Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, February 9, 2011

VĂN QUANG - TÀI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA


Có thể nói rằng về thể loại dân ca của các miền đất nước, hò đối đáp là nét độc đáo tiêu biểu cho người và đất quê hương Quảng Trị (và vùng Bình-Trị-Thiên nói chung). Qua hò đối đáp, người bình dân bày tỏ và trao đổi tâm tư tình cảm, thể hiện tài trí của mình về cả hai mặt nội dung tư tưởng và nghệ thuật diễn đạt. các phép tu từ mà ngày nay chúng ta đang dạy cho học sinh trong nhà trường và các nhà văn, nhà thơ sử dụng trau chuốt, làm đẹp tác phẩm của mình đều được các các nghệ sĩ vô danh ngày trước thể hiện trong các tác phẩm của họ một cách tài tình, độc đáo đến bất ngờ. Dân Quảng Trị chất phác, lời lẽ mộc mạc đơn sơ, nhưng đã dụng công trau chuốt thì khó mà chê được.

Hò giã gạo và hò mái nhì là những làn điều thường được dùng để đấu trí, thi tài; nhưng phổ biến nhất vẫn là hò giã gạo, bởi vì nó có nhịp điệu nhanh, khoẻ, dễ gây không khí hoá hức , sôi nổi. để có thể đối đáp xứng hợp, kịp thời, đòi hỏi người nghệ sĩ dân gian phải có một vốn kiến thức nhất định và đặc biệt là tài ứng đối mau lẹ, sít sao. Đầu óc họ phải hết sức tinh tế, nhanh nhạy mới có khả năng vừa phân tích, tổng hợp tình ý đối phương, vừa sáng tác kịp thời lời lẽ đáp lại làm sao cho cân xứng, lấn lướt được đối phương càng tốt. hò đối đáp có thể mang những nội dung khác nhau : Đối đáp ân tình, đấu trí, thi tài về việc đời, triết lý cuộc sống, kiến thức văn học nghệ thuật, địa lý, lịch sử …

Trước đây những đêm hò là những buổi hội ngộ của những đôi trai gái và nhân dân trong làng ngoài xã. Họ vừa là lao động vừa sinh hoạt văn nghệ. Mỗi lần có câu hò hay khán giả vỗ tay reo hò và có quan viên, chức sắc đánh trống chầu để tán thưởng. trong sinh hoạt văn nghệ dân gian này không loại trừ sự góp mặt của các ông nghè, ông Tú thất cơ lỡ vận về sinh sống ở nông thôn. Họ có thể trực tiếp tham gia hoặc tham gia cố vấn cho các chàng trai, cô giá mối khi họ cần đến. nhờ vậy mà tầm hiểu biết của người bình dân cũng rộng hơn.


1. Hò đối đáp ân tình:

Trong lối hò này đôi trai gái trao đổi tình cảm với nhau nhưng đối đáp thế nào cho xứng, thể hiện được tài trí của mình. Có khi cả hai bên đều dùng tình ý, lời lẽ thật với nhau, nhưng thường là có tính cách mỉa mai, châm chọc.

Hai bên đối đáp thật thà về lời, nhưng ngụ ý mỉa mai:

Trai làng ở quá cũng đông

Có sao em bậu lấy chồng đàng xa?

Ơ làng cũng có người thương

Số em đáng số lấy chồng tha hương mới thành.

Dù câu hỏi của người con trai có vẻ thật thà, nhưng ít nhiều cũng có ngụ ý là cô gái ế chồng, trai làng không ai thèm dòm tới ! nên dùng lười lẽ bóng gió xa xôi:

Gặp em đây hỏi thiệt em đây

Sông sâu, sông cạn, đò đầy, đò lưng?

Trong câu hỏi chàng trai đã sử dụng thể ti, phép ẩn dụ để biểu đạt tình ý của mình: Sông và đò ám chỉ người con gái. Cô gái đã đáp lại thật sắc sảo:

Sông này cửa khẩu chưa khai

Thuyền đang đậu bến, chưa ai mà lưng đầy.

Dùng cách đơn giản mà chơi chữ, thủ pháp nghệ thuật dễ chơi xỏ đối phương:

Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh

Biết đưa anh có đến bên kênh ghềnh hay không?

Người con trai phải hiểu từ ẩn dụ “ Chiếc thuyền quyên” “ Gềnh” là gì mới đáp xứng được.

Và đây, ta thử nghe anh đáp lại:

Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh

Anh dựng cột buồm dậy chạy hai canh là đến bờ!

“ Dựng cột buồm” là cách nói ẩn dụ rất đắc ý ở đây.

Ta thử nghe thêm vài câu người con gái hò châm chọc:

Càng ngày càng nới dây lưng

Thương anh trong dạ không biết chừng dội mô!

Thương thì thật là thương nhưng xỏ lá đáo để ”Thương anh trong dạ” là cách chơi chữ tài tình để nói rằng: Em đang mang thai anh trong bụng !

Người con trai không nhận thấy xỏ lá ấy thì chỉ đành chịu nhục trước gái thuyền quyên!.Nhưng anh đáp lại còn già giặn hơn:

Bắt lấy dây lưng xin em đừng vội nói

Thiếp còn ân ái chi chi

Thầy mẹ sinh em là phận nữ nhi

Sao không thương thầy với mẹ, nghĩa chi thương chàng.

Ý anh bảo con gái “ Người em thương trong dạ là thầy mẹ em”. Có khi cô gái còn nổi đến cả cha mẹ đối phương:

Kể từ này em đẻ, mẹ ra

Anh không lui tới, thiệt là vô tâm.

Cách chơi chữ rất tài tình : “ Em đẻ mẹ ra” có thể hiểu là khi em sinh ra con thì mẹ anh ra thăm, nhưng ở đây cô nói liền mạch thì có nghĩa là “ Em đẻ mẹ anh ra”.

Đến lượt các chàng trai châm chọc thì cũng chẳng vừa chi:

Ôi thôi rồi đứa con tui hắn chết ngay đơ!

Cửa xa nhà ngái, chôn nhờ đất em

“ Con tui chết ngay đơ” nghe rất tội mà xỏ lá vô cùng. Nhưng cô gái nào có chịu lép vế:

Đất em sâm sẩm ổ gà

Chôn cha cũng lọt huống là chôn con

Đòi chôn cả cha đứa con ấy vào đất em thì xấc đáo để. Chàng con trai cũng có thể hỏi bóng gió:

Chuông vàng đánh tiếng kêu rè

Hay là thợ đúc chế hàn the vô rồi?

Ý nói cô gái đã lang chạ, không còn trinh tiết. Ta có ngờ cô gái đáp lại già giặn như sau không?

Chuông treo trước cửa Cần Chánh

Ai dám vô mà đánh chuông rè

Anh nghiêng tai, cúi trôốc mà nghe

Chuông vàng thanh tiếng, anh chê rè là răng?

Ý cô gái bảo em cao sang như chuông vàng treo trước cửa điện Cần Chánh của Vua, anh dốt nát nói bậy chứ không ai dám đụng vào em đâu! Không tin thì anh nghiêng tai, cúi đầu mà nghe.

Ngay trong lối hò đối đáp ân tình, người bình dân cũng đã sử dụng cách nói lái rất độc đáo ở Quảng Trị. Nói lái là một nghệ thuật chơi chữ để khi đảo các âm của từ thì tạo thành nghĩa mới. cách nói lái thường giúp cho lời nói đỡ thô tục.

Ở Làng Bồ Bản xã Triệu Trạch có một ông Nghè hay chữ rất sành hò, tục gọi là cậu Ba, ông Nghè Ba. Một hôm ông hò ân tình với một cô gái ở vùng Gio linh. Ông than thở trách móc:

Trời mưa , trời gió, vác đó ra đơm

Chạy vô ăn cơm, chạy ra mất đó

Nào ai lấy đó, đó ơi

Đó không phân đi, nói lại đôi lời cho đây hay?

Cậu Ba có ngờ đâu cô gái gái nhanh nhẩu và xấc xược đáp liền:

Nỏ có ai như cậu Ba làng Bồ

Đó treo côi trại, không biết chỗ mô mà tìm!

“ Đó treo côi trại” theo thổ âm Quảng Trị khi nói lái lại rất tục. Ông Nghè hiểu ngay cô gái chơi xỏ mình nhưng đành chịu nhịn và phục tài.


2. Hò Đấu Trí :

Trong lối hò này, đôi trai giá đã vận dụng hết tài năng để thi thố kiến thức về nhiều mặt của cuộc sống. thủ pháp nghệ thuật cũng rất điêu luyện, bảo đảm vần điệu, tiết tấu của thể thơ lục bát và các biến thể của nó. Đôi khi pha giọng ân tình, nhưng đó chỉ là một thách thức thử tài.


Đối đáp châm chọc :

Ô hô đòi Ngô thế lọng

Tui chửi cụ một điều, trọng vọng chỉ không?

Cái gáo úp côi cái đội

O chửi tui một điều, tui trọi chết cha O

Tuy lời lẽ hỏi và đáp lại còn thô tục nhưng ý khá đạt: O mới đòi chửi tui thì tui vừa chửi cha O vừa trọi chết cha O!

Thường các cô gái dùng lời lẽ bóng bẩy, sử dụng phép tu từ bắt đối phương phải vắt óc suy nghĩ cho ra cái ngụ ý của mình:

Nước trong khe chảy ra róc rách ro re

Thân anh như con bìm bịp ngồi nghe sự tình!

“ Nước trong khe” là cách nói bóng gió, anh là con bìm bịp ngồi dưới khe để nghe sự tình của nước trong khe ấy chảy thật là xấc. nhưng chàng trai còn xỏ lá hơn:

Nước trong khe chảy ra róc rách ro re

Anh đây cúng hứng lấy vài ghè

Để khi mụ gia qua thăm rể nấu đọi nước chè uống chơi.

Anh chàng đòi nấu nước trong khe ấy cho mẹ cô giá uống. Có cô gái lên giọng kẻ cả :

Tay cầm bảy tấc roi mây

Ai muốn tầm sư học đạo, tới thầy dạy cho.

Chàng trai giả đò tỏ vẻ ngoan ngoãn:

Đó làm thầy, đây xin thủ đạo làm trò

Đó ngả nghiêng ra mài mực, đây thò bút vô.

Ý xấc láo ở đây là cách lái của hai từ “ thủ đạo” và cách nói ẩn dụ của “ ngã nghiên”, “ thò bút”.


Đối đáp về kiến thức địa lý:

Nước Tam sơn chảy xuống Ba Hà: hà Thanh, Hà Thượng, Hà Trung

Nam nhơn chàng đối đặng, thiếp mới đành lòng thương !

Đáp :

Nước Tứ Hải Hải xao lên bốn thuỷ: Thuỷ khê, Thuỷ Tú, Thuỷ Bạn, Thuỷ Cần

Nam nhơn đà đối đặng, thiếp phải gá nghĩa châu trần ngàn năm

Cách chơi chữ thật tuyệt đẹp: Tam sơn, Ba Hà, Tứ Hải, Bốn Thuỷ

Thách đối bằng cách dùng nghệ thuật nói lái ở Quảng Trị:

Con cá dối nằm trên cối đá

Con mèo cụt nằm trên mút kèo

Trai nam nhơn đối đặng , thiếp xin theo về cùng

Đáp :

Con rắn hổ nằm trên rổ hắn

Cây cau tươi mọc trước cưới tau

Nam nhơn đà đối đặng, ta theo nhau cùng về


Thách đối dựa theo cách gọi tên phi lí của đồ vật:

Hỏi :

Bánh cả mâm sao gọi là bánh ít?

Trầu cả chợ sao gọi trầu không?

Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi.

Chàng trai kia chẳng thua kém chút nào:

Chuối không qua Tây sao gọi là chuối sứ

Cây không biết chữ răng lại gọi cây thông?

Nam nhơn chừ đối đặng quyết làm chồng nữ nhi!


Dùng tên bốn mùa để thách đối :

Con gái Xuân đi chợ mùa Hạ

Mua con cá Thu chạy về, chợ hãy còn Đông

Răng biết em là gái chưa chồng

Mà anh chỉ sá băng đồng tới đây?

Chàng trai đã dùng tên 4 phương để đối lại thật sắc sảo:

Trai phương Nam ra ngồi hàng thuốc Bắc

Gái Đông sang ra dựa chốn lầu Tây

Ông tơ bó buộc, xe dây

Xui anh đáo tới chốn này gặp em.


Trong hò đấu trí có lối hò đố rất xương xóc. Thường là các cô gái nêu những vấn đề hóc búa để thử tài đấng mày râu. Nhưng đã mang danh trượng phu các chàng trai luôn tỏ ra đủ tài ba, bản lĩnh.


Đố về đạo lý làm người, tam cương, ngũ thường:

Quân, sư, phụ: Tam cang giả

Qua chuyến đò đầy, sóng ngã cứu ai?

Câu hỏi đặt chàng trai vào thế lúng túng khó xử, nhưng anh chàng sau đây đáp ba cách khác nhau mà cách nào nghe cũng lọt tai không bắt bẻ được:

Vua băng đi, có triều đình hiệp nghị

Thất sư thiên hạ tầm sư

Không có thân phụ, ai ừ được cho ?

Anh chàng này lý luận là dù cha là bậc thấp nhất trong Tam cương nhưng anh phải cứu cha vì không ai thay cha mình được cả!


Liều mình lọt xuống vực sâu

Hai vai sư, phụ trên đầu đế vương.

Anh này nói thiên lôi nhưng vẹn cả trung lẫn hiếu.


Ngộ phong vũ, điếc óc , đoãng tai

Liều mình vọt xuống quơ quơ, túm túm may ai nấy nhờ.

Anh này nói cho qua chuyện nhưng nghe ra rất thực tế, chẳng mất lòng ai.


Đố về lịch sử:

Tiếng đồn anh học hết Kinh Thi

Ngày xưa vua Văn Vương đi cưới bà Hậu Phi hôm nào?

Hỏi về lịch sử Việt Nam còn điều biết điều không. Cô gái hỏi đến tích xưa chuyện cũ của Tàu thì thật là tai ác! Nhưng chàng trai vẫn tỏ ra thông thạo đáp:

Bà Hậu Phi đi hái rau Quyền nhỉ

Lên ngồi năn nỉ trên hòn đá Trương Kỳ

Vua Văn Vương đi săn bắn, gặp bà Hậu Phi đem về.

Ý anh nói : Chẳng cưới xin gì cả, em đừng hỏi bậy!


Đố về triết lý :

Gặp trượng phu hỏi thiệt trượng phu

Tiên sinh mi răng mi đoản, hậu sinh tu răng, tu trường?

May ra trời biết nói mà trả lời được!

Thế mà chàng trai vẫn dùng phép nguỵ biện để đáp lại, không những thế anh còn đối trả:

Mi sinh tiền là thiên sinh đoản

Hậu sinh tu trường là huyết hoá sửa sinh

Thế cái răng sinh sau cái lưỡi mà răng rụng trước, hỏi mình là nghĩa chi?


Đố cách viết và nghĩa của chữ Hán để ngụ một ý sâu xa hơn:

Hai ngang ba phết, em học không hết em lại hỏi anh

Từ tỉnh Nghệ cho đến kinh Thành

Từ Gia Định cho đến kinh Thành

Quan sầu, dân thảm, hỏi anh chữ gì ?

Hai ngang , ba sổ ( phết) viết thành chữ thất, ý cô gái nói Thất thủ kinh đô Huế thời Pháp thuộc.

Hai ngang ba phết , kết lại chữ thất

Anh đây buồn tình cất một phết bên vai

Kẻ ấy là ai ?

Thiếp mà nói đặng mới gọi rằng tài nữ nhi!

Chữ Thất mà cất một phết bên vai còn lại chữ phu nghĩa là chồng. Đáp được rồi anh chàng đòi làm chồng cô ả. Chữ nghĩa tài trí là thế . Có phải người bình dân là “ Dân ngu khu đen” cả đâu! Người ta bảo : Kinh đô cũng có người rồ / Man di cũng có sinh đồ Trạng nguyên. Thật quả không ngoa.


Biết bao giờ sưu tầm hết được những câu hò đối đáp tài tình trên quê hương Quảng Trị! Tuy nhiên qua bài viết này, tôi hy vọng các bạn thưởng thức, cảm nhận được phần nào tài trí, chất văn học thể hiện qua các tác phẩm của họ. Chúng là nguồn tư liệu quý giá cho những ai mê thích dân ca, những ai muốn học tập, nghiên cứu để làm phong phú cuộc đời mình , làm đẹp tác phẩm văn học của mình.


Văn Quang

1996

READ MORE - VĂN QUANG - TÀI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA

VÕ VĂN HOA - THƠ XUÂN NGÀY CŨ



Ta còn lại tháng ngày thơ bé
Chùm thơ xuân mộng mị bên trời
Em còn không lá rụng ven đồi?
Tình áo trắng phai mùa xa vắng!


" Ngộ" ra mình dấu lặng
Thơ ấp iu vành đỏ môi chiều
Cơ chi anh cùng với giáng kiều
Đi tận cùng trái đất


Nghe thơ mình rung lên sự thật
Mùa xuân ư ? Hoa lá cành ư?
Mà sao loáng thoáng những ngôn từ?
Thơ thời lơ ngơ là thế!


Em đừng trách bờ ao cây khế
Chim chìa vôi khản cổ rao mời !
Giờ đọc lại thơ xuân ngày cũ
Vầng trăng khuya không nói hết ...bằng lời!


Ngày khai hạ Tết Tân Mão
V.V.H
READ MORE - VÕ VĂN HOA - THƠ XUÂN NGÀY CŨ

VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Mỗi sát na tôi nhủ mình vui
Cuộc sống lung linh màu sắc


Mỗi giây qua tôi nhắc mình tươi

Hoa cỏ ngát hương trời đất


Mỗi phút tới tôi dặn tôi cười

Đàn ngân tiếng trong veo sông suối


Mỗi giờ đến tôi nguyện thương đời

Vị sóng mặn trầm hùng biển núi


Mỗi ngày lên tôi thầm mong tôi

Ngọt lành thơ khát vọng tặng người...


2.2010

READ MORE - VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Thursday, February 3, 2011

ĐỒNG DAO - Nhạc Võ Công Diên - phổ thơ Trương Nam Hương





Muốn xem rõ bản nhạc, xin bấm vào hình, khi thấy xuất hiện dấu +, bấm thêm lần nữa.




READ MORE - ĐỒNG DAO - Nhạc Võ Công Diên - phổ thơ Trương Nam Hương

Wednesday, February 2, 2011

NỮ CA SĨ TÂN NHÂN





Tân Nhân (15 tháng 7 năm 1932 - 14 tháng 2 năm 2008) là một ca sĩ nổi tiếng trong thập niên 1950-1970. Tên tuổi của Bà gắn liền với ca khúc Xa khơi của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ và nhiều ca khúc trữ tình cách mạng khác.
Tiểu sử và sự nghiệp
Bà tên thật Trương Tân Nhân, sinh năm 1932 tại làng Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh, Quảng Trị, trong một gia đình trí thức. Cha bà là ông đốc Hy, mẹ là con gái trong một gia tộc họ Hoàng. Lớn lên bà học tại trường nữ sinh Đồng Khánh (Huế).

Cách mạng tháng 8 thành công, bà thoát ly gia đình theo cách mạng khi mới 13 tuổi. Bà tham gia đội phản gián, làm nhiệm vụ đưa tin, rải truyền đơn. Năm 1949, bà tham gia vào Đoàn Văn công Quân đội mặt trận Bình Trị Thiên và Trung Lào. Năm 1954, bà là diễn viên đơn ca tại Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương. Năm 1963, bà theo học khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam và tốt nghiệp năm 1968. Từ năm 1969 đến năm 1972, bà tu nghiệp tại Nhạc viện Sofia, Bulgaria. Về nước năm 1973, bà làm việc tại Đài Phát thanh Giải phóng, rồi Đài Tiếng nói Việt Nam. Bà còn là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa II. Bà còn tham gia công tác đào tạo diễn viên cho Lào, xây dựng dàn hợp xướng cho các đội hợp xướng thiếu nhi ở Thủ đô Hà Nội.

Tân Nhân có một giọng nữ cao trữ tình, đậm chất miền Trung. Bà thành công với nhiều ca khúc dân ca và trữ tình cách mạng như Xa khơi (Nguyễn Tài Tuệ), Tát nước đêm trăng, Nắng Ba Đình, Tình quê, Ru con (dân ca Nam Bộ), Tình quê hương (Trọng Bằng), Anh về miền Bắc, Chim Pongkle (Nhật Lai), Lăm tơi, Bên nôi con mẹ hát (Lê Lôi), Câu hò bên bờ Hiền Lương (Hoàng Hiệp - thơ Đăng Giao), Nhớ... và một số ca khúc nước ngoài. Đặc biệt với Xa khơi, được thu âm vào thập niên 1960, bà được đánh giá là người thể hiện thành công nhất ca khúc này, và đây cũng là một ca khúc gắn liền với tên tuổi của bà, được công chúng yêu thích và đón nhận rộng rãi.

Tân Nhân đã được trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất và danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (1988). Bà mất vào ngày 14 tháng 2 năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 76 tuổi.
Đời sống riêng
Năm 1949, trong trận càn ở Phong Lai, bà đã mất liên lạc với cơ sở. Tưởng bà đã chết, trường Huỳnh Thúc Kháng (nơi bà đang theo học) đã tổ chức truy điệu bà. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ - người bạn học cùng quê - đã viết ca khúc Xuân chết trong lòng tôi để tưởng nhớ tới bà :
... Xuân ơi xuân
Chim xa đàn
Xuân ơi xuân
Ngờ đâu xuân chết trong lòng tôi
Trong tiếng đàn...

Về sau bà đã yêu Hoàng Thi Thơ. Sau này ông Hoàng Thi Thơ sang bên kia chiến tuyến, riêng bà lúc đó đang mang thai. Về sau, Tân Nhân ở lại đất Bắc nuôi dạy con là ông Lê Khánh Hoài (lấy họ theo người cha dượng tức người chồng thứ hai của bà là nhà báo Lê Khánh Căn nguyên phụ trách Phòng Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ sở 2, tại TPHCM) và nguyên Trưởng ban Bạn đọc Báo Nhân Dân. Hiện nay ông Lê Khánh Hoài đang làm phóng viên, hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh và kịch nghệ. Bà có 2 người con với người chồng thứ 2 là ông Lê Khánh Châu và bà Lê Khánh Như. Ông Lê Khánh Châu hiện là Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học của Đại học Bochum - Cộng hòa Liên bang Đức.


