Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, May 15, 2024

ĐIÊU KHẮC CÔN TRÙNG BẰNG TRE - Nguyễn Khắc Phước

 


 

ĐIÊU KHẮC CÔN TRÙNG BẰNG TRE

 

“Cây tre là bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam” là câu đầu của bài “Cây tre Việt Nam” trong sách giáo khoa môn Ngữ văn lớp 6.

 

Về nghệ thuật, các nghệ nhân Việt Nam sáng tác nhiều tác phẩm hết sức công phu và xinh đẹp bằng tre. Chẳng hạn như ông Huỳnh Phương Đỏ ở Hội An đã điêu khắc nhiều tác phẩm độc đáo như tượng Phúc, Lộc, Thọ, Quan Âm Bồ Tát… bằng gốc tre; họa sĩ Phan Hải Bằng ở Huế đã chế tác tre thành một loại giấy gọi là Trúc Chỉ được dùng để tạo nhiều tranh và sản phẩm mỹ nghệ có tính dân tộc.

 

Không chỉ người Việt mà người Nhật cũng dùng tre để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật. Nghệ sĩ Nhật Bản Noriyuki Saitoh đã điêu khắc những côn trùng bằng tre vô cùng chi tiết đến nỗi trông như thật.

 


Côn trùng thường là những sinh vật nhỏ nhưng chúng  chiếm 80% các loài sinh vật trên trái đất. Chúng là loài sinh vật đa dạng nhất vì có khoảng 900 loài khác nhau.

 

Có những nhiếp ảnh gia chỉ chuyên chụp cận cảnh loài côn trùng bởi khi nhìn thật gần mới thấy Đấng Sáng Tạo là nhà điêu khắc tài ba vĩ đại nhất bởi Ngài đã thiết kế thân thể côn trùng rất phức tạp, tinh vi với mỗi loài một kiểu dáng kỳ quái khác nhau phù hợp môi trường sống và món ăn mà chúng ưa thích.

 

Saitoh nắm bắt được sự đa dạng của các loài côn trùng và chọn tre làm chất liệu để thể hiện. Tre có sợi rất dẻo dai và bền chắc nên có thể được uốn thật cong  mà không bị gãy. Chính phẩm chất này làm cho nó trở thành vật liệu hoàn hảo để tạo ra những hình thù  phức tạp và rùng rợn với nhiều hình dạng và kết cấu hoàn toàn khác nhau. Saitoh thể hiện đúng đặc điểm của từng loài, từ chuồn chuồn và bướm đến bọ cánh cứng và nhện, theo tỷ lệ 1: 1, có nghĩa là bằng như thật về độ lớn.

 

Những chiếc râu, ngực và chân  được điêu khắc tỉ mỉ, tinh tế bằng tre, thể hiện sự kiên nhẫn và con mắt tinh tường của Saitoh. Đối với côn trùng có cánh, người nghệ sĩ đầu tiên tạo ra những khung hình phức tạp giống như bộ xương tre, sau đó thêm giấy thủ công mờ lên trên. Kết quả trông giống như những cánh côn trùng thực sự lung linh trong ánh sáng, trông như thể chúng có thể chạy tán loạn hoặc bay đi.

 

Mặc dù mỗi con côn trùng tre trông vô cùng giống thật, nhưng Saitoh nhấn mạnh rằng anh không có mục đích tạo ra các bản sao chính xác của các chủ thể nhỏ bé ấy. Nhà điêu khắc cho biết anh không làm mẫu vật mà ưu tiên những phần thân thể và đặc điểm ngoại hình nào gây ấn tượng và cảm giác  hơn là đo lường nghiêm ngặt các kích thước và tạo ra tỷ lệ một cách chính xác. Thay vào đó, Saitoh cho phép, bằng tưởng tượng, mắt người xem có thể lấp đầy những khoảng trống mà các chi tiết có thể bị thiếu.

 

Cũng có thể Saitoh còn là một nhà nhiếp ảnh côn trùng cận cảnh bởi anh không thể bắt và giết chết côn trùng để chúng nằm yên mà ngắm bằng mắt thường mà phải phóng to mới thấy hết chi tiết của các bộ phận.

