Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, October 10, 2020

NHỮNG BÀI THƠ CUỐI ĐỜI CỦA THI SĨ VŨ HOÀNG CHƯƠNG: “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA” – Hoàng Hương Trang

Năm 2012, La Thụy được chị Hoàng Hương Trang tặng TUYỂN TẬP THƠ VĂN XUÔI HOÀNG HƯƠNG TRANG, trong đó có in những bài thơ cuối cùng, là “di cảo do thi sĩ Vũ Hoàng Chương trao cho chị Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời”. Những bài thơ này được in từ trang 398 đến trang 407 trong tuyển tập nêu trên. Xin giới thiệu cùng quý bạn đọc.


           
   

NHỮNG BÀI THƠ CUỐI ĐỜI CỦA VŨ HOÀNG CHƯƠNG: “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA”

                                                 Hoàng Hương Trang

Di cảo của Vũ Hoàng Chương (1975 – 1976), do Vũ Hoàng Chương trao cho Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời, đây là công bố đầu tiên di cảo này, gồm 14 bài, trong đó có 1 bài thơ Tết vịnh Tranh Gà Lợn, 12 bài cùng 1 nhan đề “Đọc lại người xưa”, còn 1 bài ông làm trong tù gồm 12 câu, phải làm 6 lần, mỗi lần bà Đinh Thục Oanh vợ ông vào thăm nuôi, ông chỉ viết 2 câu trên mảnh giấy gói đồ, 6 lần vào thăm nuôi ghép lại mới hoàn chỉnh bài thơ, tuy nhiên bài ấy do bà Đinh Thục Oanh giữ và nay đã thất lạc, Hoàng Hương Trang chỉ nhớ vỏn vẹn 1 câu: “Tối về Khánh Hội sáng vô Chí Hòa” để chỉ những cuộc thăm nuôi của bà Đinh Thục Oanh vào thăm ở Chí Hòa, lặn lội cuốc bộ về tới Khánh Hội ở đậu nhà bà Đinh Hùng thì trời đã chiều tối. Nhưng bài thơ này cũng là ngoài 12 bài liền mạch “Đọc lại người xưa”.
Hoàng Hương Trang nay cũng ở gần cái tuổi 80 rồi, sợ không giữ được, nên xin công bố, in vào tuyển tập sau này để lưu giữ được lâu dài, làm tài liệu cho văn học sau này.


ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA

1.
“Minh nhật dục từ nam phố đạo
Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh”
                             Cao Bá Quát

Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von
Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây
Cánh chim lượn gió đong đầy
Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành
Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành
Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương
Ba hồi trống giục pháp trường
Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa
Cơn buồn lọt gió mành thưa
Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba
Nào ai đáng mặt danh ca
Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.

2.
“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”
                     Phạm Ngũ Lão

Đại công ngoài mãi tầm tay
Thẹn nghe lời nhắc rồng mây Vũ hầu
Non sông riêng họ Trần đâu
Mà trăm trận đánh công đầu về ai
Để ta thương một chàng trai
Giáo cầm ngang tiếng thở dài mấy thu
Kìa trên dòng sử hoang vu
Tầm tay ai vượt sương mù trỏ lên
Thẳng băng ngọn giáo mũi thuyền
Nuốt sao Ngưu lệnh còn xuyên trăng tà
Chàng trai cười ngất Đông A
Hơi văn nhọn mãi chính là đại công.

