Âm Hán Việt: bình, tần)
- Từ điển Thiều Chửu
Cỏ tần. Lá nó bốn cái chập làm một hình như chữ điền 田 nên lại gọi là điền tự thảo 田字草. Còn có tên là tứ diệp thái 四葉菜.
Trong bài viết “Ý nghĩa của từ ‘Tần tảo’ theo Tự điển Phật học” có những dòng như sau:
CỎ TẦN được cho rằng thuộc khoa Cỏ Chữ Điền [田字草, Điền Tự Thảo], lá nó bốn cái chấp làm thành hình chữ Điền [田], là loại cỏ sống dưới nước lâu năm; là tên gọi của loài Cỏ Bồng, sống bềnh bồng trên mặt nước và cỏ Tảo (rong biển, tên gọi chung các thứ cỏ mọc dưới nước); đều là tên loại cỏ nước. Người xưa thường hái loại cỏ này để làm vật cúng tế, từ đó nó có nghĩa là vật phẩm cúng tế hay sự cúng tế.
Cỏ bồng
Về CỎ BỒNG thì một trang mạng cho biết:
Cây bồng mọc dưới nước, thân mềm, thẳng đứng, có bông là lúc cây bắt đầu già. Người miền Tây Nam bộ thường hái khi bồng bồng chưa ra bông, lúc ấy thân non vừa đủ ăn. Khi ăn, người ta bỏ hết lá và gốc, chỉ giữ lại thân nên nhìn thoáng qua, bồng bồng trông rất giống rau muốnghttps://danviet.vn/loai-co-co-ten-bong-bong-khong-can-trong-ma-moc-dai-len-nhu-nam-dan-mien-tay-hai-ve-an-khen-ngon-nuc-no-20211126143446381.htm
Nhà thơ Trần Huyền Trân có 2 câu thơ:
“Mưa bay trắng lá rau tần
Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa...”
Rau tần chưa hẳn đã là rau muống, nhưng Trần Huyền Trân vẫn dùng chữ đó để chỉ rau muống, loài rau mọc đầy dưới dòng sông mà mỗi sớm chiều người phụ nữ tần tảo bơi thuyền nhỏ ra hái để nuôi nấng chồng con.
蘋 TẦN
- Từ điển Thiều Chửu
Cỏ tần. Lá nó bốn cái chập làm một hình như chữ điền 田 nên lại gọi là điền tự thảo 田字草. Còn có tên là tứ diệp thái 四葉菜
*
- Từ điển Trần Văn Chánh
Cây tần, rau bợ nước (Marsilia quadrifolia). Cg. 田字草 [tián zì căo]
Rau bợ hay Rau bợ nước, cỏ bợ, cỏ chữ điền (danh pháp hai phần: Marsilea quadrifolia L) là loài cây thuộc họ Rau bợ (Marsileaceae), đó là rau dại mọc khắp nơi, tập trung nhiều ở ao, rãnh, mương, hồ và đầm lầy.
Rau bợ là cây thảo thuộc loại cỏ bán thủy sinh, rất giống loài me đất, thân rễ mảnh bò ngang mặt bùn, có thân bò dưới đất, mảnh, chia thành nhiều mấu, mỗi mấu mang rễ và 2 lá có cuống dài. Lá có 4 thuỳ chéo chữ thập. Bào tử quả là cơ quan mang bào tử, mọc 2-3 cái một ở gốc các cuống lá, các bào tử quả này có lông dày. Mùa sinh sản tháng 5-6. Rau bợ ăn bùi, ngọt như rau ngót, có vị hơi chua của me, tanh giống diếp cá
Rau bợ nước
Rau bợ tuy là rau dại nhưng giá trị dinh dưỡng cao và là một dược liệu quý. Dân một số địa phương ở miền Bắc Việt Nam thu hái rau bợ quanh năm để làm rau sống, nấu canh ăn hằng ngày hoặc phơi khô dùng như trà thuốc có tác dụng giải nhiệt cơ thể, trị ngứa, rôm sảy mùa hè. Trong 100 g rau bợ có 4,6% protid, 1,6% glucid, 0,72% caroten vitamin C và cyclolaudenol, rau bợ có vai trò rất lớn trong phòng và trị bệnh đồng thời là nguồn nguyên liệu để chế biến nhiều món ăn ngon như rau bợ nấu với cá rô đồng. https://vi.wikipedia.org/wiki/Rau_b%E1%BB%A3#:~:text=Rau%20b%E1%BB%A3%20hay%20Rau%20b%E1%BB%A3,m%C6%B0%C6%A1ng%2C%20h%E1%BB%93%20v%C3%A0%20%C4%91%E1%BA%A7m%20l%E1%BA%A7y.
