.jpg) |
| Nhà thơ Tô Kiều Ngân |
TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT
qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN
Trương Công Hải
Trước hết là câu chuyện của tôi và Huế.
Tôi, nội Quảng Trị, ngoại Huế, hiện ở Đà
Nẵng. Như vậy con người tôi hai phần Quảng, một phần
Huế, chưa kể trong suốt 30 năm trời, vì lý do công việc,
mỗi tháng ở Huế hết mười mấy ngày, nên tôi với Huế
đều thuộc lòng nhau. Gặp nhau hoài nên cứ êm êm rứa!
Thuở vào Đại học, xứ mưa dầm, thấm lâu
rồi cũng vương. Người tôi hò hẹn nhan sắc không bằng
tính tình, nên sau này, khi làm thơ thì khó tả về chân
dung, tôi đành nói chung chung về cái tính Huế của cô ấy
mà thôi.
Này em Huế,
“Em ở trong tôi nét u hoài trầm tích
Giọng nói nhu mì tóc rũ dáng kiêu sa
Chút ngây thơ đem che dấu điệu đà
Và khôn khéo,
Cái chi cũng đều sợ mạ”.
Rủ đi chơi đi chơi thì đi nhưng vừa đi vừa
kêu sợ mạ. Còn tôi thì:
“Tôi ở trong em, chàng sinh viên non dạ
Tập truyện tình yêu chỉ mới lật trang đầu
Làm dáng vậy thôi, chứ em nhìn là ú ớ
Chẳng có lớp học nào dạy cách yêu nhau
Nếu có, thì bài đầu tiên
Học để thôi đừng lớ ngớ”
Sau đó, do hoàn cảnh di tản năm 1972:
“Quảng Trị mất
Tôi về nơi không định hướng
Mọi chuyện rồi như mây trắng giữa trời
Liệu là em có đi về méc mạ ?”
Tính nông nổi, được nước tôi tới luôn:
“Cứ méc đi thằng dấu hồn du đảng
Giả đò say để sinh sự tự tình
Giả ngu ngơ để làm câu thơ đểu
Ôi biết làm sao để khỏi tự dối mình!”
Câu chuyện của tôi là câu chuyện của kẻ
ngoại đạo, trải nghiệm tình yêu một thời với người
em xứ Huế.
Không phải là vô cớ, tôi viết ra như một
minh họa thực tế về tính cách của cô gái Huế, người
có nét tương đồng với nàng thơ trong bài Giọng Huế
của Tô Kiều Ngân.
Và câu chuyện của tôi cứ xem như là một lời
dẫn cho bài viết.
GIỌNG HUẾ
Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức
Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài
Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm
Đem mây vào e tan nát lòng ai.
Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó
Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng
Hay tại bên anh em ngồi thỏ thẻ
Tiếng quê hương xao động đến vô cùng.
Hèn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm
Mạ ngày xưa cũng từng nói như em
Anh mất mạ càng thương em tha thiết
Như từng thương câu hát Huế êm đềm.
Cám ơn em đã cho anh nhìn lại
Dòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn
Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh
Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non.
Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô.
Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức là lời
nói phát ra từ mơ thức, đôi mắt vốn buồn của em qua
lăng kính mơ thì trở nên đẹp u hoài, sâu lắng, vô cùng
lãng mạn.
“Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm
Đem mây vào e tan nát lòng ai”
Chữ “e tan nát lòng ai” đưa nghĩa câu thơ
vào thế lấp lửng. Sự e thẹn, ngại ngùng trong ánh mắt,
sự lấp lửng trong ý tứ luôn là đặc sản bước đầu
trong tình yêu của em Huế. Chữ “e” đó đâu có khác
gì chữ “e” trong câu Kiều: “Tình trong như đã / Mặt
ngoài còn e”, và cũng chẳng khác gì hình ảnh hai vạt
tà áo dài bay của người con gái Huế khi đi ngược gió
như trong thơ của Phạm Thiên Thư:
“Áo em vạt tím ngàn sim
Nửa nào nức gọi nửa im đợi chờ
Yêu nhau tự thuở bao giờ
Gặp đây giả bộ hững hờ mây bay”
Vạt sau tà áo tung bay như nao nức gọi, vạt
trước gió ép vào thân như im lặng đợi chờ. Con gái
Huế là vậy đó, kiểu nói thôi nhưng phải hiểu là thôi
nữa!
Em Huế với dáng u hoài và mắt buồn sâu thẳm
là hóa thân của những hoài mong, mơ màng, tiếc nuối về
một vương triều Nguyễn đã lụi tàn nhưng cái cụ thể
còn lại muôn đời vẫn là giọng Huế.
Chế Lan Viên đã từng cho rằng: ”Khi ta ở
chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”
và Tô Kiều Ngân cũng như thế:
“Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó
Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng
Hay tại bên anh em ngồi thỏ thẻ
Tiếng quê hương xao động đến vô cùng.”
Nếu cho rằng tiếng nói là linh hồn của một
dân tộc thì giọng Huế chính là hồn của Huế.
“Hèn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm
Mạ ngày xưa cũng từng nói như em
Anh mất mạ càng thương em tha thiết
Như từng thương câu hát Huế êm đềm.”
Một số hư từ, đặc ngữ của Huế như “mạ,
hèn chi rứa, răng chừ” cũng như câu cuối cùng: “Chết
cũng đành không nuối tiếc chi mô”, tất cả như một
hương vị đặc trưng của Huế, lan tỏa, thấm đều trên
trang thơ, ngấm vào từng câu chữ, cho ta cảm giác đọc
bài thơ như đọc giọng Huế vào lòng.
Qua người em Huế, dòng Hương được gợi nhớ,
hiện lên trên bến cảng Sài Gòn với một hình ảnh đẹp
lãng mạn vốn có.
“Cám ơn em đã cho anh nhìn lại
Dòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn
Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh
Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non”
Một dòng sông mộng, nước chảy là đà đã
được nhìn chồng lên con sông cuồn cuộn sóng, nước
đục lờ đờ trên bến cảng Sài Gòn, đó là khi cảm
xúc dâng cao đến nao lòng thì nhà thơ bị đưa đi từ
cõi mơ đến mớ.
Khổ thơ cuối cùng đã đánh thức một hoài
vọng về Huế và em, đã khơi dậy một hồi ức thời
thơ ấu trong vòng tay mẹ, cùng âm vang chứa chan lời dịu
ngọt của câu hát Huế.
“Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”
Người ta thường ca ngợi văn hóa Huế với
những di sản vật thể. Ngoài Nhã Nhạc Cung Đình còn có
giọng Huế, chất giọng của ngâm thơ, của dân ca hay của
điệu hò mái nhì, mái đẩy. tất cả đều thuộc về
phần văn hóa phi vật thể thì ít được ai đề cập đến
.
Họa hoằn lắm ta mới nghe Trịnh Công Sơn nhắc
đến: “Một ngày chợt nghe quê quán tôi xưa / Giọng
người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì”.
Tô Kiều Ngân là người con của của Huế sống
tại Sài Gòn, là một nhà thơ, một tay sáo nỗi tiếng
trước 75 đồng thời cũng là nhà diễn ngâm thơ bằng
giọng Huế, thì việc cảm xúc chất giọng để thả vào
thơ một linh hồn Huế chẳng có gì là lạ.
Người em Huế trong thơ là cái cớ để nhà
thơ trút nỗi niềm về cố quận, ta xem đây như là tiếng
lòng của một người trong cuộc nhớ thương về nguồn
cội của mình.
Bởi là tiếng lòng nên tự nó đã có chất
thơ mà không cần phải gia cố vần vận, cả bài thơ chỉ
có 2 vần, không nhất thiết phải liền mà là cách vận
như ở khổ 2 và 4 đều nằm ở câu thứ 2 và thứ 4.
Lời thơ thì chan chứa, dạt dào, tự nhiên như
âm sắc giọng Huế và dặt dìu như tiếng sáo của Tô
Kiều Ngân thổi vào từng thi khúc.
Mặt khác, nhà thơ cũng không cần phải dụng
công vào một biện pháp nghệ thuật nào cả để xây
dựng hình ảnh, bởi hình ảnh vốn có về Huế đã nằm
sẵn trong ký ức khi xúc cảm tuôn trào thì nó đã tự
lôi ra để đặt vào trang thơ.
“Hèn chi rứa, răng chừ em sợ lắm
Mạ ngày xưa cũng từng nói như em
Anh mất mạ càng thương em tha thiết
Như tình thương câu hát Huế êm đềm
Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô.”
Tận cùng của sự đánh cược cho một tình
yêu cao quý nhất trong đời mình là cái chết. Chỉ có
tình yêu của đất và người mới
Khiến nhà thơ nói được điều đó vì ông đã
yêu Huế bằng một tình yêu đẳng cấp tới mức thượng
thừa.
Có thể không sai khi cho rằng Tô Kiều Ngân đã
dùng chính tâm hồn ông như một thủ pháp nghệ thuật để
viết nên bài Giọng Huế . Giọng Huế là hồn của Huế,
nên chỉ có tâm hồn người trong cuộc mới dễ lột tả
được hết bản sắc văn hóa Huế mà thôi.
TRƯƠNG CÔNG HẢI
Những ngày cuối đông nhớ Huế 1/2024.
____________________________________________________
GIỌNG
HUẾ
Thơ
Tô Kiều Ngân
Đăng
trên https://www.thivien.net/
GIỌNG HUẾ, thơ TÔ KIỀU NGÂN