3.
“Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng”
                                   Thôi Hộ

Ngày này xưa cổng này đây
Hoa đào má đỏ cùng lây ánh hồng
Đã ngưng một điểm thời không
Mở ra ngoài phía chiếc lồng thiên cơ
Đón vào sâu tận cõi bờ
Chưa ai vào được hay mơ được vào
Chợt nghe má đỏ hôm nào
Cười lên từ cổng hoa đào nhặt thưa
Cổng ơi mở cũng bằng thừa
Đừng tin kích thước gởi vừa Đường thi
Chàng Thôi ngắm hão rồi đi
Một khung chết đứng mong gì ngàn sau

4.
“Hữu hoa kham chiết kham tu chiết
Mạc đãi vô hoa không chiết chi”
                       Đỗ Thu Nương

Hoa ngon thì bẻ liền tay
Chậm tay chưa chắc hoa này của anh
Bẻ hoa đừng bẻ hão cành
Lời ai như lệ tung hoành lưỡng gian
Mà trong tàn cuộc không tàn
Hơi ca một thuở tiếng đàn một phương
Hỡi ơi nàng Đỗ Thu Nương
Đàn ca độc bộ giáo phường đó ư
Lỡ nhau lầm mãi tương tư
Giòng năm tháng khác mảnh dư đồ nào
Sắc hương ngoài cả chiêm bao
Chỉ thu được ngấn hoa vào trong tay

5.
“Hốt phát cuồng ngôn kinh tứ tọa
Lưỡng hàng hồng phấn nhất thì bôi”
                                    Đỗ Mục

Lời cuồng giây phút ném ra
Thềm cao tiệc lớn ai mà dám ghi
Ngàn sau đọc nát Đường thi
Biết đâu Mục nói câu gì ngàn xưa
Một câu ngàn vạn bất ngờ
Sóng trôi nghiêng cả hai bờ phấn son
Cân đai ngồi sững núi non
Cuồng phu đệ nhất cuồng ngôn thuở nào
Ôi câu thần chú ai trao
Mộng Dương Châu lại mở vào mười năm
Cười vang cao nửa gối nằm
Thơ còn tiếng rượu còn tăm đó hề!

6.
“Lan hữu tú hề cúc hữu phương
Hoài giai nhân hề bất năng vong”
                           Hán Vũ đế

Cúc thơm lan nõn bằng không
Chỉ riêng người đẹp người trông người chờ
Người không quên được bao giờ
Hồn như mây trắng bơ phờ gió thu
Cúc đành ôm khối tình u
Lan đành chôn chặt mối thù đế vương
Để rồi như hoa hướng dương
Để rồi như cỏ đoạn trường hay sao
Không không hãy mở thành dao
Mọc thành gươm trỏ ngay vào hiện thân
Của trăm ngàn kiếp giai nhân
Rạch cho nát cả chín lần si mê

7.
“Đưa tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài”
                Hồ Xuân Hương

Đo xem đất có dài chăng
Với tay xem có thật rằng trời cao
Ôi sầu đây hận đây sao
Văn chương hồ thỉ hôm nào tung hê
Sầu không nở trắng hoa lê
Hận không chôn chặt bên lề cỏ xanh
Cán cân rơi mất thôi đành
Túi càn khôn thắt được danh bao giờ
Còn tên còn tiếng lửng lơ
Còn son để yếm còn thơ để đời
Sân đu cọc nhổ còn chơi
Ngã ra lại có đất trời ở trong

8.
“Tôi ở Tây hồ bán chiếu gon
Cớ sao ông hỏi hết hay còn”
                         Thị Lộ

Còn gì đây hết gì đây
Chiếu nhà vua gái thơ ngây biết gì
Chiếu gon ông hỏi làm chi
Dệt nên tôi cũng bán đi là thường
Hồ Tây còn nước còn gương
Vai tôi còn chiếu tuy giường thì không
Ông còn đất trải không ông
Mà toan mua chiếu mất công hỏi người
Sao ông không hỏi ông trời
Hỏi thân ngày trước hỏi đời hôm nay
Còn đem non nước làm rầy
Cả chiêm bao cả chiếu này nữa ư

9.
“Khả liên Vô Định hà biên cốt
Do thị thâm khuê mộng lý nhân.”
                                  Trần Đào

“Chàng về trong mộng đêm đêm
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ
Ngày qua nàng vẫn trông chờ
Tháng, rồi năm, vẫn giấc mơ liền cành
Biết đâu chàng đã trở thành
Xương tàn một nắm vô danh bên trời
Bờ sông bãi cát bồi hồi
Đã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu
Chữ đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương
Là Nam Bắc, là âm dương
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây.”

10.
“Thập vạn đại quân tề cổ chướng
Bành lang đoạt đắc Tiểu Cô hồi”
                 Bành Ngọc Lân

Bành lang đoạt Tiểu Cô về
Hùng binh mười vạn nhất tề vỗ tay
Riêng Cô Bé vẫn ngồi ngây
Xanh xanh ngàn dặm tóc mây hững hờ
Từ bao giờ đến bây giờ
Chẳng xiêu lòng núi vì thơ họ Bành
Kể chi lúc ấy đời Thanh
Sá chi người ấy là danh tướng nào
Tiểu Cô sơn chỉ nhìn cao
Nghe Bành lang độ thấm vào lòng chân
Non xưa bến cũ nhập thần
Đoạt non về bến đâu cần hùng binh

11.
“Người xưa cảnh cũ giờ đâu tá
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu”
     Bà Huyện Thanh Quan

Nước trong dòng đục thương ai
Chiều sương gió tiễn sô gai bốn bề
Yếm khăn đi cũng chẳng về
Nghiệp văn chương ấy nặng nề đến đâu
Lạ gì mưu lũ trọc đầu
Cung vua dìm tiếng thơ sầu Thanh Quan
Dễ gì khi qua đèo Ngang
Chim kêu lại chẳng gan vàng xót xa
Mảnh tình riêng ta với ta
Phải đâu tâm sự một bà huyện thôi
Nước còn cau mặt không trôi
Hồn thu thảo lắng chuông hồi cổ him

12.
“Văn tự hà tằng vi ngã dụng
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên”
                             Nguyễn Du

Chẳng dùng chi được nhân tài
Thân này lụy áo cơm ai bất ngờ
Phút giây chết điếng hồn thơ
Nét đau mặt chữ bây giờ còn đau
Chắc gì ba trăm năm sau
Đã ai vào nổi cơn sầu nằm đây
Nếu không cơm áo đọa đầy
Như thân nào thịt xương này bỗng dưng
Chết theo vào đến lưng chừng
Say từng mảnh rớt, mê từng khúc rơi
Nửa chiều say ngất mê tơi
Khúc đâu lơ láo mảnh đời Thi vương.


13.
VỊNH TRANH GÀ LỢN

Sáng chưa sáng hẳn tối không đành
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác chi nữa ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

                                     Vũ Hoàng Chương

Tết Bính Thìn 1976, đây là bài thơ Tết cuối cùng của Vũ Hoàng Chương. Bài này đã được đọc truyền khẩu qua nhiều người nên có nhiều sai lạc. Bài trên đây do chính ông bà Vũ Hoàng Chương đọc cho Hoàng Hương Trang chép trước mặt ông bà. Ba chữ “thơ có họa” theo ông Vũ gồm có 3 nghĩa: Thơ có xướng họa, trong thơ có tranh vẽ (thi trung hữu họa) và cái nghĩa nặng nhất là làm thơ cũng mang họa vào thân. Sau cái Tết này, ông bị bắt ngày 17 tháng 3 năm 1976, giam ở Chí Hòa. Chính quyền không gọi là tù, chỉ gọi là tập trung cải tạo tư tưởng (!). Ông trở bệnh nặng, cho về mấy hôm thì mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tức ngày 13 tháng 8 năm Bính Thìn. Vũ Hoàng Chương sinh ngày 5 tháng 5 năm 1916 ở Nam Định, có bằng tú tài Tây, đã theo học trường Luật và có học ban cử nhân toán học, vào Nam năm 1954 dạy văn ở trường Chu Văn An và Văn Lang, chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam và viết báo.

                                                 Hoàng Hương Trang



No comments: