Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 2, 2011

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - NĂNG LƯỢNG CỦA CHỮ


Trước khi có chữ viết, ngôn ngữ là tiếng, tức là âm thanh. Sau khi có chữ viết, ngôn ngữ mang thêm thuộc tính mới, do những biểu hiện thị giác trên trang giấy. Như thế, khởi đầu, thơ là tiếng nói, và trong tiếng Việt, đó là các tiếng đơn âm. Ngày xưa, người đọc thơ chính là người nghe thơ: câu thơ cần dễ hiểu, dễ nhớ, và một bài thơ hay, sống được lâu dài, là nhớ vào ký ức của con người qua các thế hệ.

   Sự phá triển phức tạp của xã hội và những biến đổi về tâm lý làm cho thơ tự do và thơ không vần ngày một lan rộng, thơ trở thành một nghệ thuật nhìn lấn át hơn nghe. Nhiều nhà thơ thuộc khuynh hướng này quên đi rằng sự tiết kiệm chữ và cách sắp xếp chúng là một nghệ thuật cao cường của thơ ca, được lưu giữ lâu đời. Ngôn ngữ chứa nhiều khả năng kỳ lạ, vì vậy chúng đầy bí ẩn. Nén lại các chữ, dồn chúng vào trong những câu thơ có giới hạn, mở rộng nghĩa cho chúng, là phương pháp mà Du Tử Lê sử dụng điêu luyện, đặc biệt vào thời gian anh vượt qua tuổi bốn mươi, sau hơn hai mươi năm sáng tác.

Nhiều người đọc Du Tử Lê, lấy làm ngạc nhiên là thơ anh “bỗng hay lên một cách đột ngột” từ những năm 1980. Trong khi đồng ý phần nào với cách nhìn có vẻ đơn giản như vậy, tôi tin rằng sự phát sáng tài năng ở anh đã lấp lánh từ những năm sáu mươi.

Thoạt đầu anh viết những câu đơn giản, với nghĩa một chiều, mỗi câu là một ý. Trong đó có những câu khá tầm thường.

 Thời gian đẹp là thời gian đánh mất
Mộng không thành là mộng quá cao xa 

Hay

 Cầm bằng bãi gió mây qua
Đôi chân nhỏ dại lỡ sa vào đời 

Cho đến những câu thơ thành công hơn :

Kỷ niệm tôi từ những ngày vỡ tiếng
nhẩn nha gom từng cọng thiết tha rơi
 con dế nhỏ lớn lên đầm tiếng hát
khi đêm về ru giọng đớn đau hơn
cây niên thiếu cũng thui mầm trong sáng
lá oan khiên lả tả mái hiên người 

Thời còn ở Việt Nam, chữ của anh là chữ chất phác, mặc dù chân tình, tha thiết. Tuy nhiên anh cũng có những đột phá lạ về ngôn ngữ. Đây là dấu hiệu báo trước một tài năng chín tới, hai mươi năm sau.

 Hạnh phúc tôi từ những ngày nước lớn
Trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng
Bầy sẻ cũ hom hem chiều ngói xám
Trời xanh xao chân nhỏ cũng không về 

(1967. Khúc thêm cho Huyền Châu)
 
Sau cuộc đổi đời, lênh đênh cuộc sống di tản, nhớ nhà nhớ nước quay quắt, có lẽ một điều gì đó đã xảy ra thật mãnh liệt, đánh động tất cả giác quan , mở bừng tâm thức của anh. Điều đáng chú ý là ở một số nhà thơ khác, cũng có thể cùng trải qua những cảnh ngộ như anh, đã không có sự phơi trần hết mình trước giông bão : họ đã không gào thét như anh trên cánh đồng tâm hồn. Du Tử Lê, nhờ thế, đã bay kịp đôi cánh của chữ. Anh mở ra những kích thước mới, làm giàu thêm cho ngôn ngữ mẹ.
Đôi khi anh viết giản dị, mộc mạc :

 Người ở cùng tôi mỗi mũi đường
Lập lòe năm tháng nạm không gian
Ngỡ ai hát nhỏ, mà, sao l
Nghe rõ ràng như tiếng hát nàng 

mà vẫn gợi cảm, làm rung động người đọc. Nhưng thường thì anh viết khó hơn :

 Than, củi gọi ngày, đêm xương máu, rợn
Trí câng câng; tâm gõ nẩy bong bong
Thuở mông muội thiêng liêng rừng cỗ đá
mỗi tiếng kêu: nóng hổi một linh hồn
  
Nghệ thuật của Du Tử Lê trước hết bắt đầu ở cách chọn chữ. Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp thơ ca, khoảng ngoài hai mươi tuổi, anh dùng chữ dễ dàng.

 Buổi sáng nào quên thức trên những hàng cây xanh
Nỗi xót xa nào đậu mãi trên những cặp môi khô nhăn
Tâm hồn nào không còn chỗ dung chấp tình yêu
Lòng bao dung nào được nghĩ tới ngang như một thủ đoạn
Sự kiêu hãnh ngấm ngầm nào giết lần chúng ta 

Thậm chí đến mức dễ dãi:

Mình về phấy ấm êm
Tôi lêu lỏng suốt nghìn đêm bạn bè
Mình về phấy hiên che
Mẹ chăm giấc ngủ vỗ về nỗi con
Mình về phấy ven sông
Bán buôn chiều chợ gánh gồng tình yêu 

Đây là lỗi mà các nhà thơ Việt Nam hiện nay, không ít thì nhiều, hầu hết đều mắc phải.
Nhưng thoắt một cái, anh đã vượt qua nó. Anh chọn các chữ khó hơn, có mức nghĩa dày đặc hơn, tiếng Việt gọi là hàm súc. Điều khó khăn là các chữ như thế có thể làm cho một bài thơ trở nên mất tự nhiên, nếu không được đặt đúng chỗ. Hãy xem Du Tử Lê vượt qua cạm bẫy này như thế nào.

Và Huyền Châu
 Cánh vàng đã vỗ muôn xa
Vó thu ngựa ngủ đời ta lưng gù
Giữa vùng tư tưởng đêm lu
Tay xưa mắt nọ kỳ khu hồn người 

Giọng điệu trong bài này chân thật, nhịp đi tự nhiên, các chữ đọc trúc trắc nhưng lại hoàn toàn phù hợp với ý thơ: đã vỗ, ngựa ngủ, kỳ khu. Trong bài này chữ chìa khóa là chữ lưng gù. Các bài thơ hay thường có những chữ chìa khóa như thế.

Càng về sau, anh càng tránh được sự dễ dãi trong thơ, biết cách tiết kiệm chữ. Điều này thể hiện rõ hơn trong các bài thơ có vần, vốn là sở trường của anh. Khi viết thơ tự do, Du Tử Lê mới đầu hình như chưa nhận ra rằng bằng cách làm thơ tự do, anh đã vô tình chuyển qua một hệ thẩm mĩ khác, trong đó cấu trúc ngôn ngữ được quyết định nhiều hơn bởi các ý tưởng: không có một ý tưởng cốt lõi, xương sống, có tính độc sáng, bài thơ hoàn toàn sụp đổ. Cũng như vậy, tính mơ hồ của ngôn ngữ, vốn có vai trò quan trọng trong thơ có vần, trở nên phần nào ít quan trọng hơn trong thơ tự do.

Về sau, anh học được rất nhanh điều này, và đạt đến sự diễn cảm thoải mái trong một số bài thơ tự do thành công, mà đỉnh cao là Trường ca Mẹ Về Biển Đông.

 Khi tôi tới những bông birdflower như bầy én
Có đôi cánh vàng, chúc m
Tư thế sẵn sàng lao xuống
 
Trong ba câu thơ ngắn này, người đọc vẫn nhận ra được phong vị của một người làm thơ có vần kỳ ảo, đã tự vượt ra được, để chạm đến một bến bờ khác của ngôn ngữ.
Du Tử Lê chú ý đến các âm tiết (syllables) khác nhau trong thơ. Sau đây là các ví dụ:

-         Âm- an, -ang gây cảm giác rộng rãi mênh mông:

 Chiều dâng lênh láng chiều, giăng hàng 

-         Âm –ui gây cảm giác khô, lững lờ, hẫng:

Cây vùi, chôn nhau khôn lui
Ngọn liên hoa tạnh, gốc hồi dương, khô 
-         Âm –ách, -ất, -ấc gây cảm giác ngắn gọn, sắc, vui vẻ:

 Bông hoa mách một con đường ngắn nhất
Đem mùi hương vào tận giấc mơ người 

Một trong những đặc điểm của Du Tử Lê là anh dùng các chữ bình dân một cách táo bạo. Một số nhà thơ Việt Nam ít sử dụng các từ ngữ bình dân, có thể kể: Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền. Một số nhà thơ sử dụng rất nhiều các yếu tố dân gian, đặc biệt ca dao, có thể kể: Hoàng Cầm, Lê Đạt, Dương Tường, Tô Thùy Yên. Ít người dùng chữ như anh:

 Em xâm thực nửa đời tôi chín muỗm 
Mày đã mười năm không nhúc nhích 
Vô Kỵ được dẫn đi chữa bệnh.
Không có màn đánh nhau chí chạp.
Chỉ có Kim Hoa bà bà xuất hiện 

Các chữ như chín muỗm, nhúc nhích, chí chạp là các chữ bình dân được sử dụng đầy thuyết phục.

Sự tương tác giữa chữ này và chữ khác trong một câu thơ, về nghĩa và về âm, là một hiện tượng đặc biệt, cần những phân tích sâu hơn. Ở đây tôi chỉ xin lưu ý rằng Du Tử Lê là một trong số khá ít các nhà thơ hiện nay dành cho chúng sự cẩn trọng cần thiết. Thể hiện rõ nhất điều này, có thể thấy trong việc sử dụng vần tinh tế của anh, giấu sâu vào giữa các chữ:

 Thương mẹ đã lưng đồi
Còn nghe rừng hú mãi 

Lưng đi cặp với rừng về âm, nhưng không phải về nghĩa. Đồi đi cặp với rừng về nghĩa, không phải về âm, nhưng được kéo theo bởi lưng.

Đôi khi không sử dụng đến vần, anh vẫn có cách đặt các chữ chen vào nhau theo một vị trí làm cho chúng va vào nhau, vang lên:

 Chân đi gió tạt sầu ba hướng
Tay vói một trời: trời mưa bay 

Chữ vói hay hơn chữ với. Sở dĩ như vậy là vì hai chữ trời trùng lập, một sự hiệp vần quá chặt chẽ, vì vậy chữ với trong trường hợp này gây cảm giác dễ dãi, lười biếng. Chữ vói níu nó lại, thấp hơn, gây cảm giác hụt hẫng.
        
Thật ra Du Tử Lê ít dùng chữ lạ. Anh cũng không dùng các từ phức hợp, mà sử dụng nhiều hơn các từ thuần Việt. Các chữ thuần Việt có nội dung rõ, nghĩa cụ thể, ít gây cảm giác mơ hồ, trừu tượng, vốn có khi cần thiết, như trong tác động của các chữ Hán Việt. Vậy bí quyết của Du Tử Lê là sử dụng các chữ thường một cách táo bạo, sắp xếp lại cách nói, làm chúng trở nên mới lạ, đi những con đường chưa có người đi.
Một câu thơ của Du Tử Lê có hơn một ý tưởng, và các ý tưởng này quyện vào nhau, va đập vào nhau, tạo nên âm hưởng riêng.

 Bóng lá chính là tên giữ cổng
mời em trở lại nắng trong veo
những con bướm nhạt in trên đất
đừng dẫm lên, nghe, chút bọt bèo 

Anh dùng hai hình ảnh, sự việc, hoặc hai đối tượng, trong cùng một câu thơ: bóng lá / giữ cổng, mời em / nắng, bướm / đất, dẫm / nghe.. Sự kết hợp như thế mặc dù  phổ biến, đã được anh dùng có chọn lọc. Đôi khi sự phát triển từng cặp không chỉ diễn ra trong một câu mà cả trong một đoạn.

 Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây 

Câu lục có hai động từ, nghĩa là hai mệnh đề, câu bát có hai động từ, là hai mệnh đề khác. Đây là một trong những chìa khóa của biến ảo ngôn ngữ Du Tử Lê.
Anh còn dùng các thành ngữ khá thành công, biến các chữ quen thuộc thành mới.

Kẻ sĩ từ lâu lặn hết rồi
Ngươi còn / trơ trọi / bóng / đêm / thôi
Ai không nín thở qua cầu chứ?
người vác hoài cây thập giá đời

(Phạm Nhuận)
 
Nín thở qua cầu là một thành ngữ. Nhưng thành ngữ anh dùng là những thành ngữ mới. Các thành ngữ lâu đời hơn ít gặp. Tôi đang chạm đến một vấn đề quan trọng : đó là hiện tượng các chữ bình dân xuất hiện rất nhiều trong thơ Du tử Lê vừa nhắc đến ở trên. Trước anh, không thấy nhiều, sau anh cũng  ít gặp.

Việc sử dụng chữ bình dân trong thơ anh có năm tính chất sau đây, chúng bổ sung cho nhau, có khi lồng vào nhau.

Tính chất thứ nhất hay loại thứ nhất, là các thành ngữ, như vừa nói .

Tính chất  thứ hai, các chữ địa phương.

 Mười thế hệ sạch trơn không dấu vết
Trái đất buồn : hạt lệ đứng quay lưng.
 
Sạch trơn là một tiếng thông dụng ở miền Nam.

Các chữ địa phương này có thể có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau, được dùng rất phong phú, làm nên từ vựng riêng ( diction ) của Du Tử Lê.

 Mai này thế kỷ sang trang khác
Chẳng có ai thừa hơi hát ngao 

Hát ngao , như tôi từng được nghe, dùng nhiều ở các tỉnh miền Trung và ở Sài gòn.
Tính chất thứ ba, các chữ không hẳn là bình dân, nhiều người nói, nhưng người ta chỉ nói mà không viết. Đó là ngôn ngữ nói ( spoken language ) nhiều hơn là ngôn ngữ viết ( written language, literary language ).

ức em ấu trùng đục gốc mùa hạ cũ
trưa cao liền tiếng chim
cây dướn mình uống gió 

Dướn mình là chữ không mới và lại được dùng ở đây rất mới. Thật ra nếu anh viết rướn  thì đúng hơn, nhưng dướn là kiểu phát âm địa phương , lại trở thành một chữ khác, có âm hường lạ, ngọt ngào, thích hợp với tâm trạng.

Tính chất thứ tư, không phải là ở các chữ bình dân, mà ở cách nói bình dân, phổ biến trong một số tầng lớp.

Con đường rộng hai hàng cây đứng lại
Tôi buổi trưa, tàn khốc chia ly 

Ngày trước còn ở Việt Nam, thời trung học, tôi nhớ là , đám bạn tôi cũng hay xài mấy chữ tàn khốc, rất kiếm hiệp, nhưng không ngờ Du Tử Lê lại đem vào thơ tinh tế như vậy.

Tinh tế khó nhận ra hơn, là những cách nói sau đây :

 Sông tuyệt tự hô hào ta đứng dậy
Dang tay ra tựa Chúa kẹt chân tường 

Hay khó nhận ra hơn nữa :

 Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời 

Trong thơ Anh Mỹ, có một khái niệm gọi là thơ vernacular (địa phương, bình dân ), nhưng các bài thơ gọi là vernacular của họ không có nhiều tính chất văn học như thơ Du tử Lê, và thường được xếp vào một nhóm riêng.

Du Tử Lê đã góp phần quan trọng vào việc thi hoá ngôn ngữ đường phố, làm cho chúng có một vị trí đáng kể trong thơ anh, và bằng cách đó mà làm cho ngôn ngữ thơ Việt Nam sống động, linh hoạt, có xác có hồn, có máu thịt, có hơi hướm hoang đàng và nam tính, nhưng  riêng tư, thân mật, thuyết phục.
 
Những chữ mới của anh là mới thật :

 Đêm đầu tư thêm cho ngày
Sáng huy hoắc lá, cây lòng dạ chim
 
Chữ huy hoắc là mới, nhưng khi anh đã dùng rồi, khó thay bằng chữ khác. Như thế  ngôn ngữ  Du Tử Lê có tính hiện đại, với nghĩa là gần với đời sống và các thế hệ đương thời, ngoài các suy tưởng và cảm xúc trẻ trung, là nhờ một ngôn ngữ trực tiếp, mạnh mẽ, đôi khi trần trụi, thậm chí bất cần.

Tôi xin dẫn thêm những thí dụ khác, chỉ trong hai câu ngắn :

 Xóc dằn nỗi nhớ. Lem năm tháng
Treo lửng a tỳ nửa trái tim 

Các chữ xóc dằn, lem, treo lửng là những chữ bình dân đương thời. Tuy vậy, thơ anh lại khá xa với ngôn ngữ thuần ca dao, mà ta thường tìm thấy dấu vết rõ rệt trong một số nhà thơ, nhất là các nhà thơ miền Bắc. Có thể một phần là do anh rất ít sử dụng các từ lấp láy, là một đặc trưng của thơ Việt truyền thống và ca dao. Khi sử dụng, anh cũng có vẻ không cố tình, và thường dùng ở thể thoáng đãng.

 Tịch mịch rơi ngang trời thọ thương.
 Hôm nay trời đất lừng khừng.
 
Tịch mịch, lừng khừng là những từ lấp láy. Anh cũng gọi đến các chữ trùng lặp, hoặc vần quyện vào nhau.

 Ngày nghiêng nhớ xuống vai tiền kiếp
Chuông mõ âm âm ngã mạn nào? 
Ngày nghiêng / tiền kiếp / nghiêng tiền kiếp / âm âm / âm âm ngã mạn tạo nên hiệu ứng đặc biệt của tiếng chuông tiếng mõ, nghe rền như một câu kinh. Tuy nhiên nhìn chung thì Du Tử Lê dùng nhiều hơn các vần ở cuối trong thơ bảy chữ và tám chữ, ít dùng vần lưng, vốn là vần gây cảm giác lưu luyến.

Thỉnh thoảng những vần như thế, được anh đặt khẽ, bên nhau, dịu dàng bồi hồi :

 Soi gương thấy lệ ai còn, chảy
Chiếc lá người bay ngoài nhân duyên
 
Ai, chảy, bay, ngoài rung động cùng nhau.
 
Các chữ trong thơ có hai nghĩa, một nghĩa của từ điển, mang tính khoa học để chuyển đi các thông tin rõ ràng, các nội dung cố định, và một nghĩa đặc biệt, mênh mông hơn, mơ hồ , bí mật hơn. Nghĩa thứ hai này  tạo ra sự liên kết bằng các mạch nối ngấm ngầm. Một sự liên kết, liên tưởng như thế đã làm cho ngôn ngữ Du Tử Lê trở nên sâu xa, lay động .

 Lênh đênh hồn cắm sào ngang
Năm ô tuổi nhỏ buồn hoang ngọn cờ 

Du Tử Lê làm mới lục bát là bắt đầu từ những câu thơ như hai câu trên đây. Chúng ta hãy theo dõi anh tiếp.

dấu trong ký ức âm u
cành xương tháng chín. mưa mù tháng giêng.
hồn cây phong úa truy tầm
dấu chân. nghìn dặm. lá mừng. thôi nôi
vàng sau lưng. vàng ghế ngồi
mùa em. thu tím. rừng tôi phía nào?

 
Có ấn tượng như thể lục bát hơi chật chội đối với anh ? Có lẽ thế.
Sự làm mới của Du tử Lê là một hiện tượng đặc biệt. Tôi có cảm giác rằng không phải Du tử Lê làm mới lục bát mà chính lục bát đã làm mới anh, nghĩa là thúc đẩy anh về phía nổi loạn chữ nghĩa : cuộc nổi loạn thú vị nhất trong lịch sử loài người.

 hồn cuối bãi, tim đầu ghềnh
những chai máu lạnh. Ân tình treo cao
vói bàn tay. Vói cõi nào ?
cõi quen hơi hướm. Cõi đào thải, đau.
xe ngang cửa. Sầu lên đèo
vực sâu tiếng thảm. Chim chiều cánh, mư

Bạn có nhớ Huy Cận không ?

 Ngập ngừng mép núi quanh co,
Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang
Vi vu gió hút nẻo vàng;
Một hàng thu rộng, mấy hàng cây nao.
Dừng cương nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon…
 
So với thời đại của Huy Cận, thời đại của Du Tử Lê và của chúng ta bây giờ khác hơn : hình như càng về sau, nhất là trong và sau cuộc chiến tranh  vừa qua, người ta sống buồn hơn, khinh bạc hơn, gay gắt hơn. Vì mất mát lớn hơn.

Người như thế, cái tình như thế, thì thơ phải như thế.

Về sau anh mở rộng lục bát  bằng cách biến đổi các dấu chấm, dấu phẩy, dấu hỏi, dấu gạch chéo…Điều này dĩ nhiên không giới hạn ở lục bát , mà áp dụng cho tất cả các thể thơ khác.Anh là một trong những người đầu tiên có ý thức rõ ràng về việc làm mới ngôn ngữ bằng các dấu, và nâng nó lên thành một nghệ thuật. Nhờ cách này, một câu thơ có thể chở đi nhiều mệnh đề, nhiều câu văn phạm, đảo lộn chúng, mang lại cho chúng thêm nghĩa khác.

Hãy khảo sát một câu của anh :

 Mặt trời rơi, hẫng, nhớ nhung / đen ? 

Như thế là chữ rơi hẫng đang từ một chữ biến thành hai chữ, từ một ý biến thành hai ý. Anh cũng làm như thế với các chữ như ly biệt, oải muộn, da thịt, gió bão, vân vân bằng cách cắt đôi chúng ra. Nhớ nhung đen trở thành nhớ nhung và đen, mặt trời đen, hay cái rơi là đen?
 
Đôi khi anh rất thành công :

 Gió /nhấm nhẳng/ cất chưng mùa hẹn, hết
Vỗ đôi bờ: xương, thịt ám ui, ui 

Không hiểu sao tôi nhớ mãi câu này của anh, với tất cả những dấu chéo, dấu phẩy, dấu hai chấm rắc rối của nó. Không phải ai cũng nhớ như vậy. Và không phải câu thơ nào của anh tôi cũng nhớ được như vậy. Hai câu thơ trên đây có phải là đã được anh ngắt câu hoàn toàn  phù hợp với tâm trạng của tôi, vào lúc đọc nó lần đầu,  chiều chuyển mưa mây giông vần vũ, ở Texas, một mình, ba năm về trước, chăng?

Trong câu này:

 Ta nghĩa trang nào ? chôn, cất nhau !? 

Hai dấu chấm than và chấm hỏi đi liền nhau là một sự lạm dụng: anh đã đi hơi quá xa sức trương nở của ngôn ngữ. Nhưng dấu hỏi ( ? ) sau chữ nào, dấu phẩy ( , ) giữa hai chữ chôn cất là tiêu biểu cho cách chấm câu táo bạo đẹp đẽ của Du Tử Lê. Và thành công.
Du Tử Lê thường chẻ đôi các chữ kép quen thuộc, trong thơ và trong văn xuôi. Cách chẻ đôi như thế làm cho mỗi chữ, một âm tiết, có một ý nghĩa riêng mà khi dùng chung hai chữ liền nhau, chúng ta vô tình không nhận ra.

 Hạnh phúc nào rơi trên mái tôi
Giầy ai, xin cởi, bỏ hiên ngoài 

Hoặc :

 Không ai hiểu thịt, da tôi bìa sách 

Trong một bức thư riêng anh gởi cho tôi, phần cuối, anh viết :

 Thân, mến. 

Đó là cách nói của Du Tử Lê. Đọc kỹ, chúng rất thú vị. Và thơ mộng.

Nhân dịp này, chúng ta thử xem xét một cách tổng quát hơn, các dấu (marks) và cách chấm câu (punctuation) trong thơ anh, ý nghĩa và cách sử dụng chúng. Biết đâu sau này Du Tử Lê, hoặc các nhà thơ khác, sẽ không triển khai thêm trong thơ họ những phương hướng riêng biệt đầy thú vị bất ngờ?

Dấu trong tiếng Việt đương thời thuộc ba nhóm mà người viết tạm gọi là các dấu ký thanh, dấu của chữ và các dấu nối.

Các dấu ký thanh gồm có: huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã, (và không dấu).

Các dấu của chữ gồm có: ă, â, ơ, ư, ô.

Ở đây chúng ta sẽ chú ý đến ( cái tôi tạm gọi là ) các dấu nối,  gồm có năm loại riêng biệt :

 1/ Dấu liên hợp:

- Dấu hai chấm :

Được dùng rất nhiều trong thơ Du Tử Lê.

 Như âm, dương : nào nói nửa lời

Hay

Truy tầm lý lịch : người không bóng 

- Dấu chấm phẩy ;

gỗ lên nước gỗ ; vân lên ngọc
tiếng hát lên mầm nắng, gió thiêng

- Dấu gạch ngang – (dash)

Ít dùng.

- Dấu gạch ngang nhỏ - (linking hyphen)

Được dùng nhiều.

 trước sau nhớ lại: - không sau , trước một đời như thế hỏng hay được  

2/ Dấu bao gồm: - Dấu ngoặc đơn  (  )

Hay gặp.

 trong những bông huỳnh-anhchói vàng (ký ức) 

- Dấu ngoặc kép  “”

- Dấu ngoặc đơn in  [ ]

Chưa được dùng nhiều.

Các dấu chấm, dấu hai chấm, và dấu phẩy chẻ dọc câu thơ, trong khi  các dấu slash lại lắp ghép chúng vào, như người ta lắp các mảnh gương vỡ : chúng vừa bổ sung, làm đầy nhau, vừa chiếu rọi vào nhau, cách ngăn, dang dở. Theo tôi dấu slash sau chữ ta là thú vị, nhưng dấu slash sau em là thừa.

 

3/ Dấu tách biệt:

 - Dấu chấm  .

- Dấu phẩy  ,

 - Dấu hỏi  ?

 - Dấu chấm than  !



Các dấu này thường xuất hiện trong thơ Du tử Lê. Ngay cả dấu phẩy, vốn được nhiều người khác dùng, cũng xuất hiện nhiều hơn.


buồn cân , đo ta trong gương
chiếc khăn gỡ xuống. Tấm lòng máng, lên. 

4/ Dấu bỏ lửng:Chấm chấm chấm …

 Ít gặp.


5/ Dấu đa nghĩa:



Dấu gạch chéo / (slash). Đây là dấu trong văn nói ( spoken ), chưa được chính thức công nhận.



Như trong các ví dụ hay gặp hiện nay: được/bị, đã/đang, và/hoặc.



Chúng được dùng nhiều trong thơ Du Tử Lê .

 dậy thì/ lá/ trên cành sương góa bụahoa ngoại tình : sinh, nở hạt cây thơm



Hay :

truy thân, thế ;tước tưa hình, bóng trí tuệ thơm/mềm/nốt

trắng, đen



Hoặc :

đời sau nào ai hay đâu
bắc ngang sinh tử : cây cầu ta / em/chiều. Sông. Saint. Laurent,



Các dấu chấm, dấu hai chấm, và dấu phẩy chẻ dọc câu thơ, trong khi  các dấu slash lại lắp ghép chúng vào, như người ta lắp các mảnh gương vỡ : chúng vừa bổ sung, làm đầy nhau, vừa chiếu rọi vào nhau, cách ngăn, dang dở. Theo tôi dấu slash sau chữ ta là thú vị, nhưng dấu slash sau em là thừa. Ai đã từng băng qua sông Saint Laurent ở Quebec như tôi một buổi chiều sương xuống ướt đầm trên vai, có tâm trạng gãy nhịp của Du tử Lê trước dòng đời mênh mông vô hạn, chắc sẽ hiểu hơn sự đứt khúc, trắc trở của thơ anh trong bài này.



Việc sử dụng các dấu một cách mới lạ, táo bạo có tác dụng thẩm mỹ ra sao, các nhà thơ nên dùng đến mức độ nào, lúc nào thì dừng lại, lúc nào thì chúng trở nên quá đáng và không cần thiết, đó là những câu hỏi chưa được trả lời . Chúng ta đang bước vào một lĩnh vực mới: thơ thể nghiệm (experimental), nằm ở đường biên mà nhà phê bình duy nhất có thể chứng nghiệm là thời gian . Trong lịch sử văn học và khoa học, có những thể nghiệm không thành công và từ từ mai một, có những thể nghiệm mở đường cho biết bao khám phá về sau.  Nhưng ngay cả đối với những thể nghiệm thơ mà ngày nay chưa có câu trả lời, tôi vẫn thường thấy ở đó cái dấu ấn kỳ lạ của các tài năng thật sự, chúng trở thành nguồn hứng khởi cho những thế hệ khác.



Cần nhắc lại rằng các ẩn dụ có lẽ là phương pháp tu từ quan trọng nhất trong thơ anh. Bên cạnh đó Du Tử Lê cũng dùng  nhiều nhân cách hóa, làm sống động các đồ vật, mang  cho chúng một hơi thở riêng, mênh mang.

 Những đôi nhiễm thể trong tâm mẹTìm thấy nơi em: tượng rất buồn.



Nhân cách hóa là phương pháp thường dùng trong văn chương , không phải là điều mới lạ, nhưng ở Du Tử Lê , nó rất biến ảo, được giữ kín trong cách nói hình ảnh, như viên ngọc trong bàn tay nắm lại của một người phụ nữ. Tôi xin phân tích hai câu thơ của anh :


Chẻ đôi sông núi:  đêm bưng mặt
Mưa quấn khăn vào sâu ấu thơ 



Đây cũng là lời của một ca khúc phổ thơ Du Tử Lê, nên có lẽ nhiều người đã biết và quen thuộc. Chủ từ của câu là đêm, đêm trở thành nhân vật ( point of view ). Người nói cũng là mưa, mưa trở thành nhân vật. Trong một lần cắm trại trên núi đi xuyên qua các tảng đá cheo leo men xuống bờ biển, vào lúc hoàng hôn , mưa quất ngang mặt , tôi đột nhiên nhận ra vẻ đẹp của câu thơ. Đúng là vào lúc đó bóng đêm đã chia đôi biển và núi, ngoái lại mất hút ánh lử trại chập chờn trên cao, chỉ còn  bóng của ngọn núi in lên nền trời đầy mây mù một lúc một sẫm lại . Nhưng sao lại là đêm bưng mặt? Xót thương hay tội lỗi? Hối hận hay tàn nhẫn? Bưng mặt thì không thấy gì nữa, chỉ còn là bóng tối. Bóng tối cuả thiên nhiên, bóng tối bên ngoài của cuộc đời hay bóng tối bên trong của vô thức ? 



Vào lúc đó, anh quấn chiếc khăn lên cổ cho đỡ lạnh, nhưng chiếc khăn của anh không phải là khăn len, mà là chiếc khăn mưa. Nhưng anh cũng không phài là anh nữa, anh đã hóa thành mưa. Mưa quấn khăn cho chính nó, hay là cho tuổi ấu thơ sâu lắng, xa xôi nào? Nhưng anh cũng là đêm, hay là mưa quấn khăn cho đêm , hay là ngược lại, hay là cho ấu thơ ? Các nhân vật đổi chỗ cho nhau, quấn quít bên nhau, bàng hoàng trong nhau trong một phút giây tỉnh thức.



Cái vạch chớp cắt sâu vào vô thức.



Hai câu trên đây là một trong những câu thơ hay cuả Du Tử Lê, sử dụng phương pháp nhân cách hóa .     



Cách tân ngôn ngữ không phải là một trò chơi giải trí. Con người  băn khoăn trước sự bất cập của lời nói: đời sống mỗi cá nhân mang nhiều bộ mặt khác nhau, những kinh nghiệm và thể nghiệm của họ là bất tận. Hãy hỏi chính bạn xem: hạnh phúc nào của bạn, khổ đau nào của bạn, nỗi nhớ thương , sự căm giận nào mà không lớn hơn bất cứ một từ ngữ nào đang tìm cách diễn tả  chúng ? Vì vậy, chữ trong Du Tử Lê, cũng như ở nhiều nhà thơ khác, thay đổi theo thời gian : một mặt, chúng là tấm gương soi của đời sống đương đại, một mặt, bằng vào tài năng riêng của mỗi nhà thơ, chúng mang lại những nội dung mới, động lực mới, cho xã hội mà ta đang sống .



Tôi lấy làm tiếc rằng ngày nay không còn mấy người làm thơ như Du Tử Lê. Những người làm thơ có vần thế hệ sau anh chưa tạo ra được những thành tựu xuất sắc, còn những tài năng mới thì ngày càng có khuynh hướng làm thơ tự do. Số người có thể ung dung chuyển qua chuyển lại giữa hai vùng bút pháp đó thật sự không nhiều. Thơ Du Tử Lê mang lại những ví dụ về cái đẹp của ngôn ngữ Việt Nam: anh có khả năng truyền đi niềm cảm hứng của mình cho người khác. Đọc thơ là một quá trình tương tác, tương thông, sáng tạo và kết hợp.


Tôi sẽ để rất nhiều khoảng trống
Giữa hai gạch chéo/slash
Thí dụ: ……/…... /…... /……/
Trong bài thơ
Mời những người đọc tôi
Hôm nay, ngày mai tham, dự
Không phân, biệt cội nguồn, xuất xứ
Chúng ta: đồng tác giả
Bài thơ xuất hiện lần đầu



Những người viết văn là những tình nhân lớn, bởi vì họ có thể yêu nhau và say mê nhau như thể trong tình yêu ở ngoài đời. Khi đọc, bạn bước ra khỏi chính bản thân mình, hóa làm một với tác giả. Thành tựu của họ cũng chính là thành tựu của bạn, niềm vui sáng tạo của nhà thơ cũng là niềm vui của chúng ta, người đọc. Tôi tin rằng những nhà thơ lớn bao giờ cũng là những người đọc lớn, lấy thành tựu của người khác làm thành tựu cho tâm hồn mình, nhờ chúng mà thế giới mà chúng ta đang sống trở nên dễ hiểu hơn. Nhờ dễ hiểu hơn mà bạn tìm đến được với những bí ẩn lớn lao hơn.



NĐT



READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - NĂNG LƯỢNG CỦA CHỮ

Thursday, September 1, 2011

CHÂU THẠCH - CHUYỆN MỘT GIÒNG SÔNG



Có một đầu nguồn tên Dakrong 
Từ non Mai Lĩnh chảy về đông 
Băng qua lớp lớp bao ghềnh đá 
Đá hóa tinh tuyền nên nước trong. 

Dòng nước chảy vào xứ sở xanh 
Thành sông Thạch Hãn lượn lờ quanh 
Hai bờ đượm sửa thơm hương mật 
Phố thị, thôn trang đứng dưới thành. 

Xứ đẹp nên người cũng rất xinh 
Hào hoa, thanh lịch thắm ân tình 
Ai đi để nhớ đem vào mộng 
Ai đến làm quê hương chính mình. 

Một buổi dòng sông nhuộm máu đào 
Làng quê, phố thị lửa lên cao 
Người trong binh biến tan như lá 
Gió cuốn bay lưu lạc xứ nào. 

Không một bờ tre không dậu thưa 
Gạch đá nằm yên chết giữa trưa 
Dòng sông lặng lẽ như dòng lệ 
Bên đống tro tàn phơi nắng mưa. 

Rồi đến một ngày chinh chiến tan 
Người về xây lại giữa điêu tàn 
Dòng sông tiếp sức công gây dựng 
Phố thị, thôn trang lại rỡ ràng 

Sông lại chảy về xứ sở xanh 
Quê hương tươi đẹp sắc màu thanh 
Dòng sông vẫn thấy như thao thức 
Như vấn vương chi chảy chẳng đành. 

Sông vẫn còn chôn tận đáy lòng 
Xương tàn bao chiến sĩ trận vong 
Hai bờ nằm lại bao hài cốt 
Còn vẫn chưa an đúng chỗ nằm. 

Nay sông có vạn kẻ về thăm 
Hương khói đôi bờ vọng suốt năm 
Sông nhận vào lòng hoa tưởng nhớ 
Thơm ngát trên sông đến cuối dòng ./.

CT 


 Sông Thạch Hãn, 1969
READ MORE - CHÂU THẠCH - CHUYỆN MỘT GIÒNG SÔNG

Wednesday, August 31, 2011

ĐỘC HÀNH - NHỚ MÃI TÌNH ĐẦU


Cảm hứng từ hai bài thơ gần đây của Châu Thạch và Võ Làng Trâm, Độc Hành vừa gởi đến một bài họa, gọi là “để có nhịp cầu bắc từ QUẢNG TRỊ đến ĐÀ NẴNG thẳng NHA TRANG sang ĐỒNG NAI” *.
Xin cám ơn các anh đã biến trang VNQT thành sân chơi “để anh em giao lưu xây dựng nhịp cầu TRUNG – NAM” * .

NHỚ MÃI TÌNH ĐẦU

ĐỘC HÀNH 

Tôi ghi khắc ngàn đời không giờ rã 
Thương cội nguồn lệ rớt tựa sương rơi 
Cả cuộc đời nhớ mãi chẵng hề nguôi 
Quảng Trị ơi! Hạ gió Lào đông lạnh 

Vui thơ ca cho lòng vơi hiu quạnh 
Những đêm buồn hồn thả lẫn gió trăng 
Cũng có lúc ngồi bên cạnh ánh đăng 
Qua cửa sổ - những vì sao lấp lánh 

Lòng nguyện cầu ở Thần, Tiên, Phật, Thánh 
Phò cho con sức khỏe sớm trở về 
Thăm Quảng Trị ngày thơ ấu say mê 
Cho ấm mãi con tim luôn rạo rực 

Tôi còn nhớ người em nơi xóm đạo 
Giữa trời xuân đuổi bướm dạo vườn hoa 
Nụ cười duyên - dáng kiều diễm thướt tha 
Ngự trị lòng tôi – em là người đẹp nhất 

Em tôi ơi ! mơ mộng gì chẳng nói ? 
 Khi chiều tà buông sợi nắng làm phông 
Đôi má em điểm sắc ánh nắng hồng 
Còn mắt ngọc khoe duyên khung trời sáng

Giờ tìm đâu? Dấu tích thời dĩ vãng 
 Đêm hẹn hò góc phố với bờ sông 
Đến cầu Phật chùa Tỉnh Hội đêm rằm 
Bên hương ngát của bình hoa huệ trắng

Kỉ niệm xưa giờ đi vào sâu lắng 
Nơi khung trời gió thoảng với mây bay 
Cả một thời thơ vui thú ngất ngây 
Của hai đứa tình đầu còn non dại 

Mùa xuân ấy ta còn ghi nhớ mãi 
 Tay đan tay dìu bước giữa chiều mưa 
Cơn gió đến lay cành liễu đu đưa 
Anh sợ dại – tình ta thành mây khói 

Ngày xưa đó ánh hồng lên nắng ấm 
 Đến gặp em anh từ giã ra đi 
Liếc nhìn em lệ thấm ướt đôi mi 
Em không nói! Nhưng tim em vẫn nhớ 

Mùa hè tới phượng hồng không kịp nở 
Quê hương tôi gặp phải cảnh tang thương 
Tình phân ly mỗi đứa ở mỗi đường 
Rồi sau đó chẳng còn chi dấu tích 

Chuyện tình nầy ai biết để giải thích? 
Em ra đi giữa hơi nóng khói cay 
Từ ngày ấy cho tới mãi hôm nay 
Em ở đâu? Anh không gặp em nữa 

Quảng Trị tôi một mùa hè đỏ lửa 
Cháy tan tình – đốt luôn ánh trăng đêm 
Tàn tình anh , trụi hết cả duyên em 
Tôi nhớ mãi tình đầu nơi phố cũ. 

Độc Hành 

Hình từ Internet: Bệnh Viện TX Quảng Trị, 1969
(Muốn xem to hơn thì bấm chuột trái vào hình)


* Trích từ email của Độc Hành
READ MORE - ĐỘC HÀNH - NHỚ MÃI TÌNH ĐẦU

VÕ XUÂN TƯỜNG - TRẦN LẪM "LIỆT TRUYỆN"



VÕ XUÂN TƯỜNG
Quê quán : Gio Linh. Quảng trị
Lớn lên, sống và làm việc tại Hà Nội
Chuyên viên cao cấp 6/6
Nguyên Vụ trưởng Bộ Ngoại giao
Huân chương Lao động hạng nhất

CÙNG MỘT TÁC GIẢ
Rừng Tắc Kè, tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà Văn,
Hai Kẻ Đơn Côi, tập truyện ngắn, NXB HNV
Ảo Giác, tiểu thuyết, NXB HNV
Những Kẻ Lỡ Vận, tiểu thuyết, NXB HNV
Những Người Muôn Năm Cũ, tiểu thuyết, NXB HNV


TRẦN LẪM "LIỆT TRUYỆN"
Truyện ngắn


Trần Lẫm không làm quan to, chẳng là danh tướng, cũng không phải là những "thích khách", "du hiệp" trọng nghĩa khinh tài. Khi còn trẻ, Lẫm nuôi chí lớn, ôm mộng Quản Trọng, Trần Bình, bụng đầy kinh sử, đầu nhiều kế lạ mưu hay nhưng không được dùng. Về vườn, nhờ làm "mưu sĩ" cho vợ mà nổi danh, hiến nhiều kế lạ giúp vợ từ một người nuôi gà trở thành một trọng thần vinh hiển giàu sang, thân toàn, danh vẹn. Tôi đọc bảy mươi thiên liệt truyện của Tư Mã Tử Trường chép từ thời Hoàng Đế đến thời Vũ Đế không thấy có chuyện nào như vầy nên chép vào đây để biết rằng dẫu có khác nhau song "hào kiệt" đời nào cũng có.


Trần Lẫm sinh ở thời chúng ta, sống suốt cả thời bao cấp đến thời đổi mới. Hắn chỉ là một con người rất bình thường, dung mạo không có gì xuất chúng: chân ngắn, tay ngắn, lưng dài, đầu to, mặt dài, tóc rễ tre.... Trên khuôn mặt hắn cái gì cũng nhỏ, mắt nhỏ, miệng nhỏ, cái mũi nhỏ và dài chia đôi khuôn mặt thành hai phần như "giải phân cách cứng" trên các đường cao tốc. Lẫm già trước tuổi, khi nào cũng mặc chiếc áo "đại cán" màu ghi, hàng khuy có bốn chiếc thì ba màu khác nhau, trong túi hắn bao giờ cũng có một cuốn sổ tay bìa đen, không biết hắn ghi chép những gì và cứ dở ra xem trước mỗi lần họp. Nhiều người sợ hắn, mở miệng ra là hắn phê phán, hắn gán cho bạn bè những tội mà hồi ấy chúng tôi không biết nó nằm ở điều mấy, luật nào, mức độ nghiêm trọng đến đâu, ai đó trong lớp mắc khuyết điểm hắn đứng dậy chỉ mặt:"Đấy là bệnh ấu trĩ tả khuynh", đối với người khác hắn bảo:"Đấy là tính cuồng nhiệt tiểu tư sản"...Lúc đầu, nghe hắn phê, chúng tôi hoảng lắm nhưng về sau thấy không ai bị làm sao nên cũng không sợ nữa nhưng dù sao đối với hắn nhiều người cũng dè chừng. Tôi thấy hắn lạ nên phục và thích chơi với hắn. Hắn có nhiều cái hay, biết đối nhân xử thế, tuy học hành vào loại làng nhàng nhưng các mặt hoạt động khác hắn rất sôi nổi. Về mặt xã hội, hắn tiến trước tôi một bước dài. Hắn là ủy viên ban chấp hành chi đoàn, cảm tình đảng, còn tôi chỉ là "Bạch vệ" chưa đoàn, chưa đảng gì trọi! 


Ngoài cái tội tập làm người lớn, học cung cách nói năng của người lãnh đạo khiến nhiều người không ưa, hắn cũng là thằng chơi được. Học xong cấp ba, hắn bảo tôi:
- Tớ sẽ thi vào khoa Trung văn trường đại học sư phạm.
- Cậu định làm ông đồ, gõ đầu trẻ đấy à? Buồn chết, tôi bảo.
- Cậu nhìn thiển cận quá, con đường của tớ là tiến làm quan, thoái làm thầy, "Đường mây rộng thênh thênh cử bộ.."cứ thế mà đi chẳng băn khoăn gì cả, hắn bảo.
- Làm thầy thì chắc chắn rồi, còn cậu định "làm quan" bằng cách nào thì tớ chịu! Tôi nói.
Hắn cầm cái thước gõ mấy cái vào đầu tôi rồi bảo:
- Tớ tưởng cậu đọc nhiều, thông kim bác cổ, kể chuyện Trương Nghi, Tô Tần, Lý Tư, Ngô Khởi... vanh vách nào ngờ cậu nông cạn quá vì khi đọc cậu chỉ nghĩ đến họ là những con người sống ở thời Xuân Thu Chiến quốc, thời cách ta hai ba ngàn năm mà không nhìn thấy những con người như thế đang sống trước mắt chúng ta, nên không rút ra được bài học gì bổ ích cho cuộc sống của mình.
- Tôi bái phục ông, nhưng xin chịu, tôi nói, ông đem chuyện của thời nông nô, thời phong kiến lạc hậu tối tăm để ứng dụng vào thời đại văn minh tiên tiến ngày nay thì có trời mới hiểu được!
- Càng nói chuyện với cậu, càng thấy chán và khinh cậu quá, không ngờ một học sinh được xếp loại "xuất sắc toàn diện" như cậu mà chỉ biết nói theo lời của mấy cái loa phát thanh công cộng treo ngoài cột đèn! Lẫm bảo tôi rồi nói tiếp:
- Đúng là mấy ngàn năm qua khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật có những bước tiến kì diệu nhưng khoa học về xã hội nhân văn, về con người, về phép cai trị.. không khác gì nhau: Tào Tháo chém đầu Vương Hậu trước ba quân vì tội tham nhũng quân lương, nhưng lại cho đem thây về quê quán làm tang lễ rất trọng thị theo nghi thức quan đại thần, tuyên dương công trạng to lớn của Hậu, lại cho con trai của ông được tập tước cha. Làm vậy trước mặt ba quân Tháo được tiếng là người thanh liêm, chính trực, công minh. Ở hậu phương, nhân dân coi Tào Thừa tướng là người thủy chung, chính sách cán bộ chu đáo, còn cái việc Hậu cắt xén quân lương theo lệnh của Tháo thì chỉ có hai người biết thôi, giờ, một người đã bị giết coi như không ai biết điều này ngoài Tháo. Lại còn việc Lưu Bang phong tước "thập phương hầu" cho Ung Xỉ một kẻ thù không đội trời chung của mình để được tiếng là người đại lượng bao dung nhằm thu phục nhân tâm, củng cố chiếc ngai vàng đang mong manh của mình, trong khi đó lại đang tâm giết Hàn Tín một đại tướng, đệ nhất công thần đã từng cùng mình vào sinh ra tử cũng chỉ vì sợ uy thế của Hàn Tín lớn quá làm lu mờ ánh hào quang thiên tử. Những chuyện như thế nhiều vô kể, học cả đời không hết, học mấy đời không hết. Tớ quyết định đi học Trung văn để có thời gian nghiên cứu nhiều hơn về lĩnh vực này!
- Thế cậu định bắt đầu sự nghiệp bằng cách nào? Tôi hỏi.
Hắn cười:-Cậu chấp nhận "Tổng lộ tuyến" (Đường lối chung) của tớ rồi chứ?- Tớ sẽ bắt đầu sự nghiệp bằng cách đi làm "Xá nhân!"
- Cậu mộng du mất rồi! Tôi bảo, xá nhân là người theo hầu các quan to, cố thể hiện tài năng để được cất nhắc, tiến cử, đó là chuyện đời xưa còn bây giờ vào cơ quan nào đều có biên chế, ai vào đâu là do tổ chức sắp xếp, những cơ quan quan trọng phải xét lí lịch ba đời, làm sao cậu len vào được mà đòi làm xá nhân! Cậu định học theo Lý Tư, làm con chuột béo tốt trong kho thóc nhà vua xem ra khó đấy![1]
- Được! Hắn khẳng định. Học xong tớ xin đi làm phiên dịch, hầu hết các cán bộ lãnh đạo bây giờ, cho dù có tốt nghiệp đại học cũng không nói thạo một ngoại ngữ nào do vậy rất cần phiên dịch. Trung quốc là một nước lớn, quan hệ với Trung quốc có tầm quan trọng đặc biệt, mỗi lần có vấn đề là phải "xuất tướng", mình đi theo làm phiên dịch, làm người phục vụ thế là "cờ đến tay", thế nào tớ cũng phất được.Tớ có người anh con bác cũng "đi tắt" theo kiểu này bây giờ làm to lắm! Hắn nói tiếp:" Học xưa cũng phải biết cách học, chứ không phải như cậu học thuộc lòng bài sử để được điểm năm rồi chữ thầy trả thầy không dùng được việc gì."
- Xin xem hồi sau sẽ rõ! Tôi bảo Lẫm. 


Năm ấy Lẫm đỗ vào khoa Trung văn Đại học sư phạm. Y hớn hở ra Hà Nội, nung nấu chí lớn như Lý Tư trên đường về Hàm dương kinh đô nước Tần thưở trước.
Bốn năm học đại học, Lẫm học hành chăm chỉ, không chuyện gì không đọc từ bách gia chư tử đến Thuyết nan, Cô phẩn...Đông Chu liệt quốc, Tam quốc, Thủy Hử rồi Từ Hy Thái hậu,.. Vân vân thứ chuyện, đọc đâu nhớ đấy, ai nói chuyện thời sự chính trị gì hắn cũng có điển tích minh họa nhằm
"Ôn cố tri tân". Và, như người ta nói: "Họa tòng khẩu xuất" lắm phen hắn suýt chết vì cái miệng của mình. Bốn năm trôi qua, hắn vẫn chỉ là "cảm tình đảng", không được kết nạp. Một lần hắn gặp khốn khi dám so sánh những đường lối lúc bấy giờ với cách làm của Hán Vũ Đế trước công nguyên như độc tôn Nho giáo, tố cáo lẫn nhau, lấy của nhà giàu sung vào công khố, chia cho nhà nghèo cuối cùng cả nước ai cũng nghèo, làm được bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu, không ai để giành, không ai tích trữ vì sợ bị tố cáo là giầu! 


Ra trường, với cuốn học bạ "Học lực trung bình, mơ hồ về giai cấp", hắn được phân về dạy Trung văn cho một trường cấp ba ở huyện, đấy là một môn phụ, học sinh chán học không phải một hai đứa mà cả lớp chán học, cho điểm kém thì không đạt chỉ tiêu thi đua của nhà trường, hắn sẽ bị phê bình kiểm điểm, cho điểm khá giỏi thì day dứt lương tâm. Ở cái thời "lương tâm chẳng trọng bằng lương thực" dần dà hắn nhắm mắt cho qua, môn Trung văn của hắn năm nào học sinh cũng đạt trên 90% loại giỏi còn lại là khá. Học sinh nhìn tờ báo Hoa văn đứa bảo đấy là chữ Ấn Độ, đứa bảo chữ Ai Cập... Hắn trở thành con người vô dụng. Vợ hắn tốt nghiệp khoa sinh vật, được phân công lên dạy ở miền núi với lời hứa:"Sau năm năm hoàn thành nhiệm vụ sẽ được về xuôi và được chọn nơi công tác", hắn khoát tay bảo vợ:
- Thôi đi, đừng nghe lời hứa hão, sau năm mươi năm không biết có được chọn chỗ chôn không chứ đừng nói sau năm năm được về và chọn nơi công tác! Đúng là khát ngó rừng mơ, đói ăn bánh vẽ! Lương giáo viên 55 đồng/tháng chỉ đủ để mua được mười một cân gạo theo giá thị trường tự do, chẳng lẽ ở nhà không kiếm nổi trăm bạc một tháng hay sao?
Vợ chồng bàn nhau nuôi gà úm, mua gà con mới nở đem về nuôi khoảng một tháng làm gà giống bán ra thị trường. Kinh doanh mặt hàng này cần ít vốn, quay vòng vốn nhanh, không cần chuồng trại tốn kém.Vợ Lẫm-cô Hiền có kiến thức về sinh vật học nên làm công việc này cũng thích hợp, Lẫm suốt ngày loay hoay với chuồng trại, nhìn đàn gà lớn lên mơm mởn quên hết những buồn phiền bực dọc ở trường. Có hôm mải cho gà ăn, nhìn đồng hồ sắp đến giờ dạy, Lẫm nhúng vội tay vào chậu nước, chùi vào quần rồi chạy thẳng đến trường lên lớp quên mất cả sách giáo khoa ở nhà. Anh tặc lưỡi:"Cầm quyển sách để làm dáng vậy thôi chứ mấy chữ "Ụa mấn"( Chúng tôi) thì cần gì đến sách!" Mấy lứa gà liên tiếp thành công, tiền lãi thu về kha khá, chuồng trại được kiên cố hóa, hợp khoa học, chăn nuôi được mở rộng, đời sống kinh tế gia đình Lẫm vững vàng. Hiền phục Lẫm về quyết định sáng suốt không để cho Hiền đi dạy xa nhà. Đôi lúc cơm no rượu say, Lẫm kêu lên:"Hai sào ruộng ở đất Lạc Dương này làm tê liệt ý chí của ta mất rồi![2]", Hiền cười:
- Không làm tướng sáu nước thì ở nhà làm quân sư cho "Nữ Vương" này cũng xứng đáng chứ sao! Lẫm bảo:
- Bây giờ kinh tế ta tàm tạm rồi, người đời vẫn nhìn ta với con mắt khinh thường, cảnh giác, coi chúng ta là những mầm móng của chủ nghĩa Tư bản, em nên xung phong làm một công tác gì đó cho xã, tất nhiên là "ăn cơm nhà vác ngà voi" thôi, việc gì có tý "mầu" thì không đến phần mình. Sắp tới học sinh nghỉ hè, ở xã đang thiếu cán bộ đoàn quản lí chúng, em lại có năng khiếu hát múa, có khả năng sư phạm, làm công việc này rất thích hợp, cốt để lấy tý vốn chính trị mà làm ăn thôi.
"Được lời như cởi tấm lòng", Chủ tịch, Bí thư Đảng ủy xã rất vui mừng, hoan nghênh Hiền tham gia công tác địa phương trong dịp hè. Hiền hăng hái tham gia, việc chăn nuôi ở nhà Lẫm đảm nhiệm phần lớn. Cũng nhờ Hiền tham gia công tác Xã, việc mua thức ăn cho gà theo giá ưu đãi của hợp tác xã tiêu thụ được dễ dàng hơn. Thành phố ngày càng mở rộng, xã của Hiền nay thành phường trực thuộc quận nội thành, trên cho một biên chế chuyên trách công tác đoàn, Hiền được tuyển dụng, có lương hàng tháng, có bảo hiểm y tế , tất nhiên nguồn thu nhập từ trại gà ngày càng lớn hơn.Từ xã chuyển thành phường là một sự thay đổi về chất, từ trồng cây gì, nuôi con gì, chuồng trại nay chuyển sang quản lí về văn minh đô thị, trật tự an toàn đường phố..đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lí phải có trình độ, trong hàng ngũ cán bộ xã cũ, chỉ có Hiền tốt nghiệp Đại học, còn lại có vài người tốt nghiệp trung cấp về trồng trọt, chăn nuôi. Mấy năm làm công tác Đoàn, phong trào thanh niên của Phường tiến bộ rõ rệt, Hiền được cử giữ chức phó chủ tịch phường, nhiệm kì tiếp theo làm chủ tịch.
Trường Lẫm cũng có sự thay đổi, môn Trung văn được thay thế bằng Nga văn, Lẫm phải đi học bổ túc tiếng Nga để về dạy, chẳng được bao lâu, trên yêu cầu Lẫm đi học tiếng Anh! Ngán ngẫm, một người cả đời ôm mộng làm Tướng quốc, làm Quân sư lại phải đi học chương trình vỡ lòng cho đến bạc đầu! Anh xin "về vườn" không học hành gì nữa. Hiền đã được đề bạt làm chủ tịch quận, trại gà giải tán. Lẫm cả ngày ra vào ê a:" Khuông Hành kháng sớ công danh bạc, Lưu Hướng truyền kinh tâm sự vi.."[3] 


Đời sống của vợ chồng Lẫm bây giờ rất sung túc nhưng vì Hiền đang làm việc nên muốn ăn miếng ngon cũng phải giữ ý, muốn đi chơi, đi nghỉ đâu đó cũng ngại ngần, vẫn ở trong ngôi nhà gạch ba gian bán kiên cố xây theo kiểu nhà quê từ khi vợ chồng bán được mấy lứa gà đầu tiên! Lẫm bảo vợ:
- Anh định mở một công ty du lịch lữ hành.
Hiền trợn mắt tưởng chồng vẫn giữ thói mộng du:
- Anh đừng giận, làm ăn lĩnh vực nào cũng đòi hỏi có kiến thức, có kinh nghiệm, anh bao năm ra trường trong tay chỉ có cuốn sách Trung văn, vốn liếng từ vựng chắc không quá cuốn "Tam tự kinh", anh làm làm gì cho mệt xác, tiền bạc bây giờ thiếu gì, không mua ôtô, không xây nhà lầu hiện đại chẳng qua là còn giữ ý đấy thôi, khi em nghỉ hưu rồi vợ chồng tha hồ thoải mái! Lẫm cười, nhìn vợ:
- Em phải phấn đấu nhiều nữa may ra mới có thể trở thành Võ Tắc Thiên hay Từ Hy Thái hậu được, kế sách của anh sẽ giúp em vừa được sống thoải mái, ôtô, nhà lầu, đời sống tiện nghi mà vẫn được thăng tiến, kê khai tài sản không có gì hết ngoài tiền luơng, tất cả những thứ còn lại là do anh, một Tổng giám đốc công ty du lịch tư nhân làm ra, anh sẽ được nêu gương, lên truyền hình, sẽ thành "danh nhân đất Việt". Hàng ngày em "đi nhờ xe" BMW của anh đến cơ quan, ngày chủ nhật, ngày nghỉ, anh "bao" em đến những khách sạn năm sao, đến những khu Resort tiện nghi bậc nhất Đông Nam Á nghỉ ngơi. Anh nổi tiếng về tài kinh doanh, em nổi tiếng về sự thanh liêm, trong sạch, cả hai ta nổi tiếng, cả hai ta vinh hiển. Quản Trọng thời Xuân Thu giúp Hoàn Công làm nên nghiệp bá ở Trung Nguyên công đức cũng đến thế mà thôi!

VÕ XUÂN TƯỜNG


1. Lý Tư, Tể Tướng đời Tần khi còn là một học trò nghèo ở quê thấy con chuột chui rúc kiếm ăn trong nhà xí rất khổ sở, khi về kinh thấy những con chuột trong kho thóc nhà vua béo núc ních, bèn than rằng:"Than ôi! người ta hiền tài hay kém cỏi cũng như những con chuột kia, đều là nhờ ở hoàn cảnh đấy thôi!"

2. Tô Tần người ở đất Lạc Dương thời chiến quốc, đề xuất thuyết "Hợp tung" được phong làm tướng sáu nước, có người hỏi ông về nguyên nhân thành công, ông nói "Nếu ta có hai sào ruộng ở đất Lạc Dương thì chắc chắn không có chiếc ấn làm tướng sáu nước này."

3. "Thu hứng" của Đỗ Phủ, ý nói những người có tài như Khuông Hành, Lưu Hướng mà danh hèn, phận mỏng!

Tiểu sử trích từ truyện dài Những Người Muôn Năm Cũ
Truyện ngắn trên trích từ  xuantuong.vnweblogs.com 

Hình từ hoihanoi.vnweblogs.com 
READ MORE - VÕ XUÂN TƯỜNG - TRẦN LẪM "LIỆT TRUYỆN"