Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 24, 2012

Đình Thu - GỞI LẠI QUÊ HƯƠNG



Nhớ về  Quảng Trị quê tôi
Thương bờ đê lũy tre làng quen thuộc
Con đường đất tuổi thơ quen chân bước
Và dòng sông trôi bên lở, bên bồi
Ra đi …..
Để  mùa hạ oi nồng
Cái nắng  như thiêu như đốt
Gương mặt cha như mặt trời đỏ rực
Đứng bóng !
Trâu muốn ngừng thở
Cha lặng lẽ tháo cày nhìn phía  xa xăm

Nhớ về  Quảng Trị quê tôi
Thương lắm miền quê câu hò xứ sở
Mùa Đông mưa phùn gió bấc
Bóng mẹ già nua cấy lúa trên đồng
Trách sao trời rét lạnh căm
Mắt mẹ thâm quầng tím cả vành môi

Nhớ về Quảng Trị quê tôi
Ơi miền ấu thơ làm sao quên được
Bao năm xa có đêm nào ngủ được
Nỗi nhớ trong lòng canh cánh tháng năm

Chừ ! Răng có nhớ suốt đời
Cũng không quên được cả thời ấu thơ
Dùng dằng trong cả giấc mơ
Biết ngày mai đó có chờ nhau không ? 

Đình Thu
dinhthubank@yahoo.com


Ảnh: Con đường qua đồng ở xã Triệu Độ
yume.vn/xatrieudo
READ MORE - Đình Thu - GỞI LẠI QUÊ HƯƠNG

HOA HUỆ - Thơ Bế Kiến Quốc - Lời bình Phạm Ngọc Thái

                                          
                    HOA HUỆ

                 
 
                  Hoa huệ trắng và bức tường cũng trắng
                    Sao bóng hoa trên tường lại đen?
 
                    Em đừng nhìn đi đâu thế em
                    Anh không biết vì sao, ai có lỗi...
                    Nhưng mãi mãi vẫn còn câu hỏi
                    Sao bóng hoa trên tường lại đen? 


                                                 Bế Kiến Quốc
                                   
                                                  (1949 - 2002)
 
 
     
Bài thơ đưa ta đến một cảm giác với bao mâu thuẫn của tình yêu: 

                  Hoa huệ trắng và bức tường cũng trắng
                  Sao bóng hoa trên tường lại đen? 


      Màu hoa huệ trắng đặt trước một bức tường cũng trắng như sự trắng trinh thơm ngát ở người con gái, mơ mộng và nên thơ. Nhưng:


                    Sao bóng hoa trên tường lại đen? 


      Đó lại là hai mặt mang đầy kịch tính. Tôi nói “kịch tính” ở đây, bởi vì: Bông hoa nào dù trắng trong và hương ngát bao nhiêu chăng nữa, nhưng khi bóng của nó hắt lên tường thì đều thành màu đen cả
(nghĩa đen)!...Ý là tình yêu đã mang đến cho ta niềm vui sướng, hạnh phúc vô biên - Ngược lại, tan vỡ cũng gây không ít những đau đớn và thất vọng. Cái mâu thuẫn ấy có mấy đôi trai gái không thường vấp phải? Nhà thơ Bế Kiến Quốc đã sử dụng hình tượng bóng đen đó (nhưng theo nghĩa bóng), để nói lên nỗi lòng mình đang tan nát. 

      Henrich  Haine một nhà thơ lớn nước Đức (1797-1856), trong bài thơ "Những hoa hồng tím nhạt" đã viết:


                    Em có hiểu vì đâu?
                    Những hoa tím im lặng
                   Trêncánh đồng xanh mầu?


     Tình cảm đồng điệu từ những bông hoa tím được nhà thơ sử dụng chỉ cốt  bộc lộ nỗi đau thầm nén của lòng người con trai trên cánh đồng xanh mướt, tha thiết tình yêu  kia! Ông viết tiếp:


                     Vì sao trên không trung
                     Chim sơn ca than khóc?
                     Vì sao đoá hoa thơm
                     Tỏa một mùi chết chóc? 


     Hình ảnh bông hoa được sử dụng thêm một lần nữa nhưng ở mức độ cao hơn, khốc liệt hơn -  Rằng, một đóa hoa thơm cũng mang nỗi khổ hạnh khi trái tim tình yêu người bị đớn đau. Như lời của Nguyễn Du:


                    Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? 


      Việc sử dụng hình ảnh bông hoa để  nói về tình yêu của nhà thơ Bế Kiến Quốc và Henrich Haine khác nhau là ở chỗ: Hình ảnh của nhà thơ Đức thông qua trạng thái ở bông hoa mà biểu đạt  nỗi xót xa về tình cảm , hay sự quặn thắt trong lòng người - Nhưng bông hoa trong bài thơ "Hoa huệ" thì lại được xây dựng hẳn thành một biểu tượng cho tình yêu!



      Anh viết bài thơ này từ năm 1969, khi còn là một sinh viên trường Đại học Tổng hợp. Nghe nói những năm tháng ấy các sinh viên của trường anh thường lập ra những nhóm thơ, tìm tòi nhiều, cả thơ trong nước và thơ thế giới. Bài thơ đã ảnh hưởng trường phái thơ tượng trưng của văn học châu Âu. Tuy nhiên, đó là sự ảnh hưởng về phương pháp sử dụng hình tượng nghệ thuật thể hiện, tư duy thơ vẫn bắt nguồn từ tình cảm bản thân trong đời sống tình yêu lứa đôi, dồn nén của trái tim mà ra. Cho nên  bài thơ tuy viết theo dạng biểu tượng xúc tích nhưng tình cảm vẫn  tha thiết, đằm thắm:

                Em đừng nhìn đi đâu thế em
                Anh không biết vì sao, ai có lỗi..


      Sau hai câu đầu đưa ra sự đối ngược giữa hình ảnh bông hoa trắng với cái bóng trên tường lại đen, tác giả bắt ngay vào diễn tả trạng thái riêng tư - Đó là sự trách cứ người yêu hờ hững chăng? Anh tiếc nuối hay anh phân bua về sự tan vỡ ấy? Câu thơ: 


                Anh không biết vì sao, ai có lỗi?


    Ta thấy lòng nhà thơ vẫn còn rất  tha thiết với người con gái năm xưa, dù mối tình đã tan có thể không bao giờ còn hàn gắn lại được. Tuy có đôi chút yếu lòng nhưng thơ không rơi vào bi lụy. Có vẻ trách đấy mà đâu có trách, cảm hóa ta về một mối tình đẹp và trong sáng. 


      Tất cả chỉ có sáu câu . Hai câu kết tác giả trở lại với hình ảnh của bông hoa và cái bóng đen trên tường,  khóa bài thơ lại: 


                Nhưng mãi mãi vẫn còn câu hỏi
                Sao bóng hoa trên tường lại đen?


      Cái bóng đen của bông hoa in trên nền tường trắng là một bóng... buồn! Câu hỏi: 


               Sao bóng hoa trên tường lại đen? 


       mãi mãi còn day dứt, trăn trở trong trái tim
người con trai! Nhìn "bóng hoa đen"... lòng anh lại càng xa xót về một kỷ niệm đã xa xưa. Sự đối ngược giữa  hình ảnh bông hoa trắng và bóng đen tự thân đã mang theo một  quan điểm triết lý về sự hợp tan, lành dữ trong trời đất. Đó cũng chính là ý nghĩa  tự nhiên của tình yêu và cuộc sống, vừa hạnh phúc mà lại vừa đau khổ! 

      Nhà thơ Bế Kiến Quốc đã tạo nên bức tranh "Hoa huệ" không kém phần độc đáo.





        Phạm Ngọc Thái
READ MORE - HOA HUỆ - Thơ Bế Kiến Quốc - Lời bình Phạm Ngọc Thái

CHUYỆN TÌNH - Trương Nguyễn


Em với mắt thất thần ngái ngủ
Từng đêm dài nghe kể chuyện ngày qua
Ngồi im lặng….
Cúi đầu nói nhỏ
Kể nữa đi anh !
Anh kể chuyện mình
Một cô gái thiên đường xây lỡ dỡ
Sống nữa chừng buồn bã bổng hiện sinh
Bao năm dài giữ cho người tình lỡ
Giữa phút lao đao – nghĩ tới phận mình
Thời gian qua người chưa hề mơ ước
Được yêu thương – chắp vá nụ cười
Rồi một thuở…
Có người dừng bước
Như cánh chim mệt lã cuối bầu trời
Họ gặp nhau
Khi đời vừa chợt tối
Tay nắm tay dìu dắt khỏi đêm sâu
Không ước hẹn mà lòng nhắn gởi 
Vì tình yêu đã hóa nhiệm mầu


truongnguyen49@yahoo.com.vn

Tranh minh họa của họa sĩ Ái Lan
READ MORE - CHUYỆN TÌNH - Trương Nguyễn

Wednesday, February 22, 2012

Lê Đăng Mành - THƠ GIÊNG HAI


LẠNH LÙNG!

