Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, April 5, 2020

GÁ TÌNH - Thơ Đặng Xuân Xuyến

Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến


GÁ TÌNH 

Rồi em cũng phải gả chồng
Rồi tôi cũng phải làm chồng người ta
Thôi thì hai bảy mười ba
Bữa nào trời đẹp tôi qua bỏ trầu

Người ta lấy bạc bắc cầu
Để tôi sấp ngửa cơi trầu lỡ duyên
Người ta khát lộc say quyền
Để em phận gái thuyền quyên bẽ bàng

Gặp nhau khi đã trễ tràng 
Dở dang duyên phận nhỡ nhàng lời yêu
Chỉ là gạo nấu chung niêu
Chẳng mong củ ấu khéo yêu thành tròn
Đã quen ngậm trái bồ hòn
Nào đâu nghĩ đến vuông tròn nặng sâu...

Bữa sau tôi sẽ bỏ trầu
Để em thôi gả làm dâu nhà người

Hà Nội, ngày 20.03.2013
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - GÁ TÌNH - Thơ Đặng Xuân Xuyến

NGƯỜI ĐÀN BÀ ÔM NỖI NHỚ - Thơ Nguyễn Hổng Linh

Nhà thơ Nguyễn Hồng Linh
NGƯỜI ĐÀN BÀ ÔM NỖI NHỚ
Nguyễn Hổng Linh

Tháng tư về...
Chất ngất
Khắc khoải
Chờ mong
Nắng tháng tư cũng dịu dàng
Mong manh...
Hương hoa ngập tràn trong gió
Sắc hoa xao động lòng người
Bằng lăng tím trổ hoa
Em e ấp tuổi học trò
Yêu màu mực tím.
Tháng tư
Nỗi nhớ đong đầy
Người đàn bà ngồi ôm nỗi nhớ
Trầm tư
Dịu dàng
Cháy bỏng
Khát khao...
Biển đã thôi không thầm thì
Biển cuồng nộ
Ai oán...
cất tiếng khóc trong mưa bão
Gió thét gào
Mưa vẫn rơi
Rong rêu
Bám vào đời buộc chặt...

Tháng tư...
Người đàn bà đa đoan
Khóc thầm
Câm lặng
Ôm mối tình si
Ôm niềm đau
Hờ hững
Đợi chờ
Ôm vào lòng nỗi day dứt
Nghẹn ngào
Dằn vặt
Đớn đau
Cà phê đắng
Một mình
Xanh xao
Nỗi nhớ...
Em nhớ Anh.

Tháng tư....
Mùa giao hoan
Đất trời say đắm
Em lắng nghe
Biển ngân nga câu hát
Dạt dào nỗi chờ mong...

Biết giấu vào đâu nỗi nhớ
Thầm thì em gọi biển hờ hững sao
Tận cùng giấc mộng hư hao
Trăng vàng soi bóng giấu vào hư không

Khúc tình ca
Chơi vơi
Ngọt ngào
Sâu lắng
Hai người xa lạ
sao vẫn hoài nhớ thương nhau
Tháng tư về...
Em nhớ Anh.

NHL

READ MORE - NGƯỜI ĐÀN BÀ ÔM NỖI NHỚ - Thơ Nguyễn Hổng Linh

MỘT BÀI THƠ TRĂNG TRỐI CỦA PHẠM NGỌC THÁI - Lời bình VIỆT PHƯƠNG

MỘT BÀI THƠ TRĂNG TRỐI CỦA PHẠM NGỌC THÁI
                                                          Lời bình VIỆT PHƯƠNG
           

image.png


                CHẾT CŨNG CHỈ NHƯ GIẤC NGỦ 
                                 
Không than vãn, lòng chẳng hề hối tiếc 
Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong
Cũng chỉ như giấc ngủ mơ màng
Đời sống vậy, đủ rồi ! Em yêu mến.

Nghiệp đã làm xong, chẳng còn chi vương vấn
Tình cũng tàn, năm tháng kiếp phôi pha
Thì em ơi ! Ta nằm xuống dưới mồ
Thanh thản chết, có gì đâu phải nghĩ ?

Hồn thi sĩ xin mang thơ gửi đời làm tri kỷ
Chốn trần gian sẽ ngợp áng thơ ta
Chỉ chia tay có thân xác thôi mà
Tình yêu ta còn muôn đời bất tử !

Cõi thế gian: Âu cũng kiếp đoạ đầy phận số
Tiếc làm chi ? Sống mãi chỉ mệt thân
Mãn nguyện rồi, cần chi nữa phân vân
Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh” !

Ta đã yêu em suốt đời trong hư ảnh
Dù có thời cũng sung sướng, đê mê
Nhưng tình em khác gì những chiếc lá bay kia
Để năm tháng dài… ta hoang ru nơi bến lạnh…
"Tình và tiền" !
Tiếng nói đó làm trái tim đàn bà hưng phấn
Phụ nữ cả thế giới này, họ quí như nhau !
Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu
Giọt lệ thi nhân,
Anh rỏ lên những trang thơ đời, làm liều thuốc ngủ…

                           PHẠM NGỌC THÁI
          Trích tập “ Phạm Ngọc Thái . Cánh đại bàng của thi ca đương đại VN “,
                                      Nxb Thanh niên 2019 )
   
Phạm Ngọc Thái Cánh đại bàng của thi ca đương đại

             LỜI BÌNH CỦA VIỆT PHƯƠNG:
                            - Một bài thơ trăng trối

  Trước khi từ giã cõi đời ở Gành Ráng (Qui Nhơn), thi nhân Hàn Mặc Tử đã để lại những lời trăng trối:
               Ta trút linh hồn giữa lúc đây
               Gió sầu vô hạn nuối trong cây
               Còn em sao chẳng hay chi cả
               Xin để tang anh đến vạn ngày
                                (Trút linh hồn)
     Còn Xuân Diệu thì nhắn nhủ lại đời, rằng:
              Hãy để cho tôi được giã từ
              Vẫy chào cõi thực để vào hư
              Trong hơi thở chót dâng trời đất
              Cũng vẫn si tình đến ngất ngư
     Thi hào Pushkin vĩ đại – mặt trời thi ca của nước Nga đã viết:
              Nơi đàn thơ thiêng liêng ta không chết!
              Hồn ta còn sống mãi chẳng tiêu tan
              Và trên đời dù chỉ còn một thi nhân
              Danh tiếng ta vẫn còn vang mãi mãi…
     “Chết cũng chỉ như giấc ngủ” của Phạm Ngọc Thái cũng thuộc dạng một  bài thơ trăng trối:
             Hồn thi sĩ xin mang thơ gửi đời làm tri kỷ
             Chốn trần gian sẽ ngợp áng thơ ta
             Chỉ chia tay có thân xác thôi mà
             Tình yêu ta còn muôn đời bất tử !
                                        (đoạn thơ ba)
     Thi nhân thản nhiên để chuẩn bị cho mình đi vào cõi vĩnh hằng. Bài thơ đạt đến sự chí lí về cả nghĩa và tình. Ngay mấy câu mở đầu, ta thấy tâm trạng nhà thơ coi cái chết rất nhẹ nhàng:
            Không than vãn, lòng chẳng hề hối tiếc
            Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong
            Cũng chỉ như giấc ngủ mơ màng
            Đời sống vậy, đủ rồi ! Em yêu mến.
    Mặc dù nhà thơ viết: Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong /- Nghe có vẻ như rũ bỏ ? Nhưng không phải. Sở dĩ lòng Người sẵn sàng ra đi thanh thoát vậy, ở trong đoạn thơ hai đã giải thích:
             Nghiệp đã làm xong, chẳng còn chi vương vấn
             Tình cũng tàn năm tháng kiếp phôi pha
             Thì em ơi ! Ta nằm xuống dưới mồ
             Thanh thản chết, có gì đâu phải nghĩ.
    Vâng, thêm một lần nữa ta thấy Phạm Ngọc Thái đón nhận cuộc ra đi vĩnh cửu… thật ung dung. Bởi, anh biết sự nghiệp thi ca cùng tên tuổi anh để lại cho đời cũng như nền văn học nước nhà, sẽ không bao giờ chết. Dù anh có nằm xuống dưới mồ, vào cõi thiên thu… thì đâu có phải thế là kết thúc ? đâu phải “tất cả đã là xong” ? – cũng như nhà thơ Nga Pushkin từng nói:
               Nơi đàn thơ thiêng liêng ta không chết!
    Thi nhân coi cuộc ra đi đó chỉ như là một giấc ngủ mơ màng. Bài thơ còn đi sâu lý giải về… đời, như kinh phật nói là “cõi tạm”:
              Cõi thế gian: âu cũng kiếp đọa đầy phận số
              Tiếc làm chi ? Sống mãi chỉ mệt thân
              Mãn nguyện rồi, cần chi nữa phân vân
              Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh” !
                                               (đoạn thơ thứ tư)
     Một quan niệm phật giáo. Nói về hai chữ “kinh thánh” – Trong bài “Khúc xuân tuổi bảy mươi”, tác giả cũng viết hai câu thơ:
               Đi giữa mùa xuân,
                                  đã thấy vĩnh cửu ở trên đầu
               Cõi Phật rước ta về đất thánh…
     Nghĩa là, cuộc đi này của thi nhân không phải để… chết, mà Người hóa mình vào “kinh thánh” đó thôi !
     Cuộc đời gồm cả “tình yêu và cuộc sống” – Bài thơ tràn sang lĩnh vực “tình”:
                Ta đã yêu em suốt đời trong hư ảnh
                Dù có thời cũng sung sướng, đê mê
                                               (câu 17-18) 
     Trong đời thường từ tư tưởng, tình cảm đến đời sống thực - Ai cũng quan tâm đến tiền bạc. Nhưng với người phụ nữ thời hiện đại thì tiền bạc chỉ đạo họ về mọi phương diện: kể cả lĩnh vực tình ái !? Cái quan niệm “một mái nhà tranh, hai trái tim vàng” là cổ xưa lắm rồi ! Thời nay, tuy cũng có nhưng rất hiếm.Tình thì tình, nhưng họ yêu trước hết phải là… tiền ! “tiền” gần như là một chủ nghĩa, một lý tưởng sống của người phụ nữ bây giờ. Bởi vậy,  những chàng thi sĩ với tâm hồn lãng mạn, mộng mơ… chỉ giàu tình mà nghèo tiền, rất dễ bị rơi vào “bến cô liêu” ! Thi nhân viết:
                "Tình và tiền" !
                Tiếng nói đó làm trái tim đàn bà hưng phấn
                 Phụ nữ cả thế giới này, họ quí như nhau !
                 Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu…
     Tức là, những tình yêu chỉ xây dựng trên nền tảng theo “tiếng gọi của trái tim” như của các nhà thơ, hầu hết trước sau cũng… tan vỡ ! Nên Người mới than:
                 Nhưng tình em khác gì những chiếc lá bay kia
                 Để năm tháng dài ta hoang ru nơi bến lạnh…
                                                               (câu 19-20)
     Thơ tình Phạm Ngọc Thái phần lớn được sáng tác từ các mối tình xưa. Nhà thơ  sống lại trong thơ bằng những kí ức của tình yêu.
                 Anh trở về như Na-pô-lê-ông
                                               Đi tù ngoài hoang đảo
                 Ông dành thời gian viết hồi kí thuở tung hoành
                 Anh lấy tình xưa xây giấc mộng thi nhân
                 Chỉ tiếc nuối tình sao ngắn ngủi.
                                              (Vĩnh biệt cuộc tình)
     Anh đã nói như vậy. Cái thời mà người chồng là một nhà thơ nghèo, được bà vợ vẫn thủy chung như vợ của Tú Xương và Nguyễn Khuyến, là chuyện xửa xưa… Thưở ấy, Tú Xương từng tự sự trong bài thơ “thương vợ” nổi tiếng của ông rằng:
                 Quanh năm buôn bán ở mom sông,
                 Nuôi đủ năm con với một chồng.
                 Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
                 Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

