Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, March 28, 2022

BÊN SÔNG SÀI GÒN ĐỌC THƠ ĐÀ LẠT – Thơ Châu Thạch


   


BÊN SÔNG SÀI GÒN 
   ĐỌC THƠ ĐÀ LẠT

(Tặng Nguyễn An Bình)
 
Ngồi bên sông Sài Gòn
Đọc thơ về Đà Lạt
Gió Hồ Xuân Hương ngát
Trong thơ Nguyễn An Bình
 
Đèn Sài Gòn lung linh
Sông Sài Gòn lặng lẽ
Hương thông rừng thoáng nhẹ
Từ trong thơ bay ra.
 
Có tiếng gì xa xa
Như tiếng rừng rơi lá
Lá rơi buồn rất lạ
Đà Lạt sương và mơ!
 
Đà Lạt trong tập thơ
"Tình Tôi Người Lữ Khách"
Tay ta cầm tập sách
Lòng mơ Mimosa.  
 
Lòng mơ con đường hoa
Hoa đào và phượng tím
Nhớ và thương kỷ niệm
Rừng hương, hoa thơ xinh
 
Đêm nay ta một mình
Ngồi bên sông Sài Gòn
Đọc thơ Nguyễn An Bình
Men thơ và men tình
Làm ta say ngây ngất!
 
              Châu Thạch
 
READ MORE - BÊN SÔNG SÀI GÒN ĐỌC THƠ ĐÀ LẠT – Thơ Châu Thạch

Sunday, March 27, 2022

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1885) - Nguyễn Thị Minh Thiện và Thái Quang Trung

 

Cổng tiền thành cổ Quảng Trị dưới thời nhà Nguyễn.

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG XÃ

Ở HUYỆN HẢI LĂNG, 

TỈNH QUẢNG TRỊ

DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1885)




NGUYỄN THỊ MINH THIỆN

Trường THPT Quang Trung – Tây Ninh

THÁI QUANG TRUNG

Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Huế


Tóm tắt: Công cuộc khẩn hoang thành lập làng xã là một trong những vấn đề rất được nhiều nhà nghiên cứu, quản lý và các làng xã quan tâm. Bài viết này xin đề cập đến sự thành lập một số làng xã ở huyện Hải Lăng dưới triều Nguyễn (1802-1885). Qua đó, rút ra một số đặc điểm về quá trình thành lập làng xã trong thời kỳ này.

Từ khóa: Làng xã, Hải Lăng, Triều Nguyễn


  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Làng xã Việt Nam - một thực thể xã hội, một đối tượng khoa học từ lâu được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Trong thời điểm hiện nay, khi khoa học Lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, thì hệ thống làng xã giúp chúng ta đi từ những hiểu biết cụ thể, từng khía cạnh của đời sống xã hội để từ đó có thể rút ra những nhận xét về tất cả các lĩnh vực trong quá khứ.

Lịch sử mỗi làng xã là bộ phận lịch sử dân tộc. Làng xã là cơ sở bền vững bảo tồn sức sống và nền văn hoá của dân tộc. Từ thuở ban đầu dựng nước, cư dân Bách Việt đã dần dần tạo nên những đơn vị làng đầu tiên. Đó cũng chính là địa bàn tụ cư của các cộng đồng cư dân nông nghiệp. Dưới chế độ phong kiến, làng xã là đơn vị hành chính cơ sở của quốc gia, có thể thấy làng xã chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Việt Nam. Do vậy, nghiên cứu làng xã không chỉ đáp ứng được yêu cầu của khoa học lịch sử mà còn góp phần tìm hiểu những giá trị tinh hoa văn hoá truyền thống của làng quê để bảo tồn đồng thời xoá bỏ những hạn chế vốn có của nó.

Hải Lăng là huyện đồng bằng nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Trị; là quê hương có nhiều di tích lịch sử văn hóa lâu đời. Nơi đây nổi tiếng là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, “vựa lúa” của Quảng Trị và là nơi có đời sống văn hóa phong phú.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, với đức tính cần cù, chịu khó, thông minh, sáng tạo đã hình thành cho con người Hải Lăng một bản lĩnh không chịu khuất phục trước khó khăn, gian khổ để vượt lên, chiến thắng thiên tai, địch họa, khai sơn phá thạch, thau chua rửa mặn dần dần hình thành nên những xóm làng như ngày nay. Trong đó, có nhiều làng xã được hình thành dưới thời nhà Nguyễn (1802-1885) cần được nghiên cứu, lý giải về sự hình thành với các đặc điểm của nó.


Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN 1859-1612, Số 04(40)/2016: tr. 81-90


  1. CÁC LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG RA ĐỜI TRƯỚC NĂM 1802

Hải Lăng vào buổi bình minh của lịch sử dân tộc, dải đất này là phần đất của bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang.

Trong thời kì Bắc thuộc, nhà Hán cai trị, địa bàn Hải Lăng thuộc quận Nhật Nam, nhưng đến đời Đông Hán, năm 192 một lãnh tụ nhân dân bộ lạc Dừa ở phía Bắc đã lãnh đạo nhân dân lật đổ ách đô hộ nhà Hán, thành lập tiểu quốc Lâm Ấp. Đến thế kỉ IV, hai tiểu quốc Lâm Ấp và Panduranga đã hợp nhất, hình thành vương quốc Chămpa. Lợi dụng sự suy yếu của chính quyền phong kiến Trung Quốc đô hộ, các thế lực của Chămpa mở rộng địa bàn ra tận Hoành Sơn, vùng đất Hải Lăng thuộc đất nước này đến đầu thế kỉ XIV.

Năm 1306, cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và vua Chế Mân với sính lễ là châu Ô và châu Lí (Rí). Vua Trần cho đổi tên làm châu Thuận, châu Hóa và sáp nhập vào bản đồ Đại Việt. Hải Lăng thuộc châu Thuận, lúc bấy giờ có tên là An Nhơn. Một lần nữa cư dân người Việt lại vào đây định cư, mở đầu quá trình hình thành làng xã và thành lập đơn vị hành chính.

Từ cuối thế kỉ XIV, vương triều Trần suy yếu, quan hệ Việt – Chăm căng thẳng. Vùng Thuận Hóa trong đó có Hải Lăng trở thành bãi chiến trường của hai thế lực, làng mạc bị tàn phá và hoang vu trở lại.

Năm 1401, Hồ Quý Ly đưa quân vào đến Nam Thuận Hóa, thành lập các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Nhưng nhà Hồ (1400-1407) tồn tại không bao lâu, nước ta rơi vào ách đô hộ nhà Minh nhưng nhà Minh chưa thể đặt chính quyền cai trị lên vùng đất này. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đưa quân tiến đánh Chăm Pa, mở rộng biên giới đến phía Bắc đèo Cù Mông. Nhà vua xuống chiếu đưa dân Việt vào sinh sống, định cư ở đây.

Dưới triều Hậu Lê, việc khẩn hoang lập làng ở vùng đất Thuận Hóa nói chung, Hải Lăng nói riêng rất được chú ý. Cũng vào thời gian này, trên địa bàn Hải Lăng hàng loạt làng xã được thành lập, định hình một cách căn bản. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết: “…Xét Thiên Nam dư hạ tập của bản triều có chép rằng trong đời Hồng Đức định bản đồ… Phủ Triệu Phong 6 huyện 2 châu là: huyện Kim Trà 8 tổng 71 xã, huyện Đan Điền 8 tổng 65 xã, huyện Hải Lăng 7 tổng 75 xã...” [7, tr. 54].

Tuy nhiên, do đây là vùng đất xa xôi với triều đình trung ương, việc quản lí khó khăn, cho nên đến giữa thế kỉ XVI, khi Dương Văn An viết Ô Châu cận lục vẫn gọi vùng đất này là “Ô Châu ác địa”, cư dân còn thưa thớt. Theo tác phẩm này, vùng đất Hải Lăng thuộc phủ Triệu Phong có 49 xã: An Thơ, Vĩnh Hưng, Văn Quỹ, Câu Nhi, Hà Lộ, Lãng Uyên, Đoan Trang, Diên Sanh, Câu Hoan, Trà Trì Thượng, Trà Trì Hạ, Lam Thủy, Mai Đàn, Hương Lan, Hương Liễu, Long Đôi, Thái Nại, An Khang, Hoàng Xá, Xuân Lâm, Tích Tường, Như Lệ, Thạch Hãn, Cổ Thành, Thương Mang, Hoa Ngạn, Phù Lưu, Nha Nghi, Hữu Điều, Hoa La, An Lộng, Hà Mi, Nại Cửu, Dương Lệ, Dương Chiếu, An Toàn, Đồng Giám, Dã Độ, An Dã, Quảng Đâu, Đâu Động, Phúc Lộc, Đại Bối, Tiểu Bối, Đại Bị, Tiểu Bị, An Hưng, Hà Bá, Đâu Kênh. [2, tr. 56]


Năm 1558, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, công cuộc khẩn hoang xứ Thuận Quảng được đẩy mạnh. Các chúa Nguyễn đã biến vùng đất “Ô Châu ác địa” thành vùng đất trù phú, thủ phủ của họ Nguyễn ở Đàng Trong. Số làng xã tăng lên không ngừng. Theo Phủ biên tạp lục ta biết huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong có 5 tổng (67 xã 6 phường 4 thôn 2 tộc):

“Tổng Hoa La, 19 xã 2 phường 1 thôn: Hoa La, An Lộng, Đâu Kênh, Hồng Khê, Nại Diên, Tả Hữu, Thạch Hãn, An Tiêm, Cổ Thành, Cổ Bưu, Hà My, Bố Liêu, Phù Lưu, Dư Triều, Hậu Lễ, Long Hưng, Vệ Nghĩa, Tích Tường, Như Lệ, Xuân An, Vạn Long, Nà Nẫm.

Tổng An Thư, 5 xã 1 thôn: An Thư, Mỹ Chánh, Câu Nhi, Vĩnh Hưng, Văn Quỹ, Hội Kỳ.

Tổng An Dã, 21 xã 1 phường: An Dã, Hữu Điều, An Trung, Đại Hòa, Quảng Điền, Vũ Thuận, An Lệ Nhị Giáp, Giáo Liêm, Phụ Tài, Thanh Liêm, Quảng Lượng, Hiền Lương, Dương Lộc, An Toàn, Phan Xá, Trúc Đăng.

Tổng Cu Hoan, 6 xã 1 phường 1 thôn 2 tộc: Câu Hoan, Diên Sinh, Trường Sinh, An Phúc, Hà Lỗ, Hà Lộc, Lương Phúc, Miễn Trạch, Câu Hoan, Đỗ Phùng.

Tổng An Khang, 16 xã 2 phường 1 thôn: An Khang, Đại Nại, Trà Lộc, Lam Thủy, La Duy, Hương Vận, Trà Trì Thượng, Anh Hoa, Tam Hữu, Mai Đàn, Duân Kinh, Thi Ông, Thượng Xá, Trâm Lý, Xuân Lâm, Mai Lộc, Phú Xuân, Mai Hoa, Mai Đàn thượng thôn” [7, tr.101].

Dưới thời Lê – Trịnh chiếm đóng, rồi đến Vương triều Tây Sơn, công cuộc khẩn hoang vẫn được tiếp tục nhưng do nguồn tư liệu còn hạn chế nên số lượng làng xã tăng lên chưa khảo cứu được.

  1. SỰ THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 – 1885)

Năm 1802, sau khi đánh bại Vương triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, hiệu là Gia Long, chọn Phú Xuân làm kinh đô, lập nên Vương triều Nguyễn.

Nguyễn Ánh lấy hai huyện Hải Lăng và Đăng Xương của phủ Triệu Phong hợp với huyện Minh Linh của phủ Quảng Bình để lập dinh Quảng Trị. Từ đó, huyện Hải Lăng chính thức thuộc địa phận Quảng Trị. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827) đổi dinh Quảng Trị thành trấn Quảng Trị, năm thứ 12 (1831), trấn Quảng Trị đổi thành tỉnh Quảng Trị, huyện Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cắt tổng An Nhơn và ba thôn Phương Lang, Phú Hải, Thuận Đầu (tổng An Lưu) về huyện Hải Lăng. Cắt Tổng An Dã và 2 làng Tam Hữu, Anh Hoa (Tổng An Thái) và phần lớn Tổng Hoa La (trừ Trí Lễ, Thạch Hãn, Long Hưng, Tích Tường, Như Lệ) nhập về huyện Đăng Xương. Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) dời huyện lỵ Hải Lăng từ thôn An Tiêm đến thôn Trí Lễ. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) lại dời huyện lỵ đến thôn Diên Sanh. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) lấy ba thôn, phường của huyện Hải Lăng hợp với 29 xã, thôn của ha huyện Đăng Xương và Địa Linh lập thành tổng Cam Đường đặt thuộc huyện Thành Hóa do phủ Cam Lộ kiêm lý. Năm Tự Đức thứ 6 (1853), nhập Quảng Trị và Thừa Thiên, lập đạo Quảng Trị, giải thể phủ Triệu Phong, giảm viên tri huyện Hải Lăng và Đăng Xương, giao công việc của huyện cho đạo kiêm lý. Năm 1876 lập lại tỉnh Quảng Trị gồm hai phủ Triệu Phong, Cam Lộ và 4 huyện, trong đó huyện Hải Lăng vẫn giữ tên cũ. Đặt lại huyện Hải Lăng do phủ Triệu Phong thống hạt như trước.

Trong tác phẩm Đồng Khánh Dư địa chí (1886-1888) huyện Hải Lăng gồm 4 tổng:

Tổng An Thái (24 xã, phường): Xã An Thái, xã Thượng Xá, xã Đại Nại, xã Long Hưng, xã Chí Lễ, xã Trâm Lý, xã Hương Vận, xã Trà Lộc, xã Trà Trì, xã Duân Kênh, xã La Duy, xã Thi Ông, xã Lam Thủy, xã Cổ Bưu, xã Thạch Hãn, xã Tích Tường, xã Như Lệ, xã Mai Đàn, xã Xuân Lâm, phường Phú Xuân, phường Nà Nẫm, phường Trinh Thạch, phường Mai Lĩnh, phường Sái Xuân.

Tổng Câu Hoan (9 xã, thôn, phường): Xã Câu Hoan, xã Diên Sinh, xã Trường Sinh, xã Hà Lộc, xã Lương Điền, thôn Trường Phước, thôn Thuận Nhân (Nhơn), xã Hà Lỗ, phường Xuân Lộc.

Tổng An Thư (6 xã, thôn): Xã An Thư, xã Văn Quỹ, xã Câu Nhi, xã Hội Kỳ, xã Hưng Nhân, thôn Mỹ Chánh.

Tổng An Nhân (23 xã, thôn, phường): Xã An Nhân, xã Xuân Viên, xã Đông Dương, xã Diên Khánh, xã Kim Giao, xã Kim Lung, xã Đan Quế, xã Hội An, xã Đa Nghi, xã Cỗ Lũy, xã Phương Da, xã Ba Thâu, xã Phú Hải, xã Phú Kênh (Kinh), xã Phúc Điền, xã Trung Đan, xã Thâm Khê, xã Thuận Đầu, xã Mỹ Thuỷ, xã Trung An, phường Tân An, phường Tân Hội, phường Thượng An. [8, tr.1383-1385]

Do nhiều lần thay đổi hành chính, điều chỉnh địa phận nên có nhiều xã, thôn trước kia thuộc Hải Lăng nay thuộc về huyện Triệu Phong (Đăng Xương) và ngược lại. Căn cứ vào danh sách các xã thôn huyện Hải Lăng hiện nay, đối chiếu với các xã thôn trong Phủ biên tạp lục và Đồng Khánh Dư địa chí ta thấy có 5 xã, thôn được thành lập đó là: Thuận Nhơn, Trường Phước, Xuân Lộc, Phước Điền, Trung An. Nhưng qua thực tế tìm hiểu ở địa phương thì ta thấy làng Phước Điền (Phúc Điền) đã ra đời vào khoảng thế kỉ giữa XVI, làng Trung An ra đời vào khoảng thế kỉ XVIII; một số làng như Phú Long, Như Sơn, Tân Điền, Lương Chánh không được Đồng Khánh Dư địa chí đề cập đến. Quá trình thành lập các làng xã này như sau:

* Thôn Thuận Nhơn: ra đời vào khoảng những năm 20-30 của thế kỉ XIX cùng với sự ra đời của sông đào Vĩnh Định (1825). Sông Vĩnh Định ra đời không chỉ tạo điều kiện cho nhân dân đi lại thuận lợi, cung cấp nước cho nông nghiệp mà nó còn đánh dấu sự ra đời một số đơn vị hành chính mới như làng Thuận Nhơn.

Thuận Nhơn thành lập từ việc mua đất của làng Thi Ông và Câu Hoan, đó là hai vùng đất: xứ Già Giàu và xứ Cồn Đống - Cồn Miếu.

Trước hết, nói về vùng đất xứ Già Giàu (nhà giàu): vốn được cư dân Thi Ông gọi là xứ “thượng đoạn”. Nhận thấy đây là một vùng đất tốt nên ngài Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ đã mua đất của Thi Ông nằm ở hữu ngạn sông Vĩnh Định với diện tích 30 mẫu có dư. Sau khi Thuận Nhơn an cư lạc nghiệp thì đổi tên lại là lại xứ “Già Giàu” (chỉ sự giàu có của nhiều gia đình).

Theo gia phả cụ Ngô Xưng cung cấp, trong đoàn quân thần chỉ huy đào sông ấy có hai ông Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ tham gia, sau khi sông đào xong hai ông được phép trưng canh, mua đất lập làng. Như quan niệm của người xưa “nhất cận thị, nhị cận giang” nên hai Ngài đã mua hai vùng đất của làng Thi Ông, Cu Hoan có dòng sông Vĩnh Định chảy qua nhưng trên thực tế nhờ sức ép của bà Hiền phi Ngô Thị Chánh (vợ vua Minh Mạng, là chị của hai ngài Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ) rất lớn.

Một thời gian sau, các tiền nhân lại mua thêm đất ở xứ Cồn Đống - Cồn Miếu của làng Cu Hoan. Cồn Đống - Cồn Miếu nằm ở tả ngạn sông Vĩnh Định, nơi giao nhau ngã ba sông rất thuận lợi cho đi lại, phát triển kinh tế.

Đến năm 1839, dưới triều vua Minh Mạng, Thuận Nhơn chính thức có làng hiệu. Ngài Ngô Văn Thắng (ngài anh) theo “tập ấm” được phong làm quan cai đội nên ngài đã nhường tước vị khai canh cho ngài em là Ngô Văn Thọ và con của ngài là Ngô Văn Vân làm hậu khai khẩn.

* Thôn Trường Phước: vốn là 1 trong 5 giáp của xã Trường Sanh: giáp Đông, giáp Mỵ, giáp Trung, giáp Hậu, giáp Phước. Giáp Phước nay là Trường Phước thuộc xã Hải Lâm.

Theo bản dịch và hiệu chú “Ô Châu cận lục” của Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc (NXB Thuận Hóa, Huế, 2001) thì ghi chú làng Đoan Trang đến nay không còn. Bản dịch và hiệu chú “Ô Châu cận lục” của Văn Thanh và Phan Đăng (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009) thì ghi chú làng Đoan Trang là làng Mỹ Chánh (Hải Chánh) hiện nay. Nhưng có lẽ 4 tác giả đã nhầm do không tiếp cận thực địa nguồn tư liệu Hán Nôm tại làng Trường Sanh.

Trong Châu bộ của làng Trường Sanh lập vào năm Hoằng Định thứ 6 (1605) ghi rõ: “Triệu Phong phủ, Hải Lăng huyện, Đoan Trang xã. Lê Thời Danh, Võ Trạch Thủ đẳng, do tự Hồng Đức niên gian Lê vị trước chí Quang Hưng thập tứ (1591), Hoằng Định lục niên (1605), tiền tu tả kiến canh địa bộ, hậu khai báo chúc thơ tổ nghiệp, các họ khai canh bao chiếm điền thổ các sở cập lưu hoang, thượng tự sơn lâm thổ trạch, hạ cập điền thư như khê hác tích thủy kỳ như hải hoạt đẳng khai”* [6, tr.33]. Làng Trường Sanh có 12 họ, nhưng có 8 họ chính được coi là có công tạo lập nên xóm làng vào thời kỳ đầu lập nghiệp, gồm: Lê, Võ, Nguyễn, Trương, Hồ, Trần, Phan, Bùi.

Đến đời thứ 3 – 4, con cháu họ Lê (Lê Khắc Trình), Trần (Trần Thiên Tải), Nguyễn (Nguyễn Khắc Ứng) làng Trường Sanh đã lên đây khai phá đất đai, sinh cơ lập nghiệp. Tương truyền ngài Lê Khắc Trình làm quan tri huyện Hải Lăng bị một số người ghen ghét nên tìm cách giết hại khi ông trên trường đi làm về. Nơi ông bị chém, người dân lập miếu thờ nay gọi là miếu Ông Huyện. Ông được phong làm tiền khai khẩn tri huyện phụ bộ Lê Đại La. Trần Thiên Tải, Nguyễn Khắc Ứng, Phan Khắc Ngạn (người làng Diên Sanh) làm hậu khai canh.


Trải qua một thời gian dài sinh cơ lập nghiệp, cư dân ở giáp Phước muốn tách thành đơn vị hành chính độc lập nhưng không được làng Trường Sanh đồng ý. Lúc bấy giờ ở Diên Sanh có ông Phan Khắc Ngạn làm quan đến chức Trưởng Thái giám sự chính phủ, Đề đốc phụ quốc tả trị, Nhân phước hầu tại triều đình Huế. Ông Ngạn có người em ruột là Phan Khắc La (Đốn) muốn lên sinh sống tại Trường Phước. Nhân cơ hội đó ba họ Lê, Trần, Nguyễn nhờ ông Ngạn can thiệp để tách khỏi Trường Sanh. Để trả ơn ông Ngạn, làng nhượng cho ông Ngạn một vùng đất rộng là “bàu làng” và “trằm Đún” (khoảng trên 20 mẫu). [10, tr. 23]

Như vậy, ta không biết rõ thời gian cụ thể thôn Trường Phước thành lập nhưng cho đến cuối thời các chúa Nguyễn, Trường Phước vẫn thuộc về Trường Sanh, đến Triều Nguyễn mới trở thành đơn vị hành chính độc lập.

* Phường Xuân Lộc: hình thành vào đầu thế kỷ XIX, làng còn có một tên gọi khác là làng Bàng do vùng này có nhiều cây Bàng mọc dọc con hói chảy qua giữa làng nên có địa danh gọi là Hói Bàng. Lúc đầu, dân cư sống tập trung hai bên Hói Bàng. Mặc dù Xuân Lộc có tên hiệu vào đầu thế kỉ XIX, nhưng từ thế kỷ XVIII những cư dân làng Hà Lộc (là một làng nằm phía dưới vùng đồng bằng ven sông Ô Lâu) do nhu cầu phát triển về đất ở, đất canh tác, tránh lụt lội nên đã di cư dọc theo sông Thác Ma lên đây lập nghiệp. Cho đến cuối thế kỷ XVIII cư dân Hói Bàng vẫn chung đinh, chung điền và các thiết chế văn hóa với làng Hà Lộc. Đến thế kỷ XIX dân cư ngày càng đông mới thiết lập phường hiệu và ông Nguyễn Văn Tuyền là Lý trưởng đầu tiên.

Người có công đầu tiên trong việc khẩn hoang vùng đất này thuộc về dòng họ Phan (Hà Lộc) đó là ông Phan Công My thế hệ thứ 3 của họ Phan Công được tấn phong là thần Khai canh. Tiếp đến là họ Nguyễn (Nguyễn Văn Sim) gốc Thanh Hóa và các dòng họ khác.

Làng Phú Long được vua Tự Đức thứ 22 (1869) cho phép xuất phường khỏi làng Long Hưng. Quá trình hình thành làng Phú Long gắn liền với sự củng cố vương triều Nguyễn. Vào năm Gia Long thứ 3 (1804) vua cho xây dựng kinh thành Huế làm cho dân ở tả ngạn sông Hương từ Kim Long xuống Bao Vinh mất đất nhất là làng Phú Xuân (Huế). Trước tình hình đó vua cấp thẻ bài cho phép dân các làng đó đi đến đâu đều được hưởng quyền lợi về mọi mặt ngang hàng với cư dân lâu đời ở đó. Trong số những người Phú Xuân ra đi lúc đó có ông Nguyễn Bá Văn và một số người khác đến làng Đình Tổ (Quảng Bình) nhưng nhận thấy ở đây khó khăn các ông đã tìm về làng Long Hưng. Lúc đầu, họ sống chung với cư dân làng Long Hưng nhưng về sau do mâu thuẫn về vấn đề nhận ruộng đất, định kiến dân chính cư và ngụ cư nên sau khi được vua Tự Đức cho phép xuất phường những người này đã bao chiếm vùng đất phía tây làng Long Hưng gồm các vùng An Lạc, Tân Qui, Phong Tài, Hoàng Tiến để khai khẩn. Họ đã đồng cam cộng khổ cùng nhau khẩn hoang vùng gò đồi này được hơn 1000 mẫu.

Phú Long có ý nghĩa là lấy chữ Phú trong Phú Xuân và Long trong Long Hưng mà thành. Cũng ra đi từ làng Phú Xuân, ở trên vùng đất Hải Lăng, nằm bên dòng sông Vĩnh Định có một làng mang tên gốc Phú Xuân đó là làng Phú Xuân (Hải Xuân) (Đệ nhất phường Phú Xuân) nhưng thành lập sớm hơn vào khoảng những năm 60-70 thế kỷ

XVIII. Do các ngài họ Đặng, Lê, Hoàng, Nguyễn, Trương đã chọn vùng đất thuộc xã Trà Trì để định cư và đây là làng duy nhất trên đất Quảng Trị giữ nguyên tên gốc của làng Phú Xuân (Huế).

Làng Như Sơn: họ Nguyễn làng Như Sơn có gốc từ làng Kim Long (Huế). Cũng do việc xây dựng kinh thành nên họ Nguyễn (Như Sơn) ra làng Phú Liêu (Triệu Tài - Triệu Phong) sinh sống. Đến khoảng năm 1849 do điều kiện Phú Liêu chật hẹp nên vào vùng đất kề cận Lương Điền (Hải Sơn) sinh sống. Năm Tự Đức thứ 32 (1879) được vua cho phép lập làng tên là Như Sơn (núi bằng) với 29 mẫu ruộng. Khai canh lập làng là ngài Nguyễn Hoài Phúc, hai vị hậu Khai khẩn là Nguyễn Đình quý công và Nguyễn Văn quý công.

Làng Tân Điền là một làng mới của Lương Điền hình thành vào khoảng gần cuối thế kỉ XIX (Tự Đức 26 - 1873).

Làng Lương Chánh ra đời từ việc mua đất của làng Thượng An (Hải Vĩnh) với diện tích 12 mẫu 8 sào. Làng thành lập vào năm Tự Đức thứ 20 (1867). Những người sáng lập ra làng phần lớn có nguồn gốc từ làng rèn Hiền Lương (Huế). Trong đó, ngài Nguyễn Văn Hương được sắc phong là Hậu Khai canh.

  1. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HẢI LĂNG

    1. Qua thống kê các xã thôn huyện Hải Lăng trong Đồng Khánh Dư địa chí ta thấy lúc bấy giờ Hải Lăng có 4 Tổng gồm: Tổng An Thái 2 xã, phường; Tổng Cu Hoan 9 xã, thôn, phường; Tổng An Thư 6 xã, thôn; Tổng An Nhân 23 xã, thôn, phường. Tổng cộng là 62 xã, thôn, phường. Trong đó phường Nà Nẫm, phường Trinh Thạch nay thuộc về huyện Đakrong, 4 xã Thạch Hãn, Cổ Bưu, Tích Tường, Như Lệ nay là Thị xã Quảng Trị, xã Phương Da thuộc Triệu Phong, 3 phường Mai Lĩnh, Sái Xuân, Tân Hội và xã Ba Thâu chưa xác định (tác giả) thì nay thuộc huyện Hải Lăng là 51 xã. Nếu căn cứ vào trên thì ta thấy trong Đồng Khánh Dư Địa chí không thấy ghi 2 xã Phương Lang, Ba Du và Mai Đàn Thượng thôn ra đời trước đó nhiều thế kỷ đã được ghi chép trong Phủ biên tạp lục.

    2. Lực lượng khẩn hoang lập làng trong giai đoạn này chủ yếu là từ các làng của Hải Lăng đã thành lập trước đó nay do nhu cầu phát triển về đất ở, đất canh tác, tránh lụt lội… nên từ thế kỷ XVII - XVIII - XIX rất nhiều làng đã tìm lên vùng gò đồi phía Tây của huyện để khẩn hoang sau này hình thành nên những làng như Tân Diên, Diên Trường, Trường Thọ, Trường Xuân, Tân Trường, Câu Nhi phường, Vực Kè, Khe Mương, Trầm Sơn vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX… Ngoài ra còn có cư dân từ Huế ra do nhu cầu sản xuất nghề nghiệp như làng rèn Hiền Lương hay do triều đình Huế mở rộng xây dựng kinh thành như làng Kim Long, Phú Xuân. Cư dân Quảng Bình, Thanh - Nghệ nhưng không nhiều.

    3. Hình thức tách làng và mua đất lập làng là đặc điểm khá nổi bật trong thời kỳ này.


Hình thức mua đất lập làng: Do lúc bấy giờ sông Vĩnh Định giao thông thuận lợi, cũng là tuyến giao thương bằng đường thủy chủ yếu từ Huế ra Cửa Việt nên nhiều làng đã chọn những vùng đất dọc con sông này để sinh sống như làng Thuận Nhơn (về sau Thuận Nhơn mua thêm trằm Đỏ Tía của Câu Hoan lập nên làng Thuận Đức), Lương Chánh, Phú Xuân, Kim Sanh (Phường Xăm Cựu Vĩnh Định)…

Hình thức tách làng: Do nhu cầu phát triển về đất ở, đất canh tác, tránh lụt lội… nhiều làng đã tìm đến vùng đất phía Tây của huyện để khẩn hoang. Lúc đầu, các làng vẫn chung đinh, chung điền, thiết chế văn hóa với các làng gốc nhưng về sau khi dân cư ngày càng đông lên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do mâu thuẫn, cũng có thể do để dễ quản lý, thuế mà tách ra thành đơn vị hành chính độc lập. Ví dụ, làng Trường Phước, làng Ba Khê thành lập năm 1812 do Bà Trừ vào thời Gia Long đem con cháu hai họ Bùi Văn, Bùi Phước từ làng Trí Bưu đến xứ “Bà Trừ” khai khẩn. Bà được phong là Tiền Khai khẩn, dân làng yêu quý gọi bà là Trà Phu Nhân. Và có lẽ đây là trường hợp nữ duy nhất được tôn danh hiệu này trên đất Hải Lăng.

    1. Từ tên gọi các làng xã ở trên, ta thấy khi đặt tên các xã đều giữ một phần tên gốc của làng mình trước đây để nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn, hoặc phản ánh vùng đất mới minh sinh sống như: Thuận Nhơn, Thuận Đức với ý nghĩa tìm Thuận Nghĩa mà về “…Cao tổ huý Ca dĩ tiền sinh trưởng Gia Định tỉnh, Thuận Nghĩa thôn, kỷ sự tích bản vô tường kỷ…”. Trường Phước (Trường Sanh), Xuân Lộc (Hà Lộc), Phú Long (Phú Xuân + Long Hưng), Lương Chánh (Hiền Lương), Như Sơn (núi bằng)…

  1. KẾT LUẬN

Quá trình hình thành các làng xã huyện Hải Lăng đã diễn ra lâu đời. Kể từ khi châu Ô, châu Lý sát nhập vào Đại Việt (1306) cũng là quá trình người Việt di cư vào đây khai khẩn, dựng làng. Dĩ nhiên, khi người Việt đến tụ cư, đây không phải là mảnh đất vô chủ. Trước đó, cư dân Chăm đã sinh sống, tạo lập một nền kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển. Nhưng đối với người Việt đây vẫn là một vùng đất xa xôi, khó khăn, nguy hiểm. Người Việt đến đây phần lớn là binh lính, tù nhân, nông dân nghèo khổ. Trải qua quá trình chung lưng đấu cật, chế ngự thiên nhiên, cải tạo ruộng đồng, khai thác đất đai các làng xóm dần dần ra đời. Tuy nhiên, phải đến thời Lê, đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) công cuộc khai khẩn vùng đất phía Nam được đẩy mạnh trong đó có Hải Lăng. Phần lớn các xã thôn ở Hải Lăng hiện nay được định hình về cơ bản trong thời gian này. Hay nói cách khác, các làng xã được thành lập hoàn chỉnh và ổn định. Những hoạt động khẩn đất lập làng từ nửa sau thế kỉ XVI (1558) trở đi là sự khai phá mở rộng và đi vào chiều sâu. Nhìn vào danh sách các làng xã trong Ô Châu cận lục, Phủ biên tạp lục ta thấy số lượng làng xã tăng lên khá nhiều nhưng thực tế đi sâu tìm hiểu các làng xã ở trên địa bàn Hải Lăng hiện nay thì không như vậy. Đến thời Nguyễn 1802 – 1945 rất nhiều xã hiệu mới được thành lập trên cơ sở đất đai của các làng hình thành trước đó.

Qua việc tìm hiểu các làng xã được thành lập ở Hải Lăng giai đoạn 1802 – 1885 một lần nữa chứng minh quá trình khai khẩn đất đai diễn ra rất lâu dài, liên tục. Các làng xã ban đầu được hình thành chủ yếu ở vùng đồng bằng, ven biển về sau do nhu cầu mở rộng diện tích đất canh tác, tránh lụt lội, các làng tiến hành khai khác mở rộng khu vực xung quanh mình cư trú, về sau nữa chuyển lên khai thác vùng gò đồi phía Tây của huyện.

Việc mua đất lập làng như ở Thuận Nhơn, Thuận Đức, Lương Chánh. Hay như sự ra đi của cư dân các làng Phú Xuân (Huế), Kim Long (Huế) do nhu cầu xây dựng mở rộng kinh thành, được vua cấp thẻ bài cho dân các làng đó đi đến đâu đều được hưởng quyền lợi về mọi mặt ngang hàng với cư dân lâu đời ở đó. Về sau, thành lập làng Phú Xuân, Phú Long, Như Sơn là một nét mới mà các giai đoạn trước đó chưa có.

Chú thích: * Xã Đoan Trang, Huyện Hải Lăng, Phủ Triệu Phong, thời nhà Lê, có hai vị là Lê Thời Danh, Võ Trạch Thủ, trước năm Quang hưng 14 (1591). Năm Hoằng Định thứ 6 (1605), trước là tu sửa, khai khẩn đất đai, sau là khai báo công đức với tổ tiên, tổ nghiệp. Các họ (hộ) tiếp tục khai phá mở rộng đất hoang, chọn vùng cao làm nhà ở, chọn nơi thấp làm ruộng như khê hác (khe hác) thì tích nước thành hồ lớn thuận lợi cho khai hoang.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Dương Văn An (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu đính và dịch chú) (2001). Ô châu cận lục, NXB Thuận Hoá, Huế.

  2. Dương Văn An (Văn Thanh, Phan Đăng dịch và chú giải) (2009). Ô châu cận lục, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

  3. Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Chánh (2014). Lịch sử Đảng bộ xã Hải Chánh (1930 - 2010), Quảng Trị.

  4. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hải Lăng (2015). Lịch sử Đảng bộ huyện Hải Lăng (1930 - 1975), NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.

  5. Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Sơn (2008). Lịch sử Đảng bộ xã Hải Sơn (1930 - 2005), Quảng Trị.

  6. Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Trường (2012). Lịch sử Đảng bộ xã Hải Trường (1930 - 2010), Quảng Trị.

  7. Lê Quý Đôn (Viện Sử học dịch) (2007). Phủ biên tạp lục, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

  8. Đồng Khánh dư địa chí (Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin dịch), bản CD-Rom.

  9. Lê Văn Duẫn (1985). Làng xã ở Hải Phú (Từ thành lập đến trước Cách mạng tháng Tám 1945), Khoá luận tốt nghiệp, Trường ĐHKH Huế, Huế.

  10. Lê Thanh Hà (1985). Quá trình hình thành và phát phiển các làng xã ở xã Hải Lâm Triệu Hải – Bình Trị Thiên dưới thời Phong kiến, Khoá luận tốt nghiệp, Trường ĐHKH Huế.

Title: THE ESTABLISHMENT OF THE VILLAGE UNDER THE NGUYEN DYNASTY (1802-1885) IN HAI LANG DISTRICT QUANG TRI PROVINCE

Abstract: The work of reclaiming the establishment of the village is a large problem, many researchers, managers and interested villages. This article would like to mention the establishment of a number of villages in Hai Lang district under the Nguyen Dynasty (1802- 1885). Thereby, show some features about the process of establishment the villages during this period.

Keywords: village, Hai Lang, Nguyen Dynasty


NGUYỄN THỊ MINH THIỆN

Trường THPT Quang Trung – Tây Ninh


TS. THÁI QUANG TRUNG

Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Huế


(Ngày nhận bài: 19/5/2016; Hoàn thành phản biện: 17/6/2016; Ngày nhận đăng: 17/7/2016)

Nguồn: http://tckhgd.huce.vn/DOC_BAIBAO/34_532_NguyenThiMinhThien,ThaiQuangTrung_13_thai%20quang%20trung%20lan%202.pdf

READ MORE - QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1885) - Nguyễn Thị Minh Thiện và Thái Quang Trung

Saturday, March 26, 2022

ĐÊM LÀ HƯ VÔ – Thơ Trần Mai Ngân




 
ĐÊM LÀ HƯ VÔ
 
Đêm nay mặn đắng vị buồn
Ghì đêm ôm xiết rồi buông hững hờ
Vắt tim nhỏ giọt lệ thơ
Tại sao xa lạ lạnh bờ môi yêu
 
Đêm nay sâu lắng hắt hiu
Muôn trùng gõ nhịp tiêu điều gian nan
Hoá điên ở giữa trần gian
Đôi tay bám riết hoang mang ơi... Mình!
 
Đêm nay đêm của lặng thinh
Cuồng si thuở ấy bóng hình nơi đâu
Dấu tay vết bấu còn sầu
Ngát trên da thịt một mầu hư vô!
                                             
Trần Mai Ngân

READ MORE - ĐÊM LÀ HƯ VÔ – Thơ Trần Mai Ngân

NGỤ NGÔN Ê-DỐP (97-100) - Ngọc Châu phỏng dịch sang thơ song thất lục bát

 


97. The Bull and the Calf

A Bull was striving with all his might to squeeze himself through a narrow passage which led to his stall. A young Calf came up, and offered to go before and show him the way by which he could manage to pass. "Save yourself the trouble," said the Bull; "I knew that way long before you were born."

Bò đực và Bê non


Bác Bò đực loay hoay xoay xở

Lách qua dải hẹp mở vào chuồng

Bê non luồn lên chen đường:
“Cháu đi trước, bác theo gương đây này”


“Nhãi ạ, cuốn gói ngay cho khỏe…

- Bò bực mình hảy nhẹ chú Bê -

Kiểu mày tao biết từ khi

Mẹ mày cũng mới tập đi như mày…”



98. The Camel

When man first saw the Camel, he was so frightened at his vast size that he ran away. After a time, perceiving the meekness and gentleness of the beast's temper, he summoned courage enough to approach him. Soon afterwards, observing that he was an animal altogether deficient in spirit, he assumed such boldness as to put a bridle in his mouth, and to let a child drive him.

Use serves to overcome dread.


Con Lạc đà


Người đàn ông lần đầu nhìn thấy

Lạc đà, thì run rẩy hoảng kinh

Thú gì to như voi, kình…

Khiến ông khiếp hãi rùng mình, chạy xa.


Thời gian sau dần dà thấy được

Tuy to nhưng nhu nhược, phục tùng

Hiền hòa, không biết nổi khùng

Ông ta mới đến gần cùng đi quanh


Nói chung nó hiền lành hết lẽ
Nên yên cương có thể đóng vào

Trẻ con cho cưỡi lưng cao

Đúng là được việc, ai nào sợ to.



99. The Hares and the Foxes

The Hares waged war with the Eagles, and called upon the Foxes to help them. They replied, "We would willingly have helped you, if we had not known who you were, and with whom you were fighting."

Count the cost before you commit yourselves.



Thỏ và Cáo


Thỏ vận động Cáo cùng tham chiến

Nện cho tàn gia quyến chim Ưng

Cáo kia không chút ngập ngừng

Trả lời rằng “Rất vui mừng nếu như

Tớ không biết Ưng kia với Thỏ

Thì tay nào giỏi võ nghệ hơn…”

Rất cần tính giá thiệt hơn

Trước khi cam kết làm tròn việc chi.


100. The Wolves and the Sheepdogs

The Wolves thus addressed the Sheepdogs: "Why should you, who are like us in so many things, not be entirely of one mind with us, and live with us as brothers should? We differ from you in one point only. We live in freedom, but you bow down to and slave for men, who in return for your services flog you with whips and put collars on your necks. They make you also guard their sheep, and while they eat the mutton throw only the bones to you. If you will be persuaded by us, you will give us the sheep, and we will enjoy them in common, till we all are surfeited." The Dogs listened favorably to these proposals, and, entering the den of the Wolves, they were set upon and torn to pieces.


Chó sói và chó chăn cừu


Chó chăn cừu nghe bày Sói dụ :

“Trông mày hệt như lũ chúng tao

Thật lạ lùng là tại sao

Lại không cùng sống bên nhau một đàn?

Khác mỗi điểm mày an tâm chịu

Tuân theo mọi dự liệu chủ nhân

Chúng tao tự do toàn phần

Mày thì roi vọt, cổ hằn đai da

Họ còn bắt mày ra đồng bãi

Canh cừu khi họ mải say sưa

Thịt cừu họ nhậu sớm trưa

Cho mày mấy khúc xương thừa quăng ra

Nếu mày thấy bọn ta nói phải

Thì cừu kia mày đãi anh em

Thịt thà đầy rẫy khỏi thèm

Chén rồi, thích lại ăn thêm nếu cần..”

Chó chăn cừu tần ngần suy nghĩ

Cuối cùng thì đồng ý về hang

Nhưng chưa kịp nhận họ hàng

Sói đàn xúm lại xé tan Chó rồi.

READ MORE - NGỤ NGÔN Ê-DỐP (97-100) - Ngọc Châu phỏng dịch sang thơ song thất lục bát

Friday, March 25, 2022

SỰ THÀNH LẬP CÁC LÀNG CỔ Ở QUẢNG TRỊ - Linh mục Stanislao Nguyễn Văn Ngọc

 

Bến đò dọc bờ sông Cam Lộ. Quang Tri 1967
 – Photo by Edward Palm
thoixua.vn

SỰ THÀNH LẬP CÁC LÀNG CỔ Ở QUẢNG TRỊ

Tác giả: Linh mục Stanislao Nguyễn Văn Ngọc


      Linh mục Stanislao Nguyễn Văn Ngọc sinh năm 1910, quê ở làng Dương Lộc (Triệu Phong), tốt nghiệp chủng viện An Ninh (Cửa Tùng) và Đại chủng viện Huế, là một nhà cổ học hiểu biết sâu rộng về truyền thống văn hóa – lịch sử Quảng Trị, suốt đời gắn bó với mảnh đất quê hương.

     Bài này được ông viết và đăng trên tạp chí Cửa Việt năm 1990 và cho đến nay, các thông tin về làng trong bài có thể đã đổi khác. Sau đây là nguyên văn bài viết của tác giả.

1. Cách tổ chức thôn xã thời xưa

     Tác giả Phạm Văn Sơn trong cuốn Việt Sử Tân Biên II trang 320 đã viết : Đối với xã hội Việt Nam thời xưa, một xã hội hoàn toàn nông nghiệp, xã thôn là nền tảng. Chế độ và tổ chức xã thôn xuất hiện từ thời Trần theo nguyên tắc dân chủ vì xã thôn có những quy lệ riêng do các phong tục, tập quán được nhân dân tôn trọng, cấu tạo. Nó là ý dân ở từng địa phương một. Nó đã gây nên một chế độ tiểu quốc gia trong một quốc gia và đã xây dựng được nền tự trị của nó về kinh tế, chính trị, cũng như văn hóa. Câu “ phép vua thua lệ làng” đủ tỏ cái uy tín của xã thôn đối với nhân dân Việt Nam….Xã thôn có nhiều uy quyền nên đã phát triển được mọi sáng kiến, mà vì đó, nhiều tục lệ của xã thôn mặc nhiên được nhà nước công nhận.

     Đời vua Lý Anh Tông (1171-1172) đã có các bản đồ các xã thôn và nhà Lý đã đặt chức “xã quan” để cai trị xã thôn. Nhà Trần cũng theo luật lệ nhà Lý trong việc hướng dẫn xã thôn, gọi là “Quan đại tư xã” và “ Quan tiểu tư xã”. Mỗi vị cai trị hoặc hai xã hoặc ba bốn xã. Do đó, nhà Trần lập các đình làng bên các quan lộ như công đường, để các “quan xã” tới làm việc tại đó cho sát cánh nhân dân xã. Nhưng từ đời vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) chế độ xã thôn vì chế độ hoàn cảnh thời bấy giờ mà sinh ra nhiều sự đồi tệ, nên ông Hồ Quý Ly, lúc còn làm quan, đã đứng ra cải tổ. Đó là xã thôn trải qua ba nhà : Lý, Trần, Hồ.

     Đến năm 1407, quân nhà Minh qua xâm chiếm nước ta và diệt họ Hồ. Nhà Minh tổ chức xã thôn Việt Nam theo kiểu Trung Quốc như sau : tại nông thôn thì chia ra Lý và Giáp, tại thành phố thì chia ra Phường. Cứ 110 hộ thành một Lý, có vị Lý trưởng cai trị, và cứ 10 hộ làm một Giáp có ông Giáp thủ. Hai vị này cầm đầu và kiểm soát xã thôn. Như vậy mỗi làng có nhiều người để kiểm soát, trong coi, chịu trách nhiệm về mọi hành động của nhân dân. Có bản đồ ruộng đất, có sổ đinh và sổ điền và có bản danh sách các gia đình, kê khai đủ mọi điều.

     Năm 1428, sau khi vua Lê Lợi đã đuổi được quân Minh ra khỏi nước, thì các cơ cấu hành chính xã thôn được thay đổi chia ra ba cấp : đại xã có trên 100 người, được đặt dưới ba vị quan xã cai trị; trung xã có trên 50 người, đặt hai xã quan và tiểu xã có 10 người trở lên, đặt một xã quan.

     Một cuộc cải tổ hoàn toàn mới được ban hành, là trong các chế độ trước các quan cai trị xã thôn là do triều đình đặt ra, nhưng từ đời vua Lê Thánh Tông (1460-1479) cơ cấu cai trị xã thôn do dân làng bầu ra như sau : Mỗi đại xã có ba xã trưởng, còn tiểu xã có hai người. Các viên chức này là những đại diện của dân về tri thức và hạnh kiểm. Khi dân bầu xong, họ còn phải do quan trên phúc hạch lại.

     Điều lệ bầu viên xã trưởng như sau : hội đồng toàn dân lựa chọn, hoặc lấy người cao niên, hoặc giám sinh, sinh đồ mà học lực chưa thành đạt, hoặc phần tử thuộc lương gia đệ tử từ 30 tuổi trở lên. Bầu sai nguyên tắc sẽ phải tội. Nếu cần thêm người giúp việc thì cho phép lấy thêm vị thôn trưởng. Để tránh việc bè đảng, ở mỗi làng, người nào đã ra làm xã trưởng thì người cùng họ với xã trưởng, không được giữ chức xã trưởng thứ hai.

     Số dân trong xã thôn cũng có sự quy định như sau : một trăm nhà là tiểu xã, hai trăm nhà trung xã, ba trăm nhà là đại xã. Như vậy, đời Lê Thánh Tông có lẽ số nhân khẩu nước ta đã tiến rõ rệt, vì làng nhỏ đã có 100 nhà, còn đời Minh thuộc, một lý chỉ có 110 nhà mà thôi. Ngoài ra còn đặt vị Chánh tổng có nhiệm vụ liên lạc các xã thôn với nhau ngoài các cấp lý trưởng, giáp trưởng, thôn trưởng là các cấp dưới dùng vào việc cai trị nhân dân. Các xã thôn còn phải chọn các người già cả có đạo đức làm trưởng.

     Vua Lê Thánh Tông năm thứ 7 niên hiệu  Quang Thuận (1460-1469) rồi qua niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) mới định bản đồ xã thôn toàn quốc mà được gọi là : “Địa bộ nhà Lê”. Trong đó dưới phủ huyện châu thì có : hương, phường, xã, thôn, trang, sách, động, nguyên. Đến đời nhà Mạc (1527-1554) lại lập địa bộ mới, gọi là “ Địa bộ nhà Mạc”, trong đó chỉ chia ra cấp xã mà thôi. Do đó sách Ô Châu Cận Lục viết năm 1553 đã theo địa bộ nhà Mạc mà ghi bản danh sách 173 xã tỉnh Quảng Trị thuộc bốn huyện : Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng như sẽ kể sau.


2. Cuộc Nam Tiến lần thứ nhất (1075) vào Vĩnh Linh và Do Linh

     Núi Hoàng Sơn là ranh giới giữa hai nước Việt  – Chiêm. Thế rồi từ năm 1064 người Chăm đưa quân ra quấy rối ranh giới, nên năm 1069 vua Lý Thánh Tông xuống chiếu xuất quân và thân chinh đi đánh. Chọn Lý Thường Kiệt làm nguyên soái đem 5 vạn quân đi tiên phong theo đường biển, qua các vùng đất Chàm hồi đó là : Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam. Đến cửa Nhật Lệ thuyền quân Việt bị thủy quân Chàm chặn đánh, nhưng quân Chàm bị thua. Đại quân Việt tiến lên và ghé nghỉ lại tại cửa Ô Long của Chàm (nay là cửa Tư Hiền- Thừa Thiên Huế), rồi theo bờ biển đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn). Tại đây, quân hai bên đánh nhau kịch liệt, quân Chàm chết nhiều không kể xiết. Vua Lý Thánh Tông vào kinh đô Trà Bàn (Bình Định) của Chàm. Chế Củ của Chàm đang đêm đem vợ con chạy trốn. Tướng Lý Thường Kiệt chạy theo bắt được Chế Củ và thuộc hạ đem về Thăng Long (Hà Nội). Vua Chế Củ xin dâng ba châu : Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh. Theo sách Việt Nam gấm vóc, là dải đất từ Hoành Sơn tới sông Cam Lộ. Bắt đầu từ đây, cửa sông Cam Lộ gọi là cửa Việt. Sông này từ Đông Hà gọi là Đò Điếu. Châu Ma Linh của Chàm sau này được đổi tên thành Châu Minh Linh, ngày nay là đất hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, phần đất phía bắc Quảng Trị, từ Hồ Xá tới sông Cửa Việt.

     Người Chàm chống đối việc vua Chế Củ nhường đất ba châu trên cho nhà Lý, nên họ cứ nhùng nhằng ở lại trên đất đã nhượng qua 6 năm (1069-1075) không chịu rút đi. Hơn nữa năm 1074 quân Chàm lại ra đánh phá biên giới Việt. Vì thế, năm sau 1075 nhà Lý lại sai tướng Lý Thường Kiệt đem quân vào đánh, vẽ họa đồ về hình thế sông núi ba châu, rồi rút quân về. Sau đó người Chàm tự động ra đi.

     Sau khi người Chàm rút đi, nhà Lý ( năm 1075) xuống chiếu chiêu mộ nhân dân tới ở. Hưởng ứng lời kêu gọi, nhiều người đã từ phía bắc, đa số là người Nghệ An ở gần đó đến đất châu Minh Linh khai khẩn làm ăn thay thế người Chàm mà lập ra hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh phía bắc tỉnh Quảng Trị như đã có ngày nay.

     Sử sách không ghi chép việc nhà Lý đã tổ chức cuộc di dân này như thế nào. Nhưng nếu ta nhìn vào cuộc di dân đợt ba do nhà Hồ tổ chức vào năm 1402, cách ba thế kỷ sau, thì phải nhạc nhiên. Năm đó người Chàm dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy (Quảng Nam, Quảng Ngãi), nhà Hồ chia hai nơi này làm bốn châu : Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, rồi đưa dân vào ở. Cuộc di dân này được tổ chức như sau : họ Hồ ra lệnh di dân. Người nghèo ở Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, có của mà không có ruộng đất, được tổ chức thành đoàn như quân đội, đưa cả vợ con đi theo, chia nhau chiếm hữu các nơi đất mới để khẩn hoang lập nghiệp. Họ phải xăm ở bên cánh tay tên châu mình trú ngụ. Vấn đề trâu bò cũng được giải quyết. Ai nộp nhà nước trâu bò để cấp cho di dân đều được ban phẩm tước.

     Lúc đầu người di dân vào phía bắc Quảng Trị có lẽ thưa thớt, nhưng dần dần họ sinh con đẻ cháu ra đông.  Theo nguyên tắc “di dân lập ấp”, vừa tới nơi họ bắt đầu lập thành xã thôn và đặt tên xã mình bằng hai cách :

     – Những người cùng một họ tộc, thường tụ tập một nơi, lập thành xã và lấy tên họ tộc mình mà gọi tên xã mình như : xã Hồ Xá, xã Phan Xá,..

     – Ngoài ra phần đông các xã khác do nhà nước đặt tên bằng chữ Hán hay nhữ Nôm : xã Tân Sài, xã Cổ Trai,…Về sau, chúa Nguyễn Hoàng và các đời vua sau này có đổi tên một số xã. Vậy từ năm 1075-1553, trải qua gần năm thế kỷ, có 65 xã được thành lập trên đất hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, mà chúng tôi gọi là “xã cổ”, vì nếu tính đến nay thì các xã đó đã được thành lập gần 9 thế kỷ rồi. Danh sách các xã cổ trên được ghi trong sách Ô Châu Cận Lục như sau :

     1- Tùng Công (Liêm Công); 2 – Tân Sài; 3-Minh Ái; 4-Lân Trì; 5-Cổ Trai; 6-Tùng Luật; 7-Đan Duệ; 8-Tang Ma; 9-Lâm Sài; 10-Sa Lung; 11-Hàm Hòa (Hòa Lạc); 12-Hồ Xá; 13-An Điền; 14-Thượng Lập; 15-Trung Lập; 16-Lai Cách; 17-Xuân Mỹ; 18- Bắc Bạn; 19-Mô Nham; 20-Thạch Ma; 21-Cổ Hiền; 22-Tiên Trạo; 23-Vũ Tá; 24-Phan Xá; 25- Hoàng Các Thượng; 26- Hoàng Các Hạ; 27-Tân Manh; 28- Nguyễn Xá; 29- Lâm Cao; 30-Tử Lai; 31-Đặng Xá; 32-Duy Viên; 33- Lại Xá; 34-Thủy Ba Thượng; 35-Thủy Ba Hạ; 36-Vũ Xá; 37- Kinh Môn; 38-Bùi Xá; 39- Lệ Môn; 40- Cao Xá; 41- Gia Môn (Da Môn); 42- Hương Gia; 43- Lại Phúc; 44- Phúc Thị; 45- Hà Lạc Thượng; 46- Hà Lạc Hạ; 47- Hy Nguyễn; 48- Trí Tuyền; 49- Trúc Lâm; 50- Sùng Hoa Thượng; 51- Sùng Hoa Hạ; 52- Mai Xá; 53- Diêm Hà Thượng; 54- Diêm Hà Hạ; 55- Lâm Ngang; 56- Duy Phiên; 57- Thần Thái; 58- Xuân Lôi; 59- Hải Chữ; 60- An Bạch; 61- Bào Phố; 62- Thụy Khê; 63- Nhĩ Thượng; 64- Nhĩ Hạ; 65- Nhĩ Trung.

     Như vậy, số xã tại hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh không có tên trong bản danh sách nói trên, tức là những xã đã được thành lập sau năm 1553 như xã Di Loan; xã Cát Sơn,…Sau khi nhà Lý đã lấy ba châu (Minh Linh, Địa Lý, Bố Chính) thì người Chăm căm thù người Việt. Năm 1104, Chàm đem quân lấy lại ba châu. Nhưng sau mấy tháng, vua Lý Thánh Tông lại sai tướng Lý Thường Kiệt đem quân vào đánh, quân Chàm thua phải trả lại ba châu. Rồi trong đời vua Trần Thái Tông (1225-1268), Chàm thỉnh thoảng lại qua quấy phá ven biển và cứ đòi lại ba châu đã nhượng.

3. Cuộc Nam Tiến lần thứ hai (1307) vào Triệu Phong và Hải Lăng

     Cuộc Nam tiến lần 1 vào phía bắc Quảng Trị do chinh chiến thì cuộc Nam tiến đợt 2 do tình duyên, là 232 năm (1075-1307).

     Năm 1301, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Trần Anh Tông, rồi ngài đi chùa Võ Lâm (Ninh Bình). Cùng năm đó, ngài rời chùa đi tham quan nước Chàm trong thời gian 9 tháng. Ngài có gặp Chế Mân vua Chàm và có hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua. Sau đó ngài trở về nước.

     Mãi tới 5 năm sau (1305), vua Chế Mân sai sứ thần và 100 người Chàm mang vàng bạc, hương quý, vật lạ sang cống xin cưới. Nhưng triều đình nhà Trần nhiều quan không tán thành cuộc tình duyên Việt – Chàm này. Thấy vậy, vua Chế Mân xin dâng hai châu Ô, Lý (từ sông Cửa Việt tới tỉnh Quảng Nam) làm lễ cưới, bấy giờ nhà Trần mới quyết định gã.

     Tháng 6 năm  Bính Ngọ (1306), công chúa Huyền Trân về nhà chồng. Đoàn đưa dâu đi đường biển từ Thăng Long tới cửa Ô Long ( Tư Hiền). Thuyền đậu tại đấy rồi đoàn đưa dâu lên bộ đi tới kinh đô Chàm. Hồi đó, cửa Ô Long là một hải cảng lớn của Chàm, thuộc châu Ô có phong cảnh sơn thủy đẹp. Phía Nam giáp núi Cát Sơn, phía đông gần núi Quy Sơn (nay gọi là động Hòn Rùa hay núi Linh Thái) và núi Túy Vân, phía tây bắc thì trời nước mênh mông, vì từ nguồn Kim Trà, Cổ Nông, Hưng Vĩnh, Cao Đồi đổ đến. TRên chóp núi Quy Sơn và Túy Vân người Chàm đã xây cất nào tháp, nào chùa mà nay đã bị sụp đổ. Vì đoàn đưa dâu nghỉ lại đây nên nhà Trần đã đổi tên cửa Ô Long thành cửa Tú Dung, nhưng về sau Mạc Đăng Dung cho là chữ húy nên đổi lại thành cửa Tú Khách, rồi chúa Nguyễn đổi thành cửa Tư Hiền cho tới nay.

     Năm tiếp theo cuộc đưa dâu (1307) nhà Trần thu nhận hai châu Ô, Lý của Chàm rồi đổi tên thành châu Thuận và châu Hóa. Đất đai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, phía nam tỉnh Quảng Trị thuộc châu Thuận. Nhà Trần ra chiếu cho di dân vào ở. Hưởng ứng lệnh của nhà nước, người Nghệ An, Quảng Bình và bắc Quảng trị vào lập làng và khai khẩn đất mới từ sông Cửa Việt tới phía bắc tỉnh Quảng Nam. Quan hành khiển Đoàn Nhữ Hài được cử vào việc lập guồng máy cai trị ở đó.

     Cũng như trong cuộc di dân lần 1, người Chàm rút lui để lại làng mạc, ruộng đất, vườn tược cho người Việt, người di dân tới ở và khai thác thêm. Họ lập xã thôn và gọi tên bằng nhiều cách, hoặc bằng tên họ tộc như : xã Trương Xá, xã Hoàng Xá hoặc bằng di tích lịch sử như xã Cổ Thành, hoặc bằng nghề nghiệp như xã Bố Liêu ( làm vải) hoặc bằng chữ Hán hay chữ Nôm do nhà nước đặt như xã Phúc Lộc, Hà Bá. Về sau chúa Nguyễn Hoàng có đổi tên một số xã.

     Từ năm 1307-1553 người di dân đã thành lập được 59 xã trên đất Triệu Phong và 49 xã tại huyện Hải Lăng mà sách Ô Châu Cận Lục đã ghi lại như sau :

     – 59 xã thuộc huyện Triệu Phong :

     1- Hoa Vi; 2- Đông Dương; 3- Diên Cát; 4- An Nghi; 5- Cổ Lũy; 6- Toàn Giao; 7- Đan Quế; 8- Phương Lang; 9- Cổ Kinh; 10- Trung Đan; 11- Tiểu Khê; 12- Văn Phong; 13- Linh Vũ; 14- Linh Chiểu; 15- Đạo Đầu; 16- Hội Khách; 17- Đại Hào; 18- Hòa Điều; 19- Vân Đóa; 20- Vân Động; 21- Hướng Ngao; 22- Thượng Đô; 23- Hạ Đô; 24- Lang Gia; 25- Nhan Qua; 26- Ôn Tuyền; 27- Ái Tử; 28- Trung Chỉ; 29- Thượng Độ; 30- Hạ Độ; 31- Nghĩa Đoan; 32- Chính Lộ; 33- Thượng Nguyên; 34- Trà Bát; 35- Vĩnh Phúc; 36- Thiên Áng; 37- Lai Cách; 38- Thanh Đằng; 39- Trâm Hốt; 40- Trúc Giang; 41- Kỳ Trúc; 42- Bích Đàm; 43- An Cư; 44- An Việt; 45- Trúc Liêu; 46- Bố Liêu; 47- Lâm Gia; 48- Trương Xá; 49- Chính Đường; 50- Kim Đâu; 51- Trúc Kính; 52- Trúc Giang; 53- Tiểu Áng; 54- Tam Vô; 55- Liên Trì; 56- Tài Lương; 57- Phù Ba; 58- An Nhân; 59- An Nghiệp.

     – 49 xã thuộc huyện Hải Lăng :

     1- An Thư; 2- Vĩnh Hưng; 3- Văn Quỹ; 4- Câu Nhi; 5- Hà Lộ; 6- Lãng Uyên; 7- Đoan Trang; 8- Diên Sinh; 9- Câu Hoan; 10- Trà Trì Thượng; 11- Trà Trì Hạ; 12- Lam Thủy; 13- Mai Đàn; 14- Hương Lan; 15- Hương Liễu; 16- Long Đôi; 17- Thái Nại; 18- An Khang; 19- Hoàng Xá; 20- Xuân Lâm; 21- Tích Tường; 22- Như Lệ; 23- Thạch Hàn; 24- Cổ Thành; 25- Thương Mang; 26- Hoa Ngạn; 27- Phù Lưu; 28- Nha Nghi; 29- Hữu Điều; 30- Hoa La; 31- An Lộng; 32- Hà Mi; 33- Nại Cửu; 34- Dương Lệ; 35- Dương Chiếu; 36- An Toàn; 37- Động Giám; 38- Dã Độ; 39- An Giã; 40- Quảng Đâu; 41- Đâu Động; 42- Phúc Lộc; 43- Đại Bối; 44- Tiểu Bối; 45- Tiểu Bị; 46- Đại Bị; 47- An Hưng; 48- Hà Bá; 49- Đâu Kim.

     Tính đến nay số 108 xã thuộc cổ Triệu Phong và Hải Lăng kể trên đã thành lập gần 7 thế kỷ (1307-1990). Số các xã khác không có tên ở trên là những xã được thành lập sau năm 1553. Vậy số xã cổ tỉnh Quảng Trị đã trải qua bao biến cố thăng trầm mà tồn tại tới nay, thật là :”đá trôi, làng không trôi”.

4. Các xã thành lập từ Nguyễn Hoàng về sau 

     Trong các phần trên, chúng tôi đã ghi tên 173 xã cổ có trước đời chúa Nguyễn Hoàng (1075-1558). Sau đây, xin ghi thêm một số xã cổ có từ đời Nguyễn Hoàng về sau : (1558-1776).

     1. Huyện Hải Lăng

     1- Tổng Hoa La, các xã : Hồng Khê (nay là Bích Khê), Nại Diên, Tả Hữu, An Tiêm, Cổ Bưu, Phù Lưu, Dư Triều, Hậu Lễ, Long Hưng, Vệ Nghĩa, Xuân An, Vạn Long, Na Nẫm

     2- Tổng An Thư, các xã : Mỹ Chánh, Hội Kỳ.

     3- Tổng An Dã, các xã : An Trung, Đại Hòa, Quảng Điền, Vũ Thuận, An Lệ nhị giáp, Duy Hòa, Giáo Liêm, Phụ Tài, Thanh Liêm, Quảng Lượng, Hiền Lương, Phan Xá, Trúc Đăng.

     4- Tổng Câu Hoan : các xã : Trường Sinh, An Phúc, Hà Lộc, Lương Phúc, Miển Trạch, Đổ Phùng.

     5- Tổng An Khang, các xã : An Khang, Đại Nại, Trà Lộc, La Duy, Hương Vân, Anh Hoa, Tam Hữu, Duân Kinh, Thi Ông, Thượng Xá, Trâm Lý, Xuân Lâm, Mai Lộc, Phú Xuân, Mai Hoa, Mai Đàn, Thượng Thôn.

     2. Huyện Đăng Xương (Triệu Phong)

     1- Tổng An Phúc, các xã : An Phúc, Hòa Viện, Diên Phúc, Kim Giao, Kim Lung, Đan Quế, Hội Yên, Đà Nghị, Ba Du, Phúc Kinh, Thượng An, Đôn Điềm, Thâm Khê, Mỹ Thủy, Tân An.

     2- Tổng An Lưu, các xã : An Lưu, Hương Liệu, Thượng Trạch, An Phú, An Trụ, Đồng Bào, Tài Lương, Thanh Lê, Mỹ Khê, Xuân Dương, Trung An, Phú Hải, Phủ Toàn, Ba Lăng, Văn Phong, Gia Đẳng, Thuận Đầu, An Bôi, Tân An, Ngô Xá đông giáp, Ngô Xá tây giáp.

     3- Tổng An Cư, các xã : An Cư, Bồ Bản, Hà Bá, Linh An, Đăng Long, Lại Phú, Lỗ Truyền, An Trạch, Nho Lý, Lưỡng Toàn, Hạo Ly, Như Liễu, Mỹ Lộc, Tân Định, An Việt, Phúc Lễ, Tường Vân, Vân Tường, An Tục, Phụ Lũy, Khang Vĩnh, An Toàn, Tân An.

     4- Tổng An Đôn, các xã : An Đôn, Thượng Phúc, Phúc Toàn, Phù Ang, Trà Lễ, Lại Phúc, Vân An, Hà Xá, Đại Áng, Lập Thạch, Phương Lương, Phú An, Lăng Phúc, Điếu Ngao, Đông Hà, Đông Vu, Y Bích, Bạch Câu, Cây Khế, Giang Hiếu, Hà Xá, Thiết Trường, Tử Chính, THiết Tường, Hạ Phương, Sơn Trạch, Sơn Hằng, An Trung, Ngũ Giáp.

     5- Tổng An Lạc, các xã : An Lạc, Phả Lại, An Bình, Phú Ngạn, Trúc Khê, Nhật Lệ, Thuận Đức, Lâm Lang, Phi Hữu, An Thịch, Bào Đá, Trung Bác, Phả Lại, An Xuân, Phúc An, Khang Mỹ, An Bình, Khang Thái, Tân An, Ba Xuân, Cây Lúa, Bái Sơn, Thiết Trường, Cam Lộ, Thiên Xuân, Bố Chính, Quật Xá, An Sát.

     3. Huyện Minh Linh (Vĩnh Linh và Gio Linh)

     1. Tổng An Xá, các xã : An Xá, Kinh Môn, Trung Xá, Lang Môn, Hương Đình, Hà Thượng, Hà trung, Hà Hạ, Phúc Xuân, Lâm Xuân, Vĩnh Hòa Thượng, Vĩnh Hòa Hạ, Kỳ Trúc, Tân An, Kỳ Lâm, Lịch Tân, Bào Cục, Hương Đình, Liễu Môn.

     2. Tổng Minh Lương, các xã : Minh Lương, An Do, Gia Lâm, Phúc Lâm, Di Loan, Thạch Tuyền, Thủy Bạn, Cồn Cát, An Xá, Để Vòng, Châu Thị, Thịnh Mỹ, Mỹ Lộc, Tứ Chính, Tân Khang, Thương Tuyền, Sa Lung, Phú Trường, Phú Xuân Thị, An Khang.

     3. Tổng Bái Trời, các phường : Tân An, An Hướng, Trung An, An Định, Cảnh Sơn, Long Sơn, Gia Định, Hương Khê, Phú Ốc, Thượng Nhâm, Khang Xá, Phú Vinh, An Định Nha, An Phúc, Nam Dương, Bình An, Phú Xuân, Khe Sông, An Lộc.

     4. Tổng Thủy Ba, các xã : Tiên Trạo, Nguyễn Xá, Duy Viên, Tiên An, Lô Xá, Tứ Lai, Cổ Hiền, Hoàng Xá Thượng, Hoàng Xá Hạ, Mỹ Xá, Phúc Thuận, Đại Phúc, Phúc Lộc.

     5. Tổng Yên Mỹ, các xã : Yên Mỹ, Thời Thừa, Hoàng Hà, Diêm Hà Trung, Hà Lợi Thượng, Hà Lợi Trung, Hà Lộc, An Lộc, Đại Lộc, Ngọc Giáp, Trung An, Phúc An, Bạch Câu, Tây Giáp, Xuân An, Trù Cương, Xuân Lung, Mai Xá Thị, Cảnh Dương.

     Sách Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu nói nhà Lê đã lập địa bộ Quảng Trị, nhưng chúng tôi không được bản lưu chiếu. Nhà Mạc đã soạn châu Bộ Quảng Trị, có bản lưu chiếu trong sách Ô Châu Cận Lục, do ông Dương Văn An ghi lại năm 1553, mà chúng tôi đã kể trong phần trên. Các chúa Nguyễn đã lập địa bộ Quảng Trị, có bản lưu chiếu do ông Lê Quý Đôn viết trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục vào năm 1760, mà chúng tôi đã ghi trên. Bản địa bộ họ Nguyễn đã viết rõ ràng có huyện, tổng, xã, số làng được thêm nhiều và nhiều làng được đổi tên như làng Dương Chiếu ra làng Dương Lộc, làng Đại Bị ra làng Đại Lộc,…Sau mấy mươi năm nổi loạn giữa 3 nhà : Nguyễn, Trịnh và Tây Sơn, rồi Gia Long phục quốc và hạ sắc dụ quản tu địa bộ. Mỗi làng nhận bản địa bộ riêng và được giao cho ông “Thủ bộ” cất giữ cẩn thận. Ngày nay gọi là bộ “Gia Long”. Trong bộ này, Gia Long còn có đổi tên nhiều làng như làng An Lệ nhị giáp đổi thành Dương Lệ Nhị Phe tức là phe Văn và phe Đông, thường gọi là Dương Lệ Đông và Dương Lệ Văn. Làng An Toàn đổi thành làng An Lợi,…Trong bộ Gia Long cũng có ghi thêm nhiều làng mới. Ví dụ làng An Do huyện Vĩnh Linh vì quá rộng mà chia thành nhiều làng như sau : làng An Do Tây làng chính rồi chia ra thôn An Do Đông, An Bằng, An Ngãi, An Lễ và An Trí. Làng Di Loan được chia ra làng Hòa Ninh và và làng Loan Lý. Làng Bái Sơn huyện Gio Linh thành làng An Hòa, làng Nam Tây, làng Vạn Thiện, làng Cổ Vưu (Trí Bưu) xuất ra thành phường Lá Vằng, làng Hạnh Hoa, làng Cây Đa,…

     Tại Quảng Trị người ta có dùng tiếng “Kẻ” để gọi tên một số làng. Danh từ “Kẻ” gọi là Người, tên đó là tên địa phương, chứ không phải là tên hành chính trong địa bộ làng. Ví dụ họ gọi làng Di Loan, xứ Cửa Tùng là làng “Kẻ Mói”, vì ngày xưa người Di Loan làm nghề muối. Làng “Kẻ Giáo” là làng Giáo Liêm, làng “Kẻ Triêm” là làng “Thanh Liêm”, làng “Kẻ Diên” là làng Diên Sanh, làng “Kẻ Văn” là làng Văn Quỷ, làng “Kẻ Vịnh” là làng Vịnh Hưng, làng “Kẻ Bố” là làng Bố Liêu,…

     Chúng tôi soạn bài: ” Sự thành lập các làng cổ ở Quảng Trị” với mục đích ghi lại những trang sử quý giá của tỉnh, mặc dù nó chưa đầy đủ và những con số trong danh sách trên không phải tuyệt đối là đúng, mong quý bạn bổ túc thêm. Chúng tôi thiết tha yêu cầu sau này có vị sử gia nào nghiên cứu gốc tích mỗi làng và soạn trang sử cho mỗi làng một và thành ấn loát thành bộ sách lịch sử của tỉnh Quảng Trị, thì hữu ích cho con cháu hậu thế biết bao.

Nguồn: Tạp chí  Cửa Việt, năm 1990
Trích dẫn: https://huyhoangdesign.com/

Việt Nam Học
(https://vietnamhoc.net)



READ MORE - SỰ THÀNH LẬP CÁC LÀNG CỔ Ở QUẢNG TRỊ - Linh mục Stanislao Nguyễn Văn Ngọc

VỀ NHỮNG LÀNG CỔ MANG THÀNH TỐ KẺ TẠI VÙNG NAM HẢI LĂNG - Khê Giang

Đình làng Diên Sanh, xã Hải Thọ,
huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị


VỀ NHỮNG LÀNG CỔ MANG THÀNH TỐ KẺ 

TẠI VÙNG NAM HẢI LĂNG

 Khê Giang



Trong các làng xã cổ xưa của người Việt, có rất nhiều vùng tên làng có mang thành tố kẻ. Theo ý nghĩa của ngôn từ Việt cổ, thì kẻ là từ chỉ một cụm dân cư sống trên một địa bàn cụ thể. Tùy cấu trúc của đơn vị cư trú mà kẻ có thể đồng nghĩa với thôn hoặc làng, thành tố này xuất hiện khá sớm ở nước ta, đó là giai đoạn sau khi hình thành những công xã nông thôn cuối thời Hùng Vương. Kẻ là một kiểu gọi tên tục của làng chứ không phải là tên hành chánh trong địa bộ của làng xã.


Nhận định về thành tố kẻ trong tên gọi 

Có ba vùng xuất hiện nhiều làng có tên kẻ ở Việt Nam:

Thứ nhất là Nghệ An và Hà Tĩnh: Đây là hai tỉnh thành có tỉ lệ làng mang tên kẻ rất cao, đó là các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, Ðức Thọ (Hà Tĩnh); Thanh Chương, Quỳnh Lưu, Ðô Lương, Anh Sơn, Nghĩa Ðàn, Nam Ðàn, Nghi Lộc (Nghệ An). Đặc biệt ở huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) số làng tên kẻ chiếm hơn 60% tổng số các làng trong huyện.

Vùng thứ hai là Thanh Hóa: Ðây cũng là một vùng dày đặc các làng có tên kẻ bao gồm các huyện như: Hậu Lộc, Ðông Sơn, Triệu Sơn, Thiệu Yên, Hoằng Hóa, Hà Trung, Quảng Xương, Nông Cống…

Nơi đứng thứ ba đó là Phú Thọ, Vĩnh Phúc và châu thổ sông Hồng. Đây là vùng đất quần cư của các cư dân thời Vua Hùng, bao gồm các huyện Thanh Sơn, Sông Thao, Phong Châu, thành phố Việt Trì (Phú Thọ); Vĩnh Lạc, Lập Thạch, Tam Ðảo, Mê Linh (Vĩnh Phúc); Ðông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn, Gia Lâm (Hà Nội)…

Tuy không chiếm tỷ lệ cao như các vùng trên, nhưng Quảng Trị cũng có nhiều làng có địa danh mang thành tố kẻ, như Kẻ Mói (làng Di Loan), Kẻ Giáo (làng Giáo Liêm), Kẻ Triêm (làng Thanh Liêm), Kẻ Bố (làng Bố Liêu)… nhưng ở Nam Hải Lăng là nơi có nhiều hơn cả, đơn cử như: Kẻ Diên (làng Diên Sanh), Kẻ Đâu (làng Trường Sanh), Kẻ Lạng (làng Lương Điền), Kẻ Văn (làng Văn Quỹ), Kẻ Vịnh (làng Hưng Nhơn)... Giáp ranh với những làng kẻ của Hải Lăng, ở bờ nam dòng Ô Lâu thuộc xã Phong Hòa của Thừa Thiên cũng có một số làng  mang thành tố kẻ như: Kẻ Đôộc (Phước Tích), Kẻ Né (Mỹ Xuyên), Kẻ Gùn (Siêu Quần), Kẻ Phù (Phong Bình)… Đây gần như là lãnh địa cuối cùng của những làng có thành tố kẻ trên con đường Nam tiến xưa, càng vào Nam những “làng kẻ” càng thưa dần và đến Nam Trung Bộ trở vào thì mất dấu.

Vào thời Bắc thuộc, những vùng đất mang tên kẻ này ngoài tên Nôm đã có của người Việt, mỗi làng phải đặt thêm một tên chữ (âm Hán - Việt). Khác với tên Nôm chỉ có một từ (không tính thành tố kẻ), tên chữ thường có ít nhất là hai từ. Như vậy, những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc, luôn tồn tại hai tên, một tên Nôm (kèm kẻ) và một tên Hán - Việt. Do các triều đại phong kiến nước ta dùng chữ Hán thay cho từ Việt cổ bị cấm (chính sách đồng hóa) nên đa số những làng ra đời trong thời kỳ phong kiến thường chỉ có tên chữ, không có tên Nôm và không có từ kẻ đi kèm. Ðó cũng là cách để những nhà nghiên cứu nhận diện những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc và những làng mới được thành lập về sau.

Tuy nhiên các làng mang tên kẻ ở Quảng Trị nói chung và vùng Nam Hải Lăng nói riêng lại không nằm trong quy luật này, nguyên nhân là do trong quá trình Nam tiến các cư dân, những người khai khẩn ở đây đã lấy tên hoặc một phần gốc tích làng cũ để đặt tên cho làng mới. Vì vậy dù được ra đời trong thời kỳ phong kiến nhưng những làng này vừa có tên chữ vừa có tên Nôm và chúng cũng chỉ có lịch sử từ 7 thế kỷ trở lại (kể từ năm 1306 khi châu Ô, châu Lý sáp nhập vào Đại Việt), chứ không cổ như các làng có mang thành tố kẻ thời công xã nông thôn cuối thời Hùng Vương.

Để giải thích phần nào cho việc những làng ở Hải Lăng đặt tên mới theo gốc tích của làng cũ, ta tìm hiểu thêm về nguồn gốc xuất xứ của một số làng ở vùng này. Tại làng Kẻ Diên, theo gia phả họ tộc Nguyễn Văn để lại thì vị Chánh Tiền khai canh của làng thuộc tộc họ này có gốc gác ở thành Thăng Long, khi đến định cư tại làng quê mới đã dùng từ kẻ để đặt tên nơi cư trú mới của mình. Thăng Long là một trong ba vùng có tỉ lệ cao về các làng có mang thành tố kẻ: Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) và Kẻ Mơ (Tương Mai và làng Hoàng Mai), Kẻ Bưởi (gồm những làng: Hồ Khẩu, Yên Thái, Trích Sài, Bái Ân)… Vì vậy việc các vị khai canh, khai khẩn của làng Diên Sanh đặt tên làng có thành tố kẻ là không có gì lạ.

Tương tự, tên làng Kẻ Lạng cũng được đặt theo gốc tích làng cũ. Theo di cảo của làng Lương Điền, tổ tiên ngày trước có gốc gác ở Lạng Phước, Tống Sơn, Thanh Hóa. Năm Đinh Tỵ (1497), theo lời phủ dụ của vua Lê Thánh Tông, các ngài của tộc Nguyễn Văn, Nguyễn Đình, Lê Văn cùng một số gia nhân, đinh tráng tự nguyện xuôi Nam lập nghiệp. Các ngài đã đến châu Thuận, khai khẩn và định cư tại ven bờ bắc sông Độộc (Ô Lâu). Năm 1508, ngài Nguyễn Văn Tước chính thức được tôn cử làm kẻ trưởng và thu nhận thêm những người phiêu bạt từ Đàng Ngoài vào lập nên làng Kẻ Lạng. Từ Kẻ Lạng bắt nguồn tên làng cũ Lạng Phước (Thanh Hóa) và qua nhiều lần đổi tên, làng này vẫn chọn những danh từ liên quan đến gốc gác xưa của mình: Lạng Uyên, Lương Phước, Lương Phúc hay Lương Điền ngày nay.

Trải qua thời gian, thành tố kẻ ở Hải Lăng đã có sự biến âm ở một số địa phương, từ kẻ được chuyển qua từ cái hoặc chuyển qua từ cấy. Đây là sự biến âm khá phổ biến ở Quảng Trị, ví dụ như cái thúng, cái cuốc biến thành cấy thúng, cấy cuốc… Vì thế chúng ta không lấy làm lạ khi một số người dân vùng này vẫn gọi Cấy Diên hay Cái Diên thay cho Kẻ Diên và Cái Vịnh hay Cấy Vịnh thay cho Kẻ Vịnh…


Về những làng có mang thành tố kẻ ở Hải Lăng, Quảng Trị

Làng Kẻ Diên: Hay còn gọi là Cấy Diên, Cái Diên, Duyên Sinh nay là Diên Sanh là một làng cổ của vùng đất Hải Lăng. Làng có tên trong Ô châu cận lục của Dương Văn An, được nhắc đến trong Đại nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn và cả trong Đồng Khánh địa dư chí, nó nằm trên trục đường thiên lý Bắc Nam và là trung tâm của huyện lỵ Hải Lăng.

Gốc gác các vị khai canh, khai khẩn của làng Kẻ Diên đều từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ di cư vào, vị Chánh Tiền khai canh của làng thuộc tộc họ Nguyễn Văn, có gốc ở thành Thăng Long. Chợ Kẻ Diên còn là địa danh được biết qua bài ca dao mười quả trứng, một bài ca dao cổ được xếp loại hay nhất nói về tinh thần chịu khó của người Quảng Trị. Ngoài ra xứ này còn có món cháo vạc chờng/vạt giường (bánh canh) và có món lòng sả đậm đà hương vị quê hương, nức lòng du khách gần xa.

Làng Kẻ Đâu: Còn có tên là Đâu Trang, Đoan Trang, Trường Sinh và tên ngày nay là Trường Sanh, cũng là một làng cổ của Quảng Trị, đây là một trong “tứ đại xã” của vùng đất này. Làng Trường Sanh tiếp giáp với làng Kẻ Diên ở phía bắc và Kẻ Lạng ở phía nam. Những họ tộc đến khai khẩn vùng đất này có mặt từ thời nhà Hồ (1400 - 1406) với các họ: Lê, Võ, Nguyễn có gốc gác từ Ái châu. Vị tiền khai canh của làng là ngài Lê Thời Danh. Mãi đến thời Hồng Đức nhà Lê (1470 - 1497) sau cuộc đại di dân vào Thuận Hoá theo chiêu dụ của Lê Thánh Tông làng mới được thành lập. Nguyên xưa làng có năm giáp đó là Giáp Mỵ, Giáp Hậu, Giáp Trung, Giáp Đông và Giáp Phước nay thứ tự có tên là Mỵ Trường, Hậu Trường, Trung Trường, Đông Trường, do có địa hình tách biệt với làng mẹ nên Giáp Phước sau đó đã được nhập về xã khác, đó là làng Trường Phước của xã Hải Lâm ngày nay. Trường Sanh có dòng Ô Khê xinh đẹp nên thơ, có miếu Bà Lồi, một trong những phế tích hiếm hoi của người Chăm còn sót lại trên mảnh đất Hải Lăng.

Làng Kẻ Lạng: Còn có tên Cấy Lạng, Lãng Uyên, Lương Phúc, Lương Phước. Nay là làng Lương Điền. Làng Lương Điền phía nam giáp sông Ô Lâu, phía tây giáp núi Hạ Lĩnh, phía bắc giáp xã Hải Trường, phía đông là làng Hà Lộc (xã Hải Sơn).

Lương Điền xưa nổi tiếng với chợ Kẻ Lạng, vì chỉ đông buổi chiều nên chợ còn có tên là chợ Hôm hay chợ Hôm Lạng. Cùng tên với ngôi chợ xưa này là một bến đò cổ của làng, đây cũng là tuyến giao thông thủy quan trọng nối hai bờ của con sông Ô Lâu (Mỹ Xuyên của Thừa Thiên Huế và Kẻ Lạng của Quảng Trị). Hai bến đò này cùng với bến đò Câu Nhi (Hải Tân) kết nối qua trục tam giác ba làng để trở thành một địa danh Ba Bến, khu vực giao thương nhộn nhịp sầm uất thời bấy giờ.

Làng Kẻ Vịnh: Hay Cấy Vịnh, có tên xưa là làng Vĩnh Hưng, nay là làng Hưng Nhơn. Theo lịch sử của làng, vị khai canh thuộc dòng họ Lê Văn đến khai phá và sau đó lần lượt các họ: Nguyễn, Trần, Lê… Các ngài thỉ tổ khai canh đã đến nơi này từ vùng Thanh - Nghệ... Làng có cồn Đầu Trâu nổi tiếng, nguyên xưa là cồn mồ Đổng Thượng, sau được bồi đắp to dần và trở thành nơi cúng kỵ Đinh Bộ Lĩnh hàng năm của làng. Tại cồn Đầu Trâu trước đây vẫn thường diễn ra tập trận cờ lau của trẻ em trong làng và các làng lân cận. Làng có xóm Càng Hưng Nhơn, một địa hình cư trú đặc biệt của vùng đất Hải Lăng, nơi có ruộng đồng xanh tươi sông nước hữu tình. Kẻ Vịnh còn có cồn Bà Giàng cùng với tục thờ đá khác lạ với các thôn làng khác, đây có thể là một hiện tượng giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm.

Làng Kẻ Văn: Nay là làng Văn Quỹ, ngôi làng này nép mình bên dòng Ô Lâu duyên dáng thơ mộng, làng có bốn xóm: Thượng An, Đông An, Thái Hòa, Phú Thọ mà người trong làng thường gọi xóm Đùng, xóm Trên, xóm Sau, xóm Giữa. Nơi đây có khu lăng mộ triều Nguyễn được công nhận di tích cấp tỉnh, có nhà Trường Thánh một nơi thờ tự tôn nghiêm. Kẻ Văn còn có chùa Vạn An với không gian yên bình cổ kính, có ngôi nhà thờ Kẻ Văn một trong những ngôi thánh đường được xây dựng sớm nhất tại Quảng Trị... Ngôi làng nên thơ này còn nổi tiếng với nhiều nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như: thêu ren, chằm nón...

Lược qua một số địa danh mang thành tố kẻ ở Hải Lăng - Quảng Trị, ngoài việc chúng ta biết thêm đôi nét về con người, lịch sử hình thành của các ngôi làng cổ của quê hương, còn là dịp chúng ta tìm hiểu về truyền thống quý báu của dân tộc. Những bậc tiền nhân, những người con đất Việt trong hành trình mở cõi, đã luôn đau đáu về cái nôi của con Lạc cháu Hồng khi tìm đặt, gọi tên cho những vùng đất mới bằng những cái tên Nôm hay thuần Việt mang gốc gác nguồn cội với tinh thần “ly hương bất ly tổ”.K.G

Nguồn: Tạp Chí Cửa Việt

https://tapchicuaviet.com.vn/nguoi-dat-que-huong/ve-nhung-lang-co-mang-thanh-to-ke-tai-vung-nam-hai-lang-12338.html, ngày 08/07/2020.






READ MORE - VỀ NHỮNG LÀNG CỔ MANG THÀNH TỐ KẺ TẠI VÙNG NAM HẢI LĂNG - Khê Giang