 

Nguồn ảnh:

mymodernmet.com









 

READ MORE - ĐIÊU KHẮC CÔN TRÙNG BẰNG TRE - Nguyễn Khắc Phước

ĐƯỜNG CHIỀU – Thơ Lê Văn Trung



 
 
ĐƯỜNG CHIỀU
 
Anh hối hả chạy theo chiều, hối hả
Con đường chiều hun hút bóng chiều xa
Ôi lòng anh giọt nắng tàn mỏi rã
Tan theo chiều thăm thẳm cõi người ta
 
Ngày đã cạn trôi về bên kia núi
Đám tang mặt trời không ai tiễn đưa
Anh bất lực trong một niềm thống hối
Ôi Trần gian đã sương khói xa mờ
 
Anh hối hả chạy theo chiều, hối hả
Mây trên đầu và gió thổi lên cao
Ôi hồn anh là một viền mây nhỏ
Sẽ tan dần trong bóng xế hanh hao
 
Ngày đã cạn mùa thơ xanh đã cạn
Nguồn vô biên đang réo gọi nhau về
Anh chạy đuổi theo đường chiều bất tận
Ôi trọn đời chưa dứt một cơn mê.
 
Lê Văn Trung
15. 05. 24 

READ MORE - ĐƯỜNG CHIỀU – Thơ Lê Văn Trung

VÔ LÝ, VÔ B – Thơ Chu Vương Miện




 
VÔ LÝ
 
Người giầu sụ
Tiền bạc vàng vòng
hột xoàn kim cương
Để đầy két sắt
Đầy nhà băng
Đầy ghệ
Khi không lăn đùng bổ ngửa ra mà thác
 
Thằng không nắm đất cắm dùi
Thơ văn vẽ lảm nhảm
Thường ngày cạp đất
Ngủ chợ ngủ đường
Đói lên đói xuống
Nỏ chết
Còn sót lại một cái xác
 
Nói có bài có bản
Có diễn văn diễn võ đàng hoàng
Không có ma nào nghe
Thua thằng nói phét
Cục vàng có khi vứt đi
Lúa hoa cần cục cứt
Bọn văn nghệ có khi không dùng làm gì?
Vô tích sự
Nhà giam nhà tù
Trống trơn
Đang chờ
đang mở cửa
 
 
VÔ. B
 
Nói là vàng giả
Im lặng là bạc
Câm là vàng 10
Cấm khẩu tắc họng là vàng thoi “khối”
Ba bốn cái chuyện lăng nhăng
Lít nhít
Lãng phí thời gian câu giờ
Chấm dứt
Tinh nghĩa mồm
Bằng hữu thân hữu miệng
Đoạn tuyệt
Thơ vdăng viết chùa viết miểu
Bẻ bút qui đăng
Không thương không tiếc
Lão văn nghệ bị trosk
Không ai hay
Không ai biết
Hoạ hoằn nếu biết
Tảng lờ như không biết
Lão chết chưa chết
Vẫn sống nhăn “răng”
Khi gậy khi xe lăn
Mình quên thiên hạ
thiên hạ quên mình
dăm bài viết gió thoảng qua mành
ở blog ở web
chỉ mình đọc
không có người thứ hai
người thứ ba chưa đẻ
vĩ & danh nhân thời cựu
cũng bị thiên hạ dùng xe cần cẩu
cột xích vào tượng mà kéo sập
quăng xuống đất
con chó vừa nhai cơm
vừa xơi cứt
con người khá hơn
lúc là người lúc là thú vật
 
Chu Vương Miện
 
READ MORE - VÔ LÝ, VÔ B – Thơ Chu Vương Miện

Monday, May 13, 2024

BÀI CA MÙA HẠ - Thơ Tịnh Bình


  
 

BÀI CA MÙA HẠ
 
Nấp trong vòm phượng
Chín đỏ ngọt ngào
Nhạc ve mùa hạ
Bổng trầm vút cao
 
Trống trường rộn rã
Giờ ra chơi nào
Ve còn chăm học
Ôn bài đồng dao
 
Rơi chùm hoa nắng
Trang vở học trò
Bướm hồng sắc phượng
Hòa cùng khúc ve
 
Bao mùa phượng nở
Bao lần hạ xa
Bài ca mùa hạ
Vang trời thiết tha
 
Tôi về tìm lại
Miên man trưa hè
Trống trường im tiếng
Chỉ còn lời ve...
 
Tịnh Bình
(Tây Ninh)

READ MORE - BÀI CA MÙA HẠ - Thơ Tịnh Bình

TRÁCH NHAU – Thơ Lê Kim Thượng


  


Trách Nhau 1 - 2
 
1.
Em sang… mang chút nắng vàng
Em sang, mang chút điệu đàng áo tơ
Nắng mai lắng đọng mắt mơ
Cuộc tình thơ trẻ nhiều chờ, lắm mong…
Em sang… sương sớm đò đông
Hàng cây đứng đợi, cánh đồng lặng im
Trầu cau tôi mãi đi tìm
Vườn yêu xanh lá, tiếng chim chuyền cành…
Thèm nghe giọng nói Yến Oanh
Êm như gió thoảng, ngọt lành, liêu trai
Ngả đầu tựa ngủ bờ vai
Vòng tay nồng ấm cho dài lả lơi
Cho tôi con mắt giếng khơi
Cho tôi nguyên nụ hoa môi dịu dàng
Khép đôi mắt biếc nằm ngang
Cho tình tôi đậu xuống hàng mi hoa
Em về… mưa bỗng khóc òa
Ướt hoàng hôn, ướt đường xa… một mình
Em – Anh… chung một gánh tình
Nghiêng vai rơi xuống, chúng mình… lạc nhau…
 
2.
“Không mà… em chẳng khóc đâu…”
Mắt em đọng giọt mưa Ngâu trái mùa
Người xa… sông vắng đò đưa
Lối trăng lẻ bóng, mùa mưa thất tình
Em giờ vất vả mưu sinh
Nuôi con đời thực… nuôi mình đời say…
Ai ngờ giây phút chia tay
Bao nhiêu nhung nhớ đong đầy tiễn đưa
Nối ngày nay với “Ngày xưa…”
Nối chia xa với ngày chưa lỡ làng
Em đi, tình đã sang trang
Em đi, còn nhớ đò ngang sông bồi
Bao năm vật đổi, sao dời
“Chúc em hạnh phúc một đời với ai…”
Lời thề còn đó chưa phai
Trái tim còn đó, cho dài đơn côi
Trách nhau thì cũng vậy thôi
Làm sao níu lại một thời đã qua
Hình như là… Có phải là... ?
Người tôi yêu… thích người ta mất rồi?…
       
                   Nha Trang, tháng 05. 2024
                            Lê Kim Thượng

READ MORE - TRÁCH NHAU – Thơ Lê Kim Thượng

ALBUM XUỐNG ĐÒ NGƯỜI DƯNG, NHỮNG CA KHÚC PHỔ THƠ NHÃ MY

 
Nhà thơ Nhã My


             

READ MORE - ALBUM XUỐNG ĐÒ NGƯỜI DƯNG, NHỮNG CA KHÚC PHỔ THƠ NHÃ MY

TA VỀ NHẶT LÁ VƯƠNG TRÊN TÓC / GỬI NÀNG BÁN THƠ - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Ta Về Nhặt Lá Vương Trên Tóc

 

Ta làm thơ, chẳng là thi sĩ,

Thiếu những dòng lãng mạn, tài hoa

Em chưa phải là người tri kỷ

Đã dành lòng đọc áng thơ ta

 

Trăng kia sáng dế mèn rỉ rả

Hoa nọ thơm xuân nắng ngọt ngào

Gió rung cây say màu sắc lá

Ta sầu tư bởi mắt hoa đào

 

Những Hoàng thị, Mộng Cầm một thuở

Rất xa xăm cứ tưởng thật gần

Bâng khuâng đọc từng dòng thơ cũ

Bên nhà thơ có bóng giai nhân

 

Em sẽ chờ ta nơi gốc liễu

Khi mùa thu tới lá vàng bay?

Ta về nhặt lá vương trên tóc,

Và ngắm nụ cười đá cũng say.

.

Gửi Nàng Bán Thơ

 

Nàng bảo rằng: Em sẽ gánh thơ

Của chàng đi bán cõi trời mơ

Ôi chao! Nếu được làm thi sĩ

Tôi viết ngàn câu để hẹn hò

 

Nàng sẽ không là cô hái mơ

Của chàng Nguyễn Bính rất thờ ơ

Bỏ đi không đáp lời thi sĩ

Để lá mơ rơi mãi đến giờ

 

Tôi ước thi tài như như Nguyễn Du

Viết nên giai phẩm thật là thơ

Cho nàng gánh bán ngàn sau nữa

Câu chuyện hoang đường của mộng mơ.

 .

Những Mỹ Nhân Facebook

Em, người ảo hay là người thật

Sao dung nhan kiều mị mặn mà?

Ta, một kẻ đầu trần chân đất

Cũng vô tình được ngắm Hằng Nga

 

Chẳng cần biết hình em photoshop

Hay dung nhan chỉnh sửa ngàn lần

Chỉ cảm giác trái tim tăng nhịp đập,

Và... như vừa uống hớp rượu ngàn năm

 

Em, đang ở nơi nào trên quả đất,

Nơi đồng quê hay ngõ phố bình thường?

Chẳng phải minh tinh, không là người mẫu,

Luôn yêu đời một nắng hai sương

 

Ta vinh dự được làm quen người đẹp

Kết bạn thân qua mạng ảo, tuổi tên hờ

Chưa gặp mặt mà dường say ma thuật

Suốt đêm ngày vò võ một vần thơ.

 

tranducpho

ducphot946@gmail.com

READ MORE - TA VỀ NHẶT LÁ VƯƠNG TRÊN TÓC / GỬI NÀNG BÁN THƠ - Thơ Trần Đức Phổ

NHỮNG NGÔI VƯỜN - Khê Giang

 

Nhà văn Khê Giang

 

NHỮNG NGÔI VƯỜN

 Khê Giang

 

1. Như định mệnh run rủi, gần cả cuộc đời ba tôi luôn quanh quẩn, nặng nợ với những ngôi vườn. Từ tuổi ấu thơ, tôi đã được tắm mát, vui đùa dưới những tàn lá xanh um, được bẻ hái những chùm cây chín mọng. Như chú ong cần mẫn, ba tôi luôn sắp đặt, bồi đắp khu vườn bằng một niềm đam mê kỳ lạ, ngoài việc vun xới chăm sóc, ông còn thổi hồn vào từng  gốc cây từng lối đi với sự phối trí đơn giản nhưng hết sức ấn tượng. Vườn nhà tôi day mặt ra dòng Ô Khê hiền hòa rợp bóng, con sông hình như cũng nặng lòng với khung cảnh cảnh điền viên, nên ngày ngày vẫn vuốt ve, níu kéo khu vườn bằng những con gió lao xao, mát rượi. Từ sáng sớm, khi mặt trời chưa kịp ló đầu bên kia triền sông, ngôi vườn đã tràn ngập tiếng chim, lũ chim Sẻ chiếm hữu các cây Cau, một tán cây có khoảng mười gia đình trú ngụ, chúng tàm tổ trên các bẹ lá, có lẽ do nhà cửa gần kề, dễ bị nhòm ngó, nên chúng cải nhau suốt ngày. Trên ngọn khế Giành là nơi làm tổ thường xuyên của đôi chim Chào mào, tiếng hót của chúng nghe trong trẻo, yên bình, man mác vị thơm của mùa trái chín. Trong hốc cây Duối sau vườn là ngôi nhà của cặp chìa vôi (Chích chòe than) bản hòa ca của chúng mỗi buổi sáng nghe lảnh lót ngọt lịm như tiếng suối trong vắt giữa núi rừng. Ồn ào náo nhiệt nhất vẫn là lũ chim Rôộc ( Dồng dộc). Chúng làm tổ trên bụi tre cao nhất trong vườn. Ngoài việc lắm mồm, có lẽ loại chim này là loại giữ quán quân trong việc xây tổ. Gần cả trăm ngôi nhà treo, được chúng kỳ công xây dựng, lủng lẳng bám trên ngọn tre, sớm chiều đu đưa theo gió. Chót vót trên những đọt măng Vòi (tre non) là nơi độc tấu của mấy chú Chàng Làng, chúng bắt chước hầu như tất cả những giọng hót hay của các loài chim, thậm chí lúc cao hứng chúng giả luôn giọng của các loài gia súc hay tiếng khóc trẻ con... nghe là lạ.

Cạnh bờ ao sau lưng vườn, dưới những gốc tre già là nơi lũ Cuốc hay lần mò, trà trộn vào đàn gà nhà để kiếm ăn, chỉ nhác thấy bóng người là chúng lủi ngay vào bụi.. lũ Cuốc chẳng bao giờ cất nổi một tiếng hót, nhưng tiếng kêu của nó vào những đêm thanh vắng nghe thật não ruột.

Rồi một mùa hè không giống như những mùa hè êm ả khác, tiếng súng, dồn dập vọng về. Khi hơi thở chiến tranh đã lượn lờ bên kia sông, lũ chúng tôi cùng gia đình gồng gánh hớt hải hòa vào đoàn người di tản, bỏ lại ngôi vườn với những hàng cây đứng run bần bật sau mỗi tiếng bom.

Sau hai năm tản cư trở về, chúng tôi bàng hoàng đứng trước ngôi vườn hoang phế, khu vườn thân thương nơi cất giữ những kỷ niệm êm đềm tuổi ấu thơ của chị em tôi đã biến thành bình địa. Những cây cau đổ gục úp mặt nằm sóng soài trên đất, những cây ổi bậc gốc, da thịt cháy xém, loang lỗ...những thân tre ngã rạp, cành víu vào nhau dùng dằng che khuất lối đi. Khu vườn im ắng, oi nồng, không một tiếng chim. Một hố bom sâu hoắm, nằm cạnh góc vườn đã xô chôn vùi toàn bộ ngôi nhà cổ, tổ ấm thân thương mấy đời của gia đình tôi.

 Ngậm ngùi đứng nhìn ngôi vườn hoang lạnh, đổ nát, mắt ba tôi đỏ hoe, ông như muốn khụy xuống trên khu vườn cổ nơi tuổi thơ ông đã chăm chút vun trồng. Rời khu vườn tang tóc, ông lên khu chợ cạnh Quốc lộ 1 dựng một căn nhà, mở quán cho mẹ tôi buôn bán. Trong hơi thở tất bật của phố xá, tôi nghĩ ba tôi cũng sẽ nguôi ngoai về khu vườn..

 

2.  Nhưng chưa đầy một năm, kể từ ngày rời khu vườn cổ, ông lại một mình mò mẩm trở về với nó, vậy là một mình một bóng, ông gầy dựng lại từ đầu. Ngày đi làm Hợp tác, chiều về ông tranh thủ dọn lại khu đất loang lổ, nhặt nhụm đôi chút thời gian rảnh rỗi, ông tìm đến những ngôi làng ít bị ảnh hưởng của chiến tranh để xin cây con về trồng. Thấy ba kham khổ, mẹ tôi điều chị Hai tôi về vườn để hỗ trợ cho ông công việc nội trợ, nhưng có lẽ không quen cảnh ruộng vườn, nên chị tôi đã im lặng rút lui. Mười hai tuổi có lẽ chưa hiểu gì nhiều về trách nhiệm, nhưng vì một phần thương ba, một phần đam mê ruộng vườn, cây cỏ… Tôi quyết định rời bỏ phố xá về ở với ba. Ngày qua tháng lại chẳng biết tự lúc nào tôi đã trở thành một nông dân thực thụ. Một buổi đi học, buổi còn lại tùy theo mùa vụ, tôi tháp tùng cùng ba làm vườn, ra đồng trồng khoai, cắt cỏ, bứt rạ, bẫy chim…rồi ra hói xuống sông cất vó, tát đìa… Tối đến lui cui xắt chuối, vằm rau nấu cám cho heo, khuya phải lật đật dậy sớm thổi lửa, nấu cơm để kịp bữa ăn sáng cho ba ra đồng.

 Việc chăm sóc ngôi vườn  thường diễn ra trong những chiều muộn hay giữa những đêm trăng sáng, hai cha con cặm cụi, tất bật, nhiều khi mê mải quên cả bữa ăn. Thế rồi, trời cũng không phụ người lam lũ, bằng sự sự nỗ lực của hai cha con, chỉ năm năm sau, khu vườn đã sum suê ngọt ngào cây trái. Những chùm cây trĩu quả,  ngọt lịm, những lối đi râm mát đã đẩy lùi hình ảnh hoang tàn, xơ xác mới hôm nào.

Ngôi vườn nhà tôi hiện ra như một ốc đảo xanh tươi, trù phú nằm thanh bình giữa thôn xóm vẫn còn loang lỗ những vết tích của chiến tranh. Hình như cảm nhận được cái không gian yên bình quen thuộc đang hồi sinh, nhiều loài chim đã mách bảo, rủ nhau về vườn trở lại. Niềm vui, sự đầm ấm trong gia đình cũng được nhân lên, các em tôi đã quyết định về ở hẳn với ba, thay vì chỉ về thăm vườn mỗi dịp hè như những năm trước. Ngôi nhà nhỏ lại đầy ắp tiếng cười và mỗi tối lại văng vẳng tiếng học bài ê a, của các em tôi.

  Nhưng niềm hạnh phúc trong ngôi vườn yên bình ấy cũng không được kéo dài. Số phận khu vườn đã được định đoạt sau số phận của chị tôi. Sống trong một vùng thuần nông, nhưng nhà tôi là một trong số ít ỏi những gia đình sống bằng nghề buôn bán, vì vậy từ nhỏ đến lớn chị tôi chưa tiếp xúc với việc đồng áng bao giờ, sau khi nghỉ học chị  đi học may và giúp mẹ tôi quán xuyến công việc kinh doanh. Mười tám tuổi chị đi lấy chồng, sau khi về làm dâu chừng được nửa năm, chị theo chồng vào Nam lập nghiệp.

Từ miền Nam xa xôi những thông tin buồn bã tới tấp đổ về. Chị tôi vào miền Nam bao nhiêu ngày là bấy nhiêu thời gian mẹ tôi thao thức trăn trở, lúc thở ngắn thở dài, lúc đầm đìa nước mắt. Cuối cùng không thể chịu nổi những tháng ngày phập phồng lo âu cho cuộc sống của đứa con bé bỏng trên đất khách quê người, mẹ quyết định đưa cả gia đình rời quê hương vào Nam sinh sống. Một quyết định được nhiều người cho là liều lĩnh. Tuy nhiên ngay thời điểm ấy và mãi về sau này tôi luôn cảm nhận đó là một quyết định hợp lý và kịp thời, vậy là tất cả anh em chúng tôi buộc phải nghỉ học để lên đường vào Nam.

 Những ngày chuẩn bị xa quê, tôi thấy ba bần thần im lặng, trong tâm trạng rối bời ngổn ngang ấy, ông vẫn ra vườn chăm sóc, sờ sẩm từng loại cây, những động tác ông làm có vẻ tẩn mẩn, chậm chạp hơn, tôi nhận ra việc ông ra vườn không phải là chăm sóc mà là sự vuốt ve bịn rịn, khi biết mình vĩnh viễn không bao giờ trở lại trên mảnh vườn yêu thương, gắn bó này nữa. Bao nhiêu năm dày công tạo dựng, vun đắp ngôi vườn từ một hình hài tàn phế trở thành một mái ấm tươi xanh, nên cái cảm giác xa rời nó làm ông đau đớn gấp nhiều lần so với khu vườn cũ bị tan hoang trong bom đạn. Điều đau đớn đó cũng dễ dàng lý giải: khu vườn cũ do chiến tranh đã bỏ ông, còn bây giờ khu vườn mới, chính ông đã đành lòng bỏ nó, bỏ cái núm ruột quê hương, nơi đã gần sáu trăm năm tổ tiên khai phá giữ gìn.

 

 3. Vẫn cái điệp khúc da diết ấy, đôi khi như một lập trình có sẵn, vừa đặt chân vào vùng đất phương Nam, sau khi mua một ngôi nhà tại chợ cho mẹ tôi buôn bán, ông lại dồn công sức cho việc làm vườn, khác với quê nhà là vùng chiêm trũng, nơi định cư mới là mãnh đất Ba zan màu mỡ, vừa trồng hoa màu ba tôi vừa thả cây lâu năm. Thật không thể tin được, tại đất khách quê người thiếu thốn trăm bề, chỉ một mình Ba chăm chút gầy dựng (lúc này tôi đi học xa) vậy mà cũng chỉ có bốn năm, ngôi vườn đã thành hình. Những cây Điều, cây Mít trĩu quả, hàng trăm bụi Dứa cho trái ngọt thơm, những choái Tiêu cũng đến tuổi cho hạt. Với diện tích lên đến nửa ha, ông dùng cây Mì rào hết chu vi khu vườn để thả gà, ba làm chuồng nuôi thỏ.. Do là vùng đất  Bazan quanh năm đỏ quạch vì bụi đất nên khó có thể so sánh với khu vườn xanh mướt ngày nào. Nhưng tôi luôn mừng thầm vì cuộc sống của gia đình đã phần nào ổn định, chị tôi đã được bảo bọc, nâng đỡ và đặc biệt là ba tôi  có chổ để khuây khỏa lúc tuổi già.

Nhưng niềm vui của ba như ngọn lửa mới vừa nhen nhúm lại bị dập tắt, khoảng thời gian này không hiểu vì lý do gì mẹ tôi không muốn cho ba tiếp tục làm vườn, cho rằng việc làm vườn không mang lại hiệu quả kinh nên mẹ quyết định kêu người để bán.

 Là người hiền lành ít nói, ba thường nhịn mẹ trong những lúc có chuyện quan trọng hay bất hòa. Không còn ai để cầu cứu chia sẻ, ba vịn vào tôi như một tia hy vọng cuối cùng. Trở về thăm nhà, tôi đã cố gắng thuyết phục, giải thích cho mẹ việc ba làm vườn ngoài kinh tế còn là niềm vui. Nhưng rồi, tia hy vọng cuối cùng ấy cũng dần đà lịm tắt, tôi không đủ sức để làm sứ giả hòa bình. Không thể cải thiện được tình hình, tôi buồn bã vác ba lô lên vai đón xe trở lại trường, leo lên chiếc xe than đầy khói bụi, tôi đau đớn ngoái nhìn ngôi vườn như đang giãy nảy giữa trưa hè oi bức và hình ảnh ba tôi hiện lên với nét mặt thất thần, buồn bã. 

 

 4. Phải đến hai năm sau kể từ ngày mẹ tôi bán đi khúc ruột thứ ba của ông, tôi  mới lóp ngóp ra trường.

Sau khi ổn định công tác.. tôi tranh thủ mở phòng khám tư ở nhà và lặng lẽ, gom góp nuôi nấng ước mơ của mình. Tôi còn nhớ như in cái ngày tôi báo với ba là tôi đã có đủ tiền để mua một mảnh đất cho ba làm vườn, ông vui mừng hớn hở như một thanh niên trai trẻ mới lần đầu lập nghiệp, đêm đó hình như ông thức trắng.

Vậy là tôi và ba tiếp tục gầy dựng lên ngôi vườn thứ tư. Để thỏa sức tung hoành, lần này khu đất mới mua có diện tích rộng gấp đôi khu vườn cũ, tôi hăm hở cùng ba đi mua cây giống về trồng. Tranh thủ những ngày nghỉ tôi lên vườn cùng đào lỗ, ươm cây cùng ba, tôi thấy ông như trẻ lại. Rút kinh nghiệm từ ngôi vườn trước, ba đầu tư những loại cây công nghiệp có giá trị thu nhập cao, còn cây ăn trái chỉ trồng xen canh vừa đủ ăn vặt. Chẳng bao lâu sau, khu vườn đã cho thành quả ngoài mong đợi. Từ tiền thu hoạch cây trái, ngoài việc trang trải cuộc sống, ông đã về quê xây lăng mộ cho ông bà, một ước nguyện đeo đẳng bao nhiêu năm kể từ ngày rời xa núm ruột quê hương. Từ một cái chòi tranh tạm bợ trong vườn, ba tôi đã xây được một ngôi nhà khang trang và đón mẹ tôi về ở, có lẽ đây là khoảnh khắc gần gũi đầm ấm nhất của đôi vợ chồng đã ngoài lục tuần.

Nhưng cái số phần nghiệt ngã lại bám riết lấy ông, đang vào thời điểm an nhàn và đầm ấm nhất thì mẹ tôi lâm bệnh, cơn tai biến đã cướp đi những bước chân từng một nắng hai sương của mẹ. Thế là ba tôi ngoài công việc vườn tược giờ phải kiêm thêm nhiệm vụ làm Ô sin. Mặc dù được chữa trị nhiều phương pháp Đông, Tây, nhưng đôi chân của mẹ tôi yếu dần theo năm tháng. Các em tôi cũng lần lượt lập gia đình, không còn ai ở lại vườn với ba mẹ nữa, vậy là chúng tôi quyết định đưa hai ông bà về thị trấn để dễ bề chăm sóc.

Về thị trấn chỉ mới vài tuần ông đã quay lại khu vườn, ông không chịu nổi sự tù túng của cuộc sống đô thị, biết khó lòng thay đổi quyết định của ba, chúng tôi đành lòng bố trí một đứa cháu về ở với ông, ngoài việc chăm sóc nội trợ còn phòng lúc trái gió trở trời...

 Rồi đứa cháu ngoại ngoan hiền ấy cũng đến tuổi lập gia đình, vậy là ba  lại sớm tối thui thủi một mình. Việc để ba phải đơn côi trong ngôi vườn vắng người qua lại là nỗi phập phồng của chị em tôi, khi mà sức khỏe của ba cũng lui dần theo năm tháng. Vậy là chúng tôi âm thầm lên kế hoạch xây cho ba thêm một ngôi nhà ở thị trấn, việc thi công được giữ bí mật tuyệt đối, đến ngày khánh thành công trình, chúng tôi mới đưa ông về. Biết sự sắp đặt có phần cương quyết của chúng tôi, ông đành phải buông xuôi.

Như một sự quan thúc cuối đời, trong chuỗi ngày còn lại, ba tôi đã phải quanh quẩn giữa bốn bức tường, với phố xá ồn ào náo nhiệt.

Sống trong căn nhà đầy đủ tiện nghi với sự chăm sóc ân cần và chu đáo của chị em tôi, nhưng sức khỏe của ông ngày một yếu dần. Tiểu đường, Tăng huyết áp, hai căn bệnh ấy cứ âm thầm bám riết ba. Mặc dù, ngày ngày vẫn mê say công tác xã hội, vẫn vui vẻ cười đùa với con cháu, nhưng trong sâu lắng tôi biết ba như con chim đang ở trong chiếc lồng chật chội ngột ngạt. Việc sơn phết, trang trí ngọc ngà cho chiếc lồng cùng với thức ăn bổ dưỡng cũng không thể giúp ông tăng thêm khí lực như khi tung cánh giữa đại ngàn.

 Và ba tôi đã ra đi chỉ vài năm sau đó, trong muôn vàn lý do mà người ta thường đổ cho bệnh tật, tuổi tác, số phận...Tôi rưng rưng nhận ra một nguyên nhân sâu thẳm, đó chính là nỗi buồn vì những tháng ngày bị quản thúc của chị em tôi.

 Khu vườn cuối cùng của cuộc đời ông, đến bây giờ chị em tôi vẫn giữ lại, tuy nhiên do thiếu bàn tay chăm sóc của ba, chúng không còn xanh tươi, mượt mà như trước nữa. Chỉ có điều, mỗi khi đặt chân lên con ngõ quanh co ấy, là tim tôi như bị nghẹn lại, trên từng lối đi, từng đám cỏ vẫn thấp thoáng tiếng bước chân của ba, vẫn còn nguyên vẹn gương mặt thất thần, buồn bã của ba trong những tháng ngày… ba đối diện với sự tuyệt vọng.

Trong sự yên ắng tĩnh mịch của ngôi vườn, trong cái cảm giác chênh vênh giữa cõi hư hao, tôi chỉ muốn thét lên: Ba ơi! Chúng con có lỗi với ba.

Khê Giang

READ MORE - NHỮNG NGÔI VƯỜN - Khê Giang

Ca khúc MẸ VỀ VỚI CON - Thơ Song Vinh, nhạc Phạm Anh Dũng, Ngọc Minh hát,

READ MORE - Ca khúc MẸ VỀ VỚI CON - Thơ Song Vinh, nhạc Phạm Anh Dũng, Ngọc Minh hát,