Như vậy loại rau Tần (rau bợ) này được người Việt Nam nấu với cá rô đồng. Không rõ người phụ nữ Trung Hoa thời xưa dùng loại rau Tần này nấu chung với thực phẩm nào khác?
*
Vì TẦN có âm đọc khác là “bình” có nghĩa là bèo, nhưng bèo tấm hay lục bình tôi nghĩ không có giá trị cao để ngưởi phụ nữ Trung Hoa xưa ngâm mình lâu dưới nước để hái, vớt về cúng tế.
Tra từ điển về chữ “bình”, ta thấy
苹 BÌNH (còn đọc là Tần)
- Từ điển Thiều Chửu
Cỏ bình, một loài thanh hao trắng.
Cây thanh hao (còn gọi là cây rễ) không quá cao mà chỉ ngang ngang cây lúa, chừng 0,5 - 1m. Lá cây nhỏ như cây kim, dài chưa đến 1cm, mọc thành từng cành xếp tròn quanh cành cây. Cành có màu nâu sậm, cành càng to, càng già, màu càng sậm hơn, những cành non thì có màu vàng, chỉ hơi ngả màu nâu.
Cây thanh hao có hoa trắng li ti. Cả cây có mùi thơm rất dễ chịu, được dung làm dược liệu. Từ xưa, thân và cành khô được bó làm chổi quét. Sau thu hoạch, mỗi kilogam được bán với giá 30.000 đồng, đã đem đến cho những người nông dân trồng thanh hao trắng nơi đây nguồn thu nhập ổn định.
Thanh hao hoa trắng
Hằng năm, vào tháng 12 dương lịch là vụ thu hoạch. Đó cũng là lúc cánh đồng hoa rễ này ở độ đẹp nhất. Một cánh đồng thanh hao bạt ngàn, xanh mướt, kết hợp với những bông hoa trắng li ti của cây làm nên một cảnh sắc hết sức thanh bình và yên tĩnh. Chính sự bình dị, vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát, cùng với không gian đẹp nên rất nhiều người thích đến đây để được tận hưởng không khí yên bình và hương thơm của loài cây rễ thanh hao.
Thanh hao hoa trắng là một loại dược liệu, được thu hoạch duy nhất một lần trong năm vào dịp tháng 12 Dương lịch. Do thân cây cứng, nên người ta phải đeo găng tay bảo hộ, cầm liềm cắt từng cây, chứ không thể cắt cả bó như lúa.http://baotnvn.vn/tin-tuc/Phong-su/15578/Mua-thanh-hao
Thanh hao hoa vàng là cây dược liệu thân thảo, sống hàng năm, hoa màu vàng ở đầu ngọn nở vào mùa thu, lá cây vò ra có mùi thơm đặc biệt.
Thanh hao hoa vàng
Cây sống lâu năm. Mọc hoang thành từng đám ở vùng đồi núi ven suối, ven sông. Cao từ 1,5-2m. Lá xẻ lông chim 2 lần, thành phiến hẹp, phủ lông mềm, có mùi thơm. Cụm hoa hình cầu hợp thành một chùy kép. Hoa màu vàng nhạt, mỗi cụm hoa gồm 6 hoa: Giữa là hoa lưỡng tính, xung quanh là hoa cái. Hoa chỉ có kích thước 0,5-1mm. Quả bế hình trứng, dài 1mm. Mặt vỏ có tuyến chứa tinh dầu.https://nhathuoclongchau.com.vn/thanh-phan/thanh-cao
Một loại cỏ Tần (cỏ bình) khác là “rau thanh hao” còn được gọi là “rau thì là bốn mùa”
Rau thanh hao (rau thì là bốn mùa):
Rau thì là 4 mùa hay còn được gọi là thìa là, có tên nước ngoài là Anethum graveolens. Đây là một loài cây lấy lá làm gia vị và lấy hạt làm thuốc được sử dụng rất phổ biến ở châu Á và vùng Địa Trung Hải. Thì là 4 mùa chứa nhiều Vitamin C và chất xơ.
