Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, October 30, 2025

CHUYỆN TRÒ VỚI NHẤT NGÀY SỬA NHÀ - Đặng Xuân Xuyến




CHUYỆN TRÒ VỚI NHẤT

 NGÀY SỬA NHÀ

 

 Sửa nhà giúp tôi, Trương Duy Nhất suốt ngày than vãn: "Sửa nhà cho anh mệt quá. Hàng xóm của anh sao toàn bọn chó thế? Dưới Nguyễn Văn Trỗi gặp vợ chồng con chó T, trên Đường Láng lại gặp con chó H. Sao số anh nhọ thế?". Tôi nghe, chỉ cười nhạt: - Chắc kiếp trước anh nợ họ nên kiếp này họ đòi nợ anh.

 

Nhất nghe xong thì cáu: - "Số cái con khỉ! Anh hiền quá nên bị bọn chó nó bắt nạt. Phải tay em thì em đập chết mẹ chúng nó rồi!". Tôi lại cười, thầm nghĩ: Ừ thì đập. Đập xong rồi sao? Mấy ai hiểu được những chuyện tưởng chừng ngẫu nhiên trong đời hóa ra đấy lại là những mắt xích của một sợi dây nghiệp chướng vô hình.

 

Tôi kể Nhất nghe chuyện bảy lần tôi thuê cửa hàng thì cả bảy cửa hàng đều bị khuyết góc phía sau nhà. Chuyện nhà của bố mẹ tôi rồi nhà của tôi cũng vậy, đều bị khuyết một góc. Nhất tròn mắt, mặt thoáng có vẻ sợ sợ. Tôi kể tiếp: - Điều lạ lùng nhất là tất cả cửa hàng anh thuê hay nhà của anh thì đều bị phát sinh mâu thuẫn với nhà hàng xóm ở phía góc khuyết sau nhà cho dù anh có đối xử với họ tử tế thế nào!.

 

Nhất im lặng. Tôi biết, những chuyện tưởng chừng huyền hoặc này đã chạm đến một cái gì đó rất sâu thẳm trong niềm tin của con người về tâm linh, về nhân quả ở Nhất. Tôi cũng kể Nhất nghe điều lạ lùng khác nữa là nhiều lần tôi đã được chiêm nghiệm những người từng tìm cách hãm hại tôi thì sau một thời gian gia đình họ đều có kết cục chẳng ra gì: bệnh tật, sa sút, tan cửa nát nhà. Không phải tôi nguyền rủa họ mà tôi nhận ra một điều: có lẽ họ đã tạo quá nhiều nghiệp ác, đến lúc họ phải gặp quả báo.

 

Tôi nói với Nhất cũng là nói với chính mình: Tâm linh, tín ngưỡng không phải thứ đem ra để dọa nhau, càng không phải để đem gieo rắc mê tín dị đoan. Nó là một phần của văn hóa, là một sự chiêm nghiệm của người đời về những điều vượt ngoài tầm kiểm soát của lý trí. Một cái nhà khuyết góc, có người bảo là xui xẻo, là phong thủy xấu nhưng với tôi nó như một lời nhắc nhở, như một sự thử thách để tôi nhìn nhận lại cách mình sống, cách mình đối xử với những người xung quanh.

 

Nhất nghe rồi cười cười, trầm giọng: - "Thế thì số anh khổ thật!".

 

Tôi cũng cười, không phải là cười cợt mà là nụ cười của sự thấu hiểu: - Thế nên mình cứ sống thiện cho lành, em à. Cuộc đời có vay có trả. Dù là trong kiếp này hay kiếp sau, dù tin hay không tin, thì cứ sống tử tế, sống thiện lương thì tự khắc cuộc đời sẽ được an yên. Sống mà nghĩ đến nghiệp thì sẽ bớt làm điều ác. Sống mà tin vào quả báo thì mình sẽ tự dưỡng đức tu thân.

 

Giữa thời đại mà giá trị vật chất lên ngôi, người ta đôi khi quên mất những giá trị tâm linh nhưng những câu chuyện như chuyện của tôi, của Nhất, của những kẻ hại người rồi phải nhận quả báo... vẫn cứ hiện diện trong xã hội như một lời nhắc nhở rằng văn hóa tâm linh, tín ngưỡng và luật nhân quả không phải là chuyện viển vông, mà là một phần tất yếu của cuộc đời này. Nó tồn tại để con người biết sợ, biết giữ tâm thiện, hướng lành để sống thiện lương, không hèn, không ác, để lúc cuối đời nhìn lại ta mỉm cười với nụ cười thanh thản.

 

 Hà Nội, ngày 16 tháng 10-2025.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - CHUYỆN TRÒ VỚI NHẤT NGÀY SỬA NHÀ - Đặng Xuân Xuyến

Tuesday, October 28, 2025

Ca khúc NẾU MAi TÔi Đi - Nhac: Phạm Anh Dũng - Lời: Như Ngọc Hoa - Trinh bày: Diệu Hiền - YouTube





READ MORE - Ca khúc NẾU MAi TÔi Đi - Nhac: Phạm Anh Dũng - Lời: Như Ngọc Hoa - Trinh bày: Diệu Hiền - YouTube

CHÙM THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Lưu Lãng Khách



 

CẮT CỎ

Chăn bò cắt cỏ trẻ nhà quê

Tự tuổi mươi hai đã biết nghề

Đồng sâu hạ thắm vui tay đến

Bãi cạn xuân tươi thỏa gánh về

Mây xanh hạ giới nhìn chê chán

Cỏ biếc tiên bồng ngắm hả hê

Đẹp nhỉ trời cao đôi cánh hạc

Quảy đầy hơn bạn chắc ba mê.

 

                          Hạ 1978

                  Lưu Lãng Khách

 

 LẢY BẮP VÒNG CÔNG 

Lảy bắp trăng rằm vui quá vui

Thi nhau xịt điện hết đường lui

Đôi anh hát giọng như ngan đực

Lắm chị ca ngon tựa mía lùi

Một cót to đùng chung thả sức

Ba nong hì hục đống trơ cùi

Bắp rang cả rổ ngào thơm phức

Một chén phần cho tớ mãi dùi.

            Xuân 1978

         Duy Toàn xứ Hổ

 

 

THẦY DŨNG CÔ THUẬN

Một cặp thầy cô phải nói là

Nam thanh nữ tú nhất trường ta

Trán cao mắt sáng bờ vai rộng

Nhỏ nhắn da ngăm dáng mặn mà

Sáng sáng dạy cùng vui vẻ sống

Chiều chiều phố thị biết gần xa

Em mong thầy Dũng và cô Thuận

Trời đất về chung một mái nhà.

                  Thu 1978

              Duy Toàn xứ Hổ

 

 

ĐỂ BỐN NGANG NHIÊN

Mười chín giờ đi vắng cả rồi

Chỉ còn tám bảy sáu năm thôi

Hôm qua tám bỏ mình đi nốt

Để bốn ngang nhiên chễm chệ ngồi.

               Đầu đông 1978

               Duy Toàn xứ Hổ




TIẾNG TRƯỞNG NAM

Tớ chỉ là mang tiếng trưởng nam

Vạn sự anh Hai mãi thế làm

Cúng giỗ bao năm chưa lệ bái

Cửa nhà Tết nhứt chẳng lần kham

Bốn chị quan tâm buồn ruộng bãi

Ba anh ngó nghĩ cuốc nào ham

Thương em ít tuổi còn thơ dại

Chức trưởng anh Hai mãi thế làm.

                Thu 1978

            Duy Toàn xứ Hổ


NGHỈ DẠY BÌNH DÂN HỌC VỤ

Học chẳng làm sao phải dạy ôi!

Ừ thì cứ việc phóng đơn đôi

Đọc to chữ cái nhiều cô hiểu

Giảng nhỏ nguyên âm mấy chú ngồi

Luyện chữ rồng bay ngưng cháu chịu

Ghép vần phượng múa bác dì thôi

Từ mai có lẽ xin ngừng dạy

Bởi hết hè khai giảng sắp rồi.

           Thu 1978

         Duy Toàn xứ Hổ








 

READ MORE - CHÙM THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Lưu Lãng Khách

Monday, October 27, 2025

ĐÔI NÉT VỀ BỘ LẠC AMISH - Lê Thi

 


Đôi nét về bộ lạc Amish

 

Amish là một cộng đồng tôn giáo có nguồn gốc từ châu Âu, cụ thể là Thụy Sĩ, Đức và Hà Lan, hình thành vào thế kỷ XVII. Họ di cư sang Bắc Mỹ, chủ yếu là Hoa Kỳ và Canada, để tìm tự do tôn giáo. Ngày nay, phần lớn người Amish sinh sống tại các bang như Pennsylvania, Ohio và Indiana (Mỹ).

 

Điểm đặc trưng của người Amish là lối sống giản dị, tách biệt khỏi xã hội hiện đại. Họ từ chối sử dụng nhiều tiện nghi công nghệ như điện, xe hơi, điện thoại hay Internet, nhằm giữ gìn đức tin, sự gắn kết cộng đồng và giá trị lao động chân chính. Cuộc sống của họ xoay quanh nông nghiệp, gia đình và nhà thờ.

 

Trang phục của người Amish rất đơn giản, thường là quần áo tự may, màu tối và không có trang trí cầu kỳ. Họ nói tiếng Pennsylvania Dutch, một phương ngữ bắt nguồn từ tiếng Đức cổ.

 

Dù bị xem là “bảo thủ” trong mắt người ngoài, nhưng người Amish luôn được tôn trọng vì tính kỷ luật, sự đoàn kết và đạo đức lao động bền bỉ. Cộng đồng này là minh chứng sống động cho khả năng duy trì bản sắc văn hóa giữa một thế giới ngày càng hiện đại hóa.

 

Người Amish, có tôn giáo là một nhánh của Cơ Đốc giáo Tái-báp-tít (Anabaptist Christianity), tin rằng gia đình đông con là một phước lành từ Đức Chúa Trời. Quy tắc của người Amish chỉ cho phép kết hôn giữa các thành viên trong Giáo hội Amish. Người cao tuổi không vào viện dưỡng lão; họ sống tại nhà.

 

Theo thời gian, người Amish chịu áp lực từ thế giới hiện đại; lối sống nông thôn truyền thống của họ ngày càng khác biệt so với xã hội hiện nay. Các nhóm dân cư Amish sống tách biệt có thể gặp phải các rối loạn di truyền hoặc những vấn đề khác liên quan đến tính khép kín của cộng đồng. Người Amish đưa ra các quyết định về sức khỏe, giáo dục và các mối quan hệ dựa trên cách họ diễn giải Kinh Thánh.

 

Cuộc sống của người Amish đã ảnh hưởng đến một số khía cạnh trong văn hóa đại chúng. Vì người Amish được chia thành ba nhóm: Amish Cổ (Old Order Amish), Amish Mới (New Order Amish), và Amish Beachy (Beachy Amish), nên lối sống của mỗi gia đình phụ thuộc vào quy định của cộng đồng giáo hội mà họ thuộc về.

 

Sinh con, nuôi con và giao tiếp với hàng xóm, họ hàng là những chức năng gia đình quan trọng trong văn hóa Amish. Người Amish tin rằng gia đình đông con là một phước lành từ Đức Chúa Trời.


Gia đình có quyền uy cao hơn cá nhân trong suốt cuộc đời. Một giáo khu (church district) được tính theo số lượng gia đình (hộ gia đình) chứ không phải theo số người đã chịu phép báp têm.[1] Các gia đình thay phiên nhau tổ chức buổi giảng đạo hai tuần một lần. Cha mẹ chịu trách nhiệm trước Chúa về đời sống tâm linh của con cái mình.

 

Công việc trong gia đình thường được chia theo giới tính. Việc học chính quy kết thúc sau lớp tám, sau đó trẻ em được huấn luyện cho công việc khi trưởng thành. Con trai làm việc với cha ngoài đồng, trong chuồng trại và quanh nhà; con gái làm việc trong nhà và vườn cùng mẹ.

 

Tuổi trẻ và tán tỉnh (hẹn hò)

 

Rumspringa (từ tiếng Đức Pennsylvania nghĩa là “nhảy nhót quanh quẩn”) là giai đoạn tuổi thiếu niên, bắt đầu thời kỳ tán tỉnh nghiêm túc. Một mức độ nghịch ngợm nào đó được xem là bình thường, nhưng không được khuyến khích hay bỏ qua. Kết thúc giai đoạn này, thanh niên Amish sẽ chịu phép báp têm để gia nhập giáo hội và thường sẽ kết hôn — hôn nhân chỉ được phép giữa các thành viên của hội thánh. Một tỷ lệ nhỏ thanh niên chọn không gia nhập giáo hội, quyết định sống phần đời còn lại trong xã hội rộng lớn hơn và kết hôn với người ngoài cộng đồng.

 

Tuổi bắt đầu tán tỉnh thường là 16 tuổi (ở một số cộng đồng, bé gái có thể chỉ 14 tuổi). Sự kiện phổ biến nhất để thanh niên nam nữ gặp gỡ là buổi “hát chủ nhật” được tổ chức cách tuần; tuy nhiên, họ cũng có thể gặp nhau trong các buổi may vá, làm việc chung (“frolics”), hoặc trong đám cưới. Buổi hát thường được tổ chức tại cùng ngôi nhà hoặc chuồng nơi diễn ra buổi lễ sáng Chủ nhật. Thanh thiếu niên từ nhiều giáo khu lân cận có thể đến tham dự, giúp họ có cơ hội giao lưu rộng hơn.

 

Tại buổi hát, con trai ngồi một bên bàn dài, con gái ngồi bên kia. Mỗi người có thể chọn một bài thánh ca, và chỉ những bài hát có nhịp nhanh mới được chọn. Giữa các bài hát, họ có thể trò chuyện. Buổi hát chính thức kết thúc khoảng 10 giờ tối, sau đó là phần nói chuyện, đùa vui và thăm hỏi. Những chàng trai chưa có bạn gái có thể ghép đôi với một Maidel (thiếu nữ). Sau đó, chàng trai đưa cô gái về nhà bằng xe ngựa tán tỉnh mui trần.

 

Người Amish cấm kết hôn giữa anh chị em họ ruột (first cousins), nhưng cho phép kết hôn giữa anh chị em họ đời thứ hai (second cousins). Ở Lancaster County, Pennsylvania, cộng đồng Amish lâu đời và lớn nhất, hôn nhân với anh chị em họ “Schwartz” (tức anh/chị/em họ đời thứ nhất nhưng cách một thế hệ) cũng không được phép.

 

Việc bắt đầu tán tỉnh thường không được bàn luận công khai trong gia đình hay giữa bạn bè. Sự trêu chọc quá mức vào thời điểm không phù hợp bị xem là xâm phạm. Tôn trọng sự riêng tư – hoặc ít nhất là giả vờ không biết – là chuẩn mực ứng xử phổ biến, kể cả đối với cha mẹ.

 

Đám cưới

 

Đám cưới có thể được tổ chức vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng hiếm khi vào tháng 12–2. Cô dâu có thể chọn bất kỳ màu váy cưới nào mình thích. Cô không trang điểm và không nhận nhẫn đính hôn hay nhẫn cưới, vì “Ordnung” (quy tắc cộng đồng Amish) cấm sử dụng đồ trang sức cá nhân. Buổi lễ cưới có thể kéo dài vài giờ, sau đó là tiệc cộng đồng với bữa tiệc lớn và hát thánh ca. Đêm tân hôn, cặp đôi mới cưới sẽ ngủ tại nhà cha mẹ cô dâu.

 

Cần tây từng là món ăn mang ý nghĩa biểu tượng trong đám cưới Amish. Ngày nay, người ta thường dùng hoa thay cho cần tây để trang trí nhà cửa. Sau đám cưới, đôi vợ chồng không lập tức dọn ra ở riêng mà thường đi chơi xa vài tuần đến nơi họ mong muốn.

 

Về hưu

 

Tuổi nghỉ hưu của người Amish khác nhau, thường từ 50 đến 70 tuổi. Người cao tuổi không vào viện dưỡng lão mà ở lại nhà mình. Thường có một ngôi nhà nhỏ liền kề (giống nhà phụ) gọi là Grossdaadi Haus — nơi ông bà sinh sống. Người cao tuổi vẫn phụ giúp công việc nông trại và trong nhà. Họ duy trì mối quan hệ xã hội qua các sự kiện cộng đồng như ngày hội làm việc (frolics), đấu giá, đám cưới và các ngày lễ.Khi người già ốm yếu hoặc mất sức, những người phụ nữ trong gia đình sẽ chăm sóc họ.


Thành phố Berlin - Ohio nhà cửa, sân vận động, quán sá  thiết kế rất đẹp, có nhà thờ xây dựng vào thế kỷ 18, nhiều đồ thủ công Mỹ nghệ được làm bởi người Amish   …  Nơi đây nét cổ kính mang nhiều nét đặc trưng châu Âu và như bạn đang lạc vào một khu phố của Đức. Thành phố Berlin nằm giữa thung lũng đồi dốc điệp trùng, những lần đường đủ cho 2 làn xe, đôi khi bạn phải nhường đường cho những đoàn xe nhựa. Tiếng vó ngựa lốc cốc vang  lên giữa những ngày thu giá lạnh cảm giác đưa bạn về như đang ở Đà Lạt quê nhà. Mùa thu vàng xen lẫn những đồng cỏ mênh  mông hàng trăm ha, những đàn ngựa, đàn bò đen, bò lang cặp sừng rộng cả mét. Bạn say giữa cảnh thanh bình ở đây. Để đến thăm làng quê bộ lạc Amish bạn chạy qua vài thành phố hầu như toàn đinh thự, bạn bắt gặp nhiều khu máy bay gia đình đậu kín như máy xới quê mình chuẩn bị mùa thu hoạch .

Thực ra đến trải nghiệm mới biết mức sống của họ rất cao và một điểm đến nhiều điều thú vị. 

Lê Thi- Ohio 

 

READ MORE - ĐÔI NÉT VỀ BỘ LẠC AMISH - Lê Thi

Saturday, October 25, 2025

CHIỀU TRÊN SÔNG QUÊ - Thơ Nguyễn Văn Trình

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình

Chiều trên sông quê *

 

Vãn chiều ghé bến sông quê

ngắm con đò nhỏ xuôi về cuối sông

mênh mông năm tháng ngái trông

nô đùa lũ trẻ dưới sông trưa hè

 

Vẳng nghe sông hát lời quê

về đây tìm lại đam mê một thời

cánh diều đón gió lã lơi

cùng con chuồn ớt, nhớ thời tuổi thơ

 

Bãi dâu, nương đậu, tơ tằm

dệt nên nỗi nhớ đằm sâu cõi lòng

nắng vàng tỏa rạng mặt sông

tiếng ai đồng vọng nỗi niềm xa xăm

 

Ra sông lại nhớ đến đò

nhớ cô thôn nữ điệu hò trên sông

nghiêng nghiêng vành nón đợi trông

giấu trong thổn thức, nỗi lòng người thương …

 

                            Đông Hà, 2016

                            Nguyễn Văn Trình

                                     

(1*Sông quê: Con sông Hiếu chảy phía sau làng.

 

READ MORE - CHIỀU TRÊN SÔNG QUÊ - Thơ Nguyễn Văn Trình

HAI MÀU CƯỚI - Nguyễn Trung Giang

 


Nguyễn Trung Giang

HAI MÀU CƯỚI


Tuổi trẻ mong ngày cưới

Người già ngại thiệp mời

Giua hai bên bờ đợi

Hẹn hò một cuộc vui

Ông ngã mình trên chiếc trường kỷ rồi thả vào giấc ngũ dài. Lúc tỉnh dậy trong người còn vướng vất mùi bia rượu. Sáng nay đi dự đám cưới về, người đã chếnh choáng hơi men. Ông đến để chia xẽ niềm vui như bao nhiêu người khác. Những con người từ mọi miền xa xôi về đây lập nghiệp.

Đã qua rồi những tháng ngày khốn khó, cuộc sống đổi thay dần và sắc đời mang một diện mạo mới rồi từ trong đó tiệc tung, cưới hỏi, sinh nhật đều đặn diễn ra.

Ngồi chung bàn với ông là những mái đầu chớm bạc. những khuôn mặt đó đây quen biết những câu chuyện tuần lưu thế sự qua sắc âm giọng nói nhiều miền bị đứt quãng bởi cái loa đặt ở gần đó phát ra.

Bàn ghế tươm tất, màu sắc trang nhã. tiếp đãi ân cần,chủ nhân đã làm hết sức mình để ngày vui được trọn vẹn. Không khí bữa tiệc rộn ràng bởi một chương trình văn nghệ với những giọng ca có cổ có kim có già có trẻ.Tiếng dô dô đồng loạt cất lên với những cánh tay nâng cao những ly bia tràn bọt thể hiện sự đồng cảm chân thành.

Tiếng M.C mượt mà trôi chảy bên cạnh khuôn mặt rạng ngời của cô dâu chú rể.Phong cách mới mẻ của văn minh lồng ghép vào lễ tơ hồng giữa xưa và nay trỏ thành màn hoạt cảnh nửa tây nửa ta làm ông cảm thấy cô đơn hụt hẫng.

Chiếc áo sơ mi lấm tấm mồ hôi.ông cố gắng hòa vào cuộc vui thời hiện đại nhưng vì tuổi cao nên khi uống cạn ly bia thứ hai ông cáo từ ra về trước khi siết chặt bàn tay gia chủ và nói vài câu chúc phúc. Dưới vạt nắng tàn đông bóng ông nhiêng ngã, tâm trạng buồn vui lẫn lộn, lòng băn khoăn giữa tâm tình chia xẽ và cái phong bì chở nặng ưu tư có phải là tính cách giữa đời qua lại với nhau hay không.....

Ông già trở mình rồi vói tay châm lửa. Khói thuốc lan man đưa ông trở về khung trời ngày cũ.

Thủa ấy...

Tình yêu gái trai kết tinh từ hương đồng cỏ nội. Nhịp đập lứa đôi hòa vào tiếng lúa reo trên cánh đồng buổi sáng hay tiếng hò đẩy đưa bên cối chày giả gạo đêm trăng. Ông đã từng ngẩn ngơ khi lặng nhìn mái tóc ai buông dài lã ngọn,từng trở trăn trong nỗi nhớ vô bờ khi bắt gặp ánh mắt trao tình làm xao xuyến bước chân.Tình yêu thổi vào trái tim ông những nồng nàn cháy bỏng như được thắp lên từ ngọn lửa thanh khiết lạ lùng. Lòng xanh xanh như dòng sông đã chắt chiu ông từng ngụm nước đầu đời, đã là chứng nhân bao lời ước hẹn, đã từng cưu mang những giọt nước mắt hòa hợp phân ly.Tâm hồn ông mênh mang trôi vào dòng cảm xúc thời mới lớn. Dìu dịu trong ông sức sống mãnh liệt như ngọn lúa xuân thì con gái. Bóng cô thôn nữ quang gánh đi về trong sáng sớm mù sương hay chiều vàng nhạt nắng. Đôi bờ mi vút cong như chiếc đòn gánh gánh nước đêm trăng đã một thời làm ông biết đắm say mơ mộng.

Ông chạm khẻ vào thế giới yên bình thủa nọ. Ở đó thiên nhiên con người hòa quyện vào nhau viết nên những trang đời thật đẹp.

Cuộc sống bây giờ được tô lên bởi gam màu thời đại, quên được hình ảnh các cậu trai làng chặt tre làm rạp.các thiếu niên đi mượn bàn ghế. Bữa cơm thân mật ly rượu nồng nàn. Một dòng chảy êm đềm đầy đặn yêu thương lan tỏa từ cụ già tóc bạc đến em bé quê quần cộc chân trần. Mọi người thức trắng đêm để làm mọi việc chuẩn bị cho ngày mai đãi khách rước dâu.

Ngọn đèn măng xông treo giữa gian nhà tỏa vầng sáng huyền hoặc sưởi ấm không gian hòa quyện vào khói hương trên bàn thờ gia tiên miên man trầm mặc.Trên bộ bàn đặt giữa gian chính diện khay trầu mâm rượu cùng sính lễ tân hôn được sắp đặt gọn gàng.

Thực đơn ngày cưới từ sản phẩm cây nhà lá vườn. Con gà con heo mẹ chắt chiu đếm ngày đếm tháng. Mâm xôi mâm bánh từ hạt gạo của đồng sâu ruộng cạn mà ở đó có công cha cõng nắng cõng mưa, con cá con tôm ở bãi biền chua mặn...Tất cả tuy đơn sơ mà ấm áp tuy giản dị mà thấm đẩm ân tình.

Ngoài sân dưới bóng trăng huyền ảo âm thanh tiếng quết chả nện vào cối gỗ,tiếng hát của các em bé quê dặt dìu trong khúc nhạc đồng dao hòa vào tiếng cười trong trẻo của các cô gái vo nếp trên bến sông. Tất cả làm nên một bản hợp tấu với giai điệu thật nhẹ nhàng bay vào không gian thật thoáng đãng thật bình yên.

Thoảng trong mùi rơm rạ tình quê,tình người hòa quyện vào nhau cháy lên dưới ánh lửa tàn khuya.

Trời hững sáng, xóm quê mơ màng đắm chìm trong làn sương bạc.Tiếng gà gáy sáng đánh thức bình minh hòa điệu cùng tiếng chim trên cành líu lo khúc nhạc tình yêu mừng đôi tân nhân trong ngày vui trọng đại....

Đưa mắt nhìn đám mây trắng vẩn vơ bay về cuối trời ông già đưa tay vuốt mái tóc đã hai màu đen trắng. Mắt ông cay cay, lòng se nỗi nhớ, Mùa xuân sắp về.Từng chiếc lá tàn đông lật nhẹ theo cơn gió cuối mùa. Ông nhẩ m từng chặng đời trên từng đốt tay chai sạn. Ừ nhỉ...bao năm rồi lưu lạc.Thuyền đời đẩy đưa ông qua nhiều bến lạ.Tay lái mỏi mòn, mạn thuyền dần rêu phong theo từng lớp só.

Tiếng nhạc sáng nay vẫn ầm ì đâu đó. Ông mơ hồ nghe tiếng pháo rước dâu, tiếng lòng ông lan man theo từng nốt nhạc bay lên trong khói lam chiều tản mạn.

Nguyễn Trung Giang

 

 

 

 

READ MORE - HAI MÀU CƯỚI - Nguyễn Trung Giang

TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG -Theo sóng đời, từng lớp lần qua / Bình minh trên Bãi Ốc / Mộng hồn trăng / Em xếp lại những đắn đo?

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Theo sóng đời, từng lớp lần qua


Biết là lớp bụi thời gian sẽ phủ mờ tất cả

Sao cứ loay hoay sắp xếp chuyện đời mình

“Có những chuyện không thể chấp nhận, 

                                thì phải đổi thay bung phá

Nếu không thay đổi được, 

           dù đắng lòng cũng thả trôi theo ngọn gió phù sinh

Nhưng vẫn còn lướng vướng điều gì không nỡ, 

                                         thôi cũng đành chấp nhận”

Chính sự lựa chọn này, sẽ quyết định chúng ta là ai

Dù cuộc đời, có đẩy đưa mặc cho số phận

Mờ tỏ chìm trôi trong chiếc bóng đổ dài


Khi lòng tin phải đâu tự dưng mà có

Sao lấp lửng những nẻo đời, biển báo, a dua

Rồi cứ mơ hồ là sai đâu sửa đó

Đi gỡ mìn sai, rồi còn gì nữa để phân bua

Bao nhiêu chuyện không sai, có nghĩa đâu là đúng

Mà có hay không, ta cứ lớn giọng hồ đồ

Thời gian trôi, ký ức nào rơi rụng

Theo sóng đời, lớp lớp cuộn xô


Để đến một tuổi nào, rồi ta sẽ thấy

Nhịp đời quay, réo gọi thiết tha

Góc nắng trắng trong gió tương lai vờn vẫy

Áng mây hồng thắm đỏ lần qua

Cùng với sự thật, lòng tin cố kết lại

Những uẩn khúc âm thầm xưa cũ cũng dần xa

Bước lặng lẽ qua quảng đời gấp gãy

Chợt bừng lên một quầng sáng mượt mà…



Bình minh trên Bãi Ốc


Hòn Hồng sương tan theo đêm

Sóng vỗ triều lên, vụng biển êm

Đêm vội vã, nồng nàn giấc muộn

Vạc kêu sương, sâu lắng ngọt mềm


Chìm trôi loang ngang đường chân trời

Sáng lên ngày mới, rộ đường khơi

Thuyền giăng đầy bãi, neo bờ chật

Em đón thuyền anh, mắt rạng ngời


Bình minh lên, xanh trong mênh mông

Biển biếc mùa vui trải ngập lòng

Sâu lắng giữa ồn ào tất bật

Đăm đắm một người trong đám đông


Chờ điều gì, loay hoay quay ngang

Bến cá xôn xao, nắng hoe vàng

Chao chác, tiếng người đang trả giá

Đắm chìm trong một nỗi đa mang


Em bước qua, đứng lại dỡ chừng

Đang nhoẻn cười, chợt lại bổng dưng

Quay ngoắc mái tóc dài suôn mượt

Xót xa người, đang đứng sau lưng…



Mộng hồn trăng


Trăng cõi mộng

Muôn đời vướng phải

Tuổi hồn nhiên

Ngã bảy ngã ba

Chợt e ấp

Xuân thì ái ngại

Lồ lộ 

Trăng

Nhòe dáng ngọc ngà

Em ngúng nguẩy

Dỗi hờn nguyên cớ

Một nỗi niềm

Không biết vì đâu

Sao rảnh rỗi buôn công mượn nợ

Cứ vu vơ

Dệt mộng ban đầu…



Em xếp lại những đắn đo


Cả một thời con gái

Để lo toan bao nhiêu chuyện của chồng con


Sao lại có những phút giây… tiếng thở dài ái ngại

Đường về quê buông thả, bước ngập ngừng

Qua khúc cua này, chợt lại thấy bỗng dưng…



Nắng mới chồm lên, trên vạt cỏ tơ non


Lóng lánh những giọt sương, rung rung trong gió

Tuổi mười tám em còn đang để ngỏ


Mới đó mà tan bốn mươi năm

Chỉ có vạt nắng vàng, vẫn trẻ trung gợi mở


Lê Thanh Hùng

Bắc Bình, Lâm Đồng



READ MORE - TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG -Theo sóng đời, từng lớp lần qua / Bình minh trên Bãi Ốc / Mộng hồn trăng / Em xếp lại những đắn đo?

Friday, October 24, 2025

CÁNH ĐỒNG QUÊ MẸ, TRỞ NGỌ - Thơ Tịnh Bình




 
CÁNH ĐỒNG QUÊ MẸ
 
Tôi còn nợ một khoảng trời
Vô ưu mây trắng đọng lời ca dao
Cánh diều thơ ấu nghiêng chao
Thềm sân hoa khế rụng vào giấc mơ
 
Tôi còn nợ mãi lời thơ
Khúc ru nhịp võng ầu ơ trưa hè
Ngõ làng râm mát bờ tre
Ngỡ vòng tay mẹ chở che tháng ngày
 
Tôi còn nợ một sớm mai
Con chim chèo bẻo chờ ai giọng trầm
Mưa chiều nhỏ giọt lâm thâm
Nhòa trong bóng mắt lặng thầm mái tranh
 
Bấm vào lòng đất mà xanh
Cánh đồng quê mẹ trĩu nhành lúa thơm
Thương sao những rạ cùng rơm
Bay lên vạt khói chiều hôm nhớ nhà...
 
 
TRỞ NGỌ
 
Rắc xuống mái thời gian
Màu lá khô trầm tích
Tiếng gió khẽ thở dài
Đâu đó vọng âm chuông tiền kiếp
 
Thôi đừng về nữa màu nắng
Lòng ta đang thèm thâm u
Giọt mưa rơi chấp chới
Lạc loài vài xác bướm khô
 
Ngôi nhà vắng
Tiếng rụng ban trưa
Gió và lá chơi trò cút bắt
Trở ngọ rồi
Ai dìu nắng bay lên...?
 
                               Tịnh Bình

READ MORE - CÁNH ĐỒNG QUÊ MẸ, TRỞ NGỌ - Thơ Tịnh Bình

Thursday, October 23, 2025

THĂM PHỦ ĐỆ NHỚ NGƯỜI XƯA - Hoàng Thị Bích Hà

(Gặp gỡ trò chuyện với hậu duệ của cụ Mai Khắc Đôn, nghe kể một vài kỷ niệm về Hoàng Phi Mai Thị Vàng, vợ vua Duy Tân, con gái của quan thượng thư Bộ Lễ Mai Khắc Đôn.) 




Đầu tháng 10/2025, tôi có dịp về Huế và lên thăm chị Mai Thị Thanh Xuân, Chị năm nay đã 87 tuổi nhưng vẫn minh mẫn, nhanh nhẹn. Tôi quên biết chị đã hơn 30 năm nay, chị em chơi thân với nhau. Chị coi tôi như đứa em nhỏ. Thực ra thì chị còn lớn tuổi hơn cả mẹ tôi. Nhưng chị bảo gọi chị cho thân mật gần gũi. Chị khéo tay, biết nấu một số món đặc trưng trong cung đình, làm các loại bánh và rất rành ẩm thực truyền thống Huế. Từ thuở nhỏ, chị đã được mẹ, cô dì dạy cho bí quyết chế biến các món và làm các loại bánh, tôi thích nhất là loại bánh đậu xanh trái cây. Còn gọi là bánh “quý tộc” bởi có nguồn gốc từ nền ẩm thực cung đình, dùng tại các yến tiệc trong Hoàng Cung, hoặc trong dịp lễ tết của gia đình quan lại và quý tộc, thời xưa. Nguyên liệu từ đậu xanh, làm thành những trái cây như: trái khế, trái ớt, trái cà chưa, trái ớt,…y hệt về màu sắc và kiểu dáng.Thoạt nhìn tưởng trái cây, chỉ khi bạn cầm cái bánh lên ngắm nghía và cắn một miếng thì mới biết bánh đậu xanh vừa ngọt vừa bùi.

Nhưng tôi không biết chị là cháu nội của Cụ Mai Khắc Đôn (Quan Thượng thư bộ lễ dưới triều vua Duy Tân). Và cũng là cháu gọi Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng cô ruột. Hôm nay có dịp lên nhà thăm, chị mới kể cho tôi nghe. Thế là tôi làm một cuộc phỏng vấn nhỏ: Xin chị kể lại một vài kỷ niệm với người cô ruột Hoàng Phi của mình!

Đôi mắt chị nhìn xa xăm vào khoảng không như ngược miền ký ức chị bắt đầu chậm rãi kể (điềm đạm, chỉnh chu và từ tốn là phong cách của chị và cũng là của phụ nữ Huế xưa). 

Chị kể lúc nhỏ thì mỗi lần đi chạp giỗ đều gặp bà Phi. Bà Phi đẹp và hiền lành. Bà sống qua các thời đại thì thời đại nào bà cũng có được hưu bổng. Nhưng cũng eo hẹp sống giản dị. Hồi đó mình lấy chống rồi cũng bận rộn công việc và chồng con, chỉ mỗi khi kỵ giỗ Hiệp Kỵ các vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân thì bên Hoàng tộc mời con cháu qua. Mình giờ nghĩ lại thật tiếc: “Có ngọc mà không biết trau” Lúc còn nhỏ có cơ hội gần bà Phi mà không thường xuyên gần bà để học hỏi. Bà hiền thục, giỏi dang lại chung thủy và hiếu đạo”. Có dì em là dì Yến (Trần Thị Yến Tuyết con người em gái của Hoàng phi Mai Thị Vàng, (cháu ngoại của cụ Mai Khắc Đôn). Bà Mai Thị Vàng là chị cả, có hai anh trai và 3 em gái là Mai thị Khánh, Mai Thi Quế và Mai Thị Hường) Dì Yến khi lập gia đình rồi vẫn ở với ba mẹ. Bà Phi thường ghé thăm em gái của mình nên dì Yến có cơ hội gặp gỡ bà Phi nhiều hơn”. 

Rồi chị Thanh Xuân đưa tôi lên thăm dì Yến ở đường Lê Ngô Cát (Huế) 

Dì Yến năm nay cũng đã 89 tuổi, vẫn minh mẫn, hồng hào và khỏe khoắn. Tôi gọi chị Xuân quen rồi nên chị Yến bảo gọi chị như Chị Xuân cũng được, cho gần gũi thân thương. Ở các chị là con cháu của Cụ Mai Khắc Đôn phong thái toát lên sự nho nhã, có kiến thức, am hiểu của những người phụ nữ dòng dõi trâm anh, gắn bó với vùng đất Kinh Kỳ, với các món ăn Huế, rành rõi từ nguyên liệu  đến cách chế biến, nghệ thuật trang trí,...

Nghe hai chị hỏi nhau rằng:

- Chị Trà đã mời dì qua đám giỗ chưa?

Hóa ra nghệ nhân Mai Thị Trà là chị em họ của hai chị và cũng là cháu nội của Cụ Mai Khắc Đôn. (Chị Mai Thị Trà là giáo viên văn của trường Đồng Khánh, sau 1975, chị được phân công dạy thêm môn Nữ công gia chánh. Từ đó chị nổi tiếng với nấu các món Huế từ cung đình đến bình dân và chị trở thành nghệ nhân ở lĩnh vực này. Chị Trà năm nay cũng đã 91 tuổi,cũng còn minh mẫn và khỏe mạnh. Hai chị kể, chị Trà bây giờ làm việc còn nhanh nhẹn hơn cả hai chị nữa. Các chị được gia đình cho học chữ, rồi được mẹ, cô, dì dạy cho cách làm các loại bánh, nấu các món để cúng tổ tiên. Riêng nghệ nhân Mai Thị Trà thì có duyên gắn bó với bộ môn ẩm thực. Năm 1991, sau khi nghỉ dạy văn hóa ở trường, chị Trà dành trọn tâm huyết để truyền đạt kinh nghiệm, bí quyết chế biến những món ăn cung đình, truyền thống Huế cho các thế hệ học viên.

Các chị: Mai Thị Thanh Xuân,  Trần Thị Yến Tuyết,  Mai Thị Trà,… con cháu của quan Thượng thư, xuất thân trong gia tộc quyền quý. Nay đều ở ngưỡng trên dưới 90, nhưng vẫn minh mẫn, đằm thắm, ân cần khi tiếp chuyện, trong phong thái của những người phụ nữ vốn dòng dõi trâm anh thế phiệt. Giọng Huế ngọt ngào, điềm đạm và dịu dàng. Nét đẹp duyên xưa vẫn còn lưu lại trên khuôn mặt, dẫu đã ghi dấu ấn thời gian, cuối mùa thu của cuộc đời. 

Được các chị giới thiệu, hôm 5/10/2025 tôi lên thăm phủ đệ (nay là nhà thờ) của cụ Mai Khắc Đôn ở đường Lý Nam Đế thuộc hậu thôn Kim Long. Được thăm lại nơi ở, nơi thờ tự của cụ và Hoàng Phi Mai Thị Vàng. Lòng tôi rưng rưng tràn đầy xúc cảm khi nhìn cảnh cũ nhớ người xưa, những con người đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong lịch sử. Tôi quyết định ghi lại một chút gì đó của lớp người hậu thế, góp một phần nhỏ nhoi để tri ân và tưởng nhớ về những vị tiền nhân đã lưu lại tiếng thơm cho một giai đoạn lịch sử, đầy biến động.

Phủ đệ của cụ Mai Khắc Đôn là một ngôi nhà cổ giản dị, lợp bằng ngói liệt xưa. Tọa lạc tại một mảnh vườn xanh tươi cây trái, ở  một vùng quê thanh bình thuộc phường Kim Long, TP Huế. Ngôi nhà chịu ảnh hưởng của mưa nắng thời gian, được con cháu trùng tu năm 2009. Căn nhà trên kiểu nhà rường bằng gỗ, đẹp thanh nhã. Tôi được gặp bà Nguyễn Thị Mai (cháu dâu) thường gọi là bà Lưu. Bây giờ là chủ nhân của phủ đệ. Chồng bà là ông Mai Khắc Lưu (đã mất) là cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn, Bà Mai năm nay đã 89 tuổi, nhưng bà vẫn minh mẫn và ân cần vui vẻ tiếp chuyện. Bà là người gần gũi với bà Phi Mai Thị Vàng trong những năm tháng cuối đời. Bà Mai kể:  “Bà cô tôi đẹp mà hiền lắm! Ít nói, sống giản dị và rất thương con thương cháu”. Tôi cũng được gặp gỡ, trò chuyện với chị Mai Thị Nhàn con gái bà Lưu, chắt nội của cụ quan thượng thư Mai Khắc Đôn. 

Trong nhà thờ còn lưu giữ nhiều sắc phong được vua ban tặng cho cụ Mai Khắc Đôn và song thân của cụ. Các chị kể là các con dâu của cụ khi nói về bố chồng là cụ Mai Khắc Đôn rằng: Ông hiền như Phật. 

Bà Mai Thị Vàng sinh trưởng trong một gia tộc quyền quý như thế, được thừa hưởng truyền thống văn hóa, nền giáo dục nghiêm cẩn của gia đình, bà thông minh, đức hạnh, đẹp người và đẹp nết.

Qua câu chuyện của các chị Mai Thị Thanh Xuân, Chị Trần Thị Yến Tuyết, bà Nguyễn Thị Mai và chị Mai Thị Nhàn và tìm đọc thêm tư liệu trên Wekipedia tôi xin tóm tắt lại như sau: 

Cụ Mai Khắc Đôn (1853-1930) thân phụ là ông Mai Bá Hanh, quê ở hậu thôn Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ông là một nhà nho yêu nước, làm quan nhà Nguyễn dưới hai triều đại vua Thành Thái và vua Duy Tân. Từng làm quan tuần phủ (còn được gọi là tuần vũ),  tỉnh Khánh Hòa,  sau đó cử đến làm quan tuần phủ Quảng Trị, là một vị quan thanh liêm, biết lo cho dân. Rồi ông được mời về Kinh dạy vua Duy Tân. Mặc dù Tòa Khâm sứ đã cử các thành viên trong Phủ phụ chính làm thầy dạy chữ Hán cho vua Duy Tân, nhưng ông từ chối, ông chọn viên Tuần phủ Quảng Trị Mai Khắc Đôn làm quan phụ đạo của mình.  Sau đó cụ được thăng chức Lễ bộ Thượng thư và được đánh giá là có ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng vị vua này. Việc dạy học cho vua là một trọng trách rất lớn, chứa đựng cả một sự ký thác của cả triều đình. Không những dạy chữ Hán cho vua mà còn dạy về truyền thống yêu nước, thương dân, ý chí kiên cường để cứu nước,… Vua Duy Tân rất yêu quý và kính trọng thầy.

Vì sao vua chọn thầy dạy cho mình là Cụ Mai Khắc Đôn?

Trong lúc trong phủ phụ chính có nhiều người học vị tiến sĩ còn cao hơn học vị của cụ lúc bấy giờ (cô Mai Thị Trà kể). Lúc trước cụ Mai Khắc Đôn làm quan tuần phủ tỉnh Khánh Hòa (vị quan đầu tỉnh), theo lệ lúc này tỉnh nào lớn như Đà Nẵng, Nghệ An,… thì có quan Tổng đốc đứng đầu, có hai vị phó là: quan bố chánh (quan võ) còn một vị phó nữa là quan án sát (quan văn). Còn các tỉnh nhỏ như Khánh Hòa, Quảng Nam, Quảng Trị, thì chỉ có một vị quan đứng đầu tỉnh là quan tuần vũ và thêm một vị phó nữa gọi là án sát). Sau đó cụ Mai Khắc Đôn được điều động ra làm quan tuần phủ tỉnh Quảng Trị. Lúc này ở các tỉnh miền Trung nhân dân nổi dậy chống sưu thuế (chỉ trừ Huế là gần triều đình nên họ sợ không nổi dậy, còn Quảng Nam, Quãng Ngãi nhân dân nổi dậy chống đối sưu thuế. Có một ông quan (không tiện nêu tên) lúc bấy giờ dùng vũ lực, đưa quân đến trấn áp nhân dân. Ở tỉnh Quảng Trị lúc đó nhân dân cũng nổi dậy, nhưng khi quan tuần phủ mai Khắc Đôn ra nhận chức thì ông không dùng vũ lực mà chỉ mời người thủ lĩnh nổi dậy đến nói chuyện. Ông phân tích phải trái, có nên nổi dậy hay không? Khi nào thì nên, khi nào thì không nên, có lợi, hại gì,…Như vậy cụ đã khéo léo giải quyết vấn đề một cách thông minh, ôn hòa êm đẹp, chí tình chí lý và sống vì dân, sau đó tình hình êm đẹp, nhân dân đoàn kết, lo chí thú làm ăn và rất kính trọng yêu quý quan tuần vũ Mai Khắc Đôn. Nghe được chuyện này, vua Duy Tân dù lúc đó còn nhỏ nhưng được đặt lên ngay vàng, vua cũng sớm bộc lộ bản lĩnh, thông minh và trọng nhân nghĩa. Ông chọn thầy vì như vậy. Tất nhiên vua còn phải học thêm tiếng Pháp, văn học, lịch sử, triết học,…với các vị quan khác nữa, nhưng theo chị Trà bài học làm người, yêu nước thương dân và khơi gợi chí lớn từ người thầy dạy chữ Hán của mình là cụ Mai Khắc Đôn. Cô Trà kể: có lần hai thầy trò đi biển cửa Tùng, vua Duy Tân nói: “Ngồi trên nước mà không ngăn được nước”. Thầy trả lời: Buông câu ra đã lỡ phải lần. Tôi nghĩ rằng ý cụ là động viên tinh thần, của một chí lớn, trước khó khăn như vậy khi đã khởi sự thì cứ bình tĩnh, nghĩ cách và tuần tự tháo gỡ,.. (cô Mai Thị Trà tiếp tục kể) Khi vua chạy trốn cùng với các cộng sự kháng chiến của mình bị Lính Pháp bắt được ở Ngũ Tây. Vua cũng mặc áo dân thường như những người khác, lúc này có lẽ là cụ Thái Phiên và cụ Trần cao Vân.  Nghe tin vậy cụ Mai Khắc Đôn tới, khi đi lên đó có qua một cái cầu nhỏ, xe không đi được, nhìn thấy vua Duy Tân bên kia cầu, cụ Mai Khắc Đôn liền bước xuống xe (cụ mặc dù là thầy dạy và là cha vợ nhưng vẫn giữ đạo vua –tôi, liền quỳ xuống hành lễ, thì bên kia vua Duy Tân cũng bái lạy thầy. Khi đó lính Pháp mới biết ai là vua Duy Tân, từ đó đối xử khác, có vẻ nhẹ nhàng hơn. Họ mời ngài lên xe và chở đi.

Cuộc gặp gỡ và gắn bó của vua Duy Tân với người thầy dạy học của mình là cụ Mai Khắc Đôn, ngoài đức độ và tài năng, có lẽ còn có một mối nhân duyên trời định, sau này ngoài quan hệ vua tôi, thầy trò còn có quan hệ gắn bó hơn nữa.

Khi lên 16 tuổi hai người mẹ vua là bà Nguyễn Thị Định thứ phi của vua Thành Thái, (gọi là bà Sanh). Hoàng quý phi Nguyễn Gia Thị Anh chính thất của vua Thành Thái, vua Duy Tân gọi là mẹ đích. Hai mẹ và các quan thúc hối việc nạp phi để có người nối dõi thì vua đã chọn tiểu thư Mai Thị Vàng. Mặc dù trước đó, vua thường hay hỏi thầy là: Thầy có con gái lớn không? Thầy bảo: Con thần đều còn nhỏ dại cả”. Ý là cụ không muốn gả vì biết làm vợ vua sẽ khổ. Vua nói: Thầy yên tâm! Thầy gả em Vàng cho con, con sẽ yêu quý em để đền ơn thầy dạy bảo. Vua muốn đền ơn giáo dục của thầy Mai Khắc Đôn vì đã dạy cho ông những điều mà không một đại thần nào dưới sự điều khiển của Pháp dám dạy.

Thường ngày thì tiểu thư Mai Thị Vàng và các anh chị em ở Kim Long với mẹ. Còn Quan thượng thư ở lục bộ (sáu ngôi nhà dành cho sáu vị quan đầu triều ở trong thành) một hôm Tiểu thư Mai Thị Vàng về phủ lục bộ chơi. Đang chơi ở sân các chị em, tình cờ vua Duy Tân cùng ngồi xe song mã với thầy Mai Khắc Đôn ghé qua. Vua hỏi: “đây có phải là con gái lớn của thầy không? Vậy mà thầy cứ giấu tôi”. Thế là từ đó vua đem lòng yêu mến. 

Những giai thoại về việc lấy vợ của vua: Khi nghe triều đình chuẩn bị nạp phi cho vua các quan đại thần và các mệnh phụ đều muốn con gái mình có cơ hội làm vợ vua, nhưng vua nói với hai người mẹ là “con có người yêu rồi!”. Hỏi người yêu đâu? Thì vua bảo: mời mẹ ra biển cửa Tùng. Thế là đoàn đi biển cửa Tùng, qua 4 ngày rồi, không thấy bóng hồng nào. Mà chỉ thấy ngày nào vua cũng ngồi vốc cát lên chơi. Hỏi thì vua bảo: Đãi cát tìm vàng. Nếu mẹ không thấy thì ngày MAI vô Huế sẽ thấy. Người mẹ đích mới hiểu và nói với mẹ đẻ vua rằng: Vậy là vua đã chọn ý trung nhân họ Mai: Tiểu thư Mai Thị Vàng (con quan Thượng thư Bộ lễ) 

Cuối năm 1915, lễ hỏi giữa Hoàng đế Duy Tân và Mai Thị Vàng được cử hành, ngày 12 tháng chạp năm Ất Mão tức ngày 16 tháng 1 năm 1916, lễ nạp phi được tổ chức trọng thể ở bộ Lễ. Bà Mai Thị Vàng năm đó 17 tuổi được phong làm đệ nhất giai phi của Duy Tân. Theo lệ cũ từ thời vua Minh Mạng nhà vua không lập Hoàng hậu. Danh hiệu Đệ nhất giai phi là cao quý lúc bấy giờ.

Bà Phi họ Mai đẹp, thanh thoát, dịu dàng, đặc biệt đôi mắt rất đẹp. Bà được vua Duy Tân sủng ái, thường cho ngồi ăn chung. Vua còn so đũa, đưa muỗng cho vợ, nói chuyện thân mật cùng nhau bên mâm cơm. Đây là điều trái với điển lệ triều Nguyễn, vốn quy định các bà phi không được ngồi cùng mâm với Hoàng đế. Hai bà mẹ gọi vua lên quở trách. Nhưng vua bảo: Mẹ bảo con ngủ với vợ, sao lại không được ăn chung với vợ để trò chuyện tâm tình,..”.Từ đó về sau không ai nói về việc này nữa. 

Cuối năm 1916, Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp không thành nên bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion, một thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ Dương.  Đức vua Duy Tân đi đày qua Reunion với vua Thành Thái, Thân mẫu Nguyễn Thị Định (gọi là Ngài Sanh)  cùng bà Phi Mai Thị Vàng và công nữ Lương Nhàn, lúc đó 12 tuổi (tên thường gọi ở nhà là mệ Cưỡi- em ruột vua Duy Tân). Lúc theo chồng lên đường, bà Hoàng Phi đã có thai 3 tháng nhưng bị sẩy thai.

Sau hai năm ở đảo Réunion, vì không hợp thủy thổ, khí hậu, bị đau ốm luôn. Bà cùng mẹ chồng là bà Định cùng em ông trở về Huế. Lúc này bà mới 19 tuổi.

Theo Wekimedia: Nói về cuộc sống ở đảo Réunion, bà Mai Diệu Phi từng chia sẻ: "Ở đảo Réunion rất dễ chịu. Người dân toàn làm một nghề chài lưới. Họ vui vẻ lắm, mua bán cũng tử tế. Nhưng tôi không biết làm sao, ở đó phong thổ tuy tốt nhưng mà hình như sức khoẻ tôi không hợp, nên hay đau. Vì thế, tôi xin Ngài cho tôi về... Ngài còn cho phép tôi tự ý đi bước nữa... Con nhà nề nếp như tôi dầu thế nào cũng phải giữ danh giá. Vẫn biết tuổi trẻ chưa dám chắc ở mình, nhưng bây giờ có nói đến việc gì cũng là khó. Thôi thì tôi tưởng chỉ có hy sinh cái đời tôi cho Ngài cho trọn". 

Nhưng theo cô Mai Thị Trà (cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn, gọi Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng cô ruột là:  không phải bà Hoàng Phi tự ý xin vua về mà do vua phái vợ về để phụng dưỡng mẹ và chăm sóc em trai.Tại đảo ngài Sanh có thai và sinh Hoàng Tử Vĩnh Hòe. (hồi đó đi bằng đường biển, lênh đênh hàng tháng trời, vất vả) . Như vậy nguồn Wekimedia có những chi tiết cũng chưa thật sự chính xác. Do ở đảo khí hậu, thổ nhưỡng không hợp, bà sanh lại vừa sinh con nhỏ là Hoàng Tử Vĩnh Hòe- (ở nhà thường gọi là Mệ Hên) nên Vua Duy Tân đã cho bà phi Mai Thị Vàng cùng về để hầu mẹ chồng và phụ chăm sóc em trai (khi đó mới 1-2 tuổi).

Chị Công Tôn nữ Như Thanh (con gái của Hoàng tử Vĩnh Hòe) kể “Năm 1916 Đức vua Duy Tân cùng vua cha Thành Thái bị đày thì người em ruột cùng mẹ với Ngài đi theo là em gái, công chúa Lương Nhàn, tên thường gọi ở nhà là Mệ Cưỡi. Ba của mình là là hoàng tử thứ 19 của Đức Ông nội Thành Thái, em trai ruột cùng mẹ duy nhất của vua Duy Tân, hoàng tử Vĩnh Hoè thì đến năm 1919 mới được bà nội Nguyễn thị Định, tài phi của Đức vua Thành Thái sinh ra ở đảo Réunion. Mình may mắn được ở chung nhà với bà nội và bác gái ờ ngôi nhà đó nên mình biết khoảng thời gian cuối đời hai bà sống vọng phu cô đơn lặng lẽ , bởi vì ba người con của bà nội đều mất sớm, bác gái thì không có con. Đức Bác Duy Tân mất năm 1945, ba của mình là con trai út của bà thì mất 1953, Đức Cô công chúa Lương Nhàn mất 1956. Bà nội, tài phi của Đức Ông Thành Thái mất 1971. Bác gái Mai thị Vàng mất 1980.”

Cô Trà kể: “năm 1945, Pháp đồng ý cho vua Duy Tân trở về nước. Nhưng đồng thời sau đó ông mất vì tai nạn máy bay năm 1945, cái chết của vua Duy Tân vẫn còn là một bí ẩn”.

Vì vậy khi nghiên cứu về các nhân vật lịch sử chúng ta sẽ tra cứu nhiều nguồn thông tin, đặc biệt dựa vào nguồn thông tin của hậu duệ , bà con trong thân tộc và người hiểu rõ về nhân vật lịch sử để có độ xác tín cao nhất có thể. 

Khi thực hiện bài này thì tôi được gặp được một số hậu duệ của cụ Mai Khắc Đôn Và sau khi bài viết đăng trên fb thì cô Mai Thị Trà và chị Công tôn nữ Như Thanh cho biết thêm một một vài chi tiết như đà nói ở trên.  

Cô Mai Thị Trà cho biết thêm:

Thời gian mới về, không có nhà ở nên bà Nguyễn Thị Định (bà sanh của vua Duy Tân) và Hoàng Phi Mai Thị Vàng cùng em chồng ở gần bà con bên bà Sanh ở Long Thọ, gần khu vực Hổ Quyền, sau đó ổn định rồi mới thuê nhà khác để ở chuyển đi một vài nơi nữa. Chi tiết cấp nhà sau đây là do cô Yến kể và cô Trà cũng xác nhận là đúng như thế: Sau một thời gian về nước, thấy các bà mẹ vua và vợ vua không có nhà ở chính quyền miền Nam  lúc đó cấp cho bà Sanh và bà Phi căn nhà (căn nhà có 3 phòng) ở kiệt 1 đường Âm Hồn, sau đó đổi thành đường Nguyễn Hiệu  (sau 1975 đổi tên đường Lê Thánh Tôn cho đến nay). Bà Phi rất hiếu để, hằng ngày chăm sóc mẹ chồng và em chồng. Khi em trai của chồng (hoàng Tử Vĩnh Hòe) trưởng thành vô Saigon học hành và lập nghiệp. Năm 1971 mẹ chồng mất. Lúc này bà Hoàng Phi đã 72 tuổi, bà xin hồi tôn về lại Kim Long sống cuộc đời còn lại ở phủ của cha mẹ ruột.

Theo chị Yến thì lúc về Huế bà vẫn được nhận hưu bỗng, Ngài tòa Khâm Pháp rất mê bà: Nói với bà là: “bà lấy vua không sướng bằng tôi đâu, nếu bà đồng ý làm vợ tôi, tôi sẽ đưa bà đi khắp thế giới”

Nhưng bà từ chối. Bà nói: “Xin lỗi ông, đời tôi chỉ có vua là chồng, vua là thiên từ, không ai có thể hơn vua”

Mỗi lần đến kỳ lãnh lương, ông tòa khâm lại sai người cho xe đến tận nơi rước bà về và mời vào phòng làm việc tiếp đãi, rồi cho xe chở về, bà biết giữ mình nên khi nào bà cũng đi cùng người anh trai của bà để tránh sự thân mật của khâm sứ Pháp. Đúng tinh thần như câu Kiều:

“Gìn vàng giữ ngọc cho hay 

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời”

Theo lời kể hậu duệ của gia tộc Hoàng Phi và tham khảo ở nguồn Wikimedia, 

Tôi xin tóm tắt các mốc thời gian quan trọng của Hoàng Phi: 

Đệ nhất Giai Phi nguyên danh Mai Thị Vàng sinh năm 1899, tại thôn Kim Long, Huế, năm 1915 đám hỏi, đám cưới ngày 16/1/1916, tức là đầu năm 17 tuổi đám cưới. Cuối năm 17 tuổi phải theo chồng đi đày, 19 tuổi trở về Huế. Khi ở đảo Réunion, Duy Tân vẫn thường gửi thư về cho bà. Năm 1925, Duy Tân đã gửi thư về cho hội đồng hoàng tộc kèm giấy ly hôn bà Mai Diệu phi, xin Hội đồng chứng nhận để bà đi lấy chồng khác. Khi đó, bà mới 27 tuổi nhưng bà không ly hôn mà vẫn ở vậy nuôi mẹ và em chồng. Cô Trà còn cho biết là vua Duy Tân rất thương nhớ bà Phi Mai Thị Vàng. Vua có làm một bài thơ nói lên tâm sự của mình đăng lên báo bên Pháp và ông Trần Viết Ngạc (em của người bạn thân của cô Trà) sang bên đó đọc được, và còn đọc thêm một số tài liệu liên qua đến vua Duy Tân và bà Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng tiếng Pháp. 

Cụ Mai Khắc Đôn đức cao vọng trọng nhưng cụ sống giản dị, thanh liêm. . Cụ là một nhà nho yêu nước, một vị quan thương dân và là một người thầy đáng kính của vua Duy Tân. Sau 8 năm học với thầy Mai Khắc Đôn, Vua Duy Tân trưởng thành, trở thành vị vua yêu nước và đứng lên chống Pháp. Tư tưởng của vua có ảnh hưởng tốt từ tư tưởng của thầy dạy và là nhạc phụ Mai Khắc ĐônCon cháu cụ kể lại là lúc làm quan, về nhà ông còn dạy học cho học trò trong địa phương, làng Trúc Lâm không biết lấy gì để đền ơn cụ nên đã hiến một sào ruộng làm nơi an nghỉ cho cụ. Trải qua làm quan hai triều vua Thành Thái và vua Duy Tân, cụ đã để lại những dấu ấn tốt đẹp. Năm 1930 cụ an nghỉ, mộ cụ được xây giữa một cánh đồng lúa xanh rờn, khung cảnh yên bình, như tính cách và cuộc sống sinh thời cụ đã gần dân, yêu thương dân như thế!



 Hoàng Phi Mai Thị Vàng là ý trung nhân vua đã chọn: xinh đẹp, hiền thục, chung thủy và hiếu để.  Bà xuất thân quyền quý, bước lên danh vọng đỉnh cao là đệ nhất Hoàng Phi nhưng lại sống giản dị. Là người có tấm lòng trung trinh, thủ tiết với chồng cho đến khi qua đời (1980) tại Kim Long. 

Cuộc đời cụ Mai Khắc Đôn là tấm gương về tài năng, đức độ, yêu nước và thương dân, từ những tư tưởng tốt đẹp và kiến thức uyên bác của mình đã truyền dạy, đào tạo một vị vua trẻ tuổi thành vị vua yêu nước thì cuộc đời Hoàng phi con gái cụ là một người phụ nữ Huế tiêu biểu cho nhan sắc và đức hạnh.Nếu vua không bị đi đày thì cuộc đời bà là hạnh phúc viên mãn bên vua và sẽ là một mẫu nghi chuẩn mực trong triều lúc bấy giờ.

Thời gian ở đảo như đã nói ở trên bà thường đau ốm do không hợp thổ nhưỡng, khí hậu, sợ bà có bề gì, trước đó cũng vì vất vả nên bị sảy thai, vua để bảo toàn sức khỏe cho vợ, mẹ và em trai, đã cho Hoàng Phi cùng mẹ là bà Định và em trai về Việt Nam sinh sống.

Sau này, vua cũng có con với 3 người phụ nữ châu Âu. (Chị Như Thanh kể) “Đức Bác Duy Tân hồi còn ở đảo Réunion, Ngài có 3 người vợ không chính thức và có 6 người con. Bà thứ nhất có 1 con trai, Bà thứ 2 có 3 trai một con gái, Bà cuối cùng có 1 gái” . Các Hoàng Từ có trở về thăm quê cha. Năm 1987, họ đưa thi hài của vua Duy Tân từ Pháp về Huế an táng tại An Lăng (Huế). Các con vua Duy Tân cũng thường được nghe cha kể về Hoàng Phi Mai Thị Vàng (cũng xem như mẹ đích vì bà Phi vẫn là vợ vua hợp pháp) các con của vua Duy Tân cũng yêu quý và kính trọng bà Hoàng Phi nên dù lúc mất 1980, Hoàng Phi an nghỉ tại Kim Long, nhưng sau này các hoàng tử về xin đưa Mộ phần bà Hoàng Phi Mai Thị Vàng về cải táng tại An Lăng, gần mộ vua Duy Tân. (Năm 1994),

Bà Nguyễn Thị Định mất năm 1971 tại Huế, được táng trong khuôn viên lăng Dục Đức cùng với vua Thành Thái và Duy Tân. Bà Hoàng quý phi Nguyễn Gia Thị Anh cũng được táng tại đây.

Mời bạn đọc xem 2 video người viết bài có một cuộc phỏng vấn nhỏ với Chị Mai Thị Thanh Xuân (cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn), chị Trần Thị Yến Tuyết (cháu ngoại của cụ Mai Khắc Đôn) một số hình ảnh thăm phủ đệ, gặp gỡ bà Mai (cháu dâu) và chị Mai Thị Nhàn, chắt nội của cụ Mai Khắc Đôn). Xem một số hình ảnh của Công Tôn nữ Như Thanh cung cấp, (con gái của Hoàng Tử Vĩnh Hòe- Hoàng tử thứ 19 của vua Thành Thái) hiện sống tại Canada. Chị Như Thanh đã về dự Huý Nhật ba vua Dục Đức Thành Thái Duy Tân tại An lăng ngày 16/2/Ất tỵ (5/3/2025).

Saigon, ngày 15/10/2025

Hoàng Thị Bích Hà

Video gặp gỡ trò chuyện với chị Mai Thị Thanh Xuân https://www.youtube.com/watch?v=pzDPN6BtgDE


Video gặp gỡ trò chuyện với chị Trần Thị Yến Tuyết

https://www.youtube.com/watch?v=jMfQWmQd-s0




READ MORE - THĂM PHỦ ĐỆ NHỚ NGƯỜI XƯA - Hoàng Thị Bích Hà