                 Một duyên hai nợ âu đành phận,
                 Năm nắng mươi mưa dám quản công.
                 Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
                 Có chồng hờ hững cũng như không !
     Giờ, xin phân tích đôi nét về quan hệ giữa đời sống thực của Phạm Ngọc Thái với thi ca - Tôi không biết nhiều đến hoàn cảnh gia đình trong mối quan hệ vợ chồng của anh ? Nhưng xét nghĩ, với một con người đam mê văn chương, nhất là thơ ca như anh… để có được một gia đình yên ấm ở xã hội hiện đại này, quả thật là khó !? Nghe nói, sau này hai người cũng không tránh khỏi lúc này,khác xích mích nhau về chuyện tiền nong - Mặc dù cũng có giai đoạn tác giả sống rất êm ái, yên ấm với gia đình. Chẳng thế, thời kì đó anh đã sáng tác cả một tập thơ nói về vợ con ! Đó là tập “Có một khoảng trời”, xuất bản năm 1990 khi công tác ở Đức về. Có những bài thơ rất hay nói về người vợ trẻ của mình, như bài Tiếng Hát Đời Thường:
                  Trong một phố nghèo có người vợ trẻ                                               
                  Vẫn đón con đi, về... như thường lệ                                                
                  Vóc em thanh cũng thể mùa xuân                                               
                  Đôi mắt em: đôi mắt ấy màu đen. 
     Hay là:
                   Miền đã theo tôi vào cuộc Trường Sơn
                   Hành quân rừng già, võng treo sườn gió...
                   Ai biết chiều nay người vợ trẻ
                   Đứng mong chồng bên đứa con thơ
                   Giọt lệ cháy xót lòng mang sắc xanh thu!
     Rồi bài “Có một khoảng trời”:
                   Cái khoảng trời khi anh và em đã cách xa
                   ( xa thật đấy mà cũng gần thật đấy )
                   Trong đau đớn anh hoá bờ cát cháy
                   Thổi về phương em giữa chiều gió nổi

                   Hạt vô tư còn lại… những tàn tro !
     Tình cảm của nhà thơ với gia đình, quê hương - Đặc biệt với người vợ, rất đẹp ! Anh không ngớt lời ca ngợi qua một số bài khác nữa: Nỗi trăn trở người đi tìm vàng, Bài ca xứ sở, Trăng quê, Mùa tuyết quê người…
     Song cũng phải nói: giai đoạn này tác giả còn đang công tác ở ngành ngoại thương, lại đi nước ngoài - Cuộc sống chắc cũng khá ! Chưa bị mối quan hệ về tiền bạc chi phối nhiều ( như khi anh đã lao hết mình vào sự nghiệp thơ phú, văn chương ).
     Mảng sáng tác duy nhất anh nói về người vợ, chỉ ở mỗi tập thơ “có một khoảng trời” đầu tay ấy ! Còn cả một khối lượng hàng trăm bài thơ tình viết sau này, không thấy có bài thơ nào Phạm Ngọc Thái nói về người vợ của mình nữa. “em” trong các bài thơ tình của anh, toàn là em của cái thuở mộng mơ xưa, hoặc cảm xúc với một người nào đó… chứ không phải là vợ.
     Thí dụ như bài “Người đàn bà trắng”:
                     Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
                     Anh cũng không làm chàng Trương Chi
                                                           suốt đời chèo sông vắng
                     Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng
                     Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau.
     Anh Trần Đức - Nguyên CB Viện ngôn ngữ & Văn hoá dân gian, khi bình bài này đã phân tích:
     “Đoạn thơ đã triết lý về những mâu thuẫn giữa tình yêu và cuộc sống của nhà thơ với Người Đàn Bà Trắng. Đó cũng là một nghịch lý cuộc đời: Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu /- Còn anh cũng không đầy mình để làm mãi cái anh chàng Trương Chi suốt đời chèo thuyền trên con sông quạnh vắng, cô đơn ! Rồi tương tư nàng Mỵ Nương mà chết. Hay cái con-đường-lông-ngỗng-trắng mà nàng Mỵ Châu đã rắc cho chàng Trọng Thủy theo tìm - Thần tượng thì rất đẹp, nhưng để cuối cùng chàng cũng nhảy xuống biển mà chết, hoá thành ngọc trai giữ tình son sắt với nàng. Nó bi ai quá !
     Cái hay của khúc triết lý trong bài thơ Người Đàn Bà Trắng là đã được viết như đời. Dẫu mối tình bị tan vỡ phải chia lìa năm tháng, nhưng tình thơ không kết thúc bằng sự bi thảm. Đôi trai gái vẫn phải sống và tồn tại, dù là theo chiều gió cuốn cuộc đời. Phải chăng, đó cũng là một cuốn tiểu thuyết "cuốn theo chiều gió" như bao bi kịch tình-đời trên bờ bến nhân gian?”.
     Nghĩa là, bài thơ được tác giả cảm xúc sáng tác cũng xuất phát từ trong cuộc tình đời của mình? nhưng chưa phải là giai đoạn tiến đến hôn nhân gia đình - Như thi sĩ Xuân Diệu từng viết:
                    Tình chỉ đẹp khi còn dang dở…
     Mối quan hệ cuộc sống và thi ca của nhà thơ vẫn ở trong một thế giới tưởng tượng, đẹp như mơ…  chứ chưa vấp phải cái mâu thuẫn giữa “tình và tiền” !
     Tôi thí dụ thêm bài nữa:
                   Tình để lại vết thương không lành được
                   Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
                   Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
                   Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan.
                                                (Anh vẫn ở bên Hồ Tây)   
     Đấy, tuy bị lỡ dở nhưng họ vẫn tha thiết với nhau như thế. Đến mức vì  “tình” trái tim có thể tan vỡ ! Thì đâu có phải vì tiền ? Nhà thơ kết luận:
                  Thế đó, em ơi ! Tình qua không trở lại
                  Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
                  Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi
                  Anh ở đây, vẫn bên Hồ Tây mây trôi...
     Bởi vậy, thơ tình Phạm Ngọc Thái hoàn toàn xuất phát từ sự rung động trái tim (ngoài phạm trù tiền)… có thể chỉ trong khoảnh khắc mà cảm xúc thành thơ, hoặc của một mối tình dang dở, xa nhau lòng vẫn tha thiết nhớ về nhau. Tan vỡ mà vẫn đẹp !
     Giờ xin quay trở lại với bài “Chết cũng chỉ như giấc ngủ”: Nó không chỉ còn là tự sự bản thân nữa, mà đã mang cả ý nghĩa thời đại, trong mối quan hệ giữa tiền bạc với đời sống xã hội… để phản án nhân sinh quan tác giả.
     Bài thơ ôm trùm rất nhiều mặt của cả riêng tư và tính hiện thực xã hội trong đó, súc tích và sâu sắc. Không ít chỗ khúc triết và hay, đột biến có câu thơ thật xuất sắc, như: 
                   Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh”!
     Huyền bí và hiển linh. Hai câu thơ cuối bài là hay:
                   Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu!
                   Giọt lệ thi nhân,
                   Anh rỏ lên những trang thơ đời làm liều thuốc ngủ.
      Bài thơ đã được kết ở đó !
                                                 Việt Phương
READ MORE - MỘT BÀI THƠ TRĂNG TRỐI CỦA PHẠM NGỌC THÁI - Lời bình VIỆT PHƯƠNG

TIẾNG HỒ CẦM GIEO CẢM XÚC VÀO THƠ TÔI - La Thụy


               
                                  Đàn tỳ bà


TIẾNG HỒ CẦM GIEO CẢM XÚC VÀO THƠ TÔI
                                                                           La Thụy

Đại thi hào Nguyễn Du tả tài nghệ đánh đàn Thúy Kiều :

Cung, thương, làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương

Các cụ Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim và Nguyễn Văn Vĩnh… đều chú giải: “Hồ cầm là cây đàn Tỳ Bà, vì đời xưa, vua Hán Nguyên Đế có bà Chiêu Quân phải đi cống rợ Hồ, thường hay đánh cây đàn ấy, nên mới gọi là Hồ cầm”.
Nhà thơ Tản Đà lại cho rằng: “Hồ cầm là cây đàn của rợ Hồ, nguyên chính là cái nhị; vì có kiểu nhị làm giống như cây Tỳ Bà, cho nên Tỳ Bà người ta cũng gọi là Hồ cầm”.

Nói tóm lại, các học giả đã chú giải Truyện Kiều đều cho hồ cầm là đàn Tỳ Bà, hầu hết đều nói: “Chiêu Quân khi đi cống Hồ, hay đánh đàn Tỳ Bà, nên đàn Tỳ Bà có tên là Hồ cầm”. Đọc lời chú giải về “hồ cầm” của các học giả trên, ban đầu tôi đinh ninh “hồ cầm” là đàn tỳ bà. Chỉ có ý của nhà thơ Tản Đà là có khác: “Hồ cầm là cây đàn của rợ Hồ, nguyên chính là cái nhị…”

Tìm hiểu về hồ cầm ta thấy:

Hồ cầm là một loại đàn của người Hồ (tên gọi được người Hán dùng để chỉ các dân tộc sinh sống tại vùng giáp giới giữa tây bắc Trung Quốc với các nước Trung Á). Nó là nhạc cụ của những người du mục, được dùng trong sinh hoạt văn nghệ dân gian và trong các cuộc tế lễ.  Như thế, nhạc cụ này có thể có nguồn gốc từ các khu vực ở phía bắc hoặc phía tây của Trung Quốc thường có người dân du mục cư của các bộ tộc gần Trung Quốc trong quá khứ.

Hồ cầm hiện nay có xuất xứ từ Ấn Độ và vùng Trung Á, được du nhập vào Trung Quốc từ thế kỷ I đến thế kỷ III sau công nguyên từ người Hồ trong thời kỳ thịnh đạt của “Con đường tơ lụa”. Vì vậy nên người. Người Việt Nam gọi theo ngôn ngữ của mình là đàn hồ.
Hiện nay, hồ cầm có mặt trong hầu hết các dàn nhạc dân tộc cổ truyền Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc, Đài Loan. Loại đàn này cũng có mặt ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, một số nước khu vực Tây Á và Kavkaz. Loại nhạc cụ này dần dần được bản địa hóa. Không chỉ người Kinh mà các dân tộc khác ở Việt Nam cũng chế tác đàn hồ cho mình.


Trong các dàn nhạc cổ truyền dân tộc Việt Nam, đàn hồ luôn có mặt. Thời cổ, dân gian Việt Nam có một loại đàn giống với đàn này, được gọi là đàn gáo (có bầu đàn giống cái gáo, mặt đàn bằng gỗ mỏng). Do cấu tạo và tính năng tương tự, nó được coi như một họ hàng của hồ cầm.
Từ điển Từ Hải cho chúng ta hiểu rằng:
“Hồ cầm là tên một nhạc khí; xuất xứ tại Bắc Phiên, nên gọi là Hồ cầm; ống làm bằng trúc, mặt căng da trăn; trên có cán nhỏ, dài chừng một thước; đầu cán có lỗ xuyên ngang, và 2 trục, quấn 2 dây, căng thẳng trên mặt ống; dùng cung trúc căng mã vĩ mà cọ xát thành thanh âm”.
Nhạc khí này ta gọi là Cây hồ hay Đàn gáo cùng loại với Cây nhị hay Đàn cò.
Như vậy, hồ cầm (đàn hồ) ở Việt Nam chính là nhị hồ (đàn nhị).

Nhà thơ Xuân Diệu có bài thơ “Nhị hồ” thật hay, trong đó có hai câu:

“Nhị hồ để bốc niềm cô tịch,
Không khóc, nhưng mà buồn hiu hiu...”

Cũng trong bài thơ “Nhị hồ” này, xuất hiện hai câu thơ bình thanh cũng rất hay:
 
       “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời,
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi...”

Hai câu thơ trên được coi là dạng thơ bình thanh tiên phong của làng thơ Việt Nam, đồng thời với các bài thơ bình thanh “Tỳ bà”, “Hoàng hoa” của Bích Khê, hay bài thơ “Tiêu sầu” của Hàn Mặc Tử

Trong một đêm khuya thanh vắng, tiếng nhị hồ réo rắt ai oán gieo vào lòng tôi nỗi u hoài, tôi đã cảm tác bài thơ lục bát “Hồ cầm” hoàn toàn bình thanh:

HỒ CẦM    

Vang đêm thanh hồ cầm ngân    
Trăng ngà giăng tơ cung trầm buông lơi    
Lâng lâng tình đang lên khơi    
Hồ, xừ, xang… lòng chơi vơi canh dài    
Mơ hồ hồn xưa liêu trai    
Mồ thu hoang vu chừ ai u hoài    
Vương mang chi, đàn ngân dài    
Lưu dư hương… ồ trang đài về đâu    
Tương tư sao, đàn dâng sầu    
Say men nồng hay say màu thời gian    
Vời chân mây, nhòa non ngàn    
Bâng khuâng heo may, mơ màng hơi thu    
Ai phiêu diêu trong sương mù    
Người muôn năm… từ thâm u quay về    
Trần gian kia còn si mê?    
Hồ cầm cao cung, thương hề niềm xưa    
Rơi rưng rưng từng âm thừa    
Sao trời lung linh đường tơ chìm dần
                                                                                                                            
Bài thơ “HỒ CẦM” tôi lấy cảm hứng từ các câu thơ : “Ái thính thu phần quỷ xướng thi” (Vương Ngư Dương), “Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời” (Tản Đà), “Quạnh quẽ thu phần thơ bặt tiếng” (Vũ Hoàng Chương). Tiếng nhị hồ réo rắt, não nuột vừa bặt tiếng thì bài thơ “HỒ CẦM” cũng xong câu cuối…


                                                                             La Thụy

READ MORE - TIẾNG HỒ CẦM GIEO CẢM XÚC VÀO THƠ TÔI - La Thụy

LỮ KHÁCH, LY RƯỢU BUỒN VỠ GIỮA CƠN MƠ - Thơ Lê Văn Trung






LỮ KHÁCH

Ta ngồi đợi, như một người lữ khách
Quán bên đường hiu hắt buổi sầu đông
Người năm cũ đã nghìn trùng xa biệt
Ta đợi gì giữa sương giá mênh mông

Quán cũng vắng, trống huơ lòng thiếu phụ
Rót giùm ta chén rượu tháng năm thừa
Ôi đôi mắt của khung trời viễn xứ
Có còn không giọt lệ buổi sầu xưa

Quán cũng vắng, mỏng manh làn gió mỏng
Áo buồn che không nổi những tàn phai
Ta lữ khách tả tơi hồn bão động
Tan vào đâu những biển rộng sông dài

Ta ngồi đợi Ta Một người khách lạ
Quán khuya buồn Em Bấc cạn dầu hao
Cho ta gửi vào lòng đêm rời rã
Câu thơ buồn chìm tận cõi chiêm bao.
                     
            
LY RƯỢU BUỒN VỠ GIỮA CƠN MƠ

Em ơi chén "rượu giang hồ" cũ
Ta uống chưa tàn một giấc mơ
Chưa uống mà ly buồn đã vỡ
Ly rượu buồn vỡ giữa cơn mơ

Hồn ta máu chảy như là rượu
Tình ta máu chảy như là men
Ta gọi trăm năm mà bật khóc
Ta gọi thiên thu mà muộn phiền

Đời chưa hào sỹ anh hùng tận
Bẻ bút mài gươm mà quặn lòng
Đời chưa "túy ngọa sa trường" hận
Mơ gì tài tử với giai nhân

Ta rót tràn ly, hề! Chiến quốc!
Ta uống cạn ly, hề! Xuân thu!
Thì có gì đâu hờn vong quốc
Không Ngũ Tử Tư mà bạc đầu

Đêm nay ta mời ta ly rượu
Đêm nay ta buồn trong cơn say
Tình đã vùi chôn mồ thiên cổ
Đất trời còn mất có ai hay!

                       Lê Văn Trung

READ MORE - LỮ KHÁCH, LY RƯỢU BUỒN VỠ GIỮA CƠN MƠ - Thơ Lê Văn Trung

NGƯỜI THƯƠNG - Thơ Trần Mai Ngân


                 Nhà thơ Trần Mai Ngân


NGƯỜI THƯƠNG

Người thương... em nơi đâu
Ngày tan cơn mơ sầu
Duyên sao không bền lâu
Cầm lòng... thôi quên mau

Người thương như trăng sao
Bây chừ đành xa nhau
Tay rời tay hôm nào
Còn đầy hương mê say

Người thương ơi hôm nay
Em là cơn mê dài
Người thương ơi người thương
Triền miên trong tơ vương...

                       Trần Mai Ngân

READ MORE - NGƯỜI THƯƠNG - Thơ Trần Mai Ngân