Rau thanh hao (thì là 4 mùa)
*苹 BÌNH (còn đọc là Tần)
Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Tên một loại rau, tương tự rau hao — Cây bèo.
Rau hao, một loại cây dại tự nhiên, mọc ở khắp nơi trong vườn nhà và vườn hoang. Với chiều cao như gang tay, mảnh mai và mướt mát hơn bất kỳ loại cây nào khác, rau hao mang đến một màu xanh tươi mới. Khi vò nát một ngọn, bạn sẽ cảm nhận được hương thơm đặc trưng của quế và ớt quả, nhẹ nhàng và lạ mắt.
Ngày xưa, rau hao mọc rất nhiều. Điều này đã khiến nó trở thành một phần gắn bó với cuộc sống của người dân quê tôi. Trong đám rau xanh tươi, luôn có những ngọn rau hao xinh xắn. Tôi và những đứa trẻ khác thường đi quanh vườn và hái một nắm rau rồi đem về cho mẹ nấu canh. Trong tiếng nồi canh hòa quyện với hương vị của quê hương, rau hao vẫn giữ nguyên hương thơm và vị ngọt tự nhiên.
Nấu canh bầu với rau hao cũng là một truyền thống đặc biệt. Khi kết hợp với các loài hàu, nghêu hay bí, bầu, bắp cải… món canh trở nên đặc sắc hơn bao giờ hết. Mùi thơm của rau hao, hương ngọt của hàu, nghêu kết hợp với đậm đà của bầu và bắp cải, tạo nên một hương vị đầy hấp dẫn và ấm áp.
Cây rau hao nấu canh bí bầu
https://detuoivinhloc.net/rau-hao-nau-canh-bau.html
Như vậy loại rau Tần (rau hao) này được người Việt Nam nấu canh bầu kết hợp với các loài hàu, nghêu hay bí, bầu, bắp cải…
Không biết người phụ nữ Trung Hoa chế biến xào nấu như thế nào?
Việt Nam có một loại rau Tần còn gọi cây húng chanh là một trong những vị thuốc dân gian được sử dụng phổ biến để điều trị các chứng bệnh như ho, cảm cúm, sốt.
Rau tần (húng chanh)
藻 TẢO
- Từ điển Thiều Chửu
① Rong, rau bể, tên gọi tất cả các thứ cỏ mọc ở dưới nước.
② Rong là một thứ cỏ mọc dưới nước có văn vẻ đẹp, cổ nhân dùng để trang sức mũ áo cho đẹp, cho nên cái gì dùng làm văn sức đều gọi là tảo. Như từ tảo 詞藻 lời đẹp, cũng viết là 辭藻. Lấy lời tốt đẹp mà khen lao người gọi là tảo sức 藻飾. Bình luận nhân vật gọi là phẩm tảo 品藻 hay tảo giám 藻鑑.
Từ ghép
hải tảo 海藻 • tảo tần 藻蘋 • tần tảo 蘋藻
*
Ngày nay, chúng ta biết nhiều loại TẢO có giá trị
Tìm hiểu về các loại TẢO: Trên mạng có nhiều loại tảo, tôi chỉ nêu vài loại tảo có ích lợi. Phụ nữ Trung Hoa thời cổ chọn hái loại TẢO có ích lợi, có giá trị nào về để chế biến để cúng tế, chưa tìm hiểu được...
TẢO ĐỎ
Tảo đỏ là những sinh vật quang tự dưỡng thuộc ngành Rhodophyta. Phần lớn các loài rong đều thuộc nhóm này. Các thành viên trong ngành có đặc điểm chung là màu đỏ tươi hoặc tía. Màu sắc của chúng là do các hạt sắc tố phycobilin tạo thành. Phycobilin là sắc tố đặc trưng cho tảo đỏ và vi khuẩn lam. Người ta cho rằng lục lạp của tảo đỏ có nguồn gốc từ vi khuẩn lam cộng sinh với tảo mà thành.
Hiện nay đã phân loại được gần 4.000 loài tảo đỏ, phần lớn sống ở biển, chỉ có một số ít sống ở nước ngọt.
