Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 18, 2016

ĐI TÂY VÀ ĐỌC THƠ NGUYỄN KHÔI Ở BÊN TÂY - Dương Ninh Ninh


    

     ĐI TÂY VÀ ĐỌC THƠ NGUYỄN KHÔI Ở BÊN TÂY
                                       Tạp bút
      Kính Tặng Bác Nguyễn Khôi Và Gửi Tới Các Bạn Tôi.

1.
Thế là mình đã được đi Tây, đã đang ở một thị trấn nhỏ yên bình cổ kính miền Đông Bắc nước Pháp.
Một chuyến đi chẳng danh giá gì vì không phải là một chuyến tùy tùng đoàn quan chức nào của Nhà nước, cũng không phải một chuyến đi thăm thân theo lời mời vì gia đình đâu có ai sống ở Pháp; và đơn giản nhất, cũng không phải là một tua du lịch tự bỏ tiền túi ra mà chỉ là một chuyến đi theo chân bà chủ người Sing gốc Đài với danh phận nhân viên cty của bà . Vậy mà trong lòng vẫn thấy sướng âm ỷ từ lúc được bà chọn cho đi khi công ty có hàng chục người làm.
Ngày đầu tiên trên đất Pháp, sau bữa cơm chiều ở nhà một người bà con của bà chủ, được bà cho phép tự do đi chơi phố trước khi về khách sạn ngủ. Không hiểu sao, khi đôi chân dạo trên những con phố vắng giữa hai dãy nhà với bờ tường phủ đầy dây leo và hoa đẹp, lòng dạ lại cứ vẩn vơ với hai tiếng Đi Tây rồi chợt nhớ lại hồi mình thi được học bổng sang Sing học NUS.
Chiều hôm trước ngày bay, mình rủ bốn đứa bạn thân đi rong chơi phố phường và ăn vặt vài thức quà Hà Nội. Năm đứa mình thân với nhau từ hồi Tiểu học, xưng với nhau mày tao chứ không ông, bà, bạn, tôi như nhiều đội teen khác và thường gọi nhau bằng biệt danh của mỗi đứa: Cái Hằng dịu dàng như một đóa hoa là Thục Nữ, cái Nga trắng trẻo như con thiên nga Bắc cực nhưng khảnh ăn nom hơi còm là Vịt Còi, thằng Nhân hay hỏi trăm thứ bà giằn là Tò Mò Sĩ, thằng Vinh, hai mắt kính cận dày như trôn bát, thông hiểu khá nhiều chuyện Đông Tây kim cổ là Con Mọt Sách. Còn mình, Ninh Ninh thì chúng trại ra là Ninh Hầm.
Khi ăn xong chầu bánh tôm Hồ Tây, cả bọn ngồi lại bên hàng cây hoa ban tím ven hồ Trúc Bạch. Thục Nữ đưa đôi mắt bồ câu nhìn làn nước hồ trong xanh, phẳng lặng, buồn buồn nói:
- Thế là ngày mai Ninh Hầm nó đi Tây rồi.
Tò Mò Sĩ hỏi vặn ngay:
- Nó sang Sing sao lại bảo là đi Tây ?
Thục Nữ chưa biết trả lời ra sao thì Con Mọt Sách đáp hộ:
- Nó nói đúng đấy nhưng chuyện đó tao sẽ nói sau. Giờ nhân nói đến hai tiếng đi Tây, tao đề nghị chúng mình thử cùng tìm hiểu xem hai tiếng ấy có trong sách báo từ bao giờ?
Cả bọn cười tán thành. Vịt Còi lười học sử nhất lớp lại lên tiếng trước nhất:
- Theo tao, Hoàng tử Cảnh là người đầu tiên đi Tây vì mùa hạ năm 1783, Nguyễn Phúc Ánh nhờ Giám mục Bá Đa Lộc, tục gọi là Cha Cả đem theo Hoàng tử Cảnh khi đó mới 3 tuổi làm con tin sang Pháp cầu viện.
Tò Mò sĩ lập tức bác bỏ:
- Mọi sử sách đâu gọi chuyện này là đi Tây mà nói là sang Pháp. Tao thấy báo chí hiện nay đều viết Phạm Phú Thứ là Tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam đã đi Tây. Ông đi sứ cùng phái bộ gồm 60 người bằng tàu thủy mượn của Pháp, do Phan Thanh Giản làm trưởng đoàn qua Pháp năm 1863, nhằm chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ. Khi về nước, ngoài bản tường trình, Phạm Phú Thứ còn dâng lên vua Tự Đức hai tác phẩm trong đó có Tây hành nhật ký và Tây phù thi thảo.
Vịt Còi bắt bẻ lại:
- Phạm Phú Thứ viết là Tây hành và Tây phù chứ đâu phải đi Tây. 25 năm sau, năm 1888, tờ Gia Định báođăng tải cuốn du ký gồm 2000 câu thơ song thất lục bát của Trương Minh Ký kể về hành trình qua Châu Âu và Bắc Phi khi ông dẫn đoàn học sinh người Việt sang Anger du học năm 1880 với những ấn tượng sâu sắc về phong tục, nếp sống xa lạ của người dân bản xứ. Ấy là cuốn “Như Tây nhật trình” . Như Tây cũng chưa phải là đi Tây  đâu nhé!
Thục Nữ nhỏ nhẹ góp lời:
- Tao nhớ thày dạy Văn có lần đã dẫn giảng rằng: Năm 1922, ông Phạm Quỳnh sang Pháp dự hội chợ đấu xảo Marseille vừa viết từ Pháp, vừa gửi bài về Việt Nam đăng liên tục 42 kỳ trên tờ Nam Phong, giống như cách một đặc phái viên thông tấn ngày nay tác nghiệp và tường thuật từ nước ngoài. Tác phẩm này là “Pháp du hành trình nhật ký”. Xem vậy, đã gần hết một phần tư thế kỷ 20, hai tiếng đi Tây vẫn còn xa lạ trên sách báo.
Đến đây thì cả bọn đều im lặng. Bỗng trong óc mình lóe lên cái tên một truyện ngắn, mình bèn nổ luôn:
- Phải chăng Nguyễn Công Hoan là người đầu tiên đã đưa hai tiếng đi Tây vào tác phẩm văn học? Ấy là khi ông cho in truyện ngắn Thế là mợ nó đi Tây  trên An Nam tạp chí năm 1932. Đi Tây với cả nghĩa đen chữ Tây viết hoa và nghĩa bóng chỉ sự ra đi hẳn, cắt đứt hẳn của một người đàn bà với chồng con sau 3 năm được chồng giành gần hết lương và tiền làm thêm đến ho lao ra máu gửi sang Pháp cho cô nàng ăn học. Từ đó, hai tiếng đi Tây bắt đầu được dùng nhiều trên sách báo . Năm1935, Nhất Linh cho ra cả một tác phẩm với nhan đề Đi Tây ghi lại những điều mắt thấy tai nghe của ông trong chuyến du học Pháp từ năm 1927 đến 1930. Thời Âu chiến, thực dân Pháp bắt một số trai tráng người Việt sang Pháp đánh nhau để bảo vệ nước mẹ. Việc đi lính ấy cũng gọi là đi Tây. Tố Hữu viết bài thơ Đi Tây  năm 1938, có câu: "Đi Tây, đi lính, là đi… chết!".
Con Mọt Sách gật đầu khen:
- Hay! Ý của Ninh Hầm chưa dám chắc đúng trăm phần trăm nhưng nó đã trả lời đúng vào câu hỏi.
Rồi nó thao thao tiếp:
- Bắt đầu từ thế kỉ XVI-XVII, những nhà truyền giáo mang theo đồ trang sức, pha lê, vũ khí … đổi lấy hàng đặc sản như trầm hương, đá quí, yến sào, ngà voi, sừng tê, đồi mồi và các gia vị quí (hạt tiêu) … tạo ra ”con đường hồ tiêu” (từ Địa Trung Hải đến Đông Nam Á). Từ những thập niên đầu thế kỷ 16 đức tin Công giáo đã được truyền bá bí mật tại Việt Nam. Đầu tiên, linh mục Ignatio lén vào giảng đạo ở vùng Nam Định. Sau đó các giáo sĩ Bồ và Tây Ban Nha kế tiếp, đi dọc các tỉnh ven biển miền Trung. Đến năm 1578, các tu sĩ Dòng Franciscan đến Việt Nam và đến năm 1615 các tu sĩ Dòng Tên (Jesuit) được cử đến để giảng đạo tại cả Đàng Ngoài và Đàng Trong. Rồi nhà truyền giáo và nhà tư bản liên kết với nhau vươn cánh tay tới phương Đông, truyền đạo và tìm hiểu thị trường, buôn bán. Chúa Trịnh, vua Lê, chúa Nguyễn đều sẵn lòng giúp đỡ họ để tranh thủ lực lượng trợ giúp mình củng cố quyền lực.
Thời kỳ ấy, dân ta gọi các nước Bồ và Tây Ban Nha là các nước phương Tây, gọi những nhà truyền giáo là các giáo sĩ phương Tây và các thương nhân là người phương Tây hoặc các nước Tây Dương hay người Tây Dương. Suy ra, ngay từ thời kỳ này, nếu có người Việt nào theo chân các giáo sĩ hay thương nhân sang các nước phương Tây, có thể dân chúng đã gọi là sang Tây Dương hay đi Tây nhưng nếu có, thì cũng chỉ là lời ăn tiếng nói trong dân gian thôi.
Sau này người Bồ và Tây Ban Nha nhường chân cho người Pháp, ta gọi nước Pháp là nước Phú Lãng sa, người Pháp là dân Phú Lãng sa. Từ Tây giờ chỉ còn bó hẹp lại để chỉ nước Pháp và người Pháp.
Khi Pháp xâm lược nước ta, các nhà Nho gọi bọn Pháp xâm lược là bạch quỉ, bạch man; nhưng dân chúng thì gọi nôm gọn hơn là quân Tây. Bài thơ dùng chữ Tây đầu tiên có lẽ là bài Chạy giặc của cụ Đồ Chiểu: "Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây" . Và sau này hàng loạt thơ văn khác:
Quân Tây nó nhiều bề ác độc
Người ta càng lắm lúc nguy nan
Ta gọi Pháp đàn ông là thằng Tây, đàn bà là con đầm; đàn bà Việt có chồng Pháp là me Tây, con của hai dòng máu Pháp Việt là Tây lai, đầm lai… Tất tật mọi thứ Tây đầm đều bị dân ta căm ghét. Bởi thế mới có chuyện bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, sau Cách mạng tháng 8, khi ông đang là lãnh tụ của Thanh niên Tiền phong, bà vợ ông một lần đi ngang trạm gác của TNTP đã xưng danh: "- Tôi là vợ bác sĩ Phạm Ngọc Thạch". Nhưng vì bà là người Pháp nói tiếng Việt chưa sõi, anh em TNTP tưởng là đầm giặc Pháp nên xử sự rất tệ hại đối với bà ấy.
Mọi thứ của người Pháp đều gọi là đồ tây: nhà tây, giường Tây, súng tây, bánh tây, rượu Tây, ô tây…, những thứ Tây này thì dân ta lại không hề ghét  bỏ.
Cả bọn bật cười về nhận xét của Con Mọt Sách. Nó cũng cười theo rồi lại tiếp:
- Xin lỗi chúng mày, tao nói nốt: Thậm chí cái bao cao su Tây dùng chơi gái cũng gọi là…buồi Tây!
- Thằng ma mãnh này – Vịt Còi vừa nói vừa đấm thùm thụp vào lưng Con Mọt Sách. Chờ cả bọn ngơt cơn rinh rích cười, Tò Mò Sĩ hỏi Con Mọt Sách:
- Thế mày bảo Thục Nữ nó nói đi Sing là đi Tây cũng đúng, vì sao?
Con Mọt Sách trả lời ngay như đã chuẩn bị sẵn:
- Ấy là đi Tây  trong cách nói hiện nay. Nghĩa là, không chỉ nước Pháp là nước Tây, người Pháp là người Tây mà từ Mỹ, Nga, Đức, Hung, Tiệp cho đến cả Ả Rập, Singapore…, tất tật các nước phát triển trên cơ nước Ta đều là Tây hết. Có lẽ chỉ còn mấy nước anh em như Lào, Campuchia, Cu Ba, Mông Cổ, Triều Tiên là không phải Tây mà thôi. Thế mới hay cho cái tiếng nước mình!
Đi Tây ngày nay đồng nghĩa với đi học, đi buôn, đi chơi, đi hội thảo, đi hái lộc trời, đi để đổi đời, đi vì khát danh, đi vì có tiền chùa của Nhà nước, đúng hơn là tiền thuế của dân…
Nhiều bà vợ ngày nay mơ ước được xuất ngoại tìm đường cứu…gia đình,  nhiều ông chồng đã tình nguyện ở nhà làm nhũ mẫu  với một niềm tin tất thắng. Cánh nhà báo hầu hết gọi các ông chồng kiểu này là những ông chồng có vợ đi Tây. Các ông này luôn phải sống trong cảnh hồi hộp với câu vè cảnh tỉnh:
Có vợ mà cho đi Tây
Khác gì xe máy để ngay bờ hồ
Và nhiều ông nhũ mẫu , sau một hai năm đã rơi vào cảnh nhìn con thơ ngủ ngon, buồn tủi mà than rằng: “Thế là mợ nó đi Tây !”
Lại còn phong trào lấy chồng ngoại nữa. Các cô gái Việt lấy chồng ngoại từ Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Úc…đến Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản…tuốt tuột đều gọi là lấy Tây hết .
Nói đến đây, Con Mọt Sách bỗng hạ giọng và chậm rãi từng tiếng một:
- Nhưng xin nhớ cho, sang Trung Quốc, lấy chồng Trung Quốc không ai gọi là đi Tây, lấy Tây mà vẫn gọi là sang Tàu, lấy Tàu như nghìn xưa vẫn thế.
Hôm được bà chủ chọn cho theo bà sang Pháp, mình mail ngay cho tụi bạn. Ba đứa: Thục Nữ, Vịt Còi và Tò Mò Sĩ đều trả lời rất gọn: Sướng nhỉ! Riêng Con Mọt Sách thì: Thế là mày sẽ đi Tây đúng nghĩa nhất với chữ Tây viết hoa!
2.
Gần 10 giờ đêm về khách sạn. Bà chủ hào phóng đặt cho riêng mình một phòng xinh xắn và đầy đủ tiện nghi. Những tưởng sau một ngày công việc kín đầy thời gian, đặt mình xuống sẽ ngủ ngay nhưng thật quái lạ, đôi mắt không chịu chợp cho một phút. Đang chưa lý giải được thì một câu thơ chợt đến:
Một đêm thèm ngủ mà không ngủ
Và bỗng nhớ ra, đó là câu thơ trong Đêm Venice, 1 trong 25 bài thơ Một thoáng trời Âu của bác Nguyễn Khôi viết năm 1998.
Không biết năm đó bác Nguyễn Khôi Âu du theo đường nào: Du lịch tự chọn, theo một chuyến công du hay được đi chơi dối già khi sắp hạ cánh về với cuốn sổ hưu quý hóa hơn vàng 9999 ? Nhưng dù đi kiểu nào thì chuyến đi ấy của bác cũng danh giá ngàn lần hơn chuyến đi hầu cận bà chủ của mình hôm nay.
Lại chợt nhớ năm xưa, thầy dạy Văn có nói: Đọc Liêu Trai chí dị  của Bồ Tùng Linh trong căn phòng đầy ánh sáng điện thì có lý thú gì; phải đọc Liêu Trai  trong một căn lều cỏ giữa một khu vườn rộng bỏ hoang với ánh sáng của ngọn đèn dầu hay một cây nến mới thấy được cái hết vẻ liêu trai của nó. Mình đã đọc Một thoáng trời Âu nhưng là đọc ở bên Ta. Giờ đọc ở bên Tây, hẳn sẽ rất thi vị!
Nghĩ thế và bật ngay laptop.
Dẫu chỉ là Một thoáng trời Âu nhưng qua tên một số bài thơ ta thấy bước chân của Nguyễn Khôi đã dạo qua khá nhiều xứ sở: Đến Roma, Thăm Vatican, Thăm Hạ Viện Italia, Trước Tháp Nghiêng Pisa, Đêm Venice, Thăm Nàng Tiên Cá, Đến thành Vienne Viếng Mộ Hồng Quân, Thăm Chợ Cheb, Thăm Chợ Cửa Khẩu VôiTaNốp, Cơm Tàu Ở Budapest… Đến đâu, ông cũng ghi lại rất sinh động về cảnh vật, con người và sự sống ở đấy bằng những vần thơ rất mộc mạc. Đây là cảnh đường đến Roma:
Đồi tiếp đồi vắng vẻ 
Cây thông lùn tán tròn 
Mận đào đang mùa quả
Và đây là sắc màu thơ mộng được chụp lại bằng đôi mắt của nhà thơ từ trên đỉnh núi ở rừng Vienne :
Trông vời Danube xanh xanh 
Phố phường bát ngát như tranh dưới trời
Đây nữa, Pháo Đài Hamlet's Castle tràn trề sức sống mới:
Cánh buồm trắng rập rờn 
Chuyến phà đang vào bến 
Người đứng câu trên sóng 
Người ra nắng đứng hong 
Dinh nhà vua sừng sững 
Đại bác đứng vươn nòng
Hàng loạt cảnh vật như thế khiến Một thoáng trời Âu thành một cuốn album thơ quý giá.
Có cảnh đã du hồn nhà thơ vào Thế giới cổ tích huyền thoại. Ấy là vẻ đẹp mê hoặc của Nàng Tiên Cá, một bức tượng dựa theo câu chuyện cùng tên của nhà văn Đan Mạch nổi tiếng Hans Christian Andersen đã được dựng lên ở vùng nước ven trung tâm thủ đô Vương quốc Đan Mạch, biểu tượng tiêu biểu của kinh thành Copenhagen:
Ơi tiên cá...tôi ngỡ mình Hoàng Tử  
Tình yêu luôn là phép nhiệm màu 
Không có hẹn,duyên trời cho gặp gỡ 
Đến bên bờ biển sóng để yêu nhau
Ở Việt Nam, không biết Nguyễn Khôi đã một lần dám mộng ước mình là Vua để cưới Cô Tấm thảo hiền về làm Hoàng hậu? Nhưng hiển nhiên, vừa đến Đan Mạch ông đã có ngay một giấc mơ Hoàng Tử diễm huyền.
Có cảnh thật nghẹn ngào xúc động. Ấy là một Chiều mưa lâm thâm viếng mộ Hồng Quân ở trong lòng nước Ý đã có thời nằm dưới quyền thống trị của đảng Phát xit . Thay cho những tiếng chuông nguyện hồn, nhà thơ ngân lên những tiếng thơ thương xót và cảm phục những quân nhân Xô viết đã hy sinh khi vào giải phóng thành Vienne:
Ơi những chàng trai Nga
Anh dũng và dịu hiền
CHẾT cho Nhân loại sống
Loài người có thể lên án chủ nghĩa Cộng sản, căm ghét chính quyền  Liên Xô, đập nát tượng Stalin và đòi đưa thi hài Lê nin ra khỏi lăng…Nhưng muôn đời không thể không biết ơn, không kính trọng sự hy sinh dũng cảm của các chiến sĩ Hồng Quân Liên Xô vì tự do cho Tổ quốc, vì sự sống của nhân loại trong đó biết bao người lính trẻ đã vĩnh viễn không trở về nước Nga mà linh hồn họ nơi đây chỉ còn có thể nghe vọng về từ muôn xa:
Rặng bạch dương thì thào 
Ca bài sông Danube 
Để nhớ trời Volga 
Để hát chiều Mockba...
Có cảnh lại khiến nhà thơ sâu lắng suy tư như thăm Thánh cung Vatican uy nghiêm lộng lẫy, nơi Cha của các giáo dân, Vua của các vua Ngài ngự trị:
Ôi vua của các Vua 
Chết cũng thành đất đá 
Cũng ở dưới đất đen 
Và chả "phán" chi nữa
Một suy tư rất dân gian Việt Nam:
Vua Ngô ba sáu tàn vàng
Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì
Hay trầm ngâm tự hỏi khi thăm Pháo Đài Hamlet's Castle, nơi đã dàn cảnh vở bi kịch Hamlet nổi tiếng của W.Shakespear:
Ai kia tranh quyền lực
Tồn tại hay là không?
“To be or not to be”? Câu hỏi này không chỉ là câu tự vấn của riêng Hamlet hôm xưa mà hôm nay Nguyễn Khôi nhắc nhớ; nó mãi mãi còn là nỗi trăn trở của toàn nhân loại. Yêu cảnh vật trời Âu bao nhiêu, nhà thơ yêu con người ở đó bấy nhiêu. Họ không hề xa lạ mà rất đỗi thân quen:
Nghe nói dân Roma 
Cũng tựa người Nam Bộ ,   
Hoa bày ở ban công 
Cây xanh mát hè phố
Ông rất cảm kích tấm lòng mến khách của bạn, cảm kích đến nỗi đã có lúc phải bối rối:
Bạn yêu ta thật tuyệt vời 
Tiếc không hũ rượu để mời mọc nhau
Nguyễn Khôi rất nặng lòng với nước Ý, bằng chứng là trong 25 bài thơ có đến trên 15 bài viết về đất nước lấy hoa loa kèn làm quốc hoa này. Nhưng dù rất yêu nước Ý, người Ý; nhà thơ đã không ngần ngại nói ra những sự thực để không ru ngủ mọi người. Nước Ý từng là nơi xuất phát của nhiều nền văn hóa châu Âu. Nước Ý đã từng được xếp hạng là nền kinh tế đứng thứ 7 thế giới. Nhưng ngay thủ đô Roma của nước Ý cũng không hiếm: Người đi giày há mõm.
Và :
Chẳng hiếm kẻ lang thang 
Ngủ vỉa hè, góc chợ
Kẻ cắp thành Rome không những không thua kém mà còn vượt trội kẻ cắp chợ Đồng Xuân nổi tiếng cả trăm năm nay ở Việt Nam:
Chớ khinh kẻ cắp thành Rome 
Chợ Đồng Xuân cũng phải nhường Đại Ca
Người dân Ý sởi lởi, thuyết lý hùng hồn tranh luận giỏi nhưng: "Mafia cũng nhất luôn".  Và họ cũng đâu có luôn lấy chữ tín làm đầu:
Gặp nhau thì vồn vã 
Thết nhau cốc ly tràn 
Lời hứa bay theo gió 
Đất trời ngỡ Việt Nam
Sự thật ấy mới đúng là muôn mặt xã hội loài người. Một thoáng trời Âu cũng là một thoáng rộng sáng cho Nguyễn Khôi nhìn nhận tinh tường về các thể chế lớn đang cùng nhau ngự trị Thế giới:
Nếu như ở trời Âu này:
Quốc Hội quyền "quyết định" 
Chính phủ đành "bó tay" 
Chờ "trưng cầu dân ý"
Thì ở nước Mỹ xa xôi:
Cầm quyền chỉ hai Đảng 
Lèo lái chuyện kinh doanh 
Dollar là bom đạn 
Khét lẹt mùi chiến tranh.
Và ở Trung Quốc núi liền núi sông liền sông với ta:
Ôi "thể chế toàn trị" 
Khắc kỷ và cần lao 
Có hai, cất giấu một 
"Nghèo đói" cảnh giác giầu
Chỉ nhìn ra Thế giới, không đánh giá, không so sánh và không bàn luận gì đến Việt Nam. Một cái nhìn thật thâm trầm kín đáo!
Là người Việt đọc Một thoáng trời Âu, ta không thể không kính trọng nhà thơ khi ở trời Âu đã không quên đến với những người Việt xa xứ đang kiếm sống nơi đất khách quê người.
Vào Chợ Cheb tác giả “Xuýt nhầm chợ tạm Phùng Hưng” bởi trong dãy dài cầu quán chợ có tiệm hàng Đà Lạt, có đủ măng, mộc nhĩ từ bản mường Việt Nam gửi sang. Xuýt nhầm nhưng lại mừng khi nhận ra sự làm ăn đàng hoàng giỏi giang của đồng bào mình:
Xin mừng chợ Cheb Việt Nam 
Cộng đồng ta sống đàng hoàng trời Tây? 
Luật chơi ai có chừa ai 
Giỏi giang ra chợ nước ngoài cạnh tranh
Thăm Chợ Cửa Khẩu VôiTaNốp, nhà thơ hóm hỉnh cười cảm thông trước tính cách làm ăn thượng vàng hạ cám của dân ta ở xứ người khi chỉ cần một cái chợ không có mái che:
Đức một bên-Séc một bên 
Việt Nam ở giữa dựng lên "chợ trời"
Gặp những người con tha hương ấy, tác giả luôn chia sẻ tình quê sâu sắc:
Ơi người con tha hương 
Tinh quê phương trời thẳm 
Gặp nhau ở thành Vienne 
Xin cụng ly rượu đắng
Và bởi mang cái chất nguyên sơ tâm hồn Việt ấy, Nguyễn Khôi không như ai mải vui quên hết. Trong từng nơi từng lúc, con người ông ở trời Âu nhưng lòng dạ ông thì lại như đã về đất nước:
Thưởng thức mùi “Hương lạ hương thầm đêm Venice”  thì lại “Tưởng biển Nha Trang gió thầm thì”; Ngắm hoa pensée thì lại “Đà Lạt nhớ trời quê”. Cắn một quả Oliu thì lại “Tưởng ngậy mùi trám trắng”  và cơm Tàu ở Budapest ngon quá, ngon đến “ăn uống thỏa thuê”  thì lại chỉ thích: "Nhà Tây vợ Việt ... ai chê cơm Tàu". Cả trăm năm nay, đàn ông Việt thường khao khát: Cơm Tàu, vợ Nhật, nhà Tây  chứ có ai thèm vợ Việt! Bởi thế, Lời tạm biệt từ Praha, bài thơ cuối cùng trước khi chia tay Một thoáng trời Âu  lại toàn là những lời vui hồ hởi:
Thôi xin chào Châu Âu 
Một mùa hè rất tuyệt 
Để về với mưa ngâu 
Với vợ con thân thiết 

Chào thang máy nhà lầu 
Mình về cùng ngõ xóm
Khó thấy ai đang trên đường vui chơi bên ”xứ sướng của người” mà khi giờ chia tay đến lại mong mau mau được trở về cùng ngõ xóm còn nghèo nàn lạc hậu ở xứ mình như thế. Bài thơ này làm mình vui vui nhớ ra cô gái quê trong thơ Nguyễn Bính ngày xưa, chỉ một lần ra tỉnh thôi mà đã: "Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều!". Rồi bật cười, hình dung ra bác Nguyễn Khôi, sau cả Một thoáng trời Âu trở về vẫn y nguyên hương Việt Nam gió Việt Nam.
Còn mình, mai đi Tây về sẽ ra sao nhỉ?!
3.
Không biết trong cái đêm Venice,“ một đêm thèm ngủ mà không ngủ” ấy, bác Nguyễn Khôi đã đi vào giấc ngủ thế nào? Còn mình, đọc xong Một thoáng trời Âu, đôi mắt ngoan ngoãn ngủ ngon ngay. Sáng ra, gặp bà chủ tại bàn ăn điểm tâm ở khách sạn, mình lễ phép chào và hỏi:
- Thưa cô, cô ngủ có ngon không ạ?
Bà chủ tươi cười gật đầu rồi bảo:
- Hôm qua, Lý Thành Cương voice chat với cô. Biết cháu đang cùng cô ở Pháp, nó có lời hỏi thăm cháu đấy.
- Dạ, cô cho cháu gửi lời cám ơn anh ấy.
Cách đây ít tháng, chẳng hiểu sao bà chủ lại mở album ảnh của bà trên Ipad cho mình xem rồi chỉ vào một chàng trai chừng ba mươi nom rất khôi ngô rồi bà cười rất vui bảo với mình:
- Cháu ruột cô đấy, doanh nhân Lý Thành Cương đang sống ở Hoa lục.
Rồi ít ngày sau, bà chủ lại bảo:
- Cô có cho Thành Cương xem ảnh cháu. Nó khen cháu rất xinh. Hay là làm cháu dâu cô nhé!
Giờ, Bà chủ nói Lý Thành Cương gửi lời hỏi thăm mình, chắc vẫn có ý định gắp mình cho cháu của bà ấy đây!
Ô, mà mình OK thì sao nhỉ?
Vừa tự hỏi xong thì nghe trong gió ban mai, lời Con Mọt Sách chiều năm xưa bên hồ Trúc Bạch hồi vọng lại: Thì sang Tàu, lấy Tàu chứ sao!
Giời ạ! Đã được bà chủ cho đi Tây rồi lại được cho sang Tàu, lấy Tàu, sao mà được nhiều thế! Chả bù cho cụ Tú Non Côi ngày xưa, khi hỏng thi đã nói: “Hẩu lố”, “mét xì” thông mọi tiếng / Chẳng sang Tàu tớ cũng sang Tây”  nhưng cụ đâu có được đi! Đang nghĩ tới lúc sẽ phải nói sao đây với bà chủ thì lại hiện lên câu thơ trong Một thoáng trời Âu: "Nhà Tây vợ Việt ... ai chê cơm Tàu !". Muốn đổi một chữ cho riêng mình: "Nhà Tây chồng Việt ... ai chê cơm Tàu!".
Liệu có được không, thưa bác Nguyễn Khôi?!

                                                                       Dương Ninh Ninh
                                                                        (Tháng 7/ 2016)

READ MORE - ĐI TÂY VÀ ĐỌC THƠ NGUYỄN KHÔI Ở BÊN TÂY - Dương Ninh Ninh

Sunday, July 17, 2016

TIẾNG Ò, E - Truyện ngắn của Thủy Điền


                
                      Tác giả Thủy Điền


               TIẾNG Ò, E

  Một dãy nhà tám mái, lộp bằng cọng Năng rừng, nằm dọc theo con sông nhỏ được nối liền đoạn cuối của Đồng tháp mười – sông Bảo Định. Những dãy nhà nấy đến đây tản cư hồi những năm chiến tranh bắt đầu lớn dần 1966- 1967.
 
   Ngày xưa vùng đất nầy là một dãy bàu nửa bùn, nửa đất, lõm chõm, vô chủ, cây lát mọc um tùm. Họ là những người sống trong vùng giải phóng vì bơm , pháo cứ trút, nã đạn hàng ngày, chịu không thấu đành phải ra vùng quốc gia tạm lánh. Bước đầu họ định ở tạm khi nào êm giặc sẽ về lại, nhưng chiến tranh càng ngày càng ác liệt hơn và những đứa con của họ cũng lớn dần, lập gia đình, già đi, nên họ đành ở lại luôn và cho đây là quê hương. Từ miếng đất vô chủ, sau thời gian lập nghiệp bây giờ chính phủ cấp giấy và cho họ quyền sở hữu.
  
   Cuộc sống của họ rất đơn giản, hằng ngày chồng vào bưng nhổ Bàng, đốn củi, soi cá về bán, còn vợ ở nhà đan giõ xách đệm lây lất qua ngày. Họ sống ở đây một thời gian dài rất êm đềm và thanh thản, mối tình láng giềng rất đoàn kết, yêu thương như đang sống trong quang cảnh thanh bình nho nhỏ.
  
    Sau giải phóng hai năm, bỗng dưng có năm ba gia đình người bắc không biết từ đâu đến, lúc đầu dựng lều chỏng, sau cất nhà tạm bợ ở đối diện phía bên kia sông. Những người nầy sống bằng nghề nuôi vịt và họ nuôi rất nhiều con, có người nuôi vịt đẻ, có người nuôi vịt thịt. Cứ mỗi sáng sớm là họ lùa ra cánh đồng gần đó để cho ăn và chiều khoảng bốn, năm giờ là họ lùa về và cứ thế hết ngày nầy qua tháng họ. Sau thời gian làm việc, chiều về những người đàn ông tề tụ bên nhau bằng những xị rượu trắng và khảy đàn bầu, thỉnh thoảng hát những bản nhạc đỏ như „Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Cô gái Quan Họ v…v “ nghe vang dội hai bên bờ sông.
  
   Lúc ban đầu những người dân nơi dãy nhà tản cư nghe là lạ, chiều nào bà con sau khi ăn cơm xong cũng hay thường bắt cái ghế đẩu ngồi trước hiên nghe. Sau gần hai tháng ngày nào cũng như thế bà con bắt đầu bực bội, khó chịu, vì những người lớn tuổi ngủ không được, sáng sớm còn phải thức dậy bơi xuồng vào bưng để đốn củi và nhổ Bàng về để sinh sống, công việc khá cực nhọc. Riêng mấy lão người bắc thì chẳng nhằm nhò gì, cứ mỗi sáng tinh sương chỉ lùa vịt ra đồng rồi tìm bóng cây nào đó làm một giấc ngon lành mà chẳng phải lao động gì cả, thậm chí có người lùa ra đó rồi giao cho ông trời trông chừng giùm và quây ngược về nhà ngủ tiếp.
  
   Qua mấy lần thương thảo, số người tản cư đề nghị mấy lão người bắc nên giảm tốc độ ò e lại hay nghỉ sớm trước giờ đi ngủ để sáng mai còn phải làm việc. Mấy lão lúc tỉnh thì vâng vâng, dạ dạ cho suông rồi khi rượu vào thì tiếng ò e ấy vẫn vang dội.
  
   Có lần hai bên bất đồng, sanh cãi giả nhau, mất đoàn kết, chính quyền đến can thiệp, được êm hơi đâu ít ngày và chuyện cũ bắt đầu khơi nóng trở lại.
 
   Người miền nam tuy hiền hòa, chất phát nhưng rất nóng tánh. Một hôm khi không còn thương thảo được nữa, họ kéo nhau sang sông và tấn công mấy lão người bắc một trận tơi bời, thậm chí tịch thâu hết mấy cây đàn của người ta mang từ bắc vào nam, đem về đập nát ra từng mảnh nhỏ, thật là quá đáng vô cùng và cứ đổ thừa rất nhiều cho những cây đàn ấy vì gợi lên những tiếng ò e mà lại không chịu đổ tội cho mấy lão đàn nó.
  
   Tội cho cây đàn bầu, lúc thích thì thương, lúc buồn thì mang ra đập nát.

                                                                        THỦY ĐIỀN
                                                                          16-7-2016

READ MORE - TIẾNG Ò, E - Truyện ngắn của Thủy Điền

Saturday, July 16, 2016

NGHIÊNG ĐÂU ...? - chùm thơ Hiền Phương

Tác giả Hiền Phương


NGHIÊNG ĐÂU ...?

Nghiêng em 
     Là nửa đợi chờ
Là đêm trăng tỏ 
     Mơ người dấu yêu
Nghiêng anh
     Là nỗi cô liêu
Là trống vắng
     Là tiêu điều 
        Cơn mê.
Nghiêng em 
     Lầm lũi đi về
Nghiêng anh
     Lời hứa câu thề 
          Buông lơi.
Nghiêng em
     Ngày tháng chơi vơi
Nghiêng anh
     Là những cuộc chơi
           cợt đùa
Nghiêng em
     Nghiêng ngả gió lùa
Bẽ bàng với những
      Cơn mưa nhạt nhòa
Nghiêng đời
     Tan nát cỏ hoa
Tìm đâu giây phút
      Thăng hoa
            Giấc nồng !
HP 11.5.16
Hiền Phương


SAO KHÔNG TỎ NGƯỜI ƠI

Em đâu phải là biển
Lòng sao cứ cồn cào
Em đâu là ngọn gió 
Tim hồng mãi khát khao.

Biển ngày đêm nổi sóng
Yêu bờ mãi không thôi
Yêu anh nào dám nói
Lặng thầm nhìn đêm trôi.

Gió khi nào ngưng thổi
Quấn quýt mây không rời
Tình em da diết thế
Sao không tỏ hỡi người !
HP 29.5.16
Hiền Phương

  ĐỜI VUI

Mở ra trang sách cuộc đời
Đón bình minh với hoa tươi nắng hồng
Tình người ấm áp mênh mông
Ướp vào tim những tấm lòng nhân văn !
       HP 28.5.16
Hiền Phương

NHỚ

Con đường bữa ấy anh đi
Cỏ hoa giờ vẫn thầm thì gọi tên
Thoáng gặp mà đã nên quen
Nhớ chăng anh phút thần tiên chúng mình !
HP 27.5.16
Hiền Phương


TRĂNG BƠ VƠ

Đêm nay trăng mờ không tỏ
Vì người xa xứ bơ vơ
Nỗi niềm biết ai mà ngỏ
Cho vơi khắc khoải đợi chờ.

Gửi về nơi miền xa nhớ
Tâm tình kẻ sĩ mộng mơ
Ước mong một ngày phượng nở
Dệt tròn mộng thuở ban sơ.

Đêm dài bao ngày trăn trở
Thầm mong được thỏa tâm tư
Bờ môi , nụ hôn từ giã
Còn mãi ngọt đến bây giờ
Đêm nay 
Trăng buồn    
Bơ vơ!

HP 14.5.16

Hiền Phương





READ MORE - NGHIÊNG ĐÂU ...? - chùm thơ Hiền Phương

NỢ TÌNH - thơ Trương Thị Thanh Tâm




NỢ TÌNH 

Tình đầu cứ ngỡ vu vơ 
Trăng tròn mười sáu ngu ngơ với tình 
Bài thơ ru ngủ không quên 
Chưa phai mực tím buồn lên tóc thề 

Người xa mấy nẽo sơn khê 
Để con sáo nhỏ đi về buồn thiu 
Tóc bay xõa ngọn gió chiều 
Hoài công chờ đợi, cánh diều bay cao 

Chim xa rồi cũng quay đầu 
Vườn yêu năm cũ qua cầu sông mê 
Mười năm nối nhịp tình quê 
Nợ chưa trả hết, hẹn thề bước sau 

Nợ tình trả biết bao lâu 
Nợ mâm cơm nóng, canh bầu cá kho 
Nợ con đường cũ quanh co 
Nợ đêm hôm ấy, qua đò cùng anh 

Nợ đêm gió mát trăng thanh 
Vai kề má tựa ngày xanh thưở nào 
Nợ nhau lời hứa trầu cau 
Nhấp ly trà đắng, mà sao ngọt lòng.
       
Trương Thị Thanh Tâm
Mỹ Tho




READ MORE - NỢ TÌNH - thơ Trương Thị Thanh Tâm

TÊN CỨ NHƯ HOA TUỔI CỨ HỒNG - Hoa Văn và Lê Ngọc Kha





THƠ THI SỸ HOA VĂN:
TÊN CỨ NHƯ HOA TUỔI CỨ HỒNG

Trên bảy mươi rồi chưa chịu đi
Nợ còn hay mắc chút duyên gì
Ân tình trang trải hầu như đã
Còn thiếu ai...xin nhắc để ghi
Mai tàu sẽ đỗ tại sân ga
Đón khách trầm luân lúc tuổi già
Ở cõi đời nầy vui cũng lắm
Cái buồn chẳng thiếu bạn cùng ta
Tất cả chỉ là phù phiếm thôi
Văn chương chữ nghĩa dẫu muôn đời
Tằm cho tơ mãi chưa thành kén
Vẫn cứ yêu đời vẫn thảnh thơi
Cứ ca cứ hát giữa đời này
Dẫu biết mai rồi cũng trắng tay
Nên chẳng có gì ta luyến tiếc
Vui cùng bạn hữu chớ chua cay
Đã rằng có mấy cũng như không
Tên cứ như hoa tuổi cứ hồng
Ai mến ai thương mình cúi tạ
Tình em tình bạn mãi trắng trong.
                              HOA VĂN

BÀI HỌA LÊ NGỌC KHA:
TÊN NHƯ HOA TUỔI VẪN NHƯ HỒNG

Chẳng sớm thì chầy cũng sẽ đi
Tấm thân tứ đại nào lo gì
Nợ duyên bảy bó còn dan díu
Nên sổ Thiên Tào chửa xóa ghi
Tàu luôn chờ đợi tại nhà ga
Thư thả thong dong hưởng phước già
Tự tại an nhiên đừng nghĩ ngợi
Vô thường vô ngã ở quanh ta
Nghèo khó sang giàu cũng vậy thôi
Xuôi tay nhắm mắt trả cho đời
Kiếp tằm đến thác còn vương chỉ
Biết đủ biết dừng được thảnh thơi
Ta cứ vui đi cuộc sống nầy
Dù cho mai mốt trắng đôi tay
Phong trần nếm đủ hương mùi vị
Mặn nhạt ngọt bùi lẫn đắng cay
Quanh quẩn bên ta có với không
Tên như hoa tuổi vẫn như hồng
Cầu cho tình nghĩa đừng phai nhạt
Luôn giữ tâm hồn mãi sạch trong.
                        LÊ NGỌC KHA



READ MORE - TÊN CỨ NHƯ HOA TUỔI CỨ HỒNG - Hoa Văn và Lê Ngọc Kha

MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG TRONG TỬ VI - Đặng Xuân Xuyến


                 


MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG TRONG TỬ VI
(Trích trong TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến; xuất bản năm 2009)


Lần đầu tiếp xúc với khoa Tử Vi, không ít người sẽ bỡ ngỡ với những thuật ngữ như thủ, chiếu, lâm, tọa, giáp ... nên mỗi lần xuất hiện một thuật ngữ chưa biết hoặc không nhớ rõ lại mất thời gian tra cứu nghĩa của thuật ngữ khiến việc học bị ngắt đoạn, tản mạn, khó nhớ... trong khi những kiến thức của Tử Vi vốn dĩ đã khó học, khó thuộc.
Để thuận tiện cho bạn đọc khi tham khảo khoa Tử Vi, người viết tổng hợp những thuật ngữ thường dùng trong Tử Vi để bạn đọc làm quen với tiêu đề: MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG TRONG TỬ VI.
Sao chủ Mệnh - sao chủ Thân: Mỗi tuổi có 1 sao chủ Mệnh và 1 sao chủ Thân, được ghi ở khoảng giữa lá số, dưới những thông số: tên, tuổi, mệnh, cục. Không có sách nào nói tới ảnh hưởng của 2 loại sao này tới số kiếp của con người, nhưng tất cả các sách tử vi đều khuyên người coi số nên ghi để biết.
Cũng có sách cho rằng: Sao chủ Mệnh, sao chủ Thân được xem như chính tinh tọa thủ tại Mệnh hoặc Thân khi cung Mệnh hoặc cung Thân vô chính diện, nhưng không ghi rõ là nên luận giải như thế nào? Tóm lại, quan điểm này cũng chưa cụ thể, cũng như quan điểm các tác giả khác: nên ghi để biết.
Xung chiếu: Là cung đối diện trực tiếp với cung cần xem. Vì là chiếu trực tiếp nên cung xung chiếu quan trọng hơn hai cung tam chiếu và cung nhị hợp. Tùy trường hợp, có khi sao xung chiếu lại quan trọng, tốt đẹp hơn là tọa thủ, chẳng hạn như Thái Dương - Thái Âm tọa thủ không đẹp bằng khi chính chiếu hoặc hợp chiếu. (Theo quan điểm của cụ Thiên Lương thì cung xung chiếu là “đối thủ” của “ta”, vì thế cung chính chiếu cần cân nhắc thật kỹ khi luận giải.)
Chính tinh ở cung xung chiếu càng đặc biệt hơn khi cung chính vô chính diệu. Trường hợp này, để luận giải cung chính, Tử Vi phần lớn thường lấy chính diệu ở cung xung chiếu làm chính tinh cho cung chính, tuy nhiên sự luận giải chỉ ở mức tương đối vì chính tinh lúc này không khác gì là của vay của muợn, của “sỹ hão” nên  ảnh hưởng của chính tinh đó sẽ giảm thiểu đi khá nhiều, vì thế, rất cần cẩn trọng khi đưa ra lời luận giải trong trường hợp này.
Hợp chiếu: Là 2 cung trong tam hợp với cung chính, ví dụ: Dần, Tuất hợp chiếu Ngọ; Thân, Thìn hợp chiếu Tý; Hợi, Mùi hợp chiếu Mão...
Các sao ở các cung hợp chiếu (còn gọi là tam chiếu, tam hợp chiếu) có giá trị bổ túc rất nhiều cho các sao ở cung chính. Thậm chí, có trường hợp các sao hợp chiếu lại có giá trị quyết định hơn hẳn so với các sao ở cung chính.
Tam hợp: Một lá số tử vi được chia làm 12 cung theo thập nhị chi là Tý, Sửu, Dần , Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Khi tính các sao ở mỗi cung phải tính theo tam hợp của 3 cung hội họp lại.
Cụ thể, có 4 bộ tam hợp:
Tỵ - Dậu - Sửu
Thân - Tý -Thìn
Hợi - Mão - Mùi
Dần - Ngọ -Tuất
Nhị hợp: Là những cung không thuộc xung chiếu, tam chiếu nhưng có giá trị ảnh hưởng tới cung cần xem. Thế nhị hợp cũng không thay đổi, được quy định như sau:
Tý - Sửu
Dần - Hợi
Mão - Tuất
Thìn - Dậu
Tỵ - Thân
Ngọ - Mùi.
Âm Dương thuận lý: Đó là trường hợp tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung Dương, tuổi Âm mà Mệnh đóng ở cung Âm. Việc thuận lý này là lợi điểm đầu tiên của đương số để độ số được gia tăng.
Âm Dương nghịch lý: Đó là trường hợp tuổi Âm mà Mệnh đóng ở cung Dương, tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung Âm. Sự nghịch lý này chính là một dấu hiệu trục trặc, bất lợi đầu tiên của lá số.
Ngũ hành tương sinh: Đó là sự tương sinh giữa Cục và Mệnh. Có thể Cục sinh Mệnh, có thể Mệnh sinh Cục nhưng tốt nhất là trường hợp Cục sinh Mệnh. Hoặc sự tương sinh giữa hành bản Mệnh với cung an Mệnh, giữa cung an Mệnh với sao tọa thủ, giữa bản Mệnh với sao tọa thủ... Tương tự, khi xem các cung khác, chẳng hạn như cung Quan Lộc, Thiên Di... phải cân nhắc kỹ mối tương quan Ngũ hành (sinh, khắc, bình hòa) của sao với cung, cung với bản Mệnh...
Ngũ hành tương khắc: Đó là trường hợp Cục và Mệnh khắc nhau. Có thể Cục khắc Mệnh, có thể Mệnh khắc Cục. Xấu nhất là trường hợp Cục khắc Mệnh (Mệnh bị thiệt thòi lớn), xấu ít hơn là Mệnh khắc Cục (Mệnh đỡ hao). Hoặc sự tương khắc giữa Mệnh với sao, cung an Mệnh với sao... Tóm lại, nếu xem ở cung nào thì xét kỹ về sự tương khắc của cung đó chứ không hẳn chỉ xét tương sinh, tương khắc của Mệnh, Cục, Sao và cung an Mệnh, an Thân.
Hung tinh: Là những sao gây: tai nạn, bệnh tật, tán tài, buôn bán thua lỗ, tù tội, tang thương, loạn trí... Tóm lại là những đau khổ, bất hạnh lớn lao cho cuộc sống con người.
Hung tinh bao gồm các sao được gọi là sát tinh, hình tinh, bại tinh...
Hung tinh đắc địa có ý nghĩa tốt, nhưng vẫn còn tiềm ẩn cái xấu. Hung tinh hãm địa gieo nhiều tai hoạ, nhất là hung tinh khắc Mệnh hay khắc Can năm sinh.
Hung tinh chỉ chịu lép vế, giảm sự tác oai tác quái khi gặp Khoa, Tuần - Triệt, Tài - Thọ, Quan Phúc.
Hung - Sát tinh ngộ chế: Hung tinh là bộ chính tinh THẤT SÁT - PHÁ QUÂN - THAM LANG, còn sát tinh gồm có: Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không, Kiếp Sát, ngoài ra còn phải kể đến Thiên Hình, Hoá Kỵ, Lưu Hà...
Gặp các hung sát tinh không có sao giải thì rất nguy hiểm. Nếu có sao giải mạnh, các hung sát tinh sẽ được hóa giải ác tính thành ra ngộ chế tức chế biến, cải trang lại, không còn nguy hiểm như ý nghĩa nguyên thủy nữa mà có khi còn tốt lên.
Những sao cứu giải mạnh gồm Tuần - Triệt, Thiên Tài, Hoá Khoa, Quan Phúc.
Sát tinh: Là những sao gây ra tai họa lớn tới đời sống con người như: chấm dứt sự nghiệp, tài sản, gia đạo, thậm chí còn mất mạng...
Được xem là sát tinh hạng nặng gồm: Địa Không - Địa Kiếp - Thiên Không - Kình Dương - Đà La - Kiếp Sát - Hỏa Tinh và Linh Tinh
Càng hội tụ nhiều sao sát tinh thì mức độ hoạ hại càng dễ xảy ra và xảy ra trên nhiều bình diện của cuộc sống. Đặc biệt, càng nhiều sát tinh hãm địa tụ tập thì những thiệt hại, những tai biến về gia đạo, tài sản, công danh, tính mạng ... càng xảy ra nhanh chóng và nặng nề, bất khả kháng.
Sự hội tụ của các sát tinh ở cung nào thì cung đó bị ảnh hưởng nhiều nhất về những tai họa do sát tinh gây ra. Cho dù các sát tinh có đắc địa thì tai hoạ vẫn ẩn nấp, liền kề, có chăng chỉ được hưởng sự bộc phát trong một thời gian ngắn.
Tất cả các sao khác như: hình tinh, bại tinh, hao tinh... đều do các sao sát tinh góp phần tăng cường hiệu lực.
Lục sát tinh: Gồm sáu sao: Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh.
Ngoài ra các sao Kiếp Sát (còn gọi là Địa Kiếp thứ 2), Lưu Hà, Phá Toái, Thiên Hình, Hoá Kỵ, Thiên Không, Thương Sứ, La Võng cũng được kể như sát tinh vì đặc tính sát  hại, phá phách của chúng.
Hình tinh: Là những sao ảnh hưởng đến sự tự do của cá nhân, hoặc uy tín và danh dự của cá nhân, thậm chí bị kiện tụng, tù đày...
Hình tinh được xem là các sao: Thiên Hình, Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế, Thiên La, Địa Võng
Bại tinh, hao tinh: Là những sao làm cho con người bị lụn bại, hao tán về tài sản, sự nghiệp, thậm chí về cơ thể.
Được coi là hao tinh, bại tinh là những sao: Tang Môn, Bạch Hổ, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư.
Ám tinh: Là những sao gây trở ngại, trục trặc cho con người về công danh, sự nghiệp, hạnh phúc gia đạo, uy tín và danh dự của cá nhân.
Ám tinh gồm các sao: Hóa Kỵ, Cự Môn, Phục Binh, Thiên Riêu, Thiên Không, Phá Quân, Thái Tuế, Tử phù, Suy, Tử, Trực Phù, Tuần, Triệt, Cô Thần, Quả Tú, Tuế Phá, Thiên Thương, Thiên Sứ.
Văn tinh: Là những sao chủ về sự học hành, trình độ, bằng cấp, hợp với “quan văn”, như: Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Khoa, Văn xương, Văn Khúc, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Tấu Thư. Càng hội tụ nhiều văn tinh ở Mệnh (Thân) càng chỉ tài năng, học vấn uyên thâm và “quyền uy” của đương số.
Võ tinh: Là những sao chủ sự uy quyền, võ nghệ, xa hơn là sự mạnh mẽ, cứng rắn về tính cách của đương số.
Đựơc xem là võ tinh gồm những sao như: Thất Sát, Phá Quân, Thiên Tướng, Hóa Quyền, Tướng Quân, Quốc Ấn, Thiên Mã, Thanh Long, Thiên Hình..
Dâm tinh: Là những sao ảnh hưởng đến đời sống sinh lý của con người, nhẹ thì là người sống lãng mạn, nặng thì đa dâm, sa đọa, đĩ điếm, thậm chí còn mất danh dự, thiệt mạng vì tính trăng hoa, dâm loạn.
Những sao tình dục (dâm tinh) rất nhiều, chiếm tỉ lệ 20/111 sao trong hệ thống các sao của Tử Vi (Tử Vi Việt Nam), nhưng tiêu biểu nhất cho sự dâm tính gồm các sao: Tham Lang, Thiên Riêu, Mộc Dục, Đào Hoa, Thai, Mộ, Liêm Trinh (hãm địa), Thái Âm (hãm địa), Hoa Cái ....
Nhìn chung, về cơ bản các Chính tinh khi hãm địa đều có thể được coi là người có nhiều ham muốn về tình dục, tuy nhiên sự ham muốn đó chỉ ở mức bình thường, không nặng nề như những sao kể trên.
Lộc tinh: Là những sao chủ về tài sản, tiền bạc mà đương số sẽ được hưởng hoặc không được hưởng, hoặc sự kiến tạo ra tài sản, tiền bạc khó hay dễ, nhiều hay ít...
Được xem là lộc tinh gồm các sao: Hóa Lộc, Lộc Tồn, Vũ Khúc, Thiên Phủ.
Những lộc tinh chỉ đem đến tài lộc cho đương số khi đắc địa và không gặp sát tinh, hoặc Tuần, Triệt án ngữ.
Phúc tinh: Là những sao chủ về sự hưởng ít hay nhiều? Được hưởng hay không được hưởng phúc đức của tổ nghiệp, của số phận?
Được coi là phúc tinh gồm các sao như: Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, Thiên Phúc, Quý Nhân, Thiên Quan, Giải Thần, Thiên Giải.
Cũng như các tinh đẩu khác, Phúc tinh chỉ thật sự hữu ích, đem lại may mắn về phúc đức, tài lộc khi đắc địa và không gặp sát tinh hoặc Tuần, Triệt án ngữ.
Trợ tinh: Còn gọi là Hộ tinh. Là những sao khi đi cùng sao xấu sẽ làm tăng ác tính của sao xấu, đi với sao tốt sẽ làm đẹp thêm những điều tốt của sao tốt.
Được xem là trợ tinh gồm các sao như: Thiên Tài, Tả Phù, Hữu Bật.
Sao thiện căn: Là những sao chủ về thiện tâm, vọng đạo, đó là các sao: Thiên Lương, Thiên Đồng,Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, Hóa Khoa, Tứ Đức.
Thiên La - Địa Võng: Thiên La ở Thìn, Địa Võng ở Tuất được gọi là lưới trời. Mệnh cư ở đây ví như số mệnh bị lưới Trời bó chặt lại, không thể vùng vẫy được. Nhưng có sách nói chỉ khi nào có Đà La ở hai cung Thìn, Tuất và Mệnh cũng ở đó thì mới bị ảnh hưởng của La - Võng. Khi Mệnh ở La - Võng rất cần có Kình hội họp, nhất là Kình đồng cung để phá thế La - Võng.
Trong 14 chính tinh thì Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương là bộ sao mềm dẻo, ôn hòa nên không ngại lắm khi Mệnh ở La - Võng, còn các chính tinh khác nên tránh xa, nhất là Tử, Phủ, Sát, Phá, Tham.
Chính diệu: Là các chính tinh trong hệ thống các sao của khoa Tử Vi. Tại sao lại gọi 14 sao là chính tinh (chính diệu) bởi theo quan điểm của Tử Vi thì đó là 14 sao quan trọng, quyết định số kiếp của con người. Các cung có sao chính tinh thì gọi là chính diệu tọa thủ.
Vô chính diệu: Cung vô chính diệu là cung không có chính tinh tọa thủ. Cung nào không có chính tinh thì gọi cung đó là cung vô chính diệu, chẳng hạn: Mệnh vô chính diệu, Tài vô chính diệu... Những cung vô chính diệu rất cần có sát tinh đắc địa như Không - Kiếp đồng cung, hoặc Tam Không, Tứ Không hội chiếu mới mong số kiếp được suôn sẻ, khấm khá lên được.
Cung vô chính diệu khi ở Tứ Mộ mới tốt, mới được hưởng những cách hay của các sao tam hợp chiếu. Còn tại các cung khác thì chịu ảnh hưởng của các sao ở cung trực chiếu.
Mệnh vô chính diệu thì cần Hỏa mệnh và Kim mệnh vì mệnh vô chính diệu như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khá mạnh mẽ cứng cỏi làm nồng cốt. Các mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc thì không tốt.
Nữ Mệnh vô chính diệu thì đỡ xấu hơn là Nam Mệnh vô chính diệu
Mệnh vô chính diệu mà cung Tử cũng vô chính diệu thì cả đời không con hoặc vất vả về vấn đề con cái
Phụ Mẫu vô chính diệu thì cha mẹ thường thọ nhưng cha mẹ không giúp đỡ con cái được bao nhiêu, hoặc con cái không báo hiếu được cha mẹ nhiều.
Bào vô chính diệu thì anh em không cậy nhờ được nhau.
Tật ách vô chính diệu thì ít bệnh tật
Điền vô chính diệu thì khó giữ nhà đất bền vững, cho dù có sao giữ của như Quả Tú. Cũng có quan điểm cho rằng: Điền vô chính diệu là khi đương số ra đời, kinh tế của bố mẹ đang gặp cảnh khó khăn, sau đó mới giàu có dần.
Tử vô chính diệu thì khó có con, hoặc có con nhưng không nhờ được con cái.
Phúc vô chính diệu thì lại tốt.
Phu Thê vô chính diệu thường lập gia đình một cách bất ngờ.
Tam không - Tứ không: Đó là những sao: Địa Không, Thiên Không, Tuần trung không vong và Triệt lộ không vong. Đây là bộ sao có ảnh hưởng rất mạnh tới số phận của con người, làm đảo lộn giá trị của các sao đồng cung hoặc hợp chiếu. Vì vậy, bộ sao này cần được cẩn trọng khi xem lá số, nhất là 2 sao Triệt lộ không vong (Triệt) và Tuần trung không vong (Tuần).
Địa Không - Địa Kiếp là 2 phụ tinh nhưng ảnh hưởng tới số phận con người lại ngang ngửa với chính tinh, thậm chí còn làm cho chính tinh trở nên mờ nhạt khi Không - Kiếp hãm địa. Nhắc tới lũ sát tinh này, mọi người đều e ngại, thế nhưng khi có Triệt tại bản cung thì khụôg sợ tai họa do Không - Kiếp chiếu về. Tuần cũng có tác dụng như vậy nhưng sức cản phá yếu hơn. Mệnh Thân có Không - Kiếp thủ chiếu mà gặp Triệt - Tuần thì không sợ tai nguy.
Tuỳ theo sự hội tụ của các sao đó mà gọi là đắc Nhị không, Tam không hay Tứ không.
Sự hội tụ của các sao này rất cần thiết cho các cung không có chính tinh toạ thủ.
Tứ Mộ, tứ Chính, tứ Sinh: Đây là thuật ngữ dùng để chỉ khi Mệnh nằm tại 1 cung nào đó trên lá số.
Mệnh ở tứ Sinh gồm: Dần, Thân, Tỵ, Hợi
Khi Mệnh an tại tứ Sinh là người có lòng tự hào, tính khoe khoang, thích được đề cao, có sức khỏe, ít bệnh tật mặc dù thường có tầm vóc nhỏ.
Mệnh ở tứ Chính gồm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Khi Mệnh an tại tứ Chính là người cứng rắn, cương trực, khảng khái và khó ai làm thay đổi được quan điểm. Người có Mệnh an tại tứ Chính thường hay được hưởng Đế Vượng nên có sức khỏe tốt.
Mệnh ở tứ Mộ gồm: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
Khi Mệnh an tại tứ Mộ thì thường là người mềm dẻo, biết thân phận, không muốn phiền nhiễu ai, hay bị bệnh và sức khỏe yếu.
Trong các cung Sinh, Chính, Mộ đó đều có cung Âm, cung Dương. Các cung Dương thường kiên quyết, cẩn thận và chu đáo. Các cung Âm thì thường rộng rãi, bao dung và hòa hợp hơn.
Tọa thủ - Đồng cung: Chính tinh đóng ở một cung cụ thể thì gọi là tọa thủ. Hai chính tinh cùng đóng tại một cung thì gọi là đồng cung. Chẳng hạn khi Liêm Trinh đóng tại cung Mệnh thì nói Liêm Trinh tọa thủ tại cung Mệnh, nhưng nếu tại cung Mệnh có 2 chính tinh là Liêm Trinh và Tham Lang cùng đóng ở đó thì gọi là Liêm - Tham đồng cung tại Mệnh...
Sự ảnh hưởng của các sao đồng cung tới số mệnh con người sẽ không như nhau mà phải căn cứ vào mối quan hệ Âm Dương - Ngũ hành giữa cung, chính tinh và bản Mệnh như thế nào. Đặc biệt trong trường hợp sao đó đi cùng với các sao khác để tạo thành bộ, thành cách.
Tuy vậy, khi coi lá số, không nhất thiết chỉ chính tinh mới dùng các thuật ngữ này, mà trong nhiều trường hợp người coi tử vi vẫn thường dùng thuật ngữ đồng cung để nói về các sao (cả chính tinh, phụ tinh) khi cùng đóng trong một cung.
Độc thủ: Là một sao duy nhất đóng tại cung chính, không có sao khác để tạo thành đôi, thành cách (cục).
Lâm - Nhập: Hai thuật ngữ trên đều mang một nghĩa là sao đó đóng ở 1/12 cung của lá số. Sự khác nhau chỉ ở chỗ: Sao tốt đóng ở đâu thì gọi là lâm, sao xấu đóng ở đâu thì gọi là nhập. Tuy nhiên, thuật ngữ này ít được dùng khi coi lá số.
Hội họp: Thuật ngữ này dùng để chỉ các sao cùng chiếu về cung chính ở các thế xung chiếu, tam hợp chiếu, nhị hợp, giáp... (Duy cụ Thiên Lương lại không tính các sao ở cung xung chiếu vì cụ cho rằng cung xung chiếu là cung của “đối thủ” nên không thể tính là sao "hội họp" được.) Sự hội họp của các sao càng có giá trị quyết định tới số phận của đương số khi chúng tạo thành cách cục.
Trên lý thuyết thì các sao ở tam hợp chiếu sẽ mạnh hơn các sao nhị hợp, càng mạnh hơn các sao giáp nhưng thực tế khi các sao hội họp tạo thành cách thì sự phân biệt đó trở thành vô nghĩa.
Cách: Khi các tinh đẩu kết hợp lại với nhau làm thành một bộ sao thì gọi là cách. (Riêng với phụ tinh thì có người gọi là cách, có người gọi là cục.)
Với chính tinh, có 6 cách sau:
- Tử, Phủ, Vũ, Tướng
- Sát, Phá, Liêm, Tham
- Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương
- Cự, Nhật
- Nhật, Nguyệt
- Vô chính diệu (không có chính tinh tọa thủ)
Thường thì người ta cho cách Tử, Phủ, Vũ, Tướng là đẹp nhất, còn cách vô chính diệu là xấu nhất, nhưng thật ra 6 cách trên đều tốt đẹp như nhau nếu chúng được thập toàn. Để được thập toàn thì phải hội đủ các sao để tạo thành cách và các sao đều phải đắc địa. Nếu sao nào đó hãm địa cần phải có Tuần, Triệt làm cho sáng lại, tuy nhiên cũng không thể toàn mỹ được.
Trường hợp Vô chính diệu, để thập toàn phải đáp ứng một số điều kiện sau:
- Tuần, Triệt án ngữ tại bản cung
- Hội đủ 4 hoặc chí ít là 3 sao không: Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không.
- Nhật, Nguyệt sáng sủa hội chiếu
Với các phụ tinh thì sự kết hợp của các sao tạo thành bộ thì cơ bản thành các cách: Phú cách (giàu có), Quý cách (sang trọng), Thọ cách (sống lâu), bần tiện cách (nghèo hèn), Tạp cách (xấu nhất)
Tuy nhiên, các cách của phụ tinh chỉ có giá trị tốt đẹp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Đầy đủ: Hội tụ đầy đủ các sao để tạo thành cách.
- Đắc địa: Các sao đều phải đắc địa
- Đông đảo: Hội nhiều cách hay về bản cung
- Thuần tuý: Các cách của phụ tinh phải phù hợp với các cách của chính tinh.
Cục: Là yếu tố ghi ở giữa khoang lá số dùng để cứu xét tương quan giữa Cục và bản Mệnh, giữa Cục và cung Thân.
Miếu địa: Mỗi sao phải cần đứng tại vị trí của mình thì mới phát huy sức ảnh hưởng vào số kiếp của con người, làm cho cuộc sống của đương số tốt đẹp may mắn hơn. Trong những trường hợp đó gọi là miếu địa. Tuy nhiên, cũng thường thấy sách tử vi dùng các từ như đắc địa, vượng địa để diễn đạt sự đúng chỗ của các sao nhưng 2 trường hợp này không đẹp bằng miếu địa.
Hãm địa: Là sao đứng không đúng chỗ của mình nên vô ích hoặc bất lợi cho cuộc sống con người thì gọi là hãm địa. Lẽ đương nhiên khi sao hãm địa rơi vào những cung chính mà các sao đó lại thuộc nhóm hung sát tinh thì sức phá hại của chúng tới số kiếp con người tàn bạo hơn nhiều khi những sao đó nằm đúng chỗ.
Giáp: Giáp là một cung mà có các sao bộ đôi như Khôi Việt, Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, mỗi sao nằm một bên. Có giáp cung và giáp góc.
Giáp cung là cung có bộ sao kèm hai bên, nhưng trên một hàng thẳng thí dụ cung Sửu giáp Tí và Dần.
Giáp góc là giáp ở góc thí dụ các cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Giáp góc ít hiệu quả hơn giáp cung.
Có sách cho rằng: Sao giáp có khi còn mạnh hơn cả sao toạ thủ, cũng như sao chiếu có khi mạnh hơn sao đồng cung. Chẳng hạn khi Mệnh giáp Không - Kiếp chắc chắn sẽ là người nghèo khổ cho dù Chính tinh thủ Mệnh có đắc địa, phù sinh cho bản Mệnh...

                                                             Đặng Xuân Xuyến

READ MORE - MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG TRONG TỬ VI - Đặng Xuân Xuyến