Theo vi.wikipedia.org
---------------------------------





ĐẶNG ANH ĐÀO - TÂN NHÂN THỜI ẤY


Cho đến tận tháng bảy năm nay, tôi mới biết rằng chỉ cần đi một đọan đường ngắn là có thể gặp lại chị. Đối với nhiều người, nói đến Tân Nhân là nghĩ đến Xa khơi, một bài hát của Nguyễn Tài Tuệ, và cũng thể là hình ảnh của một thời Tân Nhân – soliste nổi tiếng, từ sau 1954 đến những năm 60. Nhưng với tôi, dẫu có thấp thỏang gặp lại chị trong thời gian ấy, những ấn tượng khó quên nhất về người_con_gái_hát lại gắn với thời chị còn là một nữ sinh, hai bím tóc kết dày nặng, tràn đầy sức sống của tuổi thiếu nữ.




…Ngôi nhà nhỏ ở trong ngõ, hoặc là hẻm, sẹc, theo lối gọi của người dân Sài Gòn. Giọng nói vẫn ấm và trầm, chỉ không còn độ lan tỏa đến ngợp người của ngày xưa. Có năm, lên gác nhà tôi ở Hà Nội, chị bảo “Ở dưới sân nghe, cứ tưởng là cãi nhau, hóa ra các con trai em nói chuyện”. Chắc chúng đã làm khổ đôi tai của ca sĩ. Giọng Tân Nhân êm mượt như nhung, nhưng thời chúng tôi còn là học sinh trường Huỳnh Thúc Kháng, đâu có micro, vậy mà giọng hát ấy khi cất lên rung động cả khỏang không và đêm tối bao la. Trong những đêm liên hoan ấy, sang lắm mới có đèn măng sông, mà lại còn phải tắt ngay nếu có tiếng rù rì của máy bay địch. Tôi đứng dưới đám đông học sinh và dân làng, tất cả lặng đi, ngước nhìn bóng chị in rõ trên nền trời, tiếng ca mở rộng hết cỡ, những bài hát phơi phới của ngày ấy như Nắng Ba Đình, và cả những bài hát đậm sắc giọng miền Trung, như bài Bà Mẹ Gio Linh… Khi gặp nhau ở “nhà riêng” (có nghĩa là nhà dân cho chúng tôi ở nhờ), bọn “tiểu tư sản” chúng tôi được nghe những bài hát khác. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên chị tới nhà, ngôi nhà tranh nhỏ bé rung lên như không chứa nổi giọng hát của chị. Đó là những bài như Thiên Thai, Trương Chi… Sérénade của Schubert, và cả Quand Le Soleil D’or Descend (Khi mặt trời vàng lặn xuống…) mà diễn viên Shirley Temple nổi tiếng đã hát trong bộ phim tôi được xem từ thời trước Cách mạng, Cô gái của khu rừng bị nguyền rủa. (Chị nói thời còn là một học sinh trường Đồng Khánh Huế, nhờ giọng hát mà con bé nhà quê như chị đã được Nam Phương hòang hậu mời tới cùng với mấy đứa bạn con nhà quyền quý, cho ăn bánh ga tô và hát…Để rồi mới 14 tuổi đã “thóat ly” đi kháng chiến). Hôm đó, chị ca bài Xuân chết trong lòng tôi, một bài hát được Nhạc sĩ-Người tình viết cho chị trước đó ít lâu, khi tưởng rằng Tân Nhân-Mùa xuân của anh đang ở chiến khi Bình Trị Thiên_Trung Lào đã bị địch giết chết trong một trận càn… Lúc này đã được ban chỉ huy chiến trường cho về đi học tiếp, chị hát, còn Nhạc sĩ-Người tình đệm đàn, dường như là một kết thúc có hậu. Hôm chị đến nhà chúng tôi, nắng rực rỡ trong vườn. Dù lúc này chị đã gặp lại trường xưa, người cũ, nhưng lúc chị cất tiếng hát “…Bướm rồi lìa hoa/ trùng phùng xa lắm…”, cảm kích vì mối tình của nhạc sĩ, nước mắt chị vẫn chảy dài trên gò má hồng như trái bồ quân, làm đôi mắt đen to rợp hàng mi dày của chị gần như xanh biếc lại. Chị mặc một tấm áo bằng vải thô trắng-ngày nay là mốt, là hàng xịn- nhưng thời ấy là thứ vải dệt tay của dân quê thuộc lọai rẻ nhất. Dù nổi tiếng về nhan sắc, nhưng với Tân Nhân không mấy ai lúc bấy giờ đánh giá hết vẻ hiện đại, bí quyết của sức hấp dẫn ở chị: tràn trề sức sống mãnh liệt, chân chất của một vùng đầy sỏi đá, cô bé từng lên “lòi” ăn móc ăn sim tím cả môi, chân trần lội “hói”, ra tắm sông Thạch Hãn, hát theo giọng hò khoan và những điệu đưa đò khỏe mạnh thừa hưởng từ người mẹ ấy lại rất tài tử với những điệu “hát Tây” của thời Tino Rossi, Shirley Temple,… Chúng tôi chỉ cần đòi “Tân Nhân hát đi”… là chị cất tiếng. Ở Tân Nhân, có gì đó vừa sâu thẳm, vừa phù phiếm, vô tư. Cho tới ngày chị rời trường. Bởi thật trái khoáy, dẫu lời ca của người nhạc sĩ ấy đã “truy điệu” nhầm cái chết của Tân Nhân, nhưng lại trở thành lời tiên báo của một cuộc chia tay: “Bướm rồi lìa hoa”… Thời ấy, đã có những người trở về vùng quê cũ địch chiếm để rồi bị kẹt lại họăc cũng có khi vì “phồn hoa quen vui em ra đi”. Chỉ có điều người ra đi ở đây không phải là cô gái mà là nhạc sĩ.

Cô nữ sinh nhí nhảnh và nhẹ dạ ấy đã làm đủ nghề, kể cả lao động chân tay cực nhọc để nuôi con. Chị dệt vải, chằm nón, gánh gồng, dạy trẻ… Chị không hoàn toàn giống những nữ sinh yếu đuối tản cư từ thành thị về. Lúc này, trong chị càng trỗi dậy sức sống, bắt nguồn từ người mẹ gắn bó với ruộng đồng, người cha từng phiêu bạt kiếm sống tận Viengchian, đất Lào. Vả chăng, Tân Nhân ở đâu cũng rất dễ gần gũi dân làng, được họ cưu mang. Cho đến ngày nhạc sị Nguyễn Văn Thương từ ngòai Bắc “lội bộ” tới - như lời chị kể - đón chị từ ngôi làng heo hút ấy, về nhập đòan Văn công Trung ương. Chị cùng “lội bộ” ra Bắc, cắp theo chiếc nón cời, hai bộ quần áo.

Hòa bình lập lại, năm 1954, màu áo dài đang mốt của Hà Nội là màu xanh cổ vịt, màu đỏ tím của hoa mười giờ… Tấm ảnh đen-trắng thời ấy không giữ lại màu áo, nhưng đã xuất hiện một Tân Nhân mới, áo dài cổ điển, gương mặt điển hình cho một cô gái Huế. Tôi không mấy khi đến Nhà Hát Lớn và các rạp lộng lẫy ánh điện thời bình để nghe biểu diễn ca nhạc, tôi cũng chưa có rađio. Nhưng các loa phát thanh, rất hào phóng, tỏa ra mọi góc phố. Tôi rất thích Bài Ca Hy Vọng do Khánh Vân hát. Và những đợt sóng của Ra Khơi, với sức lan tỏa của giọng ca Tân Nhân, người trước đây đã làm rung động cả không trung lấp lánh sao trời, những đêm thôn dã, chẳng cần đến micro. Rồi chị trở thành người mẹ của ba đứa con, nhưng những người bạn của tôi nói rằng từ khung cửa sổ căn phòng ở khu tập thể Cầu Giấy 9 mét vuông (ở chung) của chị, họ vẫn nghe thấy Tân Nhân luyện giọng vút lên, hạ xuống mãnh liệt mỗi sớm mai.

Dẫu sao, chính Tân Nhân sớm hiểu hơn ai hết rằng trong nghệ thuật biểu diễn, nghề xướng ca thuộc vào lọai đoản mệnh nhất. Chị cảm thấy đã đến thời mà thành công không thể kéo dài nhờ giọng ca trời phú. Cũng may, vào những năm 70-72, chị đã được cử đi đào tạo bài bản ở nước ngòai, không bị rơi vào tình cảnh mà câu vè hồi ấy tếu táo: “Khi người ta cần trẻ thì tôi đã già/ Khi người ta cần đàn bà thì tôi là đàn ông/ Khi người ta cần công nông thì tôi là trí thức/ Khi người ta cần đức thì tôi lại có tài/…”. Và Tân Nhân vẫn là một soliste số một của những bài đậm chất dân ca. Với phần đệm của dàn nhạc dân tộc, trong đó có cây đàn bầu của Mạnh Thắng, chị đã tạo nên một hình ảnh Việt Nam bằng tiếng hát, ở những Đại hội Thanh niên, liên hoan sinh viên quốc tế. Trong khi đó, các ca sĩ khác bắt đầu biểu diễn những lọai hình nghệ thuật nước ngòai. Tôi đến nhà hát lớn, xem Quý Dương đóng Evgueni Oneguine, thanh mảnh bên cạnh một Tachiana Ngọc Dậu có dáng đẫy đà của người ca sĩ opera người Nga.Thật hay nhưng cũng buồn cười khi nghe Quý Dương hát trên đủ mọi cung bậc: Yếu ém/ Yều èm/ Yếu ém/ Yều èm (Yêu em…). Anh nổi tiếng đến nỗi một nam sinh ở trường tôi dạy, khi phát bệnh điên, đã làm cho cả trường cười rũ rượi. Mỗi lúc tan trường, với cái tên tự xưng là Trùng Dương, cậu ta đứng hát (khá hay) ở ngòai cổng trường và gào lên: “Cây cao đâu có sợ gió cả/ Trùng Dương đâu có sợ Quý Dương”. Đấy là thời mà Trần Hiếu với giọng nam trầm, hát những bài hát Nga bi tráng thật hợp, đặc biệt là bài Hò kéo gỗ trên sông Volga. Nhưng Tân Nhân với tôi bao giờ cũng mới.

Đến nỗi hôm nay đây, gặp mặt chị, câu đầu tiên tôi hỏi là: Chị ơi, ai đặt tên cho chị mà hay thế? Một cái tên tôi không hề thấy ai có, cho đến nay.

Thời gian ăn thịt những đứa con của mình_ huyền thọai cổ đại đã nói vậy. Song tôi vẫn nhận ra giọng nói, ánh mắt Tân Nhân, biểu tượng của thanh sắc một thời. Chị cười buồn, nói rằng nhìn lại, chị thấy vì nghệ thuật, chị đã sống hết mình. “Nhưng đôi khi cũng thấy cực quá em ơi, nhất là tội nghiệp cho ba đứa con…” Làm sao được, tính cách trời sinh. Cả chị và chồng chị_ thanh tao, trong sáng và thông minh, đúng với chất của dòng họ Lê Khánh_ cả hai đều xa thực tế. Nerhu từng nói: tư tưởng một người có thể thay đổi, nhưng tính cách thì không. Có một câu danh ngôn Trung Quốc cũng có hàm ý tương tự: Giang sơn dĩ biến, bản chất nan di. Chị hỏi tôi xem có biết nơi chung cư nào tốt, chị muốn bán cái nhà này đi. Chị nhớ Hà Nội, nhớ miền Bắc. Tôi bảo chị nhà Hà Nội đắt một cách vô lý, và giờ đây chắc sức khỏe chị không thể chịu nổi cái nóng Hà Nội. Chị bảo: “Ừ, trái đất nóng lên rồi. Chị mong bán cái nhà cũ đi để thừa được một ít tiền tiêu”. Nhưng chị có mua nổi khí hậu ở đây mang ra ngòai ấy không?

Khi tôi ra về giữa trưa, ngẩng nhìn thấy trên hẻm, bầu trời xanh lồng lộng, mây bồng bềnh. Không hiểu sao tôi lại nhớ đến câu hát của Nguyễn Vĩnh Tiến nói về “Nắng to, gió to...”. Rồi nhớ đến chuyện chị gặp Bác Hồ, tình cờ móc túi mình làm rơi tiền, người ca sĩ ấy, do một liên tưởng hồn nhiên đã hỏi: “Bác ơi, Bác có tiền không ạ?” Giờ đây, con người ấy vẫn ngơ ngác giữa đời thường, giữa thực tế mới. Nhưng với tôi, chị không cũ chút nào.


Đ.A.Đ

(Đã đăng trên báo An ninh thế giới)

READ MORE - NỮ CA SĨ TÂN NHÂN

PHẠM BÁ NHƠN - CHÙM THƠ XUÂN

MÙA XUÂN SANG


Làng xóm tưng bừng đón xuân sang

Đất trời tô đậm nét hân hoan

Luống cải cuối vườn hoa nở rộ

Trước sân hé nụ gốc mai vàng


Đám trẻ đùa nô rộn tiếng cười

Cụ già ngồi nhớ tuổi đôi mươi

Có cô thôn nữ nghiêng vành nón

Má hồng thêm đậm nét son tươi


Có kẻ từ lâu mới trở về

Một nhà sum họp giữa làng quê

Nếp thơm nồi bánh xanh màu lá

Khói cuộn hương bay tỏa bốn bề


Năm tháng trôi theo bước thời gian

Tha hương cũng đã mấy đông tàn

Tình cũ quê xưa lòng canh cánh

Chớ để xuân sau đến muộn màng


Xuân đến xuân đi xuân lại sang

Cuộc đời một chuỗi hợp và tan

Kiếp người còn lại bao năm tháng

Chớ để ngày xuân sớm lỡ làng.



XUÂN MỚI


Xuân đến xuân đi, giữa đất trời

Để người nhớ lắm, dáng xuân ơi

Bao mùa giữ trọn, lời ước hẹn

Nay đã về đây, với cuộc đời


Mời xuân nhấp cạn chén cùng tôi

Một mai duyên nợ kết thành đôi

Say sưa ngủ giấc trong vườn mới

Rộn rã đào mai đã nở rồi


Nắng vẫy chào xuân vừa đang tới

Chen chân góc phố chật niềm vui

Chúc mừng năm mới, mừng thêm tuổi

Nội ngoại sum vầy khách tới lui


Rồi đây chim én qua đầu núi

Để giữa đất lành lá vẫn xanh

Âm thầm tôi gọi tên mùa cũ

Lặng lẽ vườn em trái trỉu cành



XUÂN ĐI


Lặng nhìn vạt nắng ngang qua

Dường như xuân đã vừa xa mất rồi

Chén trà đắng lịm môi tôi

Lã lơi mây trắng buồn trôi cuối trời

Ước gì nắng ở đây chơi

Cùng ta suốt cả một đời với xuân

Trăm năm dẫu cũng bao lần

Vẫn còn vẹn kiếp phong trần dẻo dai.



XUÂN VỘI VÀNG


Xuân đến xuân đi vô tình quá

Bao mùa người vẫn mịt mờ xa

Ta nghe từng nỗi xao xuyến lạ

Cứ chảy tràn qua trước cổng nhà


Ngoài hiên giọt nắng rơi lác đác

Ngọn gió bên thềm vọng tiếng em

Vô tình chiếc lá khua xào xạc

Trong mắt mơ màng dáng thật quen


Hỡi ơi duới bến đàn chim én

Lưu luyến gì đây mãi lượn vòng

Có phải say nhìn ta bẻn lẽn

Vì cùng ước hẹn với chờ mong


Năm nay thấy bóng xuân vàng óng

Đôi mắt long lanh dáng dịu dàng

Có lẽ vì chàng đang đứng đợi

Nên nàng vội bõ kẽ lang thang./.



P.B.N

READ MORE - PHẠM BÁ NHƠN - CHÙM THƠ XUÂN

Tuesday, February 1, 2011



READ MORE -

VÕ VĂN HOA - CUỐI NĂM NGỒI UỐNG CÀ PHÊ VỚI NHÀ NGHIÊN CỨU VƯƠNG THỪA ÂN


Ta về Nhà cổ cà phê

Để cho hoài niệm bốn bề lao xao

Nhìn đất thấp, nhìn trời cao

Nghệ Kiều nho nhã lối vào cỏ hoa

Ngồi đây đếm giọt sương mà

Ai hay ngõ hạnh vàng sa nẻo trời !


V.V.H

READ MORE - VÕ VĂN HOA - CUỐI NĂM NGỒI UỐNG CÀ PHÊ VỚI NHÀ NGHIÊN CỨU VƯƠNG THỪA ÂN

TRƯƠNG LAN ANH - BÂNG KHUÂNG CHIỀU BA MƯƠI




Chiều ba mươi

anh trở lại

tìm em

còn khoảng vắng

gió về lay động!


Lá vàng rơi

ừ thôi lá nhé

trút đi nỗi buồn

ngày cuối

phôi pha!


Chiều ba mươi

vắng bóng em rồi

ta cùng lá vàng

sót về sau cuối!


Chiếc lá ơi!

ta cùng phận mỏng

mong gì hơn

hoá kiếp nỗi buồn!


Chiều ba mươi

sót lại chiếc lá rơi

lá vàng ơi

ai chia tay vội vã

sót chút Đông

sau cùng trên lá

ta trở về

trong giá lạnh sương sa!


Ngày mai xuân về

Lộc biếc xanh non

Nắng xuân hong

Tình em hồng biết mấy!


Ta ước là gió xuân

trỗi dậy

níu em về

Xoá khoảng lặng

hồn ta!


T.L.A

READ MORE - TRƯƠNG LAN ANH - BÂNG KHUÂNG CHIỀU BA MƯƠI

MINH TỨ - VỀ BÊN MÁI NHÀ XƯA

Có những lúc mệt nhoài trên những nẻo đường rong ruổi, bỗng thèm được quay về bên mái nhà xưa, để được tĩnh tâm, chìm đắm trong miền ký ức thời thơ ấu hồn nhiên trong trẻo, để quên hết những nhọc nhằn trong gánh nặng mưu sinh. Thực ra tôi cũng đã từng ra đi, có lúc cũng muốn chen chân vào chốn phồn hoa đô hội, nhưng cuối cùng lại quay về nơi tôi đã ra đi.

Sống trên đời ai cũng mong có một mái nhà bình yên để đi về sớm tối. Ngôi nhà là nơi trú thân gắn bó với những kỷ niệm tuổi thơ cho đến khi lớn lên, kể cả khi nằm xuống của mỗi đời người. Một ngôi nhà rường cổ xưa nằm ở vùng ngoại vi thành phố Đông Hà của tôi cũng chẳng có gì đáng nói, nhưng mỗi lúc đi xa tôi lại trông về. Ngày ba tôi còn sống, sợ sau này các con không giữ lại ngôi nhà cổ, ông quyết định nâng cấp tu sửa ngôi nhà. Hồi đó tôi muốn can ngăn vì ông đang bệnh nặng, nhưng ông đã quyết nên đành nhượng bộ. Cũng may nhà vừa tu bổ xong, ba tôi yếu dần, rồi trút hơi thở cuối cùng trong ngôi nhà mà ông bà đã một đời tạo dựng. Ba tôi mất, mẹ tôi vẫn đi về trong căn nhà đơn chiếc. Tôi biết mẹ khó có thể nguôi quên nỗi nhớ về ba, về bao kỷ niệm nơi mái nhà xưa hai người đã sống với nhau đến tuổi thất thập của đời người.

Cũng căn nhà này của gia đình tôi có lẽ là ngôi nhà duy nhất của cả vùng ngoại vi thành phố Đông Hà còn tồn tại sau những đợt không kích của Mỹ trong chiến cuộc mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972. Hai quả đạn pháo từ Hạm đội 7 ngoài khơi đã rơi trúng căn nhà, cùng 5 quả bom tọa độ ở 4 phía cách nhau chỉ mấy chục mét. Thế mà kỳ lạ, ngôi nhà 4 mái như cái bánh ít vẫn đứng vững, đất đá của bom đạn hất lên phủ kín căn nhà, trở thành một chiếc hầm cho bộ đội trú quân. Sau Hiệp định Paris, gia đình tôi từ nơi di tản trở về, sửa sang lại nhà để ở. Hồi đó có phái đoàn các nước phương Tây đến thăm tỉnh Quảng Trị giải phóng, chính quyền tỉnh đưa đoàn đến thăm nhà tôi, một ngôi nhà còn sót lại sau chiến tranh. Ngày đó tôi mới lên chín tuổi, thấy thực đơn mời khách của tỉnh chỉ có dưa hấu, kẹo Hải Hà và nước chè Bắc Thái (khi khách ra về chị tiếp tân có để lại cho gia đình một ít làm quà).

Tôi nhớ trong khi một vị khách phương Tây hỏi chuyện chủ nhà, người phiên dịch của đoàn định phiên dịch thì bất ngờ ba tôi nói chuyện trực tiếp với vị khách ấy bằng tiếng Pháp, đại ý là sau chiến tranh, tất cả đều bị hủy diệt, duy chỉ lũy tre và ngôi nhà rường này còn trụ vững được như là một tinh thần Việt không thể khuất phục trước bạo tàn. Cả phía lãnh đạo tỉnh lẫn các vị khách nước ngoài ngớ ra, không ngờ rằng một nông dân ở vùng giải phóng lại nói chuẩn tiếng Pháp đến thế. Sau này khi lớn lên, tôi biết thêm nhiều người bạn của ông rất nể phục ông về vốn tiếng Pháp và chữ Hán nôm, mặc dù hồi trước ông chỉ mới học hết chương trình tiểu học thời Pháp thuộc.