Tảo đỏ
- Agar hoặc agar-agar, là một chất giống như thạch, làm từ tảo đỏ.
Agar là một hỗn hợp của hai thành phần: agarose polysaccharide mạch thẳng, và một hỗn hợp không đồng nhất của các phân tử nhỏ hơn gọi là agaropectin. Nó tạo thành cấu trúc hỗ trợ trong thành tế bào của một số loài tảo, và được giải phóng khi đun sôi. Những tảo được gọi là agarophytes, và thuộc về phylum Rhodophyta (tảo đỏ).
Agar đã được sử dụng như một thành phần trong các món tráng miệng ở khắp châu Á, và cũng là chất nền vững chắc để chứa môi trường nuôi cấy cho công việc vi sinh. Agar có thể được sử dụng như một chất nhuận tràng, một chất ức chế sự thèm ăn, một chất thay thế gelatin cho người ăn chay, một chất làm đặc cho Xúp, trong bảo quản trái cây, kem lạnh và các món tráng miệng khác, như một chất làm trong trong sản xuất bia, giấy và vải định cỡ.
TẢO NÂU
Tảo nâu là nguyên liệu khá phổ biến trong nhiều món ăn. Tuy vậy, không phải ai cũng biết tác dụng của tảo nâu đối với sức khỏe và sắc đẹp. Đây là loại tảo mọc ở các đại dương, bạn cũng có thể thấy các mảng tảo màu xanh-nâu và nhầy nhụa trôi dạt vào bãi biển. Vậy tảo nâu có tác dụng gì đối với sức khỏe?
Tảo nâu
Tảo nâu là gì? Thành phần dinh dưỡng của tảo nâu
Theo One Green Planet, hiện có khoảng 1500 loài tảo nâu khác nhau được biết đến, đều là sinh vật biển ở đại dương. Đặc điểm thường thấy là tảo nâu không có rễ, thân hoặc hoa, các phiến trông giống như chiếc lá. Màu nâu đặc trưng của tảo nâu hình thành do sắc tố của fucoxanthin cùng chất diệp lục.
TẢO XANH ULVACEAE
Tảo xanh trong họ Ulvaceae
Ulva intestinalis là một loại tảo xanh trong họ Ulvaceae, được biết đến với tên gọi thông thường là rau diếp biển, rong biển mồi xanh, rong ruột, và tảo bẹ cỏ. Cho đến khi chúng được phân loại lại bằng công trình di truyền hoàn thành vào đầu những năm 2000, các thành viên hình ống của chi rau diếp biển Ulva được xếp vào chi Enteromorpha.
(Theo Wikipedia)
*
Nói tóm lại, “tảo tần” là rau tảo và rau tần. Người xưa dùng rau tảo và rau tần để dâng lên cúng tổ tiên. Hái rau tảo và rau tần là việc chuyên trách của người phụ nữ xưa. Rau tần thường mọc hoang dại bên bờ suối, còn tảo thì sinh trưởng trong lòng suối, trong lòng biển như các loại rong, cả hai đều không dễ mà hái được. Vì đạo hiếu với tổ tiên mà người phụ nữ Trung Hoa thuở xưa lặn lội đi tìm rau Tảo rau Tần và ngâm mình trong nước nhiều giờ chăm chỉ hái rau Tần, rau Tảo về làm cỗ cúng tổ tiên là người đảm đang, đáng khen ngợi.
Từ phong tục cổ về thờ cúng, “tảo tần” trở thành từ chỉ chung sự đảm đang, rồi theo thời gian nghiêng về nét nghĩa chịu thương chịu khó, lo toan việc nhà... đức tính siêng năng, hay lam hay làm trong cảnh sống khó khăn của người phụ nữ.
La Thụy sưu tầm và biên tập
*
Tham khảo:
- Các bài thơ “Thái Tần” chữ Hán trong trang thi viện.net
- Tự điển Hán Việt về từ ngữ “Tần Tảo”.
- Các loại “cỏ Tần”, cỏ Bồng, thanh hao, rau hao... trên mạng
- Wikipedia về các loại tảo
- Từ điển Phật học về từ ngữ “tần tảo”
- Trang face “Chiết tự chữ Hán”