Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, December 2, 2014

ĐỌC BÀI THƠ "KHI VỀ QUẢNG TRỊ" - Hồ Ngọc Thanh

             
                              Thầy Hồ Ngọc Thanh (mặc áo vest)

                 ĐỌC BÀI THƠ "KHI VỀ QUẢNG TRỊ" 

                                                                 Hồ Ngọc Thanh

Tôi đã từng đọc thơ của anh Phan Phụng Thạch – người bạn đồng nghiệp cùng trường Nguyễn Hoàng từ năm 1966 cho đến khi anh qua đời (1973). Thơ của Thạch hiền hòa, bay bổng và đầy tình người. Đồng nghiệp và học sinh của anh đã yêu mến những vần thơ ấy như đã yêu mến con người của anh – một thầy giáo độc thân, trẻ tuổi có phong thái điềm đạm. Sự yêu mến đó không chỉ có lúc anh còn sinh thời mà còn tồn tại nhiều năm qua, sau khi anh từ trần vào năm 1973.
Hôm nay, nhân đọc lại bài thơ “Khi về Quảng Trị” tôi thật sự xúc động, tưởng như cảnh mấy mươi năm trước tái hiện, cái khoảng thời gian Quảng Trị bị bom đạn tơi bời, người chết không kịp chôn và người sống tan tác khắp bốn phương trời tìm đất sống. Bài thơ ấy không phải là sự hoài cổ, ca ngợi và tán tụng vẻ đẹp của quê hương hay tình cảm anh dành cho quê hương nhiều hơn người khác mà vì nó chứa một tình yêu Quảng Trị thiết tha – một tình yêu trong tận cùng của nỗi đau:

Rồi mai đây giã từ từng nỗi chết
Ta trở về đứng giữa tang thương

Anh là một người trong số những người may mắn trở về từ cõi chết đang đứng lặng, hoài niệm chiếc cầu; hoài niệm đường xưa lối cũ:

Quê hương đó những chiếc cầu đã gãy
Còn mong chi nối lại những con đường

Cảnh tang thương trước mắt đã khiến lòng anh buốt giá và anh đã không nén được tiếng kêu:

Còn ai đó những người thân yêu cũ
Thắp dùm ta một chút nắng trong hồn

Hoài niệm hình bóng người thân; hoài niệm người em gái một thời mơ  mộng với câu hỏi mà chẳng có câu trả lời:

Em còn đó hay muôn đời đã ngủ

Để rồi cất tiếng than:

Ôi một thời hoa bướm Hạnh Hoa thôn.

Tôi nghĩ phải chăng khi đó anh đang nhớ đến người xưa (có thể là  người đẹp Thiếu Hoa ở thôn Hạnh Hoa ngày ấy).
Và cái tang thương của Quảng Trị sau cuộc chiến mùa hè năm 1972 được anh vẽ lên bằng những nét vẽ mà tôi nghĩ đó là nét vẽ bằng máu khi nhìn quê hương não lòng đến dòng sông cũng “u uẩn”:

Màu đào ai đã chảy về Cửa Việt?
Mà xương khô còn gởi núi Ba Lòng?

Ôi! Không có cái nhức nhối nào bằng cái nhức nhối này. Người ra đi biền biệt và người đã chết như thế đấy! Vậy thì hỏi quê hương còn lại gì ngoài tang tóc, đớn đau. Những cảnh thanh bình ngày nào đâu rồi? Đâu rồi khói lam chiều từ mái tranh trong ánh chiều buông? Đâu rồi mục đồng với đàn trâu trên đồng ruộng? Bức tranh đồng nội nên thơ của một vùng quê hiền lành ấy bây giờ đã bị khai quang, bạch hóa đến nỗi khi nghe bản nhạc Bà Mẹ Gio Linh anh đã phải thốt lên:

Phạm Duy ơi! Giọng hát Thái Thanh buồn.

Và khi về lại Quảng Trị thì những người sống sót như thế nào. Đó là trại định cư với môi trường khắc nghiệt: bụi đường đất đỏ, giếng nước chua phèn. Và con người nơi đó đang dở sống dở chết với những cảnh đời:

Từng bữa cơm người ăn khoai cả vỏ

Cho nên:

Trẻ em gầy tuổi nhỏ cũng già nua

Hỏi có bức tranh nào đau thương bằng bức tranh của quê hương Quảng Trị? Một địa danh đã phải hứng chịu bao nhiêu tổn thất trong chiến tranh. Một vùng quê trù phú ngày nào giờ đã “mỏi mệt yên nằm” vì mưa bom lửa đạn. Nỗi lòng của anh trải dài theo nỗi đau của quê hương, “vọng về muôn ngã” qua từng địa danh: Đông Hà, Ngô Xá, Đạo Đầu, Bích La, Bồ Bản, … Và nỗi đau của người thầy giáo trong anh đọng lại với câu hỏi:

Trời mùa thu sao vắng trẻ đến trường?

Song, từ cái đau thương ấy, tự trong sâu thẳm tâm hồn anh vẫn còn chút ký ức hoa mộng một thời:

Ơi Đại Lộc một lần ta qua đó
Để muôn đời còn nhớ mãi Xuân Ba

Và rồi anh mơ :

Cho tôi ngủ bên dòng sông tuổi nhỏ
Thuở thanh bình vang vọng tiếng chim ca.

Vâng! Và bây giờ thì anh đã ngủ yên rồi và tôi tin rằng tiếng chim ca đã ru giấc ngàn thu cho anh như mơ ước.
Tôi là nhân chứng một thời tại quê hương Quảng Trị, nay đọc lại bài thơ Khi về Quảng Trị của Phan Phụng Thạch, một bài thơ gợi nhớ làm sao mà tôi không xúc động cho được? Đọc thơ anh, tôi tưởng chừng như chính mình là người trở về trong bài thơ vậy.
Có lẽ đây là một trong những vần thơ cuối cùng mà anh để lại cho đời, nó như là một lời báo trước sự ra đi của anh để trở về ngủ mãi bên dòng sông tuổi nhỏ.
Xin cảm ơn Phan Phụng Thạch – người đồng nghiệp quá cố. Tuy anh đã xa lìa cõi thế trên 40 năm rồi nhưng người thân, bạn hữu, học trò của anh và người Quảng Trị vẫn mãi nhớ đến anh với những vần thơ để đời.

                                                      Đà Nẵng, 01/12/2014
                                                         Hồ Ngọc Thanh
(Nguyên Tổng giám thị trường TH Nguyễn Hoàng Quảng Trị)

READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ "KHI VỀ QUẢNG TRỊ" - Hồ Ngọc Thanh

ĐẦU CUỐI SÔNG - thơ Chu Vương Miện



đầu cuối sông
chu vương miện

xưa kẻ đầu sông kẻ cuối sông 
mà ngăn 3 Thục với Giang Đông
nay xa đến nửa vòng trái đất
mà người xích đạo kè nam nam
cụ Học nói "đường đi không khó
vì ngăn sông cách núi
mà khó vì lòng người ngại núi e sông "
thực ra cũng chả có gì là khó 
chẳng qua người có vợ kẻ chết chồng 
cơn lốc nhỏ gom thành bão dạt
đến với nhau trăm gió ngàn dông
xưa dẫn nhau chốn rừng xanh núi đỏ
giờ dẫn nhau tới non tận sông cùng 
bên kia Miên Lào bên này nước Vịệt
ở lưng chừng là vách đá Trường Sơn
tiếng khèn nứa của tây nguyên vẫn trổ
thác vòng vèo đổ mãi phía đầu buôn
ngồi lơ đãng mớ tuổi già xồng xộc
ờ bây giờ trời cũng đã hoàng hôn 


READ MORE - ĐẦU CUỐI SÔNG - thơ Chu Vương Miện

ĐƠN PHƯƠNG - thơ Hồng Tâm




Đơn Phương

Anh biết không
Có một kẻ chiều nay
Ngồi uống rượu một mình trên hè phố?
Anh đâu hay
Có một kẻ buồn khổ
Trải rộng lòng mình, làm bạn với rượu cay?

Em nhận ra trong sâu thẳm trái tim
Có một ngăn em dành cho người đó
Thêu dệt ước mơ mà không dám nói
Để lòng em chồng chất nỗi niềm

Anh có biết rằng
Sau những tiếng cười
Giọt nước mắt mang đầy cay đắng?
Em biết
Mình chọn con đường im lặng
Để đơn phương tự chết trong lòng

Tháng Mười hai
Trời trở gió sang đông
Có một kẻ nhâm nhi
Làm bạn với rượu
Đem nỗi buồn tung lên tận trời cao

 Hồng Tâm (Lý Thị Minh Tâm- Bến Cầu - Tây Ninh)
Điện thoại:01285990757

Email: lyminhly456@gmail.com
READ MORE - ĐƠN PHƯƠNG - thơ Hồng Tâm

TREO TÌNH EM GÁI SAPA - thơ Huy Uyên


Treo tình em gái Sapa

Đưa em qua ngã sông Nậm-Thì
biên trấn Lao-Cai đôi bờ thung-lủng
gió mùa đông se lạnh thổi về
núi cao tầng mây, giấc mơ 
trời cao đất rộng.

Ngày phố Lao-Cai cuối thu xao xác lá
em có về lại bản Cốc-Xan
sông Ngoi-Dum chiều Sa-pa-hạ
núi hồ,sương giăng bạt ngàn.

San sát chạy quanh nhà đồi
những con đường làng lát đá
vườn xanh um cửa sổ nhà ai
rừng thông viền xanh qua phố.

Phiên-chợ-tình em khoe váy mới
con gái Dao gùi nấm măng tươi
đào nhà em vàng mềm chín tới
má em ửng hồng tợ nắng trời mai.

Núi cao Song-tả-vạn cạnh Mường-Bồ
chợ đã chiều em vui ca hát
điệu khèn giọng "lượn" líu lo
hoàng hôn Sapa soi gương em đẹp nhất.

Thả tình em bơi qua Cầu-Mây
mưa trời đêm xao ngực bờ ấm lạnh
sương choàng khắp rừng núi cây
ngựa cỏng lên đèo,em hai má ửng.

Sáng mai theo anh lên nhà-thờ-đá
bàng bạc trời đất sương mù
hàng cây bên đường đang ngũ
mắt ai u hoài chợt nhớ xa xưa.

Quê nhà em mưa nắng Tà-Phìn
đẹp dáng ai khoe màu thổ-cẫm
mình bên nhau nhảy sạp
tim chất đầy tim
lớp nhũ đá sắc màu hang động.

Hoa nở Mường-Hoa quanh thung lủng
núi khuất mờ bãi đá Hầu-Thao
Thác-Bạc đổ rớt tình em theo xuống
Hang-Tiên trên trời đầy sao!

Khúc xa chia chưa đi hết đường
cầm tay người leo dốc phố chợ
Lao-Chải mắt ngó Tả-giàng-phình
Sapa mùa về đầy gió ...

                                 Huy Uyên
READ MORE - TREO TÌNH EM GÁI SAPA - thơ Huy Uyên

THIÊN THU KHÔNG ĐỦ ĐỂ TA MUA NGƯỜI - thơ Trần Hữu Khả



THIÊN THU KHÔNG ĐỦ
ĐỂ TA MUA NGƯỜI

Một trăm năm….
Một triệu năm….
Hồng nhan cầu tụng trần căn trượt dài
Chao ơi, chuông mõ thật thà
Bể tình vô lượng đầu thai si tình
Nhớ thương nương bóng u linh
Vong thân đào thoát đi tìm mỹ nhân
Luân hồi túng quẫn ái ân
Lòng chay tình mặn thanh tân van nài
Mắt mi chưa đắm đã say
Mòn tay tràng hạt tầm hoan kinh sầu
Sắc không ngã nón qua cầu
Dòng sông tục lụy bạc đầu sóng đau
Bán mình vay bóng tàn phai
Thiên thu không đủ để ta mua người
Chết tươi tia nắng giữa trời
Nghe rơi rét mướt giọt đời mù sương
Chim di cánh lạc vô phương
Nơi mênh mông ấy vui buồn có ai
Vuột tay một tiếng thở dài
Gánh theo cơn bão thả vào hư vô
Hồn nhiên dấu mặt tội đồ
Tình hờ chợ lỡ ngồi chờ đẩy đưa
Có ta mất một giọt mưa
Cháy thêm khô hạn giữa mùa nước lên
Má hồng.
            Công quả.
                        Nghiệp duyên…


Tác giả: Trần Hữu Khả
Sinh năm: 1961
Địa chỉ: K95/10 Bà Huyện Thanh Quan- Đà Nẵng
Nghề nghiệp: Tự do
Số ĐT: 0903507075

READ MORE - THIÊN THU KHÔNG ĐỦ ĐỂ TA MUA NGƯỜI - thơ Trần Hữu Khả

Monday, December 1, 2014

DÂNG NÉN HƯƠNG LÒNG - Tập thơ văn tưởng nhớ Nhà thơ Đinh Vũ Ngọc

Kính dâng Hương Linh nhà thơ Đinh Vũ Ngọc




An Phương Thi Hội và Gia Đình
thực hiện ngày 16 tháng 2 - Giáp Ngọ
 (16 / 3/ 2014)


(Tiếp theo kỳ trước)

Nhĩ Khuyết - Lê Doãn Hường 
(Điện Bàn)

TIẾNG NẤC NGHẸN NGÀO

Cõi trần đang buổi... nao nao
Anh về đất mẹ nhằm vào cuối năm
Ngả lưng chưa ấm chỗ nằm
Thì Giao thừa điểm - oái ăm phận người !
Trời xuân khoe sắc xuân tươi
Sao lòng Thi đệ ngậm ngùi nhớ thương
Thơ anh đó - tứ hoài vương
Nỡ đành bỏ lại chọn đường mù xa
Thềm khuya lạnh bóng nguyệt tà
Thư phòng bấc lụn , tiếng gà điểm canh
“Đường Thi” mất bậc đàn anh
Như mây thiếu gió, như cành thiếu hoa
Nhòa trang thơ, nhạt chén trà
Từ rày như lịm âm ba sông Hoài
Bến tình vắng bóng trăng soi
Thi đàn vĩnh viễn gãy ngòi bút tinh
Huynh ơi ! Cho Đệ nghiêng mình
Ôm lồng ngực nấc trước anh linh Người.



Nhĩ Khuyết - Lê Doãn Hường

BỎ CẢ SAO ANH?
 
    Nhạn báo tin buồn lúc nửa đêm *
    Thôi rồi ! Huynh đã bỏ đàn em
    Bỏ trăng , bỏ gió cùng thi tứ
    Bỏ bút , bỏ nghiên với ngọn đèn
    Cho nước sông Hoài im sóng gợn
    Cho rêu phố cổ thẫm màu thêm
    Người đi - vạn vật đang thay áo !
    Chẳng kịp chào xuân đến trước thềm.

                               **


Nhĩ Khuyết - Lê Doãn Hường
  
TƯỞNG NIỆM ĐẠI HUYNH

    Táo chầu trời - hăm ba tháng chạp
    Non tuần sau Huynh đạp mây ngàn !
    Quảy bầu thi phú sáo đàn
    Leo lên lưng hạc - trần gian xa rời
    Về Tiên cảnh quên nơi cát bụi
    Để tiếc thương sầu tủi bao người
    Mặc nàng Giáp Ngọ khoe tươi
    Huynh quay lưng - xổ tràng cười Kinh Kha
    Nơi cõi tạm Thi ca là bạn
    Chốn Thiên Đường tỏ rạng tài danh
    Sáo Thần - thơ Ngọc - giọng Oanh
    Thì ôi thôi cả Ngũ hành đều say
    Thi huynh ơi ! Tuần ngày bốn chín
    Viết vần thơ Tưởng Niệm dâng Người
    Ngoài kia nắng vẫn xanh tươi
    Mà trong lòng đệ cứ ngùi tiếc thương

    
    "HOÀNG HÔN PHỐ" áng "Đường" Huynh đó
    Mở tập ra - trăng gió lung linh
    Phục câu đối ngẫu tài tình
    Luật , niêm có mà tàng hình - lạ thay !
    Bao ngọn bút ngày cày, đêm xới
    Vườn Tao Đàn í ới giao lưu
    Dễ đâu dê hóa thành cừu
    Cừu đi nhưng nét tinh, ưu chẳng nhòa
    Thôi Huynh nhé! Trăng đà gác bóng
    Bên thềm khuya dế vọng cung sầu
    Vô Thường - Sinh  Tử - Bể  Dâu
    Đệ ngừng bút - ngước nhìn bầu trời đêm !
                                   -



Trần Văn Tuyên (Hội An) gởi đăng.


READ MORE - DÂNG NÉN HƯƠNG LÒNG - Tập thơ văn tưởng nhớ Nhà thơ Đinh Vũ Ngọc

TÌNH KHÚC SỐ 8 – Trúc Thanh Tâm





1. TÂN HƯNG ĐÔNG

Cái Nước ngọn, theo thầy Vinh học
Quê nghèo xa cách, bốn mươi năm
Tân Hưng Đông, nhớ thời nhau rún
Vầng trán anh hằn thêm nếp nhăn !

2. TRÀ BAN LỚN

Đi viếng Chùa Ông, rằm tháng bảy
Trăng quê bàng bạc, mắt em buồn
Anh giấu vào tim, Trà Ban Lớn
Còn hoài người cũ để anh thương !

3. BẾN NINH KIỀU

Đường phố thênh thang anh như lạc
Nhưng vẫn còn trăng bến Ninh Kiều
Một chút đau buồn, anh nói thật
Mưa lớn còn ngập lộ, em yêu !

4. TÌNH NÚI SAM

Châu Đốc quê mình thêm đẹp lạ
Hai chiếc cầu nối nhịp bờ vui
Tình yêu còn mãi trong ánh mắt
Anh nắm tay em, nở nụ cười !

TRÚC THANH TÂM

( Châu Đốc )
READ MORE - TÌNH KHÚC SỐ 8 – Trúc Thanh Tâm

Saturday, November 29, 2014

Thơ Chu Vương Miện: ĐỂ LẠI, RA SÔNG



để lại

người về để lại một trái
tim ở không ta thử bóc ra
nhìn trân trọng ta bưng lên tận
mặt đây quà thân ái một lần
thăm trái tim na ná giống tim
heo lấm tấm còn vượng hạt máu
đào hai bên tâm nhĩ và tâm
thất nhìn hoài mà chả biết nói
sao trái tim ngăn hộc như thuốc
bắc cất dấu bao năm thịt phủ
mờ toàn chân dung những người kiệt
xuất tìm hoài chả thấy lũ phàm
phu trên cùng là ngôi nhà thờ
cổ Chúa trên thánh giá ngó thương
đau một xâu chuỗi hạt Mân Côi
cũ mân mê trong thế giới vạc
dầu gửi trái tim kiếp sau gặp
lại kiếp này Pắc Hủi ngó Lai
Châu vết son còn dấu vành ly
đó dạt về Ngô hay dạt sang Tiều?





ra sông

ừa thì con cá ra sông thân
yêu một khối trong lòng bơi theo
nhìn xong đổ nát chán phèo chạy
theo thì đã qua Lèo "Vân Nam "
chuyện xưa nhắc lại thêm nhàm trễ
đò trễ cả chợ Nam Đồng Lầm
quán chi mưa nắng vô chừng trai
khôn lấy vợ truyền giòng lứa đôi
chở nồi dùng để hong xôi nên
chi mới có trầu vôi cau già 
ừa thì người đã quên ta bỏ
lơ lai một cội hoa móng rồng
tàng tàng tát cạn biển đông nhìn
theo em đã theo chồng vu qui
tình ghơi có thủ có thì tiếng
la đầu xóm họa mi đầu cành
mình về đôi mắt vòng quanh áo
hoa quần lụa một vòng ngọc đeo
đường làng cũng chả cheo leo cá
ra sông cũng một lèo đi luôn 

chu vương miện



READ MORE - Thơ Chu Vương Miện: ĐỂ LẠI, RA SÔNG

Bút ký: MÙA THU NGOẠN CẢNH TÂY HỒ Nguyễn Hồng Trân


MÙA THU NGOẠN CẢNH TÂY HỒ
 Nguyễn Hồng Trân


Cũng khá lâu rồi vợ chồng chúng tôi chưa có dịp dạo quanh Tây Hồ. Trước đây chúng tôi đã từng sống ở Hà Nội nhiều năm trong thời kỳ học tập và công tác. Sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, chúng tôi trở về quê hương Trị- Thiên để phục vụ công tác giáo dục và y tế cho đến ngày nghỉ hưu vẫn thường trú ở tp. Huế. Thỉnh thoảng chúng tôi mới có dịp ra Hà Nội thăm con cháu, thăm bà con và bạn bè thân quen…



Hiện nay, vợ chồng chúng tôi đã ra lại cư trú tại Hà nội theo đề nghị của con cháu muốn chăm sóc, phụng dưỡng ba mẹ lúc tuổi già ốm yếu…  Giờ đây, chúng tôi có thời gian rộng rãi để đi du ngoạn cảnh Tây Hồ vào một ngày thu yên lành thoải mái. Ngoạn cảnh nơi đây thật là thú vị. Cảnh mây trời, hồ nước mênh mông thoáng mát dễ chịu và đã làm cho chúng tôi nhớ lại những kỷ niệm xa xưa suốt một thời gian dài đáng nhớ của tuổi trẻ đã học tập và công tác tại Thủ đô Hà Nội.
Hồ Tây theo truyền thuyết ngày xưa có tên lúc đầu là Đầm Xác Cáo(1)  , sau đó có tên là Hồ Kim Ngưu(2) (Hồ Trâu Vàng). Đến Thế kỷ XVI thì đổi tên hồ thành Dâm Đàm (3). Và tên cuối cùng cho đến sau này hồ được đổi tên là Tây Hồ (4).
Để ngoạn cảnh Tây Hồ,trước tiên, chúng tôi đi dạo dọc con đường Thanh Niên mà ngày xưa gọi là đường Cổ Ngư. Đường này là ngăn cách Hồ Tây và Trúc Bạch. Hồ Trúc bạch ngày xưa cũng thuộc Hồ Tây, sau đó người ta đắp lên một con đê ngăn ra một vùng hồ nhỏ để nuôi cá và xung quanh hồ này trồng nhiều cây trúc để làm mành, làm rèm sáo che nắng, che mưa…Hồ Tây thì rất lớn (hơn 500 hecta và chu vi gần 18 Km), hồ Trúc Bạch thì nhỏ (chỉ vài chục hecta và chu vi chỉ hơn 6 Km). Hai bên con đường này những hàng cây xanh tỏa bóng râm xuống mặt đường thật mát mẻ dễ chịu. Từng đoạn, từng đoạn gần sát mép hồ đều có những chiếc ghế đá hướng ra mặt hồ để cho du khách dừng chân ngồi nghỉ ngơi, ngắm cảnh và chuyện trò tâm sự… Những chiếc ghế nơi đây cũng đã từng chứng kiến muôn vàn cuộc hẹn hò tình tứ của lứa đôi trai gái ở Hà Nội, trong đó có chúng tôi và những người nơi khác đến du chơi ngoạn cảnh Tây Hồ rồi lưu lại bên hồ trong cảnh chiều tà cho đến tận đêm khuya thanh vắng…
Chúng tôi dạo bộ trên đường này một lúc rồi ghé vào tham quan lại chùa Trấn Quốc mà đã lâu lắm rồi chúng tôi chưa có dịp ghé thăm. Đây là một trong những ngôi chùa cổ của Hà Nội đã có từ thời Lý –Trần và cách đây khoảng 1500 năm. Ngôi chùa rất đẹp, nó tọa lạc trên hòn đảo nhỏ phía Đông của hồ, có ngọn tháp cao xinh xắn màu nâu đỏ. Nơi đây du khách hàng ngày ra vào tham quan tấp nập. Các sinh viên các trường thường đến viếng cảnh chùa để cầu nguyện; nhất là sinh viên trường Nghệ thuật đến ngắm cảnh chùa và vẽ tranh hoặc sáng tác lời ca, khúc nhạc…
Đến chùa Trấn Quốc làm tôi nhớ đến một sự kiện ngày xưa từ thời chúng tôi còn là sinh viên đến tham quan chùa này vào dịp hè năm 1959 thì được gặp đoàn đại biểu của Chính phủ Ấn Độ sang thăm nước ta do Tổng thống  Rajendra Prasad dẫn đầu ghé vào thăm chùa cùng đi với Bác Hồ. Lúc đó Tổng thống Ấn Độ có tặng cho nhà chùa một cây bồ đề Ấn Độ rất đẹp. Cây bồ đề ấy giờ đây đã sum xuê to lớn tỏa bóng mát cho cả một vùng rộng của sân chùa.
Chúng tôi đứng ở sân chùa nhìn ra Hồ Tây nước mênh mông xanh biếc và làn sóng lăn tăn vỗ nhẹ vào các thành kè ven hồ nghe rất êm ái thanh bình. Nhìn xa xa giữa mặt hồ có nhiều tàu thuyền qua lại chở du khách dạo chơi đây đó tham quan những di tích, thắng cảnh ven hồ như đền Quán Thánh, cung Từ Hoa, chùa Kim Liên, điện Thụy Chương, phủ Tây Hồ…
Trên dọc đường đi ven bờ Hồ Tây, chúng tôi nghe vang vọng những bài ca, khúc nhạc du dương, trữ tình, trầm bổng trong chiều đông ấm áp. Lúc đó chúng tôi bỗng nhớ đến mấy câu ca dao ngày xưa quen thuộc:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Tiếp đó chúng tôi đi ngược lên phía làng Kẻ Bưởi (ngày xưa có tên là Yên Thái), nơi đây là cái nôi làng nghề làm giấy dó nổi tiếng, nhưng dân làng rất vất vả, người dân phải đi lấy cây dó trên rừng về, phải chặt khúc rồi dã nhỏ bằng cối chày cả ngày đêm mới kịp làm giấy. Có loại giấy quý làng này làm ra được dùng cho nhà vua ban Sắc phong cho các làng xã, tộc phái có sự kiện điển tích về lịch sử, văn hóa đáng được tôn vinh, trân trọng.
Sau khi ra khỏi làng này, chúng tôi lên thuyền du lịch đi về Phủ Tây Hồ(5) để viếng thăm, ngắm cảnh một địa danh linh thiêng của Thăng Long Hà Nội. Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, ngày xưa nó thuộc một làng cổ của kinh thành Thăng Long. Chúng tôi đến Phủ Tây Hồ không phải vào dịp lễ hội thường niên vào ngày rằm tháng Giêng nhưng dân chúng đến hành hương và tham quan cũng rất đông. Chúng tôi đi dạo khắp vùng này và thấy người ta đến đốt vàng mả, hương trầm khói lên nghi ngút lan tỏa khắp cả vòm cây, mái ngói. Phủ Tây Hồ còn mang đậm nét cổ xưa ở các điện thờ, đền miếu… Nhất là quang cảnh xung quanh Phủ rất uy nghi, trầm tĩnh. Những cây si, cây sung, cây lộc vừng cổ thụ nghiêng mình sà thân cành gần sát mặt nước Hồ Tây tạo nên một dáng vẻ cổ kính linh thiêng. Đứng trong khung cảnh này, tôi cảm hứng làm mấy câu thơ với tựa đề:
CẢM CẢNH TÂY HỒ
Nước Tây Hồ mênh mông xanh biếc
Thuyền ngày đêm liên tiếp du chơi
Đàn chim bay liệng ngang trời
Như vui với cảnh cùng người tham quan
Đường ven hồ rộn ràng du khách
Tới đền chùa tấp nập hành hương
Người từ khắp cả bốn phương
Về đầy cầu nguyện an đường sinh linh…
Trời về chiều, chúng tôi lên thuyền ra giữa Hồ Tây rồi hướng về phía làng Thụy Khê để ngắm cảnh chiều hôm ở một vùng quê ven hồ. Lúc đó trên bầu trời Tây Hồ những đàn chim đang bay chầm chậm thành hàng như hẹn nhau trở về tổ. Bỗng nhiên có một cơn gió mạnh thổi qua làm thuyền chở chúng tôi rung rinh, chồng chềnh, cánh buồm nghiêng ngả và thấy đàn chim trên trời cũng hối hả bay nhanh. Thế là tự nhiên trong lòng tôi cảm thấy lo lo, sợ một cơn lốc đột ngột sẽ lật thuyền như chuyện chìm thuyền của đoàn nghệ thuật Trung Quốc: “Tề tề Cáp nhĩ”  khi chiều tối dạo chơi trên Hồ Tây vào đêm 11-9-1956. Các cụ già hồi đó ở gần Hồ Tây đã kể lại rằng, đoàn thuyền chở đoàn nghệ thuật TQ vừa ra đến giữa Hồ Tây thì đột ngột có một cơn lốc mạnh hất tung cả đoàn xuống hồ. Lúc ấy mọi người hốt hoảng không ngờ việc thiên tai ập đến bất ngờ cho đoàn TQ như thế. Đội cấp cứu đã tích cực cứu nạn được một số người, trong đó có cô Khương Nãi Tuệ là nữ nghệ sĩ múa có tiếng của TQ (đóng vai nữ chúa trong điệu múa Hoa sen) và một tay sáo danh tiếng là Phùng Tử Tồn, còn 9 người TQ mất tích. Mặc dù đã chăng lưới tìm kiếm cả đêm, nhưng vẫn không thấy. Hôm sau mới tìm được thi thể của 9 cô gái chưa chồng trong đoàn múa hoa sen của TQ đã bị chết trong đêm hôm ấy. Thật là một chuyện chưa từng xẩy ra ở Hồ Tây từ xưa đến nay như thế!
Sau cơn gió mạnh thổi qua, chúng tôi đang ngồi trên thuyền mà vẫn không lo, cứ ung dung chuyện trò vui vẻ. Nhìn về phía gần bờ làng Thụy Khê có mấy chiếc thuyền nan có những người trên thuyền và dưới nước để vớt rong, mò ốc, bắt cá… cứ râm ran chuyện làm ăn kinh tế. Đặc biệt ở Hồ Tây người ta nuôi loài tôm càng xanh rất phát triển và đem lại nguồn lợi kinh tế khá cao. Trước đây, hàng năm người nuôi tôm càng xanh thu hoạch đến 40 tấn/ năm.  Qua thực tế ẩm thực, chúng tôi cũng biết về các loài cá, loài ốc và tôm ở Tây Hồ rất ngon. Vì thế một số hàng quán nhậu ở ven bờ với các món cá hấp, cá chiên, bún ốc, bánh tôm, v.v…lúc nào cũng đông khách thưởng thức. Ngoài ra, những người sống ven hồ còn cho biết thêm rằng, có một số tổ chức nuôi trồng sinh vật hồ đang nuôi loài cá hồi và nuôi trai lấy ngọc. Điều đó có nhiều hy vọng phát triển nghề nuôi thủy sản ở Tây Hồ được ổn định và bền vững, nếu chúng ta có biện pháp bảo vệ môi trường được tốt, không bị ô nhiễm nặng triền miên.
Sau khi rời khỏi thuyền lên bờ, chúng tôi đi bách bộ một đoạn quanh bờ hồ. Quang cảnh ở đây đã khác nhiều so với ngày xưa. Những hàng cây cau Tây, phượng vĩ, bằng lăng, hoa sữa … như thích thú với đất trời, hồ nước xanh trong và cứ thi nhau vươn mình lung lay thân cành trong gió chiều lộng mát.
Đi một lúc ngắm nhìn đó đây thư giãn tâm hồn, chúng tôi dừng chân ngồi lên ghế đá nhìn ra mặt hồ và hít thở không khí trong lành rồi cùng nhau nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa vào cái thời trẻ trung của cuộc đời sinh viên đã từng đi dạo quanh Tây Hồ với bao nhiêu tâm tình, ước vọng…
Ôi! Mùa thu ngoạn cảnh Tây Hồ thật là thú vị và vấn vương, thương nhớ bung lung, nhớ cảnh vật, nhớ tình người, nhớ hoài! nhớ mãi!..
        Hà Nội, Quý thu, năm Giáp Ngọ = 2014


Chú thích: (1) Đầm Xá Cáo: Theo truyền thuyết là nơi đây hang con cáo chín đuôi thường phá hại dân lành, bị Long Quân dâng nước lên công phá, giết chết con cáo đó và xác cáo phơi trên mặt đầm (đầm là vùng trũng có nước và có cả bùn lầy, lau sậy mọc um tùm).
(2) Hồ Kim Ngưu dựa theo truyền thuyết hồ Trâu Vàng. Truyện kể về một người khổng lồ ở đất Việt, sức khỏe phi thường, không ai địch nổi. Ông xuất gia làm thiền sư, đó chính là thiền sư Minh Không. Thiền sư Minh Không sang Tàu chữa bệnh cho con vua Tống. Khi công việc hoàn thành, vua muốn trả ơn. Nhà sư chỉ xin một ít đồng đen cho vào tay nải. Vua Tàu đồng ý cho thiền sư tự ý vào kho lấy đồng. Thiền sư đã lấy đồng đen đem về nước Nam. Về đến Thăng Long, ông dùng số đồng đó đúc thành bốn thứ bảo khí nhà Phật: Tượng Phật, tháp Báo Thiên, đỉnh đồng và một quả chuông đồng rất lớn. Chuông đúc xong, đức vua sai ông đánh một hồi chuông dài để báo hiệu cho dân chúng biết tin vui nước nhà đang thái bình thịnh trị! Tiếng chuông ngân đến tận kinh đô bên Tàu. Nghe tiếng chuông con trâu bằng vàng to lớn nằm trước kho đồng bên Tàu tự dưng bừng tỉnh "Đồng đen là mẹ của vàng" ngỡ là tiếng mẹ gọi nó liền vươn mình phóng thẳng xuống phương Nam tìm đến quả chuông khổng lồ, quần mãi xung quanh khiến cho cả một vùng đất lớn quanh quả chuông sụt xuống thành một vùng hố sâu và nước tràn đầy trải rộng thành một hồ nước mênh mông.
(3) Dâm Đàm: Theo sách Hồn sử Việt thì khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, hồ Kim Ngưu trở thành một địa điểm du ngoại được nhà vua và các quan ưa thích, nhiều lần trong các buổi du thuyền trên hồ, nhà vua gặp sương mù bao phủ, cảnh tượng hồ trở nêm huyền ảo mộng mơ, vì vậy hồ đã được đổi tên là Dâm Đàm.
(4)Tây Hồ: Đến năm 1573, để tránh tên húy của Vua Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi là Tây Hồ. Cái tên Tây Hồ có từ đó, ngoài lý do trên, có lẽ việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Trung Quốc cũng có Tây Hồ nổi tiếng ở Hàng Châu. Việc đặt tên các địa danh, sông hồ của Việt Nam theo chữ nghĩa  Trung Quốc là chuyện bình thường. Tây Hồ là cách đọc Hán Việt của hồ Tây, và hồ Tây đã trở thành cái tên gần gũi, lâu dài, nên thơ nhất đối với người Hà Nội cũng như nhân dân cả nước.
(5)Phủ Tây Hồ:nơi đây ngày xưa có một ngôi đền thờ bà chúa Liễu Hạnh, một người đàn bà tài hoa, giỏi đàn ca, thơ phú, đức độ nên đã được dân gian thần thánh hoá rồi tôn vinh lên thành đức Thánh Mẫu . Hàng năm vào rằm tháng Giêng âm lịch, khách hành hương về đây rất đông, vừa đi lễ cầu mong Thánh Mẫu ban cho điều lành và mọi sự may mắn; vừa đi thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ.





READ MORE - Bút ký: MÙA THU NGOẠN CẢNH TÂY HỒ Nguyễn Hồng Trân