Ra đi từ lũy tre làng, nghề làm báo đã đưa tôi đến nhiều vùng đất, được biết thêm bao điều mới mẻ cảm thấy yêu thêm đất nước, quê hương của mình. Những chuyến đi xa cho tôi có thêm nhiều bạn bè, càng thấy mình có may mắn được trở về sống và viết trên quê hương. Quê hương với tôi thật có cái gì đó rất đỗi thân thương tưởng như có thể cầm nắm được, thế mà với bao người vẫn cứ thấy xa xôi, hiển hiện trong nỗi nhớ khôn nguôi.

Nhớ lần ra công tác ở quần đảo Trường Sa, bất chợt giữa bạt ngàn sóng gió trùng dương tôi bắt gặp bác sĩ Nguyễn Hoàng Phong, Trạm trưởng quân y đảo Trường Sa Đông. Hỏi chuyện mới biết Phong là bạn đồng niên, quê gốc ở huyện Triệu Phong, nhưng quê hương chỉ còn là chấm nhạt nhòa trong ký ức vì bố mẹ Phong đi tập kết, sinh ra anh ở ngoài Bắc. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bố mẹ anh về công tác ở thành phố Hồ Chí Minh. Làm việc với chỉ huy đảo, tôi biết được anh là bác sĩ giỏi được tăng cường cho đảo và anh đã xử lý rất nhiều ca mổ khó cho lính đảo cũng như ngư dân đi biển thành công trong điều kiện thiếu thốn nhiều bề ở đảo. Khi chia tay, Phong hẹn có dịp sẽ về thăm quê, nhưng ba năm qua rồi, anh vẫn còn ở lại với đảo xa.

Lại nhớ lần vào thăm đất mũi Cà Mau, anh em đồng nghiệp kết nối cho tôi gặp một bác sĩ quê ở Gio Linh, Quảng Trị là anh Trương Quang Thận. Anh em ở Báo Cà Mau đùa anh là bác sĩ “thận” nhưng lại giỏi mổ “ngoại”. Mà thật, ở đất mũi này, anh nổi tiếng là bác sĩ ngoại giỏi chuyên môn và có tấm lòng nhân từ, chăm lo cho sức khỏe của người bệnh như người thân của mình. Hôm thức trắng với anh ở Cà Mau, anh nói nhiều về tình quê, về nỗi nhớ da diết của người con tha hương. Cái vùng đất Cát Sơn ở Trung Giang đã gắn bó với anh thuở hoa niên đầy gian khó nhưng cứ trăn đi trở lại trong anh không thể dứt ra được. Tôi an ủi anh bằng câu thư pháp của một người bạn: “Có anh đi bốn phương trời/Nơi đâu anh đến cũng trời quê hương”, chợt thấy khóe mắt anh ngân ngấn nước.

Vâng, cũng có những năm tháng xa quê, mới thấy nỗi hoài hương là hình bóng không thể dứt ra được. Nhà báo, nhà văn Phan Quang từ quê nghèo Quảng Trị đi ra, rồi thành danh ở đất Hà thành, đã từng đi qua không biết bao nhiêu vùng đất trên thế giới, thế mà quê hương trong tác phẩm văn học cũng như tác phẩm báo chí của ông mới thiết tha và diệu vợi làm sao. Dù bận trăm công nghìn việc, năm nào ông cũng dành thời gian về thăm quê nhà Hải Thượng, Hải Lăng; khi thì ông về để thắp hương cho tổ tiên ông bà; khi thì ông về với những thùng sách của chính ông viết để tặng cho con em trong làng, trong xã, như là sự tri ân của ông với đất mẹ quê hương...

Quê hương, hai tiếng ấy với tôi bình dị như bờ tre gốc rạ, như cái giếng đầu làng, nguồn nước mà cả làng dùng chung; là hình ảnh lam lũ của cha mẹ ta, của người anh, người chị trên cánh đồng xa; là mái nhà chật chội, đụng đâu cũng thấy cột kèo, không còn phù hợp với nếp sống hiện đại. Nhưng quê hương gắn với mái nhà xưa, với bà con lối xóm, là nơi chúng ta đã sinh ra và lớn lên, nếm trải qua những năm tháng gian khó nhưng bình yên bên mái ấm gia đình.

Cứ mỗi khi thấy bất an trong lòng, tôi lại quay về bên mái nhà xưa. Nơi ấy chỉ còn bóng mẹ đổ xuống mỗi buổi sáng chiều. Bây giờ tôi đã chuyển đến ở căn nhà mới, nhưng hôm nào cũng về bên mái nhà xưa yêu dấu để thắp nén tâm hương, bởi như người ta nói: “Có ngôi nhà hoàn thiện nhưng con người thì chớ để dở dang”. Hình như đó là ý của giáo sư Huỳnh Như Phương thì phải.

M.T.


Nguồn: vn.360plus.yahoo.com/minhtuqtri
READ MORE - MINH TỨ - VỀ BÊN MÁI NHÀ XƯA

Monday, January 31, 2011

HỒ SĨ BÌNH - GAM MÀU VÀNG ĐỎ CỦA BẰNG

Họa Sĩ Tôn Thất Bằng
Sinh 1964 tại Quảng Trị.

1986 – 1989: Học nhạc và nghệ thuật tại trường ĐH Mỹ Thuật Huế, Việt Nam.
Là thành viên của hội Mỹ Thuật Tp. HCM.




HỒ SĨ BÌNH - GAM MÀU VÀNG ĐỎ CỦA BẰNG


Mấy năm gần đây, Tôn Thất Bằng trở về với gia đình ở Đà Nẵng để sống và vẽ. Nhìn vào loạt tranh mới của anh, họa sĩ Phan Ngọc Minh nhận xét: “Bằng đã có một độ chín trong nghệ thuật, nhất là sở đắc gam màu vàng đỏ trên chất liệu sơn dầu khá ấn tượng...”.

Tốt nghiệp khoa âm nhạc Trường cao đẳng Nghệ thuật Huế năm 1990, Tôn Thất Bằng lặn lội vào Sài Gòn tìm việc. Giai đoạn khởi nghiệp khá lận đận. Sống xa nhà, nghề âm nhạc không đủ đắp đổi qua ngày, anh tranh thủ vẽ thêm tranh, gởi hờ ở những gallery quen biết để kiếm sống. Thời gian học ở Huế, do khoa âm nhạc gần với khoa mỹ thuật nên anh có dịp tiếp xúc, tìm hiểu và gần gũi với anh em họa sĩ. Cái vốn hiểu biết hội họa từ đấy, cộng với nỗi đam mê cái nghề tay trái đã giúp anh giải quyết được phần nào nỗi lo cơm áo trong những ngày đầu xa xứ.

Thế rồi có một lần Tôn Thất Bằng theo bậc đàn anh đến thăm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Khi được xem những bức tranh chụp lại của anh trong album, người nhạc sĩ tài hoa thi thoảng gật gù rồi nhỏ nhẹ: “Cái này được, cái kia lạ...”. Chỉ thế thôi, nhưng Trịnh Công Sơn chắc không bao giờ biết rằng, chỉ mấy cái gật đầu của anh đã có tác dụng quyết định số phận nghệ thuật của một họa sĩ trẻ mới tập tễnh vào nghề. Đó là tiếng gõ cửa của định mệnh và nghệ thuật để Tôn Thất Bằng tự tin hơn khi dấn thân vào hội họa.

Một vài năm sau lần gặp gỡ ấy, năm 1997 anh có cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên ở TP.HCM. Trong lòng tác giả của phòng tranh khi ấy vẫn chất chứa bao phân vân lo lắng. May mắn là tranh của anh được đón nhận, thậm chí được một vài bậc đàn anh động viên, coi đó là sự xuất hiện của một họa sĩ trẻ đầy triển vọng.

Tranh của Tôn Thất Bằng thời ấy là một chuỗi ký ức tuổi thơ ở cái thị xã lặng lẽ bên sông Thạch Hãn. Tuổi thơ êm đềm không thể tìm lại và cả cái thị xã ấy gần như đã bị hủy diệt trong bom đạn chiến tranh. Có lẽ cái tâm trạng tiếc nuối quá khứ cùng những hoài niệm mênh mang đã tạo nên một không gian giàu biểu cảm trong tranh anh với những đề tài dung dị, gần gũi: những chiếc cặp học trò trên bãi cỏ, một vùng lá vàng mùa thu tuổi nhỏ, những trò chơi nhảy dây, cỡi ngựa mà bọn học trò chẳng ai không biết, chiếc áo trẻ con bỏ quên ngoài bờ dậu, buổi trưa hè rực nắng ở bến sông... và được thể hiện bằng màu sắc trong trẻo, óng mượt.

Bằng vẽ bằng ký ức, vẽ bằng sự cảm nhận của trái tim chứ không phải từ cái nhìn thấy. Bất chấp những quy chuẩn của bố cục, hình khối..., những hình và màu cứ trào ra thật tự nhiên. Nhưng đằng sau sự hồn nhiên, ngọt ngào vẫn phảng phất đâu đó trong tranh một thoáng thảng thốt và nỗi ám ảnh chiến tranh mất mát. Có lẽ sự kết hợp của hai tính chất ấy đã tạo nên một ngôn ngữ hội họa gây được cảm xúc nơi người xem.

Sau đó, từ 1997-2006, Bằng đã có những gặt hái đáng kể: hơn mười cuộc triển lãm nhóm và cá nhân tại nhiều gallery ở Singapore, Hong Kong, Brussels (Bỉ), Philadelphia, New York (Mỹ), Melbourne (Úc), Tokyo (Nhật)... Đến hôm nay, khi đã có thể sống đường hoàng bằng hội họa, khi nhìn lại chặng đường đã qua, anh vẫn chưa hết ngạc nhiên và không ngờ rằng sự tình cờ của số phận khiến anh cầm cọ thay vì chơi đàn lại đem đến nhiều niềm vui và hạnh phúc đến thế.


Loạt tranh mới chủ yếu khai thác cặp màu vàng và đỏ. Màu vàng được sử dụng trong một không gian rộng, màu đỏ nhằm tạo hình. Hai gam màu theo nhau biến tấu, trao đổi hợp lý, chứng tỏ tác giả đã tự tin hơn rất nhiều. Hình ảnh của đôi bé gái, bình hoa, bình rượu, đồng tiền xu, lá, ngựa gỗ... trong tranh của Tôn Thất Bằng dù được xử lý già dặn nhưng vẫn mang nét hồn nhiên, ngộ nghĩnh.


Những khuôn hình trong tư thế bay bổng, lãng đãng, la đà: mái tóc thiếu nữ hình bó lúa, những mái nhà nghiêng mềm rũ tóc, chiếc lá “rơi như là rơi nghiêng”, con ngựa gỗ với con mắt săm soi ngoái lại, cái bào thai bồng bềnh bắt nguồn cho sự sống... xuất hiện theo một môtip đã quen thuộc trong tranh anh nhưng không gây cảm giác đơn điệu, trùng lặp. Sự nổi trội của gam màu đỏ, vàng làm cho tranh sáng lên, vui nhộn, phản ánh tâm trạng của tác giả, không còn man mác tiếc nuối như trước đây mà đang rộn ràng niềm vui sống.

Tranh của Tôn Thất Bằng được các nhà sưu tập nước ngoài, Nhật, Hàn Quốc ưa chuộng, và có người từng đưa ra nhận xét khá lạ: ông chọn tranh của họa sĩ này vì đơn giản nó rất... khó chép, khó làm hàng “nhái”, một vấn nạn của hội họa Việt Nam hôm nay.

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
READ MORE - HỒ SĨ BÌNH - GAM MÀU VÀNG ĐỎ CỦA BẰNG

Sunday, January 30, 2011

PHẠM HÒA VIỆT - XUÂN NỒNG


Thắp sáng màn đêm ấm lửa hồng

Giao thoa trời đất giữa thinh không

Chúa xuân nhẹ gót từ đâu đến

Mà đã bắc cầu tiển giá đông…


Ta đợi nàng xuân trên gác cao

Sương khuya ngây ngất nụ mai đào

Đâu đây vẳng tiếng người xưa lại

Trong khói trầm hương tỏa ánh sao…


Ta thấy thời gian chậm bước đi

Phương Nam kiều diễm nét xuân thì

Lắng nghe tiếng hát Hà Hồi vọng

Ngàn thớt voi thiêng bước diệu kỳ…


Ta uống cùng em chén rượu cay

Rét chung chăn mỏng với men say

Ta ôm trời đất cho nồng gối

Kim cổ tứ bàng vũ trụ quay…


Ta muốn bên em ngắm Xuân nồng

Trăm hoa đón nắng mới ngoài song

Cho em viết tiếp dòng tâm tưởng

Cho thỏa lòng son với má hồng…


Tặng TT

P.H.V

READ MORE - PHẠM HÒA VIỆT - XUÂN NỒNG

Saturday, January 29, 2011

LÊ NGỌC PHÁI - KÝ ỨC NGÀY XUÂN



Năm mới sắp đến rồi, con nhớ quá

Những ngày xuân yêu dấu ở quê nhà

Mẹ bận rộn suốt ngày theo chợ tết

Em phụ giúp mua sắm đủ hàng quà


Cha sửa soạn trên bàn thờ Tiên Tổ

Bình mai tươi hé nở những nụ vàng

Bộ lư đèn bóng loáng ngát trầm nhang

Mâm quả tết, cầu an khang năm mới


Đường vào sân, cỏ hoa như ngày hội

Cờ phướn bay phất phới đón xuân về

Bà nội ngồi kể chuyện tết say mê

Bên nồi bánh, tình quê in đậm nét


Chiều tất niên, con mừng năm cũ hết

Thương mẹ cha mà chẳng biết nói chi

Tự trách mình sao quá đỗi khù khì

Rồi thầm nhủ “ mẹ ơi thương mẹ lắm”


Đêm trừ tịch, bên ngoài trông im ắng

Cảnh trong nhà ấm cúng biết là bao

Anh em con chia sẻ chút tự hào

Sự đồng cảm tình yêu và hạnh phúc


Trời đã khuya, mẹ vẫn còn lục đục

Cha loay hoay cho tới lúc nửa đêm

Tiếng pháo nổ làm chúng con tỉnh giấc

Đón nàng xuân nhè nhẹ bước lên thềm


Cúng giao thừa, cha dâng lễ trang nghiêm

Mẹ kính cẩn cúi đầu lâm râm vái

Mong chúng con được mọi điều ưu ái

Thân quyến gia đình mãi mãi bình yên


Sáng mùng một, quây quần mừng tuổi mới

Mỗi thành viên chúc tết một đôi lời

Đến mùng hai, chúng con về thăm ngoại

Qua chiếc cầu tre con nhớ suốt đời


Cứ mỗi năm khi xuân sắp trở lại

Lòng bâng khuâng nhớ tới tết quê nhà

Lời mẹ dặn dò con tạc dạ:

Thế hệ tương lai rạng rỡ ông bà.


L.N.P

Trích từ tập thơ DÒNG SÔNG KÝ ỨC

NXB VĂN HÓA VĂN NGHỆ TP.HCM, 2010

READ MORE - LÊ NGỌC PHÁI - KÝ ỨC NGÀY XUÂN