Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, March 11, 2021

ĐINH THỊ NHƯ THÚY: SINH RA LÀ TỰ DO - Nguyễn Đức Tùng

 

Nhà thơ Đinh Thị Như Thúy.
Ảnh từ Internet.

ĐINH THỊ NHƯ THÚY: SINH RA LÀ TỰ DO

Nguyễn Dức Tùng


Nguyễn Đức Tùng: Chào nhà thơ và cô giáo dạy văn Đinh Thị Như Thúy. Được biết chị đang sống và làm việc ở một huyện thuộc tỉnh Đắc Lắc. Chị có tìm thấy cho mình một quê hương ở đó không?
Đinh Thị Như Thúy: Dạ. Kính chào anh Nguyễn Đức Tùng. Hơn hai mươi năm sống và gắn bó với một vùng đất có làm cho nơi đó trở thành quê hương không anh? Những đứa con của tôi đã được tôi sinh ra và nuôi dạy ở đây. Mỗi buổi sáng thức dậy, mở cửa nhìn ra bầu trời, tôi có thể hình dung được hôm nay, mùa này, kiểu thời tiết gì sẽ diễn ra, những người dân sẽ làm công việc gì cho mùa màng của họ. Tôi nghe tiếng chim hót cùng với tiếng xe máy cày chạy rầm rập. Nơi đây, những biến chuyển của đất trời, sự lam lũ mệt mỏi của con người, đều không xa lạ với tôi.

Mà vùng đất này kỳ lạ lắm anh ạ. Nắng bụi, mưa bùn. Vất vả, cực nhọc. Cây cỏ, gió, côn trùng... Tất cả đều có gì đó hoang dã, khắc nghiệt nhưng lại rất đẹp đẽ, lôi cuốn. Con người không thể sống quá tỉnh táo khi ở đây. Bao giờ tôi cũng có cảm giác bị dẫn dắt vào mộng mị. Nhất là những lúc ngồi một mình hay lang thang một mình đâu đó. Tôi không biết Tây Nguyên có là quê hương của tôi hay không, nhưng tôi yêu và khó lòng rời xa cuộc sống nơi này.

Nguyễn Đức Tùng: Tuổi thơ của chị ra sao?

Đinh Thị Như Thúy: Nhà tôi rất đông chị em gái. Tôi có ba chị và ba em gái, hai em trai. Hồi nhỏ tôi ở Đà Nẵng, tôi nghĩ tuổi thơ tôi cũng như phần đông những bé gái khác thôi. Cũng thích chơi đồ hàng bằng lá cây, bông bụt, trái bàng… Cũng ao ước bánh kẹo, búp bê.

Có một câu chuyện đã ám ảnh tôi từ thuở nhỏ. Chuyện do mẹ tôi kể. Anh có biết con chim gọi vịt không? Hình như ở bất cứ miền quê nào trên đất nước ta cũng có loài chim đó. Tiếng kêu của nó thật buồn. Bắt đầu bằng những thanh âm cao vút thảng thốt rồi nhỏ dần, thấp dần nghe rất não lòng. Mẹ tôi bảo: đó là tiếng gọi tìm đàn vịt của một cậu bé. Vì ham chơi và lơ đễnh cậu bé đã để đàn vịt mình chăn đi lạc, lạc mãi đến sông Ngân Hà (!) và biến mất. Tiếc đàn vịt, sợ bị mẹ mắng, cậu bé đi tìm hoài, cho đến lúc chết vẫn chưa tìm thấy, nên biến thành con chim gọi vịt.

Tôi nghĩ có lẽ cho đến bây giờ cậu bé kia vẫn chưa tìm thấy đàn vịt đã mất của mình. Nên loài chim gọi vịt vẫn còn. Tôi vẫn nghe tiếng kêu của nó. Lạ, là tiếng chim gọi vịt cứ vang lên vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Thảng thốt buổi mờ sáng. Uể oải lúc đứng trưa và buồn da diết khi hoàng hôn xuống.

Nguyễn Đức Tùng:

Một mùa một ngày một người/ bao giờ cũng nhỏ bé/ bao giờ cũng chẳng có gì đáng nói. 
Đó là cách nói giản dị nhưng bay bướm ngấm ngầm, tiêu biểu cho phong cách của Đinh Thị Như Thúy. Đọc mấy câu này của chị không hiểu sao tôi lại tin rằng, để bắt chước cách nói của nhà thơ Dương Tường, chị có một “tuổi thơ giàu có”. Thêm nữa, giàu có hay không, có lẽ là do tâm hồn mỗi đứa trẻ, sự phản chiếu của cuộc đời lên nó, nhiều hơn là do hoàn cảnh xung quanh.

Tôi cũng nghĩ: giáo dục là chuẩn bị một tuổi thơ đẹp đẽ cho con người. Trước hết là chuẩn bị cho một tâm hồn thơ mộng ra đời.

Trong chuyện ấy, liệu thơ ca có làm được gì không, thưa chị?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi đã đọc ở đâu đó rằng: khi chúng ta nói với những đứa trẻ về cái hay cái đẹp của một bài thơ là chúng ta đang xây dựng nền tảng mỹ học trong tâm hồn chúng. Và tôi thấy: thơ ca ngấm vào tâm hồn một đứa trẻ trước tiên là bằng những câu hát ru. Cái thiệt thòi của trẻ nhỏ bây giờ là không còn được nghe hát ru nữa. Có thể chúng sẽ có một “tuổi thơ giàu có” theo một cách khác. Sẽ có những đầy đủ về đời sống vật chất và đời sống tinh thần theo một cách khác. Nhưng dù sao tôi vẫn thấy thiếu một điều gì đó, khi những câu hát ru cứ dần mất đi, cùng với sự mất đi của những điều kỳ diệu đến từ thiên nhiên, trong đời sống hiện nay.

Có thể cách nghĩ đó của tôi là phiến diện. Có thể bởi tôi luôn nhớ những câu hò ngày xưa của mẹ tôi. Có những câu luẩn quẩn, loanh quanh buồn cười kiểu như: Than rằng vịt lội hồ sen/ Vịt ai không biết con đen con đà/ Than rằng vịt lội giang hà/ Vịt ai không biết con đà con đen. Hay: Bèo than thân bèo nằm trên mặt nước/ Bạc than thân bạc đeo trước lỗ tai/ Khoai lang than thân đào lên bới xuống hoài/ Ngọn rau muống nọ than thân bứt đọt nấu canh/ anh than thân anh vợ con chưa có/ Người nói tiếng nọ kẻ nói tiếng kia. Có những câu buồn hơn trong giọng hò: Canh chua nấu cá ngạnh nguồn/ Thương anh em phải bán buồn mua vui; Em như quả ớt chín cây/ Càng tươi ngoài vỏ càng cay trong lòng.

Những câu hò (những bài thơ) như thế đã gieo vào tôi những băn khoăn về thân phận. Tôi đã nghĩ nhiều đến tình thương yêu, những bao dung hy sinh, những quắt quay rát bỏng và cả những phức tạp vô cùng trong tâm trạng con người.

Nguyễn Đức Tùng: Bài thơ nào của mình mà chị thích nhất? Tại sao?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi không thể nói là thích nhất một bài thơ nào trong những bài tôi đã viết. Nhưng tôi rất thích hoa dã quỳ. Tôi muốn chia sẻ với anh một bài thơ tôi viết về hoa dã quỳ.

Viết cho dã quỳ 

(...nhưng em nói là dã quỳ của mùa nào/ mùa đông/ đúng rồi mùa hoa/ cây non mọc lên nở hoa và tàn rụi trong vòng một năm...) 

1. 

Từ tàn rụi nụ mầm vươn lên vào lúc không ai còn nhớ (sự lãng quên luôn thường trực trong tâm trí con người) những mầm xanh không như lá cỏ mà được xem như lá cỏ cứ khuất lấp trong ngăn ngắt rậm rạp cứ lặng lẽ bên vệ đường trước thềm nhà khắp chân đồi (giờ đồi hoang cũng không còn nhiều vì loài người sinh sôi nẩy nở bung chiếm còn nhanh hơn cả cỏ cây)

Rồi những chiếc lá hình bàn tay xoè ra run rẩy hân hoan trong mưa bụi (dường như tất cả hạnh ngộ thuở ban sơ đều như vậy) mưa càng dấm dứt đất càng đỏ ứ cây lá càng xanh non tươi rờn rợn mưa mưa mưa mưa nước nuôi dưỡng sự sống bằng những ngập tràn thấm sâu dịu nhẹ (cũng có lắm khi hung tợn trào dâng) mưa mưa mưa mưa dã quỳ theo mưa mà lớn

 Đó là cách tồn tại cổ xưa nguyên thủy nhất tồn tại theo bầy đàn mỗi đơn lẻ là một trong nhiều trong những của cộng đồng mỗi đơn lẻ (tưởng như) giống nhau về hình thể về tính cách về thân phận đứng bên nhau làm nên thế giới (tưởng như) công bằng bình đẳng hướng về ánh sáng hướng về bầu trời mà ngờm ngợp mà mải miết mà vươn cao mà xoè tay mà ươm nụ mà hồn nhiên mà chờ đợi

2.

Có xứ sở chọn khắc nghiệt làm tính cách đặc thù (không chừng mực không điều độ không sắc màu trung tính) xứ sở dã quỳ không có mùa thu không có mùa xuân (chỉ hai mùa mưa nắng) xứ sở buồn muôn thuở bụi mù trời (bụi lừng lững đi lừng lững dựng từng cột đỏ trên những con đường mòn vắng vẻ khô khát) tháng mười hai lạnh lẽo khô ngùn ngụt nắng là tín hiệu để dã quỳ nở bung.

Đó là không gian mênh mông (đồi nối tiếp đồi thung lũng kéo dài thung lũng) là cuồng nộ gió (gió như đoàn chiến mã ràn rạt lao qua không cần biết sẽ về đâu không cần biết gì đang đón đợi cứ phía trước mà phi mà lồng lộn sải vó) là bướm hoang là ong rừng là bước chân bồn chồn của những người đàn bà luôn mơ những giấc mơ bất ổn

Là dã quỳ tồn tại như một dâng hiến không cần lý do

3.

Dã quỳ dã quỳ dã quỳ cứ vàng mơ vàng tươi vàng xuộm vàng cháy cứ rừng rực mê đắm miên man trên nền xanh của lá nền đỏ của đất bazan cứ tạo nên những đối cực nhức nhối xốn xang đôi khi khó chấp nhận trong mắt người

Không chờ đợi không khát khao không hoài vọng, dã quỳ (dường như) hồn nhiên bung nở hồn nhiên toả hương hồn nhiên vàng vào nắng vào sương vào bụi đỏ hồn nhiên làm mặt trời thắp nắng trong hoang lạnh hồn nhiên làm nên linh cảm bất an mùa xao xác

Đã có những ngợi ca đã có những cười cợt đã có những rắp ranh đòi chia sẻ đã có những dự tính can thiệp riêng tư dã quỳ (dường như) vô tâm (dường như) ngoài cuộc cứ vàng cho hết đời sống mình (vì đó chính là mình) rồi rời rã rũ rượi trong gió đông rồi khô đi nâu sẫm trên những cành nhánh trụi trơ rồi khuất lấp rồi biến tan

Mùa đã khô ngày đã không còn hoang hoải gió

Dã quỳ bình thản đợi hồi sinh

4.

Những người đàn bà mang giấc mơ bất ổn chôn trên sườn đồi đêm đêm chờ mưa chờ quên lãng nghe trong tiếng sấm khắc khoải có niềm âu lo rồi đồi hoang sẽ không còn là đồi hoang nữa

                                                                                     29.12.2007

Nguyễn Đức Tùng: Việc một tác giả thích một tác phẩm nào của mình có lẽ nằm ngoài các bậc thang của phê bình khách quan, nhưng cũng gợi ra hiểu biết đối với tác giả ấy. Tôi không để ý lắm đến… hoa dã quỳ, nhưng chú ý đến thơ của Đinh Thị Như Thúy. Thơ chị nổi bật không phải ở những đột phá về thẩm mỹ và nổi loạn về ngôn ngữ nhưng thu hút người ta ở chất giọng vừa u hoài buồn bã vừa sáng láng, tin tưởng. Tôi không chỉ nói đến giọng điệu (tone) mà nghĩ nhiều hơn đến một điều gì như chất giọng (voice).

Chị đã tìm ra chất giọng của chị chưa? Bao giờ?

Đinh Thị Như Thúy:Tôi không ý thức lắm việc tìm cho mình một chất giọng đâu anh. Tôi cứ viết thôi (như một đứa trẻ) vừa viết vừa lớn lên, vừa viết vừa già đi. Khi viết tôi chiều chuộng bản thân mình ghê lắm. Có thể nói, đó là lúc duy nhất, tôi có cơ hội để chiều chuộng bản thân mình. Tôi lắng nghe tôi, và dò hỏi ý tứ của tôi. Có khi tôi thử viết về vấn đề này, vấn đề khác, có khi tôi xuống dòng, hay tạo vần, hay đặt các dấu câu, ở một số vị trí nào đó, ở những bài thơ nào đó, rồi thử đọc lại cho mình nghe. Và tôi tôn trọng trực giác của bản thân tôi. Nếu tôi nghe tôi thở ra nhẹ nhõm, thì tôi biết: tôi đã được tôi chấp nhận. Những bài thơ của tôi được hình thành như vậy đó.

Có khi nào, làm thế, cũng là một cách nỗ lực đi tìm một chất giọng riêng cho mình không anh? Tôi đọc trên inrasara.com thấy câu: Không ai có thể hát thay chúng ta. Nhà thơ Thanh Thảo thì bảo tôi: “Thơ là số phận. Em đừng thay đổi số phận của em”.

Nguyễn Đức Tùng:

Đã viết những câu thơ màu hoàng lan/ Tiễn mùa về xa ngái/ Thương chút ngọt ngào vướng lại/ Thơm trang giấy ta cầm

Từ những bài thơ trước đây sử dụng nhiều vần điệu cổ điển, có phải là chị ngày càng có khuynh hướng làm thơ tự do, thơ xuôi, phóng túng, không vần? Tại sao?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi thường viết nương theo cảm xúc. Tôi nghĩ, có thể đã có những vận động nào đó trong chính bản thân tôi. Từ những bài thơ sử dụng nhiều vần điệu cổ điển, giờ đây, trước bao bộn bề ồn ào của cuộc sống hiện đại, với nhiều suy tư đa chiều gấp gãy, tôi thích viết như sự giải phóng tôi khỏi mọi gò bó.

Đôi khi những ý tưởng cứ miên man trong tôi, tôi thích để chúng được miên man chảy như thế trong bài thơ của mình. Ngay cả cách dùng dấu câu cũng vậy. Có lúc tôi thấy dấu câu làm ý nghĩa câu thơ bị hạn hẹp, câu thơ không có dấu chấm câu là câu thơ lỏng lẻo, có thể nó sẽ làm người đọc tự do hơn trong cách hiểu cách cảm nhận bài thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Có nhiều chuyện để nói với một cô giáo dạy văn trung học, thời cắp sách của tôi gọi là các nữ giáo sư trung học. Chị nghĩ sao về nghề dạy học văn chương của mình?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi lên Tây Nguyên dạy học từ năm 1989. Những năm đầu tôi dạy ở một trường Trung học cơ sở nằm sâu trong xã Hòa An, huyện Krông Pắc. Tôi vẫn luôn nhớ những ngày tháng đầu tiên của cuộc đời dạy học của mình. Nhớ ngôi trường với một dãy phòng học nền đất mái tôn vách ván. Những tấm ván qua nhiều mùa mưa nắng cứ co rút lại cong vêu rồi bày ra những khe hở. Lời giảng, tiếng cười, tiếng nói chuyện, tiếng ho, thậm chí tiếng thở cứ từ lớp này lấn sang lớp khác. Mùa khô con đường vào trường chìm trong bụi đỏ. Mùa mưa lại lầy lội bùn. Có những hôm tôi và các thầy cô khác, lội mưa vào trường rồi lại lội ra vì học sinh không đến lớp, mà giờ học cũng đã hết. Năm 2000 tôi được chuyển về một trường Trung học Phổ thông của huyện và dạy ở đó cho đến nay. 

Tôi vẫn thường đùa là không có ai phải chịu sự thanh tra kiểm soát thường xuyên về mọi mặt như các thầy, cô giáo, nhất là ở những huyện nhỏ (nơi mà ai cũng quen biết nhau) như địa phương nơi tôi đang dạy. Đến đâu, làm gì cũng như thấy mắt nhìn của học sinh và phụ huynh học sinh mình. Có thể chính vì phải nghiêm túc khuôn mẫu trong đời sống nên tôi cần thoáng đạt, tự do, không vần trong thơ để bù lại chăng?

Tôi dạy văn, một môn học tưởng chừng nhẹ nhàng thú vị trong nhà trường. Nhưng cho đến lúc này, sau hai mươi mốt năm đứng lớp, tôi vẫn hoài băn khoăn về việc học văn và dạy văn trong môi trường cụ thể là ở một huyện miền núi. Tôi không đổ hết lỗi cho chương trình, nhưng rõ là đã có sai lầm ở đâu đó.

Các em học sinh ở đây rất thiếu truyện sách. Ngay cả những tác phẩm mà các em phải học trích đoạn trong chương trình Văn, các em cũng không được đọc. Học sinh không có tác phẩm để đọc đã đành, mà ngay cả giáo viên dạy cũng rất nhiều người không đọc tác phẩm trọn vẹn. Họ đọc các sách tham khảo, sách hướng dẫn giảng dạy và căn cứ vào đó để soạn giáo án. Khi chúng ta nhìn tác phẩm trong trạng huống cắt cúp rời rạc như thế thì làm sao tránh được cái nhìn phiến diện? Vả lại, tôi cứ thấy môn Văn trong nhà trường phổ thông đang phải mang vác quá nhiều nhiệm vụ. Phải tích hợp cả với bảo vệ môi trường, với tư tưởng đạo đức, với rất nhiều điều khác. Giờ học, nếu theo yêu cầu như thế bỗng trở nên nặng nề. Người dạy thì mệt mỏi mà học sinh thì chán chường.

Cũng cần phải nói thêm một điều rằng: những tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay cũng làm cho các em hoài nghi và thấy văn chương xa rời cuộc sống. Các tác phẩm văn chương được chọn dạy trong nhà trường thường xây dựng những con người rất đẹp rất lý tưởng. Nhưng vừa bước ra (thậm chí chưa bước ra) khỏi cổng trường các em đã gặp ngay bao điều phi lý: những chạy trường, chạy điểm; những học thật bằng giả, học giả bằng thật… Rồi tham nhũng quan liêu. Rồi sự tha hóa của bao con người đang ở những cương vị không được quyền tha hóa. Lời giáo huấn khuyên răn của thầy cô bỗng dưng trở thành lạc lõng. 

Nguyễn Đức Tùng: Hiện nay, mọi người đang nói về tình trạng giáo dục đi xuống trong cả nước, tình thầy trò tan rã, một điều đáng buồn. Tiếp xúc với các em và phụ huynh hàng ngày, có lẽ chị có nhiều suy nghĩ về vấn đề này?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi không hay sa đà vào việc kể lể hay than thở về tình trạng giáo dục ở đất nước ta trong thời buổi hiện giờ. Nhưng đâu phải chỉ tình trạng giáo dục là đang đi xuống? Tôi đang thấy sự thay đổi ghê gớm của rất nhiều vấn đề trong xã hội. Mà đạo đức chỉ là một. Khi có sự vênh nhau quá xa giữa những điều chúng ta nói và những điều chúng ta làm, thì sự đổ vỡ niềm tin trong thế hệ trẻ là điều tất nhiên. Mà niềm tin đã đổ vỡ thì những hành xử thiếu tôn trọng, thậm chí khinh miệt hay bất cần giữa thầy và trò, giữa người này với người khác sẽ phải diễn ra. 

“Khi sự thật đã không là sự thật/ Những sự cần mà không thật sự cần/ Những cải cách cứ loanh quanh chán chường mỏi mệt/ Khi năng lực được đo bằng những bước chân của bò sát/ Những tâng bốc cất nhắc cứ trơn tru/ Những nói một đằng làm một nẻo/ Khi những chuẩn mực đạo đức dao động với biên độ vô cùng/ Những dối trá thường trực khắp mọi nơi/ Những niềm tin thành xa xỉ…

Người người tìm đến giấc mơ/ Đau nhói tim âm vang tiếng cười giễu cợt/ Tiếng búa nện đinh trên nắp quan tài

Nếu không cẩn thận, chúng ta phải trả giá bằng một thế hệ/ Nếu không cẩn thận, chúng ta không chỉ phải trả giá bằng một thế hệ”

(Trích bài thơ “Trước tỉ lệ tốt nghiệp 18,1% của một trường trung học”)

Tôi nghĩ sự giáo dục không thể chỉ diễn ra trong khuôn khổ nhà trường. Giáo dục phải là việc thường xuyên và toàn diện khắp nơi trong xã hội. Làm sao chúng ta yêu cầu các em học sinh đừng phá một tổ chim trong sân trường nếu chúng ta tàn sát tất cả những cánh rừng bằng lòng tham của chúng ta? Làm sao chúng ta buộc học sinh phải trung thực, phải học hành, phải lao động nghiêm túc khi có bao người lớn đang giàu lên không phải bằng con đường lương thiện? Làm sao học sinh có thể nhường nhịn thương yêu nhau khi ngoài xã hội chúng ta tìm mọi cách lấn lướt nhau, gây gổ nhau, đánh đập nhau, cư xử tàn tệ với nhau, miễn có lợi cho bản thân mình. Cha mẹ làm hư con trẻ khi lén lút đưa phong bì cho thầy cô và người này người khác rồi công khai bàn bạc dè bĩu chuyện đó trong các bữa cơm. Thầy cô làm hư con trẻ khi phân biệt đối xử giữa học sinh này với học sinh khác vì những điều rất cảm tính. Và bao điều khác nữa…

Nguyễn Đức Tùng:Chị có phải là “người Huế” không?

Đinh Thị Như Thúy:Tôi là người Huế đó chứ. Ba mẹ tôi đều là người Huế mà. Nhưng tôi vẫn thường đùa là Huế nhà quê chứ không phải là Huế Kim Long hay Thành Nội. Ba tôi quê ở làng Đồng Di, xã Phú Hồ, huyện Phú Vang. Còn quê của mẹ tôi lại có một cái tên nghe rất lạ: Sịa.

Ba mẹ tôi đã vào Đà Nẵng sinh sống từ sau năm 1960. Vậy nên tuy sinh ra ở Huế, tuy giọng nói của tôi mang âm sắc Huế rõ rệt, ai nói chuyện với tôi đều nhận ra tôi là người Huế. Nhưng tôi lại có lỗi vô cùng vì tôi không biết gì nhiều, không gắn bó gì sâu sắc với vùng đất này. Những gì tôi biết về quê hương phần lớn đều qua sách vở và những câu chuyện kể. Huế vẫn luôn như một vùng đất lạ trong tôi. Đó thật sự là một điều đáng tiếc phải không anh?

Nguyễn Đức Tùng:Tôi bỗng nhớ đến câu thơ sau đây:

Je cueillis un nid dans le squelette du lierre

Tôi tìm thấy tổ chim/ Trên bộ xương của dây thường xuân

(Yvan Goll, dẫn theo Gaston Bachelard)

Những nơi chốn mà ta đã sống, đã đi qua, đang sống, ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành tâm hồn một người. Đối với nhà thơ Đinh Thị Như Thúy, Huế, Tây Nguyên và những nơi khác để lại dấu ấn như thế nào trong thơ chị?

Đinh Thị Như Thúy:

Tôi lớn lên tại Đà Nẵng. Một thành phố tràn ngập biển. Tôi mê núi nên muốn có thời gian sống ở núi. Tôi chọn học đại học ở Đà Lạt là vì thế. Giờ nghĩ lại tôi vẫn biết ơn mảnh đất đó. Đà Lạt là một nơi nhiều người ao ước có dịp đến, tôi đã sống ở đó những năm Đà Lạt còn nhiều yên lặng vắng vẻ. Yên lặng vắng vẻ nhưng vẫn rất “Tây”, vẫn sáng điện, vẫn café quán, vẫn những con đường dạo quanh hồ nước…

Khi về Đắc Lắc dạy học, sống ở một vùng heo hút, những năm đầu, điện đóm không, quán sá không, phải một thời gian sau tôi mới quen được. Nhưng vùng đất này quả thật là một nơi không để cho ai có cơ hội nhàm chán. Những khắc nghiệt dữ dội, những thay đổi sống động, của thiên nhiên đất trời cây cỏ qua từng thời điểm luôn làm tôi ngạc nhiên. Và tình yêu, và những buồn vui, được mất của những con người nhỏ bé, lương thiện. Tôi đã viết về những điều đó.

Còn Huế?

Tôi nhớ: Tháng 1 năm 2009, tôi về Huế để nhận tặng thưởng về Thơ của Tạp chí Sông Hương. Khi được mời lên phát biểu tôi đã không nói được gì. Tôi không phải là người ứng khẩu nhanh nhạy. Lời mời lại đột ngột quá. Nhưng lý do chính là tôi đang tràn ngập buồn vì thấu rõ sự cô đơn của minh khi đứng trên quê hương. Tôi nghe những giọng nói, tôi nhìn những khuôn mặt, tôi nghĩ về số 32 - Phủ Hoài Đức, ở Phường Phú Cát, nơi tôi sinh ra…

Số phận đã không cho tôi gắn bó với nơi này.

Mỗi ban mai/ Những ám ảnh của giấc mơ đêm đè nặng/ Như chiếc đòn gánh trên vai người thiếu phụ chân đất đầu trần/ Gánh đậu hũ qua cầu Bạch Hổ ban trưa/ Hai tà áo gió cuốn về hai phía.

Trong bài Người đàn bà không giấc ngủ tôi đã viết như thế. Một người bạn của tôi đã hỏi: sao không viết là gánh cơm hến vì gánh cơm hến có màu sắc Huế rõ rệt hơn? Tôi không lý giải. Tôi nhớ, đã nghe mẹ tôi kể về những dấu chân hằn trên mặt nhựa đường nóng chảy mùa hè ở Huế. Đậu hũ thường được bán vào tầm trẻ con ngủ trưa dậy. Người bán dạo phải gánh khắp phố phường vào ban trưa. Tôi nghĩ về sự mưu sinh vất vả, và những giằng xé khác trong bản thân mỗi con người, mà sự vất vả về thân xác kia chỉ là một.

Nguyễn Đức Tùng:May mà chị đã không sửa gánh đậu hũ thành gánh cơm hến, nếu không thì chúng ta đã mất đi một câu, thậm chí một bài thơ khá hay.

Mặc dù ngoài đời cả cơm hến lẫn đậu hũ gánh tôi đều thích; và cơm hến thì đúng là đặc trưng cho Huế thật. Câu chuyện (vui) của chị gợi ra nhiều vấn đề của thơ Việt Nam: để thoát ra được khỏi luồng chảy lờ đờ hiện nay, các nhà thơ sẽ phải dùng sức rất nhiều, phải làm việc ghê gớm lắm, chống lại sự sáo rỗng, sự giả dối và nhiều thứ khác. Chống lại các huyền thoại.

Tôi cũng thường tự hỏi: thơ của các nhà thơ nữ hiền lành, dịu dàng cũng như tính cách của họ trong cuộc đời. Họ có thể làm mới mà không “nổi loạn” được chăng?

Đinh Thị Như Thúy: Những bài thơ là chân dung thật sự của người viết, phải không anh? Tôi nhớ trong một bài phỏng vấn anh đã nhắc đến Maya Angelou với câu nói: tôi là người phụ nữ da đen, vì vậy, thơ tôi lúc nào cũng có hơi hướm của một người phụ nữ da đen. Những nhà thơ nữ (Việt Nam), tôi nghĩ cũng có người hiền lành, dịu dàng, cũng có người không như thế. Cả trong thơ và trong đời.

Có thể tôi phải hỏi lại anh về chữ “làm mới” trong câu hỏi này? Một bài thơ tỏa lan hơi thở sống động của cuộc sống hiện đại từ đề tài cho đến cách thể hiện phải chăng là một bài thơ mang tinh thần mới?

Tôi thấy rất nhiều tác giả nữ bây giờ viết rất táo bạo anh ạ. Và thật thú vị, khi ta được tiếp nhận nhiều cách viết, cách thể hiện khác nhau với nhiều đề tài khác nhau như vậy. Điều đó cho thấy sự vận động không ngưng nghỉ của thơ. Tôi nghĩ cứ để cho mọi người được viết một cách tự do về những điều họ muốn viết. Và những gì còn lại phải chờ thời gian.

Tuy nhiên, trên thực tế, tôi cũng thấy: có những điều tưởng nổi loạn táo bạo trong thơ, lại không mới. Cũng như vấn đề trẻ hay già, có người già nhưng làm thơ rất trẻ trung, có người mới viết lại viết rất già nua cũ kỹ đó thôi. Như vậy, rốt cuộc, có lẽ vẫn phải là: hơi hướm của một người phụ nữ da đen như đã nói ở trên phải không anh?

Nguyễn Đức Tùng: Tôi cho rằng hiện nay có những nhầm lẫn lớn về quan niệm đối với thơ hay và thơ mới, thậm chí có thể mở rộng ra đối với các sáng tạo văn học khác. Đây là một đề tài lớn, tôi chỉ xin nhận xét về một khía cạnh nhỏ.

Một số người cho rằng muốn làm mới trong thơ thì cần viết rất táo bạo như chị vừa nói. Viết táo bạo theo họ có nghĩa là đụng đến các đề tài cấm kỵ như tình dục, dung tục v.v…

Thật ra, táo bạo không phải chỉ ở đề tài mà còn là, và căn bản là, ở phong cách thể hiện, nội dung xã hội và tư tưởng thẩm mỹ. Không có phong cách riêng, không có nền tảng tư tưởng khai phá, sự nổi loạn về đề tài sẽ bị dừng lại vì nhiều lý do. Các đề tài cấm kỵ văn hóa sau một thời gian ngắn bị đập phá sẽ không còn tính chất cấm kỵ nữa. Tác phẩm khó đứng được với thời gian. Những người có ý thức muốn làm mới văn chương về chính trị nhưng không dựa trên một nền tảng tư