Giêng hai Trời cứ lần đân
Rét chà trệt cẹng* cho xuân rạ rời**
Rét quất bầm nỗi đau Tôi
Rét lấp lãm nguyệt hiên ôi lạnh lùng

          Tiết vũ thủy, tháng giêng Nhâm Thìn
                        Lamnguyethien 

*cẹng:cánh,xếp cánh,bó cánh
Giọng quê Quảng trị.
**Rạ rời:giọng quê nghĩa là rã rời


           CÔI NGUỒN !
 
Bao giờ về với quê miềng
Vói ngắt sợi khói trôi miền phù hư
Thỏng tay làm khách cuồng phu
Chạm Quê là đụng cõi ngu ngơ…khờ!
Xin làng bụm nước Ô Lâu
Dầm thân du tử bể dâu phong trần
Cung tay nhặt ngọn giêng xuân
Hâm bờ ký ức vọng ngân cội nguồn./

                 Lamnguyethien, tiết vũ thủy



XƯA NAY !

Xưa ! giêng hai
Nhà hết gạo
Mắt Mạ đăm đăm
Ngón tay thiếu máu*
Nhin con xót ruột
…..Rét chênh chao!
Nay! agogo,slowrock
Lẻng kẻng xập xình
Lanh canh đìa ao
Rúc bụi chuối
Luồn hang cau
Tre hóp kêu đau
Nhìn trăng gió
Nuối chũ”thôi xao”

                       Lamnguyethien, giêng hai

*Tục ngữ quê tôi: Giêng hai cắn ngón tay không ra máu.
READ MORE - Lê Đăng Mành - THƠ GIÊNG HAI

Nguyễn Ngọc Chiến - MỜI EM VỀ THĂM QUÊ ANH



Em ơi em về thăm quê anh nhé
Mảnh đất cỗi cằn nắng gió miền Trung
Mùa hạ khô người đất bỏng như nung
Đông buốt giá tháng ngày mưa tầm tã.


Quảng Trị quê anh xưa đói nghèo vất vả
Đạn xới bom cày dấu tích vẫn còn kia
Mẹ tảo tần dậy sớm thức khuya
Củ sắn củ khoai nuôi anh khôn lớn.


Kể với em mà nghe như đùa bỡn
Chuyện buồn cười mà thật đấy em ơi
Nay em về đồng lúa xanh tươi
Bát ngát chè tiêu rưng rưng mời gọi.


Anh đưa em vào thăm quê nội
Đi giữa mùa vàng đất lúa Triệu Phong
Hãy còn kia rực rỡ những chiến công
Chợ Cạn, Long Quang, Triệu Tài, Triệu Độ…


Xuôi Ba Bến ta cùng ra Thành Cổ
Thăm lại chiến trường tám mốt ngày đêm
Qua sông Thạch Hãn em nhớ đừng quên
Gửi một nhành hoa cho người nằm lại.


Em hãy cùng anh ra sông Bến Hải
Thăm cầu Hiền Lương một thuở chia đôi
Về Cửa Tùng em hóng gió biển khơi
Ngắm bình minh vẫy chào Cồn Cỏ.


Quê hương anh đất một màu thắm đỏ
Mấy mươi năm nặng nghĩa nặng tình
Máu của biết bao đồng đội đã hy sinh
Vẫn lặng lẽ thấm trong từng thớ đất.


Một nén hương thơm cho người đã khuất
Rồi hãy cùng anh về thăm lại làng Tùng
Ta đi bên nhau trong lễ hội tưng bừng
Đợi trăng lên nghe điệu hò chèo cạn.


Lên Vĩnh Tú mời em nghe chuyện trạng
Cho môi em đỏ thắm nụ cười
Cho mắt em thăm thẳm gương soi
Cho men rượu nồng hồng hào đôi má.


Em ơi em về thăm quê anh nhé!




Nguyễn Ngọc Chiến
nguyenngocchienvg@gmail.com
093 2526 786
READ MORE - Nguyễn Ngọc Chiến - MỜI EM VỀ THĂM QUÊ ANH

Tuesday, February 21, 2012

CHỢ CẠN: QUÊ HƯƠNG NỖI NHỚ KHÔN CÙNG - Trần Quốc Phiệt


Để tặng những người cùng gốc gác với tôi

Quê hương mãi là nỗi nhớ khôn cùng, tôi xa quê từ khi còn nhỏ; về với làng mạc ruộng đồng chỉ trong những tháng Hè không trọn vẹn, những hình ảnh thôn làng từ con đường, khe nước, đồi cát, bụi cây, ngõ làng, xóm chợ mãi hằn sâu trong ký ức, đặc biệt giọng nói với cách phát âm rõ ràng, chỉ người Quảng Trị mới có; là nét đặc thù rất dễ nhận nhau, do vậy cách nói năng của tôi không thay đổi bao nhiêu, dù qua biết bao năm tháng đó đây đủ mọi miền tôi vẫn giữ lấy nó, lý do vì tôi yêu mến những ngữ âm như thế; có lẽ chỉ bớt đi cái hơi Quảng Trị một tí trên bước đường lưu lạc tha phương, cho nên người nào rành về âm giai giọng nói thì nhận ra liền. Ví như có một ai đó hỏi: “anh là người Quảng Trị mà ở chỗ mô”.  Nếu tôi trả lời xóm này làng nọ, chắc chi họ đã biết, nhưng chỉ ngắn gọn chợ Cạn, người nghe có thể nhận ra địa danh dễ dàng, cho nên dù chợ Cạn nhỏ nhoi của miền quê nghèo nhưng cái tên của nó mang tính phổ thông thân thuộc. Bởi thế, khi tuổi đời xế chiều chếch bóng, ngồi ngẫm nghĩ lại những bước lưu lạc giữa chợ đời lòng bồi hồi nhớ lại ngôi chợ nghèo quê nhà: Chợ Cạn.


Tôi viết những dòng này để ghi lại những kỷ niệm về một địa danh, nơi mà tôi đã từng trải qua một chặng đời với những gắn bó liên hệ tình cảm thiêng liêng gia tiên giòng tộc. Bằng những tâm tình này xin san sẻ phần nào nỗi nhớ nhung của kẻ lâu ngày xa xứ, cũng để thay lời tri ân đến những thế hệ tiền nhân đã dày công dựng xây cho mảnh đất ấy có được như hôm nay, và là những dòng hoài niệm về quảng đời niên thiếu, nét đơn sơ nghèo nàn nơi chợ quê mà chắc một con người bình thường không dễ gì nguôi ngoai thương nhớ. Tôi viết về chợ, mà đặc biệt xin gởi chút tâm tình về quê hương chợ Cạn một nắng hai sương. Để chuẩn bị cho bài viết tôi có hỏi ý kiến vài đồng hương quanh vùng cùng trang lứa hay lớn hơn tôi để lấy thêm tài liệu, nhưng tất cả những người được hỏi không ai cho thêm một điều nào về ngôi chợ quê nghèo ấy, dù sao tôi cũng viết, viết những gì tôi đã biết; những gì còn đọng lại trong ký ức sau gần năm mươi năm chân trời góc bể đó đây.


Nói đến chợ người ta tưởng tượng ngay đến cảnh huyên náo ồn ào xô bồ và lắm chuyện, tốt xấu tùy cách luận giải của miệng người, “khôn khéo chẳng qua ba tấc lưỡi, hẳn hoi chưa hết một bàn tay”, mọi chuyện ở đời đều do con người tạo ra , tốt xấu cũng do lời người đàm tiếu, cho nên khi nói về chợ thì cái tốt và cái xấu nằm cận kề bên nhau “Trai khôn tìm vợ chợ đông…”, “thứ đầu đường xó chợ..”;  “đem con bỏ chợ”; “cơm chợ ở hè” ….Mặt khác trong thơ văn chợ cũng được ghi lại bằng những câu thơ dạt dào tình ý: “Thân em như gánh hàng hoa, sáng ra chợ sáng, chiều ra chợ chiều” (GHH);   “Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ”(ĐVC). “ Giữa chợ ai mà khóc nhận thây”(NB); “ Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén”…(NB); ”Cứ tưởng đầu đường thương xó chợ, ai ngờ xó chợ chẳng thương nhau” (BG)…Vào những dịp Tết Nguyên đán, có thể tìm thấy những bức tranh dân gian như chợ Tết, Chợ quê … thế thì chuyện chợ cũng rất phong phú không những chỉ trong sinh hoạt thường nhật mà nó còn mang hình ảnh với đặc tính văn hóa dân tộc tuy dung dị mà rất hàm súc.


“Nhất cận thị, nhì cận giang”: vậy phải hiểu rằng trong những nhu cầu thực tế cuộc sống chợ được xếp hàng đầu. Khi kể về những thành phố lớn tấp nập, sầm uất, người ta thường nhắc đến những cái chợ nổi tiếng mà dường như đã dính liền với thành phố ấy, như Sài gòn thì chợ Bến Thành, Chợ Lớn thì chợ Bình Tây, Nha Trang có Chợ Đầm, Đà Nẵng thì Chợ Cồn, Huế thì chợ Đông Ba, Hà Nội thì chợ Đồng Xuân v.v và.v.v. Những cái chợ đã là dấu ấn rất đậm nét về những địa danh từng vùng. Đủ biết chợ đóng một vai trò rất quan trọng trong lịch sử, địa lý nhân văn, giao dịch thương mãi, sinh hoạt của cư dân và cả những người vãng lai.


Quảng Trị quê hương núi Mai sông Thạch tuy nghèo nàn, chiếc áo phủ thân xứ “chó ăn đá gà ăn muối”, cuộc sống còn cũng lắm cam go nhưng đã tồn sinh từ thế hệ này qua thế hệ khác giữa vùng đất khô cằn, hai mùa cơ cực ruộng đồng nắng cháy, gió Lào rát da và mùa đông dầm dề mưa gió bùn lầy lụt lội, trơn trượt đường quê. Chợ cũng nhan nhãn đây đó khắp mọi nơi đâu đâu cũng có chợ, chợ như nồi cơm san sẻ, dòng nước luân lưu cung phát nhu cầu trong cuộc sống, nhìn vào cách họp chợ người ta có thể biết được mức sống kinh tế người dân trong vùng và phụ cận. Quảng Trị cũng có những chợ lớn - lớn ở địa phương - như chợ Quảng Trị, chợ Đông Hà, chợ Sãi, chợ Diên Sanh… Chợ Cạn tuy nhỏ nhoi ở xứ quê nghèo nhưng là trung tâm mua bán giao dịch mà cái tên của nó đã trở thành biểu trưng cho cả một khu vực làng mạc quần cư đã trải qua bao thế hệ. Nơi đó gợi lại trong tôi những kỷ niệm của một quãng đời.


Chợ Cạn được nhóm họp như một nhu cầu trao đổi giao dịch đã có rất từ lâu,  thuở nào thì không ai biết, cũng không có tài liệu sách vở để tra cứu tìm hiểu, đó là một địa điểm thuận lợi trong vùng và các khu phụ cận, từ biển Gia Đẵng, Ba Lăng, An Hội vô, từ ngoài Lệ Xuyên, Vân Tường, Long Quang, Linh Yên…vào và trong Cỗ Lũy, Phương Lang…ra.  Địa thế chợ Cạn nằm trên trục giao lưu thuận tiện, liên làng liên xã, đó cũng là nơi xuất phát để đi lên các vùng trên và thị xã, tỉnh lỵ.


Trong tâm tình của một người sống nơi phương xa khi nhắc đến quê nhà làm sao quên được làng mạc xóm phường, những buổi nhóm chợ quê…với đặc thù hai mùa mưa nắng, những trưa hè dưới bóng mát tàn cây gật gù đều đặn tiếng gáy gọi của những chú chim cu, những cánh đồng sâu cạn vàng hoe mùa lúa chín loang loáng trong ánh nắng chiều vàng nhạt nhòa chập chờn văng vẳng tiếng hót chim chiền chiện lên cao vút, hay những ngày lênh láng lũ lụt ngập nước mênh mông, những đêm về chập chờn ánh đuốc đèn soi, rời rạc tiếng chim bay đi tìm tổ, tiếng ếch nhái ểnh ương lào xào buồn thản. Những buổi sáng tinh mơ, sau tiếng gà réo gọi bình minh, tiếng dế rân ran đều đều bên “dường” ruộng lúa, khi ánh hừng đông vừa hé dạng, những thôn nữ thoăn thoắt bước chân, trên vai quẳng đôi gánh bon bon nhanh nhẩu đến cho kịp buổi họp chợ sớm ngày.  Nhiều  điều vẫn hằn trong nỗi nhớ, không dễ gì phai mờ theo năm tháng. Cái chợ quê mộc mạc ấy đã được ghi lại như một vết hằn trong ký ức, những hình ảnh đơn sơ hiền hòa và thân thiết nơi họp chợ hằng ngày như vỡ tuồng diễn mãi, nhìn mỗi lần đi qua thì chẳng gì khác nhưng khi xa rồi, nó trở thành một bức tranh quê trìu mến thân thương.


Hình ảnh những buổi sáng nhộn nhịp giữa chợ làng chợ xã, những gánh cá kẻo kẹt nhanh nhẩu từ vùng biển chạy vô, nếu sớm được giá thì bán ở chợ Cạn, trễ một chút chạy lên chợ Cống, không thì chợ chồm hỗm Gốc Bầu và sau cùng là chợ Quảng Trị. Cái lộ trình buôn bán bằng nghề chạy cá thật là vất vã nhiêu khê. Đặc biệt chợ Cạn nhóm rất sớm vào buổi sáng, sau chừng nửa buổi là tan chợ, nhưng những sinh hoạt mua bán hàng quán vẫn kéo dài trọn ngày. Sinh hoạt chợ Cạn chỉ giản dị vậy thôi, nhưng vì nó lại nằm trên trục lộ di chuyển tám phương tứ hướng đông tây nam bắc nên mấy ai đi xa về gần mà không bước chân qua chợ Cạn.


Chợ Cạn như là điểm hội tụ và chia tay; vào cái thời xa xưa ấy quanh quẩn mấy làng số người đi học trường tỉnh hoặc học Huế cả nam lẫn nữ chỉ đếm được đầu ngón tay. Học trò buổi sáng thường hẹn gặp nhau ở chợ Cạn để cùng đi, khi về thì cũng đến chợ Cạn là xé ra ai về làng nấy. Những tháng ngày nắng mưa cùng đi về trên con đường quê bằng phẳng thì ít mà gập ghềnh lổ chổ lại nhiều, đã ghi lại biết bao kỷ niệm thân thương để đến bây giờ gần năm chục năm sau ngồi ngẫm nghĩ lại đoạn đời đi qua thật là những hình ảnh đẹp của một thời nhọc nhằn nhưng hồn nhiên không thể phai mờ trong tâm tưởng. 


Từ thị xã Quảng Trị, đi về hướng Đông theo con đường sát bên hông làng Trí Bưu, đối diện Hạnh Hoa, xuôi hướng cầu Ba Bến, theo sông đào Vĩnh Định, xuyên Thâm Triều, An Trú, Đạo Đầu đi thẳng ra vùng biển Gia Đẳng, trên đường đi sẽ gặp chợ Cạn. Mặc dù có tên là Cạn, nhưng nhìn quanh chẳng có nơi nào là sâu, sâu hơn một tí thì chỉ có ruộng lúa, ngoài ra nương vườn và những khu cư dân hầu như bằng phẳng ngang nhau, thế thì Cạn cứ hiểu là cái tên gọi, như con người sinh ra phải mang cái tên vậy. Nhưng dù hiểu cách nào thì chợ Cạn cũng là môt địa danh đã được ghi đậm nét trên bản đồ địa lý từ lâu, là ngôi chợ của cả một vùng và đặc biệt nó đã đi vào “lịch sử chiến tranh”, đối với giới quân nhân ai đã có lần qua Triệu Phong mà không bước chân lên chợ Cạn, nói chung chợ Cạn là nơi rất dễ nhận biết. Trên đường đi từ tỉnh về sẽ ngang qua chợ Cống, chợ Hôm rồi mới đến chợ Cạn.


Vị trí nguyên thủy của chợ Cạn nằm trên khu đất thuộc xóm phường Đạo Đầu, làng Đạo Đầu thuộc xã Triệu Trung, nhưng chợ Cạn lại là trung tâm giao dịch mua bán của xã Triệu Sơn, thuộc quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Là nơi tụ hội giao thương mua sắm cho dân cư các làng quanh đó như Phương Sơn, An lưu, An Phó, Thượng Trạch, Linh Chiểu, Văn Phong, Đồng Bào, Trung Yên.  Ngày nay sự phân chia địa giới đã khác đi, chợ Cạn cũng đã được di dời qua bên kia con khe thuộc đất làng An Phó, chỉ cách nơi cũ mấy chục thước, vẫn là nơi tụ hội quây quần bán mua của cư dân quanh vùng, cũng là địa điểm thuận lợi đường đi ngõ về mọi hướng.


Vào buổi sáng tinh sương mở cửa ra khỏi nhà, nhìn xuống cánh ruộng đồng trước làng, trên con đường “liên làng, liên xã” mà dân địa phương gọi là “đường bạn”, những người đi họp chợ gánh hàng nặng trĩu kẽo kẹt trên vai, những gánh thơm (dứa) từ miền ngoài vào những gánh lá chè từ Lệ Xuyên cũng nhanh nhẩu cho kịp họp buổi chợ sớm. Những cư dân quanh vùng thì mang các loại nông sản hay hoa màu ra chợ bán và mua về những nhu yếu khác. Cũng như những người đi buôn cá, các bà bán chè lá cũng tất bật bươn chải, nào là bán chợ Cạn, vào chợ Phương Lang, lên chợ Ngô Xá, trở về chợ Hôm Đạo Đầu…

Thuở còn nhỏ, tôi chỉ sống lẩn quẩn loanh quanh trong làng. Hồi đó đi từ đầu làng Đông đến cuối làng Tây, đối với tôi đã là quá xa, dăm khi mười họa có việc gì cần tôi mới ra chợ Cạn. Nhà tôi ở tận cuối đầu Tây làng mà chợ Cạn lại nằm bên kia phía Đông, cách một con khe, lúc đó chưa có ống cống bắc qua, phải đi ngang trên cây cầu bằng hai cành cây khá lớn thô sơ, người đi qua đôi khi phải cần đến tay vịn.

Để theo đuổi việc học hành, tôi đã rời vùng chợ Cạn để làm cậu học trò giữa đất thần kinh năm lên mười, chỉ trở về thăm chợ Cạn vào những ngày Tết hoặc ít ỏi vài tuần nghỉ hè, may cho tôi đã có hai năm trở về học đệ nhị cấp Nguyễn Hoàng, đây là thời gian chợ Cạn trở nên thân thương gần gũi với tôi như kỷ niệm học trò còn xếp trong tờ lưu bút có cành hoa phượng ướp lại làm tin. Trong nét vẽ đơn sơ một ngôi chợ quê nghèo không có gì đặc sắc, chỉ những hàng quán quen mặt biết tên, những người bán buôn xuôi ngược hay những kẻ bán người mua trong vòng luân lưu trao đổi. Tất cả với tôi là một bức tranh quê trìu mến thân thương mỗi khi nhớ đến.


Thời còn Tây đô hộ, khu họp chợ có lúc bị lính Pháp lấy đất để làm đồn, không còn nhóm ở đó, ban ngày chẳng ai qua lại, ban đêm chỉ nghe tiềng “tắc xùm” , “lum đum” thỉnh thoảng đệm tiếng “ì ầm” đạn “móc chê”, vài ngày lính “Lê dương” đi lùng, xóm làng tiêu điều, người dân luôn sống trong phập phồng lo sợ. Cho đến trước năm 1954, đồn Tây triệt thoái, khoảnh đất đó lại họp chợ trở lại. Vùng chợ Cạn trở nên nhộn nhịp, cư dân trở về đất cũ làm nhà, mở quán, bày gian hàng, chợ Cạn từ từ thay da đổi thịt.  Từ cuối thập niên 1950, trụ sở hành chánh xã Triệu Sơn được xây lên bên kia con khe.  Chợ Cạn nhóm vào buổi sáng sớm, đêm về thường là nơi tụ hội sinh hoạt văn nghệ giải trí cho cư dân trong vùng sau một ngày ruộng vườn vất vã. Những đoàn chiếu phim lưu động của thông tin thường đến công tác nơi đây, những phim hoạt họa về y khoa phòng ngừa hoặc phim hài hước ngộ nghĩnh rất vui, đó là khởi điểm những ngày “phồn vinh” của chợ Cạn. Ban ngày, phần đông trẻ nhỏ rất thích ra chợ xem những toán bán thuốc quảng cáo “Mãi võ Sơn Đông”, cùng nhau quây quần quanh người bán hàng để xem diễn trò với những lời nói vui tai, trò xiệc lạ mắt.


Đây có lẻ là giai đoạn phồn hưng nhất của chợ Cạn. Chợ được xây đình quán nền lát, mái lợp tôn xi măng, một số người có vốn chuyên sống bằng kinh doanh buôn bán đã cất nhà ở và mở những gian hàng quanh khu chợ, những dịch vụ như quán may, quán hớt tóc, lò rèn chuyên làm và sửa chữa nông cụ… nói chung sinh hoạt chợ trở nên đa dạng và sầm uất hơn trước kia rất nhiều. Hình trạng này được giữ lại cho đến cái ngày, khi bóng dáng những người bên kia bắt đầu thập thò cuối khe vào những buổi chiều vắng sự kiểm soát của toán dân vệ đi tuần tiểu, và cũng từ đó cuộc sống người dân phải kinh qua nhiều biến chuyển bởi cuộc chiến, chợ Cạn vẫn họp nhưng độ thăng tiến không còn nữa, nó trở nên nơi trao đổi mua bán hàng hóa, nhu yếu qua ngày đoạn tháng, cho đến một lúc chỉ còn tên mà không còn chợ nhóm vì đất đai làng mạc thành bình địa, ruộng vườn khô cháy, đồng lúa bỏ hoang, quang cảnh hoang tàn xơ xác. Mãi đến sau ngày tàn cuộc chiến chợ mới nhóm trở lại, nhưng thật bèo nhèo nghèo nàn tả tơi giữa đám đất khô khan, hàng quán xiêu vẹo tồi tàn, mãi tận hai chục năm sau, chợ Cạn mới có hơi thở hồi sinh, nhưng lấy lại phong độ như thuở nào cũng gay go trần khổ.


Sau bao nhiêu năm lưu lạc, tôi trở về thăm lại quê hương đúng mười năm từ ngày ngưng tiếng đạn xéo bom gầm, về thăm lại Quảng Trị để lần nữa tận mắt nhìn đổ nát hoang tàn của cổ thành, dấu vết trường xưa Nguyễn Hoàng không còn nữa. Bùi ngùi nhớ nhớ thương thương, tôi háo hức về xem lại thôn làng, thăm lại mảnh đất hương hỏa, nơi tôi có những tháng năm buồn vui khổ đau của tuổi thơ. Trời nhá nhem tối không còn chuyến xe về chợ Cạn, đang giữa tiết Đông với giá buốt lạnh lùng không thể đi bộ; đành hỏi nhà một người bà con trú tạm qua đêm, sáng hôm sau người bà con này lại cho tôi chuyến xe Honda về tận làng.


Về đến chợ Cạn chúng tôi dừng xe vài phút , nhìn lại cảnh cũ, mảnh đất ấy đã hiện về trong tôi những tháng năm hai mùa mưa nắng chúng tôi tụ hội nơi đây cùng đi cùng về, biết bao kỷ niệm còn đây khi trên đầu có hai thứ tóc mà muối nhiều hơn tiêu, cuộc đời thăng trầm xuống lên bầm dập, nhưng hình ảnh những ngày tháng xa xưa ấy sao mà dễ thương, hồn nhiên và đẹp đến thế!  Những ngày lưu lại với làng, mấy dạo lân la ra chợ Cạn, tìm về kỷ niệm ngày nào, hình ảnh những cô nàng thôn nữ duyên dáng má ửng sắc hồng dưới vành nón quai đen nụ cười e thẹn long lanh đôi mắt huyền mộc mạc, những nàng nữ sinh áo trắng trường tỉnh đạp xe qua về trên đường chợ quê, tay mân mê sách vở, lòng xây đầy mộng đẹp ngập tràn ước mơ.  Và những cậu con trai trong vùng được học hành, có tí văn minh tỉnh thành đô hội, ra với đời thì chả bằng ai nhưng về quê đã là “tài hoa trí thức”.


Nhìn cảnh cũ nhớ lại người xưa, bao nhiêu kỷ niệm tuổi thiếu thời hiện về, tìm ai không biết hỏi ai, bạn bè cùng trang lứa một thời người còn kẻ mất, ngậm ngùi trước bao đổ nát của quê hương sau những năm tháng dài triền miên quằn mình trong khói lửa, xót thương những thằng bạn đã nằm sâu trong lòng đất, số khác đa phần lưu lạc tận nhiều vùng xa xôi dẫu có nghe tin nhưng dễ gì liên lạc, một nỗi buồn rười rượi len vào tâm tư, để rồi mang đi từ đó… Mỗi lần nhớ về quê nhà ngoài làng mạc ruộng vườn đường đi lối xóm, chợ Cạn cũng hiện về với tôi qua nụ cười người con gái ngây thơ, tất cả đã để lại nỗi nhớ suốt đời cho người xa xứ. Như đã nói: đến nay chợ Cạn đã được di dời qua một địa điểm cách vị trí cũ không xa , bên kia con đường nơi trước kia là trụ sở hành chánh xã Triệu Sơn, dù chỗ mới hay cũ chợ Cạn vẫn là chợ Cạn, chợ Cạn của tôi những ngày xa xưa ấy là môt bầu trời kỷ niệm, là niềm vui của tuổi hoa niên, là niềm thương nỗi đau của những ngày ly tán, và nỗi nhớ khôn nguôi của ngày biền biệt ly hương.


Chợ Cạn mãi còn giữ lại trong tôi một vòm trời riêng rẽ với nét vẽ quê hương xuyên những con đường rợp bóng mát cành tre, những đêm hè oi ả rong chơi dưới ánh trăng lồng qua cành lá, những ngày thu se lạnh với lá vàng nhẹ nhàng bay lất phất trên lối về, những mùa đông lạnh lùng dầm dề mưa lụt, và những ngày lễ hội rộn ràng trên con đường quê trải dày cát mịn lối đi ngõ về xuyên ngang chợ Cạn, bao nhiêu hình ảnh quay lại từ những tháng năm xa xưa, tất cả đều đầm ấm hiền hòa của một thời an bình từng có trên vùng trời quê hương yêu dấu.


Trên vùng đất quê hương hầu như tôi đã đi qua khắp mọi miền đất nước, từ những thành phố lớn với những ngôi chợ sầm uất tiếng tăm, rồi trên bước đường chiến chinh, tôi cũng từng biết đến nhiều chợ quê nghèo và cả những ngôi chợ đã tả tơi sau chiến trận, những gì đã thu góp được dưới đôi mắt mãi còn lưu lại trong tim như món hành trang giữ vào ký ức mang theo khi rời quê mẹ, nhưng đặc biệt hình ảnh chợ Cạn quê tôi gợi lại đậm đà qua quãng đời niên thiếu nơi thôn dã, một ấn tượng sâu sắc khắc dấu vết hằn in thành nỗi nhớ không nguôi. Đôi lần đọc được trong bút ký thời binh lửa của vài tác giả đã nhắc đến chợ Cạn quê tôi, lòng cứ bồi hồi nhớ nhớ thương thương về chân trời dĩ vãng.  Xin cám ơn người! đã dành cho mảnh đất khô khan cằn cỗi ấy một mảnh vụn nhớ nhung dù cho nhỏ nhoi bằng những lời văn mượt mà gợi cảm.
Và giờ đây, tôi đang viết về chợ Cạn như một lời tâm tình: với những ai đã từng có lần dẫm bước đi qua; với những đồng hương vùng của tôi và cũng xin chia xẻ với mọi người về nơi quê nghèo nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời, để rồi lớn lên chứng kiến cảnh quê mình phải gánh chịu bao đắng cay trần ai thế cuộc.  Tôi không thể nào tả nó đầy đủ qua từng giai đoạn đổi thay tường tận, nhưng tựu trung chợ Cạn là môt chợ quê xứ nghèo, tự nó đã mang đầy đủ tính văn hóa dân gian Việt Nam thuần khiết như bao nhiêu cái chợ quê trên khắp quê hương mình, với tôi và có thể với tất cả những người vùng của tôi thì chợ Cạn là một vòm trời kỷ niệm khó quên, cho nên dù xa xôi cách mấy khi nhớ về quê nhà không thể quên được ngôi chợ quê nghèo nàn đơn sơ mà đậm đà thương nhớ.

Trần Quốc Phiệt
READ MORE - CHỢ CẠN: QUÊ HƯƠNG NỖI NHỚ KHÔN CÙNG - Trần Quốc Phiệt

Monday, February 20, 2012

BẠN HỮU - Trần Bình

 Trần Bình

Cách nhau nửa giờ xe máy
Triệu sơn ở phía không rừng
Khói đồng vương thơm ngõ xóm
Tri âm hò hẹn về cùng

Chợ sao có tên chợ Cạn?
Làng quen, ân nghĩa: Đồng bào* ?
Văn phong* cả chiều quê kiểng
Duyên đồng hương nội trao nhau

Rượu ngon rót tràn ly cốc
Thơ vui trải chiếu men nồng
Bạn đời , bạn văn, bạn học....
Dang tay , cạn chén ...
                              dốc lòng

 
Bổ bả những niềm yêu mến
Câu thơ rứt ruột cho mình

                                                                                     21/9
Trần Bình
                                                         tranbinhga@gmail.com

* Tên làng: Đồng bào, Văn phong
READ MORE - BẠN HỮU - Trần Bình

TUỒNG CHỢ CẠN: BAO GIỜ TRỞ LẠI - Linh Nhân



 Nghệ sĩ Xuân Lư trong một vai diễn


Chợ Cạn vốn là một địa danh nổi tiếng từ thời nhà Nguyễn, nay thuộc xã Triệu Sơn, huyện Triệu Phong (Quảng Trị). Chợ Cạn thành danh, được chào mời, truyền tụng, thậm chí được nhắc đến nơi chốn cung đình lầu son gác tía bởi nó gắn liền với cái tên "Tuồng Chợ Cạn" - một gánh tuồng ra đời nơi thôn dã xúng xính đào, kép quần lụa áo the. Người ta có thể không ngờ nó đã "nằm lòng" vĩnh viễn trong cái nôi dân ca để làm đại diện hiếm hoi cho môn nghệ thuật sân khấu tuồng cổ điển của một vùng đất. Tiếc thay, Tuồng Chợ Cạn cứ như kẻ tài hoa vang bóng một thời...

Thăng trầm Tuồng Chợ Cạn 

Trong cuốn băng ghi hình sơ khảo diễn 2 vở tuồng: Phạm Công Cúc Hoa và Nghêu Sò Ốc Hến của một đồng nghiệp quay cách đây 6 năm, tôi may mắn được xem Tuồng Chợ Cạn. Nghệ sĩ Xuân Lư làm đạo diễn.

 Nghệ sĩ Xuân Lư thuộc lớp "đồng ấu" của Tuồng Chợ Cạn. 15 tuổi, ông đã đi theo gánh tuồng, giữ chân chạy cờ, tiếp rượu. Cùng thời với ông có nghệ sĩ Lê Quang Nghệ nhưng nay đã là người thiên cổ. Còn Nghệ sĩ Nhân dân Ngô Thị Liễu, nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Trung ương, cũng đã xuất thân từ những vai "cô đào" trong cái nôi Tuồng Chợ Cạn. 


Trong kho tàng dân ca Bình-Trị-Thiên, Tuồng Chợ Cạn có từ thời Nguyễn Hoàng (thế kỷ XVII). Người lập ra gánh tuồng Chợ Cạn đầu tiên là ông Thất Luận, người làng thợ kèn Hiền Lương (Huế), làm lính võ ca (ca vũ cung đình) dưới triều Khải Định. Gánh tuồng thường khoảng 15 người, gồm: đào, kép, chạy cờ, tiếp rượu, bán vé, nhắc vở, ráp nhạc. Vé xem tuồng có 2 loại: Vé tam liên (3 tiền) và vé ngũ liên (5 tiền), mỗi đêm bán một màu vé cho khỏi lẫn. 


Chân "chạy cờ" hồi xưa của Xuân Lư đã làm ông trẻ lại. Bao giờ cũng vậy, hễ nhắc đến "chạy cờ" là ông lại nhắc nhỏm, co duỗi cái chân đau bên phải, như thể ông sắp chạy đến vạch vôi nào đó của sân tuồng. Ký ức Xuân Lư lổn nhổn những hình ảnh sân khấu tuồng vòng cung ba mặt như rạp xiếc, huyên náo âm sắc tiếng nhị, trống, kèn, thanh la; rồi tiếng "kép" chói tai, tiếng "đào" nỉ non, ai oán, lơi lả... xúng xính đào - kép quần lụa áo the trong các điệu hát tướng tá, hát tẩu mã, thương ai, nam xuân và những bước chân chạy cờ rậm rịch. 


Theo nghệ sĩ Xuân Lư thì các làn điệu: Nam xuân, nam ai, nam bằng trong ca Huế đều là những biến tấu của điệu nam xuân sân khấu tuồng. Dân chúng xem tuồng mỗi đêm ba bốn trăm người, quây kín ba mặt sân khấu. Tuồng Chợ Cạn nổi tiếng ngót 2 thế kỷ. Gánh tuồng chu chuyển vào tận chốn cung đình phục vụ các ngày lễ tế trong cung đình nhà Nguyễn, nhất là tế Đàn Nam Giao và trình diễn cho Vua ngự lãm. Mãi đến năm 1947, Pháp đánh vào Chợ Cạn và từ đó Tuồng Chợ Cạn đứt gánh.


Nghệ sĩ Xuân Lư có 9 năm làm Trưởng Đoàn ca kịch Bình-Trị-Thiên, từng đoạt Huy chương vàng Liên hoan đàn và hát dân ca miền Trung, nhưng hình như, kỷ vật được ông "gói ghém" cẩn thận trong lòng lại là chân "chạy cờ" gánh Tuồng Chợ Cạn! Vì chuyện đó, và cũng vì dự án vực lại Tuồng Chợ Cạn gần nửa tỷ bạc lâm vào cảnh "đánh trống bỏ dùi" mà Xuân Lư than mình là "người cuối cùng của gánh Tuồng Chợ Cạn mà vô duyên!".


Một phận tuồng 

Lần về Chợ Cạn mới đây, tôi đã gặp một khán giả của gánh tuồng xưa. Tôi hỏi bà cụ Hoà 74 tuổi, người Như Lệ (Hải Lệ), có biết bác Lư không, cụ nói như reo: "Biết. Răng lại không biết?! Cu... Lư chạy cờ. Chú bỏ quá, hồi nớ còn con nít. Cái thằng hấp tấp, toàn chạy hụt hoặc chạy quá, làm rớt cờ xuống đất. Bọn tui cười cho! Tui có cất một cái vé coi tuồng 3 tiền màu đỏ, nhưng sác (lẫn) đi mô tìm không ra. Tiếc thiệt!". Bà cụ tiếc cái vé 3 tiền hẹn bạn xem tuồng đúng vào ngày Pháp đổ về Chợ Cạn. Nghệ sĩ Xuân Lư không biết cụ Hoà, nhưng có lẽ, như thế cũng đủ cho một đời làm nghệ thuật. Biết bao nhiêu biến cố thăng trầm đã qua mà cái chân "chạy cờ" vẫn còn người nhớ thì đâu phải vô duyên!


Cứ mỗi lần tiếp chuyện với Xuân Lư, vô tình hay cố ý, ông thường lái câu chuyện về cái "áo sắm tuồng" của Thất Luận. Dù bị Pháp tra khảo, người chủ gánh Tuồng Chợ Cạn vẫn một mực không giao nộp “áo sắm tuồng”. Liên hệ chuyện đó và nói ra chuyện khôi phục Tuồng Chợ Cạn, Xuân Lư cứ như kẻ lỡ làng. Gương mặt đau yếu của ông lợt lạt, xám ngoét. May thay, lão nghệ sĩ đổi đề. Máu tuồng đâu đó bỗng bốc lên chỗ vùng họng, nơi âm vực tuồng lấy hơi ở đó, giọng Xuân Lư đột ngột váng lên lời "Vua" thét: "Bay đ...âu, ném thằng này xuống ng...ục!". Đốm sáng hai con ngươi phát quang trong đôi mắt người diễn tuồng, xương bả vai gồng lên dữ dội, như thể chỉ một tích tắc nữa, "Vua" sẽ rút phăng bảo kiếm để kết liễu kẻ tội đồ!


Nay mai, có lẽ tôi sẽ nhớ Xuân Lư không nhiều bằng nhớ bà cụ đã để "sác" chiếc vé tuồng 3 tiền màu đỏ. Trong ánh mắt bà cụ, tôi ngẩn người ra bởi câu hỏi của bà: Có phải Tuồng Chợ Cạn "một đi không trở lại"? 

 Linh Nhân
Nguồn: http://ca.cand.com.vn/vi-VN/xahoi/2008/8/64605.cand

READ MORE - TUỒNG CHỢ CẠN: BAO GIỜ TRỞ LẠI - Linh Nhân

NGÀY XUÂN ĐI TÌM TUNG TÍCH TUỒNG CHỢ CẠN - Trương Hữu Quý

Quảng Trị là mảnh đất có bề dày lịch sử, văn hóa và văn học nghệ thuật song cũng là mảnh đất chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiến tranh, ly tán, hủy diệt… Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, trong đó có tuồng chợ Cạn, một bộ môn nghệ thuật độc đáo đi kèm với nghề xướng ca cũng đã lụi tàn. 

Lần theo một số bài viết ít ỏi của những người đi trước, mùa xuân này chúng tôi tìm gặp một số nghệ nhân ở vùng chợ Cạn, đặc biệt là nghệ sĩ Xuân Lư (hậu duệ đoàn tuồng chợ Cạn), cho phép thế hệ hậu sinh chúng tôi phác thảo ra những đường nét cơ bản về đoàn tuồng này.

Chợ Cạn vốn là một trung tâm thương mại được hình thành khá sớm ở xứ Đàng Trong, thuộc huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Mãi cho đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chợ Cạn còn thể hiện vai trò đầu mối trung tâm của cả một vùng đồng bằng rộng lớn ven biển bao gồm 5 xã Triệu Sơn, Triệu Thuận, Triệu Trạch, Triệu Trung và Triệu Lăng.
 


 Bấy giờ cứ 10 ngày thì chợ Cạn có một phiên chợ. Nhờ vào vị trí đắc địa này mà nơi đây đã từng tồn tại một loại hình nghệ thuật nổi tiếng ở miền Trung mà nhân dân quen gọi là tuồng chợ Cạn. Thế nhưng để trả lời câu hỏi, tuồng chợ Cạn ra đời và được hình thành như thế nào thì chưa ai có câu trả lời thỏa đáng.

Năm 1996, Tiến sĩ Nguyễn Bình Phó Giám đốc Sở VH -TT Quảng Trị (nay là Sở VH, TT- DL) trong Đề án “Nghiên cứu, bảo tồn và khôi phục nghệ thuật tuồng chợ Cạn” có nêu: “Có ý kiến cho rằng tuồng chợ Cạn được hình thành dưới thời các chúa Nguyễn. Quảng Trị là điểm dừng chân đầu tiên của chúa Nguyễn, thủ phủ Ái Tử (1558-1570) đến thủ phủ Trà Bát (1570 -1600) và Dinh Cát (1600 -1626). 


Trong 68 năm tồn tại trên đất Quảng Trị trước khi thiên di vào Phú Xuân, những lớp người đầu tiên đã mang nghệ thuật dân gian tuồng ở Bắc vào tự diễn cho nhau xem để làm khuây khỏa, vơi đi nỗi nhớ về cố hương. Lối diễn sơ khai này có thể là tuồng đồ (như là một thứ hát bộ, sau dần nâng lên tuồng pho và tuồng thầy). 


Có người cho rằng tuồng chợ Cạn được hình thành dưới triều vua Tự Đức (1848- 1883), một ông vua giỏi văn chương và mê các loại hình nghệ thuật, đặc biệt là tuồng. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng tuồng chợ Cạn xuất hiện khá muộn vào những năm đầu thế kỉ XX mà cụ thể là dưới thời vua Khải Định (1916-1925). Vấn đề nguồn gốc xuất xứ và thời điểm hình thành tuồng chợ Cạn là một đề tài lý thú cần phải được đi sâu nghiên cứu để có thể tìm ra lời giải đáp thỏa đáng”. 


Đặt vấn đề như Tiến sĩ Nguyễn Bình quả là đúng mức, vì do đặc thù tuồng chợ Cạn là nghệ thuật biểu diễn dân gian, lại do chiến tranh và ly tán, chỉ tính từ thời chống Pháp và chống Mỹ mới đây thôi thì hoạt động biểu diễn đã không có điều kiện để tồn tại trong một thời gian dài nên khó lòng đưa ra những kiến giải xác thực. 


Điều đáng tiếc là hiện nay, khi tìm về hoặc tiếp cận với đoàn tuồng chợ Cạn như nội dung bài bản, phương thức, quy mô hoạt động của đoàn thì gần như đã bị phong kín bởi người trong cuộc và nhân chứng đều đã trở thành người thiên cổ, không ai để lại dòng ghi chép hoặc vết tích gì.


Ở vào thời điểm là năm 1996, khi Tiến sĩ Nguyễn Bình trong đề án trình Bộ VH-TT vừa nêu trên là thời điểm còn mang tính khả thi vì theo ông thì “những nghệ nhân tuồng cao niên, những người già am hiểu đã một thời sống và gắn bó với tuồng chợ Cạn hiện đang còn sống, chúng ta có thể dựa vào các nhân chứng, các nghệ nhân này mà chấn hưng phát triển tuồng chợ Cạn như: Nghệ sĩ Xuân Lư, 68 tuổi; cụ Trần Cương, 82 tuổi hiện sống ở chợ Cạn; nghệ nhân Ngô Thị Liễu, 78 tuổi, người Như Lệ - Quảng Trị sống ở Huế, ông Có, 76 tuổi, một nghệ nhân tuồng hiện đang sống ở Đà Nẵng. Ngoài ra còn có những nhà nghiên cứu âm nhạc, nghiên cứu văn hóa am hiểu về tuồng như Lê Quang Nghệ, Trần Quốc Tiến, Trần Thanh Tâm, nhà nghiên cứu tuồng Hoàng Châu Ký...”.

Tất cả những chỗ dựa mà chủ đề án nêu trên, nay chỉ còn nghệ sĩ Xuân Lư, nhưng ông đã nằm một chỗ do tai nạn giao thông gần chục năm nay rồi. Rất may là nghệ sĩ Xuân Lư, hội viên Hội VNDG Việt Nam vào mùa xuân này sức khoẻ và tinh thần còn đang dồi dào, minh mẫn. 


Và đã ký thác vào thế hệ chúng tôi những điều ông tâm huyết về văn nghệ dân gian vùng đất Quảng Trị, trong đó ông đặc biệt lưu tâm đến tuồng chợ Cạn, vì đó là nơi ông sinh ra, là cái nôi nuôi dưỡng ông trở thành nghệ sĩ. Kể điều này ra để thấy, mọi ứng xử chậm trễ đối với di sản văn hóa phi vật thể như tuồng chợ Cạn chẳng hạn, là rất ngặt nghèo. 


Bằng những gì nghệ sĩ Xuân Lư cung cấp và dựa vào lát cắt là lúc cụ Thất Luận làm Trưởng đoàn, tức ở vào giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của đoàn tuồng chợ Cạn, chúng ta vẫn có thể phác thảo, dựng lại được quy mô và phương thức hoạt động của đoàn. 


Địa bàn hoạt động, biểu diễn của tuồng chợ Cạn trước hết dựa vào lợi thế những phiên chợ Cạn 10 ngày nhóm họp một lần; khi có công chúng tập trung hết sức tấp nập đông đúc thì đoàn tổ chức biểu diễn. Tương tự đoàn tuồng chợ Cạn (theo lời kể của nghệ sĩ Xuân Lư và một số người dân trong vùng) thường đến biểu diễn ở các đình chợ trong tỉnh như đình làng Câu Nhi (huyện Hải Lăng), Chợ Phiên (Cam Lộ), Chợ Đình Bích La (Triệu Phong), chợ đình Mai Xá (Gio Linh), đình làng Lập Thạch cạnh chợ Hôm, chợ làng Đông Hà... 


Có năm đoàn tuồng chợ Cạn ra tới Quảng Bình, đặc biệt hơn là những chuyến được mời vào Huế diễn. Đoàn hát theo hai phương thức hoặc là tự tổ chức hoặc được mời tới diễn. Nếu tự tổ chức thì tự bán vé, trả tiền cho nơi diễn về khoản thuê rạp. Ngược lại nơi nào đó mời thì tiền bán vé nơi mời tự thu, họ chỉ trả cho đoàn thù lao từng vỡ diễn theo thỏa thuận nhưng tiền thưởng thì đoàn được hưởng riêng. Thời gian diễn vì vậy cũng tùy theo yêu cầu đôi bên thỏa thuận. Thường một vỡ diễn kéo dài hơn một tuần. Nếu rút ngắn thì còn 3 đêm diễn gọi là dàn vỡ, còn kéo dài thì có khi đến nửa tháng. 


Lúc cụ Thất Luận làm trưởng đoàn tuồng chợ Cạn thì số diễn viên và việc phân bổ các vai diễn như sau: 


Vai kép:
Ông Thất Luận (tên thật là Trần Văn Luận ở Thượng Trạch, Triệu Sơn ) vừa là trưởng đoàn kiêm đạo diễn, diễn viên; ông Kiểm Ứng (tức là Trần Ứng, làng An Phó); ông Trần Hùng, ông Trần Công Đốc; ông Huỳnh Tỵ, ông Trần Lạng (tức Bát Lạng ); ông Lê Trong, ông Lê Thẻ (Cửu Thẻ ); ông Trần Dục (làng An Lưu, vai hề ), cụ Thiệp...

Vai đào:
Cô Trần Thị Huế (con ông Trần Công Đốc ); cô Trần Thị Kiến, bà Đốc (vợ ông Trần Công Đốc ); cô Lê Thị Huế; cô Trần Thị Liễu, vai mụ; bà Trần Thị Nậy...

Nhắc tuồng:
Ông Diệu Sâm.

Ngoài ra còn có các thành phần chạy hiệu và các đào kép các nơi khác được mời về tham gia. 


Trong những năm hoạt động sôi nổi, đoàn đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong nhân dân nhờ những vai diễn đặc sắc. Phần lớn các vỡ diễn này rút từ tích truyện của Trung Quốc như: “Mạnh Lệ Quân”, “Tam Hạ Nam Đường”, “Tam Quốc”, “Tây Du” nhưng cũng có những vỡ rút từ tích cổ dân gian như “Thạch Sanh Lý Thông”, “Thoại Khanh Châu Tuấn”, “Phạm Công Cúc Hoa”, “Lâm Sanh Xuân Nương”. 


Một số vỡ bi hùng khác lấy đề tài từ trong những cuộc tranh chấp, chính tà để giành ngôi báu rất thích hợp với khán giả đương thời như “Đào Phi Phụng”, “Tam Nữ Đồ Vương”... Đặc biệt là vỡ “Sơn Hậu”, đây là vỡ tuồng đặc sắc của đoàn tuồng chợ Cạn. Các nghệ nhân thủ vai chính trong vỡ này vẫn được người dân truyền tụng và nhắc đến với lòng ngưỡng vọng đó là: Ông Thất Luận (vai Phân Định Công), ông Kiểm Ưng (vai Tạ Ôn Đình), ông Trần Dục (vai Khương Linh Tá, ông Trần Hùng (vai Đổng Kim Lân)... 


Thời kỳ đoàn tuồng chợ Cạn phát triển mạnh là lúc tuồng ở Huế nói riêng và tuồng miền Trung nói chung đang đi vào con đường suy thoái, tàn tạ. Tuồng cung đình không được giới quý tộc nâng niu, say mê thưởng ngoạn như vào những năm cuối thế kỷ XIX thì riêng tuồng chợ Cạn vẫn giữ được những nét truyền thống và tiếp tục phát triển. Nhà hát tuồng chợ Cạn (ca trường) được xây dựng theo lối truyền thống gần giống với trường hát Đồng Xuân Lâu ở Huế. 


Trang trí sân khấu được thể hiện công phu, đẹp, nhưng thường chỉ vẽ một cảnh, không thay đổi và không có các loại phông màn khác. Nhạc cụ tuồng chợ Cạn thường được sử dụng là hai trống chầu đặt hai đầu, trong những lần biểu diễn người cầm chầu là một khán giả thạo tuồng được đoàn mời, chủ yếu là đánh trống thưởng; thưởng có tiền thì giục một hồi, khen nghệ thuật diễn thì điểm một trống. 


Trống chầu được đặt trên chòi, ngoài ra nhạc cụ còn có thanh la, đàn bầu kèm sanh sứa (sứa làm bằng sừng trâu kêu rất trong tiếng). Về diễn xuất tuồng chợ Cạn người ta phân biệt có: tuồng đồ (lối diễn xướng như hát bộ tự nhiên, giản dị), tuồng pho (diễn theo lối chương, hồi có lớp, vỡ theo điển tích, điển cố, tuồng thầy (tức có thầy thạo tuồng dàn dựng, bày vẽ diễn xuất). Về điệu thì chủ yếu sử dụng các làn điệu như: Nam, Khách, Tẩu mã. Nam (có Nam thương, Nam bình, Nam ai... tùy theo tâm trạng mà dùng); Khách (là làn điệu vương trượng, sang trọng thường dùng cho tướng lĩnh, vua chúa) Tẩu mã (dùng khi ra trận, chinh chiến, theo tiếng vó ngựa).. . 


Qua những gì đã trình bày ở trên, chúng tôi có thể đưa ra nhiều hướng nhận định, trong đó có một hướng là: Liệu tuồng chợ Cạn ở Quảng Trị có phải là một trường phái tuồng riêng biệt hay cũng như các đoàn tuồng khác (như đoàn Thanh Bình ở Huế chẳng hạn) hoạt động ở địa phương chợ Cạn? Chúng ta hãy tham khảo ý kiến của Phó Tiến sĩ Tôn Thất Bình về mối giao lưu văn hoá văn nghệ khá đậm đà giữa Quảng Trị và Thừa Thiên Huế: “Đóng góp cho nghệ thuật tuồng Huế, ở Quảng Trị có các nghệ nhân nổi tiếng như Trần Văn Luận thuộc lò tuồng chợ Cạn (nay thuộc xã Triệu Sơn, Triệu Phong) được phong thất phẩm, nhiều lần được mời vào kinh đô để trình diễn và dạy tuồng.


Trong những ngày ở tại Huế, Thất Luận vẫn thường gặp gỡ các đội trưởng đội tuồng Thanh Bình để bàn bạc về nghệ thuật, nhiều lần trình diễn cùng các nghệ nhân xuất sắc của Huế tại rạp Đồng Xuân Lâu(1) một rạp hát dân gian có quá trình hoạt động lâu nhất ở Huế (1923-1983). Nghệ nhân Trần Xuân Dục, cũng thuộc lò tuồng chợ Cạn, nguyên trưởng đoàn múa hát cung đình Huế (Ba Vũ) là nghệ nhân xuất sắc của rạp Đồng Xuân Lâu, có cuộc sống gắn bó với Huế gần suốt cuộc đời(2), rất nhiệt tình và chân thật trong cuộc sống nghệ sĩ. Bà Ngô Thị Liễu ở Như Lệ, nguyên Giám đốc nhà hát tuồng Trung ương Hà Nội, thời còn trẻ là dâu của ông trưởng đoàn tuồng ở Huế là ông Tá Heo (do có chức Tá quốc khanh). Đây là đoàn tuồng đặc biệt, các diễn viên trong đoàn đều là người trong gia đình, con trai, con gái, dâu, rể đều là đào kép.

Trong mối duyên tình văn nghệ ấy, bà Liễu đã kể lại lòng say mê, háo hức, bồn chồn của mình khi đội tuồng Thanh Bình từ Huế ra Quảng Trị trình diễn. Trong những dịp hiếm có ấy, cô bé Liễu được tiếp xúc với các tài danh Huế bấy giờ như cô Cháu Em, cô Ba Thôi, chú Bát Cao, chú Cửu Đốc, thầy Đội Em, khát khao mơ ước thành một nghệ sĩ nổi tiếng như họ. Theo tiếng gọi của nghệ thuật, cô đã trốn nhà ra đi, vừa tránh cái nạn phải chịu lấy tên Tây phó sứ Quảng Trị đang sai mối lái đến hỏi, vừa để thực hiện nguyện ước hằng ấp ủ của mình. Trở thành dâu của ông Tá Heo, đó là bước đầu tiên dẫn cô đến với nghệ thuật tuồng. 


Trường hợp cô Liễu cũng giống như ông Thất Luận, ông Trần Xuân Dục, là những người từ đất Quảng Trị vào Huế để góp phần phong phú hoá nghệ thuật tuồng ở đây. Ngược lại có trường hợp các quan lại của kinh đô Huế được bổ ra Quảng Trị đã làm khởi sắc phong trào tuồng ở đây như cụ Nguyễn Hiến Dĩnh, thời gian làm Án sát ở Quảng Trị đã cho dựng một rạp hát rất lớn ở trong thành Quảng Trị, tổ chức một đội hát tuồng, diễn viên của đội hát được ăn lương theo lối tổ chức quân đội nhà Nguyễn. Đội hát này hằng đêm diễn tuồng cho nhân dân xem, rất được quần chúng hoan nghênh(3)...” 


Điều này giải thích thêm là vì sao các nghệ sĩ là diễn viên đoàn tuồng chợ Cạn đều được triều đình Huế phong tặng phẩm hàm.

Cuối cùng như đã nói, tất cả do chậm trễ mà không phục hồi được tuồng chợ Cạn, một bộ môn nghệ thuật gắn với các nghệ sĩ làm nghề xướng ca đã tàn lụi, nhưng thật sự nó đã thất truyền chưa? Trả lời câu hỏi này xin dành cho ngành văn hoá.
                                ***

(1) Nghệ nhân Trần Văn Luận đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp, hiện ở xã Triệu Sơn còn bảng ghi công.
(2) Sau giải phóng 1975 nghệ nhân Trần Xuân Dục vì điều kiện kinh tế khó khăn đã cùng gia đình đi kinh tế mới ở Sông Bé và đã mất ở đấy.
(3) Xem: “Tính tương đồng giữa hai mảnh đất qua văn nghệ dân gian” của Tôn Thất Bình, Tạp chí Cửa Việt số 5/1990, tr.75.

 
TRƯƠNG HỮU QUÝ

Nguồn: http://baoquangtri.vn/default.aspx?TabID=99&modid=488&ItemID=38268 
Đăng lại trên trang http://langphuongson.tk/vi/
READ MORE - NGÀY XUÂN ĐI TÌM TUNG TÍCH TUỒNG CHỢ CẠN - Trương Hữu Quý

NGUYÊN QUÁN QUẢNG TRỊ - Nguyễn Quý


Em có biết nắng Đông Hà là nguyên quán Quảng Trị ?
Mây không về Triệu Phong cháy bàn chân quê Triệu An

rực hè Cửa Việt
Đôi mắt em bé Vĩnh Linh khát biển Cửa Tùng 

rùng mình Cồn Cỏ
Gió Lào to, mùa khô mẹ không đi chợ
Con cá dưới ao chiều lờ đờ khó thở
Chết trong đêm trăng.

Mãi chờ gió nồm, em về lướt qua đêm sáng
Nứt ruộng Hải Lăng
Đêm nay cúp điện
Lặng im làng buồn.

Chú bé cởi trần tắm giếng
Múc mấy gàu xối lên ngực trần tháng Sáu
Thạch Hãn đã quen rồi! chẳng thể biết đau
Đã trôi qua những mùa...
Những mùa
Những mùa...mỏi mệt
Sông vẫn mãi Sông.

Biểu dương lòng bàn tay, cục đất tròn còn mùi đạn
Cồn Tiên đồi cao su Xanh
Dạo quanh xứ sở ngỡ ngàng máu tanh
Thành Cổ đã yên bình.

Những cơn giông ậm ờ Đường Chín
Hứa hẹn Khe Sanh mưa rừng
Núi Trường Sơn úp mở tình Lao Bảo
Cam Lộ buồn biết làm sao?
Thôi ghé Cùa mà ngơi nghỉ
Bình minh ta trở lại Đông Hà
Dù em bỏ lại mình giữa tháng ba
Ta vẫn ở với nắng quê nhà và nguyên quán Quảng Trị
Mặc những mùa qua.

Lạc mất ta
Giấc mơ xa khát nắng
Ớt quê miềng dù cay đắng cũng muốn ăn
Nhớ như điên
Củ khoai lang đem luộc
Mùa rét nhai vui.

Mùng 4 Tết nhớ ghé Bồ Bản chơi
Bạn bè lâu ngày gặp lại
Lai rai cho hết một ngày (hi hi)

Rồi
Không thể hoài niệm hết những tuổi thơ. Ôi:
Những con đường đất đỏ
Những mái nhà nhỏ
Những nắng nhiều mùa
Những rét lạnh mưa
Những trăng đồng lúa
Những trường năm xưa
Những em tình cũ
Những trò rất trẻ
Những những không xuể
Quảng Trị.. Quảng Trị.

Để rồi thâm tâm rung cảm lên
Yêu Quảng Trị, yêu mạ, nhớ ba
Hỡi mình và những đứa con xa ,hãy lâu lâu về với nắng Đông Hà để biết mình còn nguyên quán Quảng Trị
Hẹn em mùa  sau nhé
Ta chờ....


Nguyễn Quý 

Ảnh minh họa của Đinh Thanh Hải: Cầu Hiền Lương
READ MORE - NGUYÊN QUÁN QUẢNG TRỊ - Nguyễn Quý