Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, March 22, 2012

ĐỒNG BẰNG VÀ TÔI - Đình Thu



“…Ai dằn nỗi nhớ vào đêm
Để khuya trở giấc gọi tên đồng bằng…”
Không phải quên … mà nhớ !
Nỗi nhớ mang hình dòng sông
Chảy tràn trong ký ức !
Và tôi hát vu vơ…
Câu hát ngày xưa dang dở
Nụ hôn ngủ quên trên vách tường cũ
Tuổi mười tám quay đi không trở lại bao giờ
Đồng bằng thẹn thùng như con gái
Tháng năm rơi mềm trên sông
Mênh mông nhớ…
Bềnh bồng trôi…
Sóng lúa dịu dàng
Bờ vai mềm lặng yên
Bàn tay gầy hồn nhiên
Ngôn ngữ của dịu êm
Điệp khúc thời gian thánh thót

Tôi hỏi những con sông dài
Sao cứ ngàn năm xuôi về biển rộng
Tôi hỏi đồng bằng
Giấu nơi đâu ?
Để gió tìm nụ hôn giữa khuya
Chạm vào nếp thời gian
Mơn man từng hơi thở

Đồng bằng
Giấu trong mình câu vọng cổ
Điệu xàng xê ….
Trầm buông
Cô gái miệt vườn đoan trang đằm thắm
Làn da như bông bần nở trắng
Ngoài triền sông
Đêm thức
Chờ !
Hương phù sa quyện vào giấc ngủ
Bìm bịp kêu
Nỗi nhớ nghiêng lòng.

Đình Thu
dinhthubank@yahoo.com.vn
READ MORE - ĐỒNG BẰNG VÀ TÔI - Đình Thu

Hoàng Yên Lynh - ĐÊM CUỐI NĂM NHỚ DÒNG SÔNG TUỔI NHỎ


Tôi có một dòng sông hoài niệm
Tắm mát đôi bờ tuổi ấu thơ
Tôi có một khoảnh trời để nhớ
Có nhịp võng khoan hò ...
Có gió lộng hàng tre.

Tôi có một mối tình như thế
Người yêu xưa ai lỗi hẹn thề
Tôi xa mãi cuối trời xứ lạ
Đêm nặng sầu ...Nhớ một vầng trăng.

Có ai về Cửa Việt, Gio Linh
Có ai ngược Cam Tuyền
Có ai xuôi sông Hiếu
An Lạc ơi bạn bè mấy đứa
Cõi đi về còn nợ nắng mưa.

Tôi có một dòng sông đạn lửa
Khi pháo về tan tác tuổi đôi mươi
Đứa trôi dạt đứa ngán trùng xa thẳm
Đông Hà ơi còn nặng tiếng ru hời.
*
Đêm Đà Lạt lang thang cùng gió núi
Ơi thanh bình hương ngát tỏa hàng cây
Tiếng vó ngựa gõ đều qua phố vắng
Chợt nhớ mình tóc trắng
Hơn nửa đời phiêu lãng ...

Dốc phố vắng núi đồi đêm trừ tịch
Chỉ sương bay và hoa nở vô tình
Tôi đi mãi theo dòng sông tuổi nhỏ
Với ngày xưa in dấu những con đò
Tôi đi mãi với mênh mông nỗi nhớ
Nhớ người yêu nhớ bạn bè tất cả
Nhớ quê hương và một chốn đi về.

Đêm cao nguyên trời cao như thấp lại
Điếu thuốc tàn không ấm nỗi lòng tay
Ở nơi đây mà nhớ tình nơi đó
Để nhớ người ... Mà chẳng nhớ riêng ai.

Tôi có một dòng sông xuôi biển rộng
Có một thời đằm thắm mộng yêu thương
Có gió Triệu Phong ...
Có vầng trăng Dương Lễ
Theo tôi ngậm ngùi đi suốt cuộc bể dâu.

Và tôi có một dòng sông xa ngái
Ơi trăm năm hoài vọng một ngày về ...
 
HOÀNG YÊN LYNH
Đà Lạt, 2010
hoangmylinh@live.com

READ MORE - Hoàng Yên Lynh - ĐÊM CUỐI NĂM NHỚ DÒNG SÔNG TUỔI NHỎ

HOA TÍM - Nhạc và lời Nguyễn Bá Văn - Trình bày Bảo Khánh

READ MORE - HOA TÍM - Nhạc và lời Nguyễn Bá Văn - Trình bày Bảo Khánh

Wednesday, March 21, 2012

CHÂN DUNG “NGƯỜI ĐÀN BÀ MẶC CHIẾC ÁO CHOÀNG” - Nguyễn Văn Quốc đọc thơ Trương Lan Anh

Lời bạt: Có những câu thơ gọi đò cho kí ức của một thời rất trẻ nhưng vô cùng sâu lắng, người đọc có thể tìm thấy những vần thơ ấy trong “Người đàn bà khoác chiếc áo choàng” của nữ sĩ Trương Lan Anh. Thơ chị nhẹ nhàng, nồng ấm, trong trẻo như đóa hoa lung linh trong sương sớm ngày đầu ta gặp. Bằng trái tim nhạy cảm, sâu thẳm, cây bút nữ này đã mang đến những hơi thở mới để ta biết tên những miền kí ức của cuộc đời, mang đến cho người đọc những vùng thẩm mỹ tươi mới, độc đáo của tình yêu dành cho đời và cho quê hương Quảng Trị dấu yêu qua những khoảnh khắc cuộc đời với ngôn ngữ thơ mộc mạc, lắng dịu, thuần hậu mà sâu sắc...



Có một quyền muôn thuở của nhà thơ là tìm về kí ức – một đời người, một dòng sông  - Nhà thơ Trương Lan Anh cũng đi tìm kí ức trong những dòng sông quê, những địa danh quen thuộc thân thương của đất Quảng Trị mến yêu với tâm tình thương nhớ, trao gửi và nắm giữ trong thẳm sâu tầm hồn của chị. “Người đàn bà khóac chiếc áo choàng” trở thành biểu tượng cho con người đi cùng năm tháng với ngẫm ngợi, suy tư; với hạnh phúc bé nhỏ và những đợt sóng dội lên trong lòng với bao cảm xúc, bao duyên nợ của một thời lục bát, ca dao:
                         “Nợ nhau nên lại gặp nhau
                          Cầu qua chín nhịp lòng đau người về
                          Nợ chi ta ở chốn quê
                          Người đi trốn tuyết hay về cố hương?”
                                                           (Nợ)


Có niệm khúc của chiến tranh đi qua vẫn cồn cào trong thơ của chị, trang thơ chất chứa cả một khoảng trời không chút bình yên của cõi đời nhưng nhân nghĩa rất tinh khôi, nguyên vẹn:
                        “Một dòng quê bên đục bên trong
                        Một dòng quê phân chia nhân nghĩa
                        Một nhịp cầu qua mà cắt thành hai nửa
                        Nghe đôi bờ xao xác tiếng gà trưa!…
                                              (Về quê hương Quảng Trị)
               

Thơ chị đã làm sống dậy những miền kí ức về bến sông Quảng Trị, của kỉ niệm hằn sâu trong cuộc đời qua những mùa yêu thương, những mùa lửa đạn trên quê hương anh dũng này. Trên xứ sở Miền Trung gió lào cát trắng, trên dòng sông nhiều nỗi đau lịch sử khi chiếc khăn tang không chỉ vắt qua trong kí ức mà còn làm ám ảnh lòng người hiện tại. Có thế chăng mà mảnh đất, tình người và con sông đã trở thành hình ảnh và biểu tượng trong thơ chị - Con sông với tiếng hát quê hương là câu hò thương nhớ, là chòng chành giao duyên, là kí ức của miền xa thẳm:
                   “Tháng bảy mùa hoa nở giữa lòng sông
                    Đèn hoa đăng sáng bừng lấp lánh
                    Con nước về cho đôi bờ sóng sánh
                           ...............................
                    Khẽ khàng đặt những vòng hoa tháng bảy
            Hoa lặng lẽ âm thầm trôi chảy
            Đến muôn nơi đón đồng đội trở về
                                    (Hoa nở giữa lòng sông)
               

Bao bài thơ của chị vọng về cảm xúc, kí ức của người con Thành Cổ thế nên chị đã đưa vào thơ mình thứ lửa của một thời để thao thức trái tim người đọc khi hướng về tất cả những miền thực và miền tâm linh. Thơ chị có sự giao thoa giữa chất tự sự trữ tình với những khúc tráng ca, những khúc tình ca muôn thưở - Đó là đặc điểm khó lẫn trong thơ của chị, và nhà thơ đã biến cái chân chất, mộc mạc đó thành một miền thơ dẫn dụ, lôi cuốn người đọc để được sống với những điều chị sẻ chia, giãi bày. Nhiều câu thơ của chị đã ra đời như để gọi thay những khắc nghiệt lẫn những vẻ đẹp giản dị của quê hương với nỗi đau của một thời đã xa trong tiếng gọi con khô cháy cả dòng sông và cháy khô cả đời mẹ:
                           “Hương trầm bay trong gió
                            Đâu đây chốn con nằm
                            Con có nghe tiếng mẹ?
                            Gọi con cháy khô dòng”
                                       (Cánh diều Thành Cổ)
            

Ta chợt thấu thị một điều, đối với Trương Lan Anh, làm thơ là để san sẻ, để ghi nhận chứ không phải để chứng tỏ. Chị nương trái tim mình theo nhịp thở của sông quê mà thủ thỉ, tâm tình với                 
                     “Chiếc cầu quê nối nỗi nhớ đôi bờ”:

                    “Em đã về tắm mắt cả dòng thơ
                     Để quê anh đẹp mùa vàng lấp lánh
                     Dòng sông in bầu trời xanh soi bóng
                     Thuở em về thầm lặng hát giao duyên!”
                                 (Sông hát giao duyên)
             

Là con người của hai thế hệ vừa ra khỏi cuộc chiến tranh về lại đời thường, trong thơ chị có biết bao nhiêu mảnh đất quê hương và nhiều lần chị nhắc đến con sông quê thân thuộc. Đó là cõi đi về của một tấm lòng với quê hương đất nước, với tình yêu chung thủy sắt son:
                             “Em nhé ta về tắm mát sông quê
                             Vĩnh Định, Ô Lâu, Hiếu Giang, Thạch Hãn
                             Con sông nào cũng âm vang tiếng hát
                            Sóng vỗ đôi bờ dào dạt ánh trăng reo…”
                                               (Về quê hương Quảng Trị)
         

Quan niệm thế nào thì mùa gặt thơ như thế ấy; vùng thẩm mỹ trong thơ của chị đi theo chân trời riêng của cái chân chất thân quen đến từng hơi thở của kỉ niệm. Nó không có chỗ dành cho những gì xa lạ, nó đích thị là trái tim nghĩa tình trong chị, trái tim nặng trĩu những tình yêu, những trăn trở và khát vọng. Thế nên, tần số mùa xuân qua dòng thơ của chị đã là miền kí ức và là vệt thời gian để gọi về khát vọng, yêu thương, hạnh phúc cho nên nó đủ sức làm thành biểu tượng cho tâm hồn yêu thương và nhạy cảm của chị đã làm nên những “Bẹ mía đường non – Ngọt cả tâm hồn”. Câu thơ chị có tiếng cười của con, có tấm lưng còng và giọt mồ hôi của mẹ…Và chị đã bước vào thế giới của cuộc đời bằng đôi chân ngày ấy với trái tim nhạy cảm, yêu thương vô bờ. Chị ru con bằng cả sự giản dị, hồn hậu mà đời thường bao người dễ dàng bỏ qua, niềm vui  như nở ấm trong tim mẹ để niềm đau tan biến giữa trời trong giấc ngủ con thơ – và thơ chị có chút ấm áp “rất đời” của nữ sĩ tài hoa Xuân Quỳnh:
                         “Ngủ ngon con yêu nhé
                           Dòng sữa mẹ thơm môi
                           Nụ cười con hoa nở
                           Hạnh phúc về tinh khôi”
                                                     (Nửa vành trăng)
               

Nghiêng những câu thơ cho một đề tài vĩnh cửu của thi ca - đề tài tình yêu, chị đã viết rất thật, rất hay về điều tự hát của trái tim dịu dàng, nữ tính của mình trong nhiều bài thơ dậy sóng những tình yêu. Những vần thơ như chín cả suy tư của đời chị, chín cả khát vọng và như một lời đồng vọng gửi về người thương từ bến cửa Tùng:
Hôn
        đắm đuối một đời
                 rồi tan giữa hư vô          
Sóng mang theo
          Cả lâu đài giã tràng trên cát
Con dã tràng
          Không còn ngơ ngác
Biết biển đa tình
                   Nên chỉ lặng im!”
                        (Cửa Tùng chiều tím)


Tình yêu đối với người phụ nữ hầu như bao giờ cũng gắn liền với số phận như một thứ định mệnh. Thế nên thơ của họ phảng phất buồn và mọi điều nói ra cũng cốt để che giấu nỗi buồn. Hình như trong quan niệm tình cảm cũng đã chi phối đến quan niệm thẫm mĩ, đường nét, giọng điệu, sắc màu trong thơ chị, bởi chị cũng không là ngoại lệ:
Thuyền ơi!
nhớ ghé về cồn chợ
Gối những giấc mơ
thật êm đềm…”
                           (Gối giấc mơ)


Thơ chị như chính thiên tính của người phụ nữ, như con tằm rút ruột nhả tơ, chị đã lặng lẽ dệt nên mảng màu của cuộc sống. Dưỡng chất ngọt ngào ứa ra từ trái tim chị kết tinh từ cái tâm trong sạch thánh thiện. Lời chân tình đó đủ sức vẫy gọi để có những nụ cuời và những giọt nước mắt người đồng cảm với những lời tự thú được soi ngắm từ nhiều phương diện của đời sống với cả hạnh phúc ngọt ngào lẫn khổ đau đắng chát. Lời chân tình ấy chảy vào trái tim thơ cao quý. Đó là vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ, người vợ trong suốt triền thơ. Điều đó đến với người đọc như những tặng vật, và hiển nhiên mọi người sẽ có cách đón nhận riêng. Điều mà ta ghi nhận là có được tặng vật ấy cho đời chị đã chắt chiu, miệt mài, tâm huyết để dâng cho sự sống này những điều đẹp nhất, bởi với chị “Thơ là hiểu biết, là cứu độ, động lực, buông xả” (Octavio Paz). Và chị có những câu thơ buông mềm như sợi nắng lên gọi đời người sau những cơn mưa với những cuộc tình – có cái trắc trở chòng chành của sóng nước ca dao để gọi tên cho những tình yêu thuần khiết trong tim:
Vai mềm mười sợi nắng lên
Một đời từ cái chông chênh một đời
                                                   (Sợi thương)
Có khi:
Qua cầu anh bước mê say
Cầu bao nhiêu nhịp dạ này ngẩn ngơ
                                                  (Cầu giải lụa)


Đó là Eva của tiền kiếp; chị sẵn sàng từ chối những biểu trưng mới nhưng vẫn có thể hòa nhịp đến tận bề sâu. Đúng hơn, chị đối diện với mình để tâm hồn đồng vọng trên những trang thơ. Đến với điều này, thơ ca của chị đã tiếm vị cả thế giới xanh tươi bằng trái tim của mình để lí giải, chiêm nghiệm và sống cùng với nó hết cả một đời! Sự nhạy cảm của trái tim chị đủ để dung chứa một mùa xuân nào bay qua đời chị để xúc cảm dâng thành nỗi nhớ và thành thơ:
                        “Mưa về hư vô
                                          Về tháp đổ
                                                Về chiều phố cổ
                                                            Tháp Chàm ơi…!
                                          Ta nghe lòng mình
                                                Chạm vào nỗi nhớ
                                                            Chạm vào yêu thương
                                                                        Chạm vào kỉ niệm
                                                                                 Đất Quế ơi!
                                                                                (Mưa lòng).


Chế Lan Viên từng cất lên lời yêu trong “Tình ca ban mai” với những gì trong trẻo nhất ….thì hôm nay chị cũng có những bản tình ca cho mình và cho đời; những vệt sóng ngầm của suy tư và chờ đợi, tựa như đất trời rơi một giọt Tháp Chàm cũng đủ cho lòng chị rơi xuống những suy tư và ước vọng. Cấu trúc câu thơ rơi để ta giật mình tưởng đến “Trái tim hát những điều lỗi nhịp - Nên câu thơ trúc trắc không vần”. Khác với xưa vút lên bằng tiếng than, vọng về với nỗi trăn trở thì hôm nay chị đã hỏi người, hỏi mình thông qua hình ảnh lạ mà quen của ca dao xưa để khẳng định khát vọng mãnh liệt của mình:
                        “Người đàn bà mặc chiếc áo của mình
                       Sau lần áo là một mùa hạ cháy
                       Mùa đông về ôi lạnh lùng biết mấy
                       Chiếc áo choàng có đủ ấm không em?”.
                                  (Người đàn bà mặc chiếc áo choàng)
          

Lời phân thân từ chiếc áo tình tứ của ca dao hóa thành lời tự thú chân thành của con tim, mà con tim có biên giới vô biên của nó! Và cứ thế, nhà thơ Trương Lan Anh đã đến giữa cõi đời, cõi người bày tỏ trái tim chân thành và xúc động, chị đã vẽ trái tim mình xuyên qua câu chữ của lời thơ. Chị đã dám sống, dám yêu, dũng cảm đem những ngõ ngách tâm hồn mình vào một cuộc chơi không đơn giản: chơi với trái tim mình – chơi với nàng thơ; đúng như Hegel từng viết: “Thơ bắt đầu từ cái ngày mà con người cảm thấy cần bộc lộ mình”.   


Tự bàn tay gieo hạt, tự bàn tay lấy nước; người con gái Sông La đã đến đã về với dòng Ô Lâu- dòng Thạch Hãn để hai vùng đất khép chặt ân tình vẽ nên trái tim với bao nồng ấm, yêu thương và nghĩa tình trong thơ chị.Hai vùng đất bồi tụ nên phong cách vừa sâu thẳm, vừa dịu dàng ngọt mát như những dòng sông. Người đàn bà mặc chiếc áo choàng đã đến và gieo lại những mùa vàng cho thơ để cả tình yêu, hồn quê, hồn người sống dậy trong trang thơ của chị.Mỗi dòng thơ là hành trình đi tìm khuôn mặt cuộc đời và tái tạo cuộc đời bao chiều lên trang thơ hai mặt,người đọc cũng thầm chúc cho chị gặt hái những mùa thơ từ trái tim với bộn bề nỗi đời thao thức.                                                                                                                                                                                                                                   Nguyễn Văn Quốc

READ MORE - CHÂN DUNG “NGƯỜI ĐÀN BÀ MẶC CHIẾC ÁO CHOÀNG” - Nguyễn Văn Quốc đọc thơ Trương Lan Anh

Trương Nguyễn - VỀ CUỐI CHÂN MÂY



 Tranh của họa sĩ Ái Lan


Mỗi buổi sớm mai
Người thiếu nữ nhặt chiếc lá khô
Nhẫm tháng năm đợi chờ
Cây “sake” trong vườn tươi trẻ

Người tình đi xa đến thế
Lẫn vào đạn bom hơn phần tư thế kỷ
Những phong thư mang nhiều địa chỉ
Bước chân anh mòn khắp núi sông

Chị ngồi đây mắt dõi cánh đồng
Thân cò lẻ bạn
Bay thẩn thờ vào trong mây trắng
Mỗi năm thêm nỗi muộn phiền

Cây trong vườn
Ngày lại già thêm
Tiếng vạc khuya kêu lời ai oán
Mái tóc lờn vờn khói xám
Lời hứa buồn
                        “khi hết chiến tranh”

Bây giờ tới bến mong manh
Cây “sake” cỗi cằn đi
Ba mươi năm rồi còn gì?
Người vẫn xa xăm

Chị lần tìm khắp những nghĩa trang
Ngắm từng bia mộ
Mắt đục mờ - chiếc gương đã vỡ
Tím  lạnh hồn về cuối chân mây .

truongnguyen49@yahoo.com.vn
READ MORE - Trương Nguyễn - VỀ CUỐI CHÂN MÂY

Tuesday, March 20, 2012

Phạm Ngọc Thái - ANH VẪN Ở BÊN HỒ TÂY


Tình để lại vết thương không lành được
Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan...

Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt
Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết
Tình thơ ngây! Tình sao mãi thơ ngây!

Nhớ buổi đón em cổng trường sư phạm
Đôi mắt từ xa đã nhận ra người...
Tình yêu có cái nhìn trong linh cảm
Giờ ở đâu, người con gái xa xôi?

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại
Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió hồ Tây đang thổi
Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi...
 

                                                                             Đêm 2012
                                                                    Phạm Ngọc Thái
 thai_quanthanh@ymail.com
READ MORE - Phạm Ngọc Thái - ANH VẪN Ở BÊN HỒ TÂY

BÀI GIẢ BIỆT - Hùng Vĩnh Phước


Như ngọn đèn hắt bóng xuống âm u
Anh hắt đời anh vào nỗi đời phi lý
Ngọn đèn cháy theo buồn phiền âm ỉ
Anh cháy theo từng cơn đam mê.

Nhớ những lần đưa em về trong đêm
Đêm yên tĩnh mà lòng xôn xao quá
Đời thân quen sao chỉ mình anh lạ
Em ngọt ngào sao anh đắng trong tim.

Hầu như đi với nhau lần nào trời cũng mưa
Lòng em có mưa không mà lòng anh tầm tã vậy
Buồn vương trong mắt ai mà ai đâu có thấy
Đưa em về mưa xuống trắng hồn anh.

Khi xa em lại cứ muốn gặp em
Ngày tháng đắng trong tình yêu mật ngọt
Chúng mình gặp nhau sao quá nhiều chua xót
Chuyến xe đời không chở nổi đời nhau!

Sao bên nhau mà xa đến nghìn trùng?
Mắt chợt ướt qua nụ cười tiễn biệt
Thôi để mình anh - chỉ một mình anh biết
Một mình anh thầm lặng giữa lòng em.



Hùng Vĩnh Phước
Cà Mâu 1987
hungfami@yahoo.com

READ MORE - BÀI GIẢ BIỆT - Hùng Vĩnh Phước

Monday, March 19, 2012

CHÙM THƠ ĐƯỜNG NHÂN NGÀY LỄ TÌNH YÊU - Sông Thu, Võ Làng Trâm, Văn Thanh, Thu Vân, Như Thiền


Cáo lỗi: Chùm thơ Đường nhân ngày Tình Yêu do anh Lê Sông Thu gởi đến đã bị lạc vào hộp Spam  đến nay tình cờ mới tìm thấy. Xin anh Lê Sông Thu và các bạn thứ lỗi.

HÃY SỐNG VÀ YÊU            
         (Nhân ngày Tình Yêu 2012)

Hãy sống và yêu,các bạn ơi
Ngày xuân ngắn ngủi sắp qua rồi!
Bao lâu còn được,thì vui hưởng
Đến lúc lực tàn,mới phải xuôi!
Tràn ngập mến thương,lòng rộng mở
Xả buông hờn giận,dạ luôn tươi.
Tình nhân đâu chỉ khi son trẻ
Hạnh phúc dành cho khắp mọi người.
                                          Sông Thu

Bài họa

            MÃI NHỚ

Hỡi chàng thi hữu mến thương ơi
Nhắc nhở làm chi biết quá rồi !
Khuynh quốc nghiêng thành bao đứa bám
Dung tàn nhan nhạt mấy ai xuôi ?
Vô duyên đeo mãi thêm đời héo
Có nợ cam đành vẫn sống tươi
Tình nghĩa một thời bao luyến ái
Làm sao giữ trọn đạo làm người  . . .
                                   Võ Làng Trâm


LỜI CUỐI CHO TÌNH YÊU
                     
Tình yêu cuộc sống hỡi tình ơi?
Ảo ảnh phù du héo hắt rồi
Lá thắm chồi xanh thay nếp mới
Cành khô, hoa úa rụng buông xuôi
Thương cho, phận bạc lòng hiu quạnh
Đau xót, hồng nhan mặt kém tươi
Chẳng oán buồn than ai đàm tiếu
Chê bai gièm xiểm thị phi người...
                                        Thu Vân

NGÀY TÌNH NHÂN

Tình yêu liều lỉnh lắm ai ơi
Dẫu biết yêu nhau chết tí rồi
Mấy kẻ si tình mà tránh khỏi
Bao người dang dở phải đành xuôi
Hẩm hiu số phận gan dù héo
Trắc trở tình duyên dạ cố tươi
Trần thế cuộc vui đâu mấy chốc
Tình Nhân ngày đẹp của bao người
                                     Văn Thanh 

CA NGỢI TÌNH YÊU

Tin ở tình yêu,bạn quí ơi,
Dẫu thời thơ mộng đã xa rồi.
Xưa còn sức trẻ,mê say đắm
Nay lúc tuổi già, chớ bỏ xuôi!
Ngày tháng bên nhau,lòng rộn rã
Phút giây xa bậu,dạ không tươi.
Sắt son,chung thủy,đời luôn đẹp
Hạnh phúc thăng hoa tại cõi người.
                                      Như Thiền

READ MORE - CHÙM THƠ ĐƯỜNG NHÂN NGÀY LỄ TÌNH YÊU - Sông Thu, Võ Làng Trâm, Văn Thanh, Thu Vân, Như Thiền

MỘT PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT - Nguyễn Thanh Xuân


Truyện kiều có ba vụ án. Vụ thứ nhất: Vương Ông bị vu oan phải chịu tội. Vụ thứ hai: Thúc Ông kiện con trai và Kiều. Vụ thứ ba: Kiều xử Hoạn Thư trong cuộc báo ân, báo oán.

Vụ thứ nhất được xử êm thấm bằng ba trăm lạng. Sau này cụ Tam Nguyên Yên Đổ hạ một câu thế sự: “Có tiền việc ấy mà xong nhỉ/ Ngày trước làm quan cũng thế a?”. Cụ Nguyễn Tiên Điền và cụ Nguyên Yên Đổ nhắc lớp sau này đừng xử kiểu như thế nữa. Vụ thứ ba, Kiều xử Hoạn Thư. Giữa họ có nhiều ân oán. Ân ít, oán nhiều, nhưng cái tâm, cái đức của con gái nhà “thường thường bậc trung” lại lớn hơn cái tâm, cái đức của con gái quan Thượng thư Bộ Lại nên Hoạn Thư được tha bổng. Vụ án thứ hai quả là một vụ xử án đặc biệt ly kỳ, đặc biệt kịch tính, tôi xin đề cập vụ án thứ hai.

Cụ Nguyễn ơi! Lời đầu tiên xin chúc mừng Cụ là Cụ đã có được ông quan tài ba, lỗi lạc. Tình cũng đậm mà tâm cũng dày.

Ta thử xem diễn biến của phiên tòa. Một quan tòa chính trực oai nghiêm, mặt sắt đen sì (thiết diện) ngồi ghế chánh án. Ông ngồi ngay ngắn, chỉnh tề. Hai bên nha lại sẵn sàng đợi lệnh. Quan liếc nhìn bị cáo đi vào, họ đi song song, dáng đi uyển chuyển, thong thả gắn bó nhau, tự tin không chút sợ hãi đến trước sân quỳ lạy. Họ không cúi đầu gầm mặt mà bình thản ngẩng nhìn quan tòa. Quan nhìn rõ bị cáo và như bị thôi miên, quan lúng túng muốn nói một câu gì đó nhưng không cất nên lời. Người mà ta sắp xử họ là thế này ư? Ông nghĩ. Để giữ lại vi thế cân bằng, quan liền “Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời”. “Lập nghiêm trước đã” cũng cho ta hiểu, sau đó sẽ bớt nghiêm, hoặc không cần nghiêm nữa, “ra uy nặng lời” trước đã, sau đó có thể không cần “uy”“nặng lời” nữa.

Xưa nay, công đường vốn là nghiêm và uy, sao hôm nay quan tòa phải “lập nghiêm”“ra uy”? Phải chăng bị cáo đã hớp hồn ông? Nếu không lập được nghiêm, ông sẽ không ngồi nổi trên ghế chánh án. Nặng lời với bị cáo (Kiều) “Mà còn người thế”. “Uy nặng lời” mà nghe như tiếng thương tâm, tiếc nuối, đau xót cho con người hồng nhan bạc mệnh. Chỉ bốn tiếng “mà con người thế” cũng đủ cho ta thấy con mắt tinh đời của vị quan tòa. Tuy mới gặp lần đầu và thời gian ngắn ngủi, ông đã thấy ở họ giá trị đích thực của tình yêu nên đã dành cho họ những nhận xét sâu sắc và ân tình. Thúc Sinh yêu Kiều là thế, sống hết mình và đậm tình với Kiều là thế, mà khi đứng trước linh sàng bài vị thờ Kiều cũng chỉ gào lên “con người thế ấy, thác oan thế này”, phải chăng đó cũng là lời tiếc thương của quan tòa hôm xử án.

Ông quan tòa tài ba này chỉ cần suy và luận để đưa ra hình phạt mà không cần cao giọng căn cứ điều này, khoản nọ, mục kia. Ông thấy bên nguyên đang ở trong tình trạng khó xử “bề nào thì cũng chưa yên bề nào”, nghĩa là bắt chúng cắt đứt quan hệ cũng chưa dứt khoát, mà cho chúng lấy nhau cũng chưa hẳn. Ông lại luận về phép công (phép chứ không pháp – pháp luật), rồi tuyên bố có hai cách giải quyết. Ông khẳng định hai chứ không một cũng không ba.

Ơ! Lạ lùng chưa: quan tòa lại giao cho bị cáo chọn một trong hai hình phạt một cách thoải mái và tin cậy “muốn sao mặc mình”. Sao quan tòa lại gọi bị cáo là “mình”? Thân thiết đến mức ấy ư? Đến đây, ta thấy ông không “nghiêm” nữa rồi. Phải chăng, quan tòa mơ hồ muốn dính một tý gì đó với giai nhân? Giữa công đường ban ngày ban mặt mà bạo gan riêng tư đến vậy, quả là: “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”

Mình” chọn rồi “ta” nghe theo thôi. Ông quay lại dạy cho sai nha thi hành. Dạy chứ không phải lệnh. Sai nha hiểu ý quan, ngầm bảo: nhẹ tay thôi. Ta thấy ông ngẩn ngơ: Rồi ta sẽ cho họ sum vầy bằng cách nào đây nếu Thúc Ông không đồng ý? Giá như ta có điều xử thứ ba là cho ai đó lấy Kiều làm vợ mà không ai kiện tụng. Không, không thể được, vì họ yêu nhau đến thế kia mà! Đầu óc ông rối bời, trống rỗng không thấy gì, nhớ gì. Giữa cái ồn ào huyên náo của pháp đình, văng vẳng bên tai ông (hay chính lòng ông) tiếng kêu oan cho bị cáo. Ông bình tĩnh gạn hỏi kỹ càng. Ông cho dừng hình phạt và bỗng nghe tiếng ông cười. Quan tòa cười. Tiếng cười nhẹ nhàng, sảng khoái làm cho không khí pháp đình trong trẻo, sáng sủa như sau cơn bão. Sau đó, pháp đình trở thành nơi bình thơ xướng họa. Quan tòa và bị cáo như đôi tri kỷ. Ông nâng thi phẩm Kiều sánh vai cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ (đời Đường). Có lẽ ông muốn chứng tỏ cho Thúc Ông tự hào có người con dâu tài sắc vẹn toàn, làm cứu cánh cho ông mở đường lay chuyển nguyên cáo thay đổi mà cho chúng kết nghĩa Châu Trần.

Tâm lý ông vừa được giải tỏa, nhân lúc vui vẻ, ông lựa lời vừa tình vừa lý, vừa sử dụng kiến thức âm nhạc sành điệu để phân bua, dàn hòa và cả áp đặt:

Thôi đừng rước dữ cưu hờn
Làm chi lỡ nhịp cho đờn ngang cung
Đã đưa đến trước cửa công
Ngoài thì là lẽ song trong là tình
Dâu con trong đạo gia đình
Thôi thì dẹp nổi bất bình là xong”

Rồi không đợi Thúc Ông có phản ứng, ông quyết định một việc “động trời” là xuất công quỹ làm lễ vu quy cho Kiều thật quý phái:
Kíp truyền sắm sửa lễ công
Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao
Bày hàng cổ xúy xôn xao
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi”

Thật to gan! (1) và thi đàn sôi nổi được chuyển làm hôn trường ấm áp tình thương.

Vừa nể lời quan phủ có lý, có tình, vừa thương vì hạnh, trọng vì tài mà Thúc Ông quên phéng đi uy quyền của quan Lại Bộ Thượng thư – thông gia của ông, để cho:

Huệ lan sực nức một nhà
Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa”

Cụ Nguyễn ơi! Cụ viết hai câu cuối này lúc mấy giờ đêm? Chắc đã quá canh ba và Cụ không ngủ nữa!


Tôi muốn nói về chữ “mình” mà quan tòa xưng hô với bị cáo. Tuy chưa đọc nguyên tác bằng chữ Hán của Thanh Tâm tài nhân, nhưng chắc chắc tác giả dùng chữ (nỉ – tiếng Trung Quốc; nhĩ – tiếng Việt) để chỉ ngôi thứ hai. Quan tòa ngôi thứ nhất, bị cáo ngôi thứ hai. Dịch giả dịch ra vị thư như thế nào tùy thuộc thái độ của tác giả với nhân vật. ở trường hợp này, bị cáo là phái yếu. Nếu giận thì gọi là “mày”, lịch sự một chút thì gọi là “bà”, thương cảm với cô gái trẻ trung thì gọi là “nàng”, nhưng ở đây, Cụ cho quan tòa gọi Kiều là “mình”. “Mình” đã hóa thân thành “ta”. Ngôi thứ hai biến vào ngôi thứ nhất. Xin chịu Cụ!

Tôi có đại ngôn không khi cho rằng vụ án này có một không hai trên thế giới từ xưa đến nay? Thật vậy, ông quan tòa độc diễn vụ án, tôi tin trăm phần trăm không ăn hối lộ bên nguyên cũng như bên bị và cũng hết sức công tâm. Thế mà ông cho ta đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Bên nguyên, bên bị đều hân hoan, phấn khởi. Ông quan tòa có lúc đa tình, những đã nhanh chóng nhường chỗ cho tình yêu chân thật. Một bị cáo đáng thương trở thành một cô dâu sáng giá.

Nguyễn Thanh Xuân
nhuxuan29@gmail.com
READ MORE - MỘT PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT - Nguyễn Thanh Xuân