Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, April 18, 2014

ĐỌC BÀI THƠ “CÓ LẼ NÀO” CỦA HOÀI HUYỀN THANH - Châu Thạch


Hoài Huyền Thanh



CÓ LẼ NÀO…



Có lẽ nào ngày mai không còn nữa

Trời thêm xa và đất lại thật gần

Có lẽ nào chốn trầm luân cõi tạm

Nẻo nào xa còn lưu luyến phân vân.

            

Có lẽ nào từ mong manh sợi khói

Từng ngày qua đau đáu trái tim nhàu

Có lẽ nào con sông quê thuở ấy

Bàng bạc trôi viễn xứ chở niềm đau.

               

Có lẽ nào hoàng hôn chênh chếch bóng

Nghiêng nghiêng đêm mộng mị đến nao lòng

Có lẽ nào lá vàng rơi thật khẽ

Mây biết buồn và sao cũng bâng khuâng.

              

Có lẽ nào nắng tàn phai trước ngõ

Bóng trưa hè thảng thốt nén niềm đau

Có lẽ nào bài thơ tình dang dở

Gió ru hời hạt nắng cũng xôn xao…



          HOÀI HUYỀNTHANH

                                4/2014



Lời Bình: Châu Thạch


 Thảo luận về bài thơ “Có lẽ nào” của Hoài Huyền Thanh, nhà thơ Đan Thụy đã viết như sau: “Câu thơ giản dị, nhẹ nhàng, thanh thoát nhưng cho ta những dấu hỏi thật lớn, càng suy nghĩ càng nao lòng”. Quả vậy, vì những dấu hỏi đó tác giả lại đem đặt đàng sau những câu khẳng định, hay đúng ra hỏi về những điều mà mọi người đã từng nếm trải trong cuộc sống trần gian. Bài thơ có liên tục những câu hỏi, dồn đập những câu hỏi, thắc mắc về những điều phi lý xảy ra trong cuộc đời, có tác dụng khơi dậy những niềm đau của thân phận kiếp người đã hằn sâu trong tâm khảm, được ngụy trang bằng những niềm vui tạm bợ giữa trần gian. Cái chữ “ nao lòng” mà nhà thơ Đan Thụy đã dùng là ý thức được nỗi đau đứng bên bờ vực thẳm mà sự đen tối phía dưới kia không bao giở giải được.  Hãy nao lòng vì sự chết đã được dùng ngay trong vế nhập đề:



Có lẽ nào ngày mai không còn nữa

Trời thêm xa và đất lại thật gần

Có lẽ nào chốn trầm luân cõi tạm

Nẻo nào xa còn lưu luyến phân vân.



“ Có lẽ nào” không đánh dấu hỏi phía sau là tiếng kêu thảng thốt, ta thán, trách móc về lẽ vô thường và nỗi đau dằn vặt  trong ý thức con người về sự vô lý cứ yêu thương, lưu luyến  nó.  Bốn câu thơ nầy hoàn toàn đem triết lý nhà Phật vào thơ nhưng nó không giải thích triết lý mà đặt ra thành nan đề cho người đọc thơ suy nghiệm. Và rồi từ sự suy nghiêm ấy con người sẽ thấy ngõ cụt của vấn đề, để con người càng ưu tư đến độ phải cùng nhà thơ thốt lên lời than thở “ Nẻo nào xa còn lưu luyên phân vân”. Chữ “ Có lẽ nào” ở đây nhắc chúng ta liên nghĩ đến có lẽ ngày xưa thái tử Tất-Đạt-Đa cũng vì ba chữ nầy mà rời bỏ hoàng cung đi tìm con đường giải thoát. Tất-Đạt-Đa thành Phật nhưng ta thì vẫn còn “trầm luân cõi tạm” nên cũng trầm luân trong câu hỏi “có lẽ nào” kia. Bốn câu thơ cho ta hiểu thêm về “khổ đế” trong triết lý nhà Phật không bằng suy luận của lý trí mà bằng cảm xúc của tâm hồn.


 Ở vế thứ hai, nhà thơ Hoài Huyền Thanh cởi bỏ đi chiếc áo đóng vai tu sĩ, lộ nguyên hình một nhà thơ với những yếu đuối trong tâm hồn, rung động đến từ mong manh của sợi khói đến niềm đau trôi dạt trên con sông quê:



Có lẽ nào từ mong manh sợi khói

Từng ngày qua đau đáu trái tim nhàu

Có lẽ nào con sông quê thuở ấy

Bàng bạc trôi viễn xứ chở niềm đau.



“Có lẽ nào” bây giờ không hỏi về điều cao trọng của kiếp nhân sinh mà hỏi về điều thầm lặng dơn sơ xảy ra trong lòng người nhưng nó cũng nặng nề không khác chi những điều cao trọng. Sợi khói lại đau đáu nằm trong trái tim. Con sông quê mà lại chở niềm đau, nghĩa là con sông ấy với hình ảnh của nó cũng đang trôi hoài trong trái tim tác giả. Tác giả ý niệm về kỷ niệm đời người mong manh như sợi khói nhưng nó lại không tan biến đi mà hằn sâu trong trí nhớ, đáu đáu ở trong tim. Sự mong manh trở thành bền vững và sự bền vững chất chứa cái mong manh trong ý thơ làm cho con người như biến thành sợi khói bay về vùng trời kỷ niệm. Bởi đó mà sự “Bàng bạc trôi về viễn xứ chở niềm đau”cũng xảy ra trong lòng người khi đọc thơ của tác giả. 


Qua vế thứ ba nỗi khắc khỏai về sự tàn phai, về sự tận cùng, về sự lâm chung của ngày như sự lâm chung của cuộc đời cứ bâng khuâng trong lòng tác giả . Nỗi buồn muôn thưở ấy được diễn tả bằng lời thơ trầm xuống như những tiếng thở dài não nuột nối theo nhau:



Có lẽ nào hoàng hôn chênh chếch bóng

Nghiêng nghiêng đêm mộng mị đến nao lòng

Có lẽ nào lá vàng rơi thật khẽ

Mây biết buồn và sao cũng bâng khuâng.



Hoàng hôn chếch bóng là nan đề, đêm mộng mị là nan đề, lá vàng rơi là nan đề, mây cũng là nan đề, tất cả mọi biến động trong không gian, trong thời gian, trong vạn vật đều mang nan đề biến thành nỗi ưu tư trong lòng tác giả. “ Có lẽ nào” bây giờ là dấu hỏi cho những điều xảy ra trước mắt, những điều mà cái nhìn làm cho cuộc đời trở nên bi quan yếm thế. Tất cả cảnh trong thơ đều mang tâm trạng con người cho nên thơ đã lồng được cái cao rộng của hồn người vào chung cùng vạn vật.  


  Ở vế chót bài thơ, điều chủ yếu nén sâu trong lòng tác giả đến bây giờ mới được thốt lên. Đó là tình yêu, thứ mà chỉ một mình nó đã làm cho trời đất, muôn vật quay cuồng:



Có lẽ nào nắng tàn phai trước ngõ

Bóng trưa hè thảng thốt nén niềm đau

Có lẽ nào bài thơ tình dang dở

Gió ru hời hạt nắng cũng xôn xao…



Cả bài thơ sẽ không thành hình nếu “bài thơ tình” không dang dở. “ Bài thơ tình dang dở’ là mấu chót của bài thơ “Có lẽ nào”, là điều kéo theo những trải nghiệm cuộc đời dưới đôi mắt bi quan, là điều trung tâm cho ý nghĩa của bài thơ. “ Bài thơ tình dang dở”  làm cho toàn bộ bài thơ đau đáu nỗi suy tư bi luỵ về cuộc đời trở nên lảng mạn, làm cho bài thơ triết lý khô khan trở nên trử tình, khiến người đọc thơ đương ở trong thế giới  sầu bước qua thế giới của mộng mơ. Tác giả thật khéo léo khi đem cả luật vô thường, đời người, quê hương đưa con người lên đến đích đỉnh cao để cùng với mình buông tiếng thở dài hoài niệm tình yêu .



  Thơ Hoài Huyền Thanh khi nào cũng là sự trầm lắng chất chứa suy tư và kỷ niệm. Tiếng thơ Hoài Huyền Thanh dầu bắng những câu từ ngắn gọn, thoảng như cơn gió bay qua song cửa hay dài bằng những vế thơ nối tiếp cũng đều đem đến hồn ta sự bâng khuâng của hoài niệm , sự man mác của tình yêu, sự vương vấn trong suy nghiệm và sự khoan khoái khi thấy một tâm hồn nên thơ trải đều thanh âm trên bình diện cả bài thơ.


                                                      Châu Thạch  








READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ “CÓ LẼ NÀO” CỦA HOÀI HUYỀN THANH - Châu Thạch

Wednesday, April 16, 2014

CHIỀU TÂY NINH - thơ Phan Minh Châu




Chiều Tây Ninh thả hồn theo biên giới

Cơn mưa non nhè nhẹ trãi qua lòng

Tôi ngồi đây giữa bốn bề hiu quạnh

Nghe lòng mình thỗn thức với non sông

Nghe lòng mình thỗn thức với mênh mông

Với bờ bãi nơi chốn mình đang đứng

Một cảnh quê với buổi chiều thơm lựng

Áo thu buồn không gợn  chút phong ba

Nếp lều ai sao giống nếp quê nhà

Cũng mái rạ cánh đồng nồng hương lúa

Cũng dòng sông quê ta từng một thuở

Chơi trốn tìm cút bắt hụp đời nhau

Bên kia làng đủng đỉnh mấy đàn trâu

Mấy doi đất đang đến ngày gặt hái

Vườn ai đó đơm hoa mùa cây trái

Tản hương đi qua mấy đoạn đường làng

Một buổi chiều với một kẻ lang thang

Đi mãi miêt vào khung trời vô định

Nghe sâu lắng vào trong chừng tỉnh mịch

Một nỗi buồn chảy suốt giữa ngàn hoa

Biên giới chiều khói quyện một làng xa

Một thôn bản một cánh rừng cô tịch

Nhìn quê bạn mà lòng ta bổng chạnh

Đến quê nhà năm tháng bạc màu sương

Bước chân đi rong ruổi mấy truông đường

Ta bổng thấy đất quê người thêm lạ

Một giọng nói ấm như vầng trăng tỏ

Một nét nhìn năm tháng vẫn còn vương

Vẩy tay chào thị xã lắm yêu thương

Ta bỗng nhớ quên thăm người bạn cũ

Nơi mảnh đất bốn mùa xuân lam lủ

Vẫn sôi trào hương sắc của thi ca





                                  PHAN MINH CHÂU

                       3b Âu Cơ Nha Trang Khánh Hòa

                                   d.đ 0922992662
READ MORE - CHIỀU TÂY NINH - thơ Phan Minh Châu

GÁNH HẾN QUA LÀNG - thơ Châu Quang Phước




Từ dạo xa quê nhớ người bán hến

Gọng khô khan không trau chuốc mặn mà

Như hến nhỏ là thức ăn giản dị

Thắm để đời  tô canh ngọt ông cha.

Mẹ khòm lưng cào hến cuối sông già

Nuôi hai bữa con đến trường ăn học

Khuya chảo hến lá tre bay mù mắt

Nước hến thơm tho cô bác ưa dùng.

Chị sống phương xa,chị nhắc hoài canh hến

Nước ngọt mùi riêng gì sánh kịp đâu

Đến ban trưa ngày hạn nắng che đầu

Tô canh hến thấm đời  tươi hương ngát.

Càng sống xa càng nhớ về canh hến

Nhớ chạnh lòng qua ngõ đường quê

Mua hến đi? Chờ lúc cha về

Nấu bát canh bầu cha dùng ấm bụng.

Từ thuở đó hến thấm vào máu thịt

Con được thở qua hơi hến đầu làng

Qua những ngày đói rách lang thang

Hến là thức ăn của người giữ nước.

Giờ hến đâu rồi em nhỉ?

Cô bán hến buồn hiu cuối chợ

Ai quí hến nữa đâu? Hến đều bị nhiễm          

Cơ khí văn minh chém chết hến rồi

Cơm nhớ hến là nhớ lại làng tôi.


                              Châu Quang Phước


READ MORE - GÁNH HẾN QUA LÀNG - thơ Châu Quang Phước

THẤP THOÁNG - thơ Trần Hữu Khả






Có thể những lời nồng nàn đằm thắm
có thể những lời ca tứ tình bay bổng
có thể những nhớ thương vu vơ lạ lẫm
và có thể cả những day dứt mặn nồng
với ai đó
Anh
một lần
chưa nói
chưa dành
cho em.
Có thể những mối tình đi qua đời anh lặng lẽ
có thể những bóng hình một thời thơ vương lãng đãng
có thể những con đường hàng cây anh từng hò hẹn
có thể những mắt môi giờ đã tàn phai theo dĩ vãng
Anh
chưa kể
với em
một lần.
Những cơn đau tình si vật vã
những nụ cười quay quắt lòng anh
những lời ca thả trôi anh về bến bờ xa lạ
những ngày mưa làm anh giật mình trống lạnh
cả những cơn giông hờn dỗi
tầm tả lòng anh nhức nhối thường ngày
cả những âu lo
sợ một ngày không gần nhau được nữa. . .
Rồi
cả những riêng tư thì thầm hai người đắm đuối
từng có thể
có với anh
đã hơn một lần
làm em đau nhói
chạnh lòng
mình. không. được. dự. phần.
Và rồi
một ngày
anh chợt nhận ra
những điều anh chưa nói với em
tất cả
đâu đó có em
thấp thoáng.

30-5-2013

Tác giả: Trần Hữu Khả

Sinh năm: 1961

Địa chỉ: K95/10 Bà Huyện Thanh Quan- Đà Nẵng

Nghề nghiệp: Tự do

Số ĐT: 0903507075
READ MORE - THẤP THOÁNG - thơ Trần Hữu Khả

Truyện ngắn của Phan Trang Hy: CHUYỂN KIẾP

                                     


       Từ ngày Hân nhận chức trưởng phòng kinh doanh, cuộc sống của anh có phần lạ, không như trước đây. Giờ, nhiều đêm anh phải thức khuya, đọc sách tìm hiểu những quy luật về kinh tế. Anh đọc ngấu nghiến như sợ rằng không còn thời gian để đọc.

       Và rồi, anh tự mâu thuẫn với chính mình. Anh mâu thuẫn trong cách nghĩ suy, trong vai trò nhiệm vụ của mình. Khi còn là nhân viên, anh đâu có nghe những lời nói có hơi hướm lấy lòng anh từ những người khác. Nhưng, giờ lại khác. Những kẻ dưới quyền luôn lấy lòng anh, không dám làm anh bực dọc. Hân tự hỏi: Cũng là thằng Hân, sao trước khác, giờ khác. Có gì thay đổi đến vậy? Không lẽ chỉ có cái nhãn mác trưởng phòng mà anh trở thành người khác?

       Anh cảm thấy đầu óc nặng. Anh mơ màng trong những nghĩ suy. Không đâu vào đâu. Anh không thể ngờ, mới đây thôi, trong một cuộc họp với những người dưới quyền, anh đã phát biểu những gì anh cũng không nhớ nổi, để rồi đây anh phải chịu tiếng thị phi. Mà sự đời là vậy. Có phải tất cả kẻ dưới quyền đều ưa anh? Có phải anh là người hoàn thiện đến mức mọi người phải noi gương theo anh?

       Anh không hiểu tại sao có tờ báo đăng đời tư của anh, nêu cung cách làm việc của anh. Không lẽ đó là tự do báo chí, tự do ngôn luận? Anh mệt mỏi vì có kẻ cho rằng anh bất tài vô tướng, chỉ nhờ thời mà anh được lên trưởng phòng. Anh ngẫm lại, những kẻ dưới quyền, kẻ nào tọc mạch, dùi thọc anh? Anh thấy ai cũng vậy. Cũng cung cách nhỏ nhẹ. Khi anh đưa ra ý kiến gì, ai cũng cho là sáng suốt. Và họ chỉ có làm theo. Anh ngẫm lại, khi còn là nhân viên, anh cũng thế. Tội gì góp ý cho mệt sức. Vả lại, mấy lãnh đạo lắng nghe kẻ dưới quyền một cách chân tình. Đôi khi lãnh đạo cho kẻ góp ý ấy là thế này thế nọ, là nhiều chuyện. Có khi quy chụp là đầu mối gây bất an trong nội bộ. Anh không biết ai là kẻ nói xấu mình. Anh tự hỏi sao có người thích nói xấu người khác?

       Anh chỉ biết có kẻ dấu mặt nào đó đã bêu xấu anh. Thậm chí đồn thổi công việc của anh. Anh lấy làm buồn. Mà đời này vui được mấy chốc, dù anh là kẻ có chức quyền, giàu có. Anh không buồn sao được khi ai đó chỉ biết nói xấu anh mà anh không biết hắn là ai. Thà rằng góp ý phê bình chân thật mà anh biết mặt, biết tên thì đỡ biết mấy. Biết để yên tâm rằng mình có lỗi thì người ta mới góp ý. Biết để tin tưởng rằng trên đời này còn có người chân thực với mình vì họ dám chịu trách nhiệm về lời nói của họ. Anh đâu có cần khen kiểu bầy đàn, kiểu những fan cuồng mê thần tượng. Anh đọc ở đâu đó, hay cả trong kinh nghiệm sống, đã cho anh nghĩ suy về cuộc đời, rằng khen chê dễ lây lan bầy đàn như dịch cúm. Miệng lưỡi thế gian mà! Hơi đâu anh nghĩ về nó cho mất công, cho mệt sức.

       Chiều nay, sau khi làm việc xong, anh ghé quán ngồi một mình. Ít khi anh ngồi một mình trong quán cà phê này. Ánh nắng còn sót lại trên đường không níu được chút vàng tươi của những bông hoa cúc cuối mùa. Những bông hoa như tâm trạng anh lúc này. Ngồi một mình, nhìn người qua lại lúc nhanh, lúc chậm, anh cảm thấy cuộc đời từng con người có khác chi con kiến ngược xuôi. Đi đi. Về về. Mang những cục buồn, mảnh vui. Tha những hạt no, mầm đói… Để rồi, trong giấc ngủ chập chờn, thao thức với những thức buồn vui no đói ấy. Rồi sáng ra, chưa kịp mở mắt, lại vội vã, cuống cuồng giành giật lấy từng giây phút buổi bình minh, rồi lại lên đường, lại trở về cái nghiệp của kiếp người, kiếp kiến, kiếp chúng sinh.

       Nhiều đêm anh mơ. Và giấc mơ ấy cứ lặp đi lặp lại. Trở thành nỗi ám ảnh trong anh. Anh cùng đồng loại giành giật nhau bát cháo lú. Cũng từng ấy lời nói, cũng chừng ấy sự việc, chỉ có đồng loại là ngày càng đông…

       - Cháo này là của tao! Bọn bay không được đụng vào.

       - Của tao. Mày xê ra!

       - Của bà đấy! Bọn bay cút xéo đi!

       - Của ông! Của ông!

       - Bọn chó cút đi!

       - Chúng mày là rắn rết. Là bọn HIV. Là bọn…

       - Tao là rồng, là phượng đây! Bọn bay để cháo cho tao.

       Đủ âm thanh hỗn độn. Thế nhưng, chẳng một ai, kể cả anh, húp được miếng cháo nào cả. Cơn đói hành cái bụng anh. Mọi người, sau khi giành giật, ai ai cũng thè lưỡi thở. Chỉ là hơi thở của người đói lâu ngày. Đôi mắt mọi người ánh lên cái đói, nỗi thèm ăn. Anh và đồng loại đói trong mơ là cớ làm sao? Anh thèm giấc ngủ an lành. Nhưng giấc ngủ ấy dễ gì có được. Trong anh, khi đêm về, lại hiện lên những giấc mơ cháo lú.

       Sự tỉnh thức, sự khôn ngoan chẳng là gì cả trước cuộc đời này. Càng tỉnh thức, càng khôn ngoan thì con người vẫn cảm thấy cô đơn, thấy cuộc đời càng vô vị. Anh cũng thế. Anh thèm ăn dù là thức ăn chứa sự lú lẫn để quên đi cái khổ, cái nhọc nhằn, buồn lo. Đang trong vòng tử sinh của cuộc đời, ước gì anh quên hết mọi thứ. Chỉ cần có nụ cười, dù là nụ cười hoang sơ, nụ cười của người tiền sử cũng hơn là cái cười gượng gạo mang nghiệp của kẻ nhân danh văn minh, đạo đức, độc lập, tự do.

       Nhiều đêm không ngủ, nếu không mơ giành cháo lú thì anh lại mơ dữ khác. Anh thấy mình rơi xuống hố thẳm. Đen. Rồi đỏ. Rồi đủ màu sắc. Anh chơi vơi cùng đồng loại. Rồi cơn mơ cháo lú cũng lại hiện về. Đồng loại cùng anh đói trong cơn mơ. Anh thấy trong mơ hồ, có ai đó đang nấu cháo lú, đang phân phát cháo lú cho anh và đồng loại anh. Nhưng cơn đói vẫn hành hạ mọi người vì chẳng ai chịu nhường cho ai. Anh thấy những kẻ trước đây vai mang chủ thuyết này, chủ trương nọ mà vẫn bị đói. Lại có kẻ mang vàng bạc tiền của từ những vụ làm ăn kiểu mafia mà chẳng húp được hớp cháo nào.

       Cũng may cho Hân. Anh được tách ra khỏi đám đông đói cháo ấy. Anh đi qua chiếc cầu. Có phải là cầu Nại Hà trong tâm tưởng? Những cô gái cười chọc ghẹo anh khi anh trần truồng, tồng ngồng bước qua cầu. Họ cũng chọc cười những tên đàn ông khác. Còn đằng xa kia, các chàng trai đẹp như thiên thần đang hát những câu hát vu vơ về vóc dáng của những phụ nữ đang bước qua một chiếc cầu khác. Họ hát về các bộ phận tạo thành vóc dáng ngọc ngà của phụ nữ. Nếu để riêng các bộ phận ấy ra khỏi cơ thể, chắc các bạn sẽ có tâm trạng như một học sinh đang xem mô hình cơ thể người trong giờ sinh vật.

       Bỗng Hân hét lên. Thì ra anh mơ. Một giấc mơ khó hiểu. Cũng biết bao chuyện khó hiểu trên đời này đang xảy ra. Khó phân tích, lý giải không phải vì con người không có tri thức, kiến thức hay không có sự khôn ngoan. Có lẽ khó hiểu vì con người tự ma mị với những lý luận tưởng chừng là khoa học biện chứng của mình. Dẫu Einsetein có sống lại, chắc ông cũng không hiểu hết sự phức tạp của cá nhân con người dù ông vĩ đại bởi thuyết tương đối. Mọi sự việc, hiện tượng đối với ông là tương đối nên ông vĩ đại. Ông không có cái vĩ đại của sự bách chiến, bách thắng, của kiểu muôn năm. Bộ óc kỳ dị của ông so với các bộ óc của bọn chính trị, bọn phát xít, độc tài, bọn bồi bút, xử án thì ai dị kỳ hơn ai? Và anh thầm nghĩ không biết trong bọn họ có ai thèm cháo lú? Có ai muốn thoát khỏi sự khôn ngoan không? Anh lại thèm quên. Mong được chút cháo lú để quên cái kiếp người vớ vẩn bởi ước mơ viễn vông, chủ thuyết không tưởng.

       Sự dằn vặt làm anh tức thở. Như có ai bóp nghẹt đường dẫn khí quản. Cổ họng anh vừa rát vừa tưng tức. Anh lấy sức hít mạnh như muốn đem dưỡng khí vào lồng ngực của mình. Rồi anh thở ra thật mạnh, tống khứ thán khí ra khỏi cổ họng. Dẫu anh hít vào, thở ra thật mạnh, y như người luyện thể dục, nhưng cổ họng anh vẫn khó chịu. Như có kiến bò trong cổ họng, như có gai cào cấu vùng thanh quản của anh. Anh ao ước quên tất cả, mọi thứ, kể cả cái đau mà anh chịu đựng.

       Mỗi khi ốm, anh hay nghĩ về thân phận con người. Anh đã tự răn mình như con chiên tự răn mình trước Chúa Trời, đã nghĩ suy về kiếp người trong cuộc sống như Phật tử tu tập trước kiếp nạn luân hồi. Anh thương anh, rồi thương những người thân, thương luôn bà con hàng xóm và cả đồng bào anh, rồi cả nhân loại nữa. Anh ước ao ai cũng hiểu nhau, thương nhau thì cuộc đời đẹp biết mấy, đáng yêu biết mấy. Anh nhớ lại có lúc anh làm phật lòng cha mẹ. Anh nhớ có lúc mình hơn thua với vợ con. Có lúc, anh không vừa ý, bằng lòng với hàng xóm như việc họ lấn đất của nhà anh, như họ để chó ỉa trước cổng nhà anh, như đốt vàng mã, quăng gạo muối, hột nổ trước nhà anh… Đủ thứ họ gây phiền cho anh trước đây. Nhưng giờ trong giây phút chống chọi với căn bệnh, anh như muốn nói với mọi người là anh chẳng phiền ai cả. Hơn thua làm gì ở đời này? Được mất, có chăng chỉ là thứ tức thời. Dẫu đang chống lại từng con virut dữ dằn của căn bệnh, anh thấy mình vẫn còn may mắn hơn một số người khác. Anh như được ai đó nhắc nhở trong cơn đau rằng, sự sống là quý nhất. Rằng sự sống là sự vận động trong suy nghĩ, trong chuỗi thời gian, không gian của ánh sáng. Anh như thấy sự sống trong trục Ox, Oy, Oz…, On… ám ảnh anh. Cái khổ nhất khi bệnh hoạn, ốm đau là sự tỉnh thức hay là sự mê man? Anh không xác định được. Anh chỉ thấy rằng còn cảm giác, còn suy nghĩ thì anh còn tồn tại. Mà sự tồn tại đó, nhiều khi anh lại chán chường, lại thấy vô nghĩa. Dẫu anh đọc ở đâu đó rằng con người được sinh ra là ân phước của chính bản thân họ, là niềm vui của người thân, rằng trời sinh ra có ý, nhưng anh vẫn thấy phân vân không đâu vào đâu cái khái niệm làm người. Có phải bát cháo lú trong tiền kiếp bắt anh giải mã nỗi trở trăn của kiếp người? Có phải bát cháo lú ở tận đâu đâu bắt anh sợ những thứ chẳng thuộc về anh? Kể cả cái sống, cái chết của anh, đôi lúc anh cũng sợ vì cũng chỉ là sự tồn tại của dạng này, dạng khác.

       Anh hít thở mạnh. Anh thèm thông cái cổ họng đau rát, tắc nghẽn. Cả ngày nay anh uống không biết bao nhiêu nước là nước mà vẫn cảm thấy khô cả người. Cả cơ thể anh khó chịu. Nhiều khi anh nghĩ về cái chết trong tương lai. Anh nghĩ chỉ để mà nghĩ, để chứng tỏ rằng anh còn tồn tại. Để thấy rằng anh cũng biết lẽ đời, biết quy luật của tạo hóa, để sống sao cho bình an, không vướng bận những vẩn vơ suy nghĩ bất thường.

       Có tiếng la hét ngoài đường. Bọn con nít hò reo. Anh nghe rõ tiếng trống bọn trẻ đang tập múa lân. Trung thu gần đến. Trăng rồi sẽ tròn. Bài hát tuổi thơ năm nào lại trổi dậy trong anh. Bóng trăng trăng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một giấc mơ… Thằng Cuội năm nảo năm nao vẫn vậy, vẫn cứ mơ giấc mơ cung Quảng. Và anh, suốt cả hành trình kiếp người vẫn mơ những giấc mơ cháo lú. Anh thấy bát cháo lú đang được các hồn người húp vội trước lúc đầu thai, cho quên cái kiếp người khốn khổ trong cái bể khổ ở cõi ta bà, để nhận cái kiếp khổ khác. Rồi anh lại thấy biết bao người trước mắt anh đang giành nhau từng hớp cháo lú. Đó là bọn chính trị muốn quên thủ đoạn giành giật quyền lực một thời, muốn quên bàn tay đầy máu của mình đã từng giết cha mẹ, anh em, đồng bào để bước vinh quang lên vũ đài chính trị. Đó là bọn buôn bán vũ khí, ma túy muốn quên những phi vụ không có tình người, miễn chỉ cần có tiền, vàng, kim cương. Đó là bọn phát xít, độc tài muốn quên những năm tháng dân chúng rên xiết dười ách cai trị hà khắc, vô nhân đạo của bọn chúng. Đó là bọn bồi bút, giờ ngồi nhớ lại những con chữ đầy oán thù, đầy sự ma mị, lừa bịp người đọc, người nghe. Chúng ôm đầu rên xiết bởi những con chữ hành hạ chúng. Đó là bọn xử án, với cái lưỡi uốn thẳng thành cong, uốn cong thành thẳng, xử oan kẻ thiện lương, người vô tội, giờ muốn chuộc lỗi cũng đã muộn rồi… Và còn biết bao kẻ khác muốn quên tội lỗi của mình!

       Anh, người thân của anh, cả bọn chúng, tất cả như muốn quên đi cái kiếp khổ của mình. Ai cũng muốn quên đi nghiệp duyên mà mình đã gây ra trong tiền kiếp. Ai cũng biết rõ, chỉ cần một hớp cháo lú là sẽ quên hết mọi điều, quên tất cả, để rồi hóa thân thành kiếp khác, như con người hiện tại luôn tự an ủi sẽ làm lại cuộc đời.

       Tất cả như hiểu ra một quy luật là ai cũng giành giật thì chẳng ai được thứ gì cả dù đó là một tí cháo lú. Như có sự sắp đạt diệu kỳ của tạo hóa, ai cũng tự nhìn lại mình. Tất cả xếp hàng chờ đợi đến phiên mình chuyển kiếp.

       Trước mắt mọi người là nồi cháo lú nhỏ như nồi cơm Thạch Sanh. Bên cạnh đó, một sinh vật, xin được gọi như thế chứ không biết đặt tên gì, đang đợi từng người đi qua, lấy muỗng múc thứ nước sền sệt trong nồi đút vào miệng từng người.

       Tới lượt, Hân đứng trước nồi cháo, há miệng. Một thứ chất nhão nhoẹt, tanh tưởi chạy xuống cổ họng. Anh đang chuyển kiếp làm lại cuộc đời.



Tháng Ba, 2014

Phan Trang Hy
READ MORE - Truyện ngắn của Phan Trang Hy: CHUYỂN KIẾP

NÓI VỚI TRỊNH CÔNG SƠN - thơ Trúc Thanh Tâm





Chấn động địa cầu, hào hoa tứ tán
Giữa trần ai trầm bổng những ngón đàn
Cất tiếng ca ôm nỗi đau nhược tiểu
Lúc kêu gào như đang bị hàm oan !

Cơn trốt xoáy cuốn theo mùa hạ trắng
Biết bao giờ được trở lại vườn xưa
Trong tâm khảm từng vết thương đau buốt
Bóng đời xa mờ nhạt dấu chân mưa !

Quê hương ơi, có nhiều nơi để đến
Chốn quay về, ta chỉ có một thôi
Nên muôn kiếp vẫn làm người ở trọ
Nhân quả cuộc đời, sấp ngửa trên tay !

  Sài Gòn, 1978
TRÚC THANH TÂM
READ MORE - NÓI VỚI TRỊNH CÔNG SƠN - thơ Trúc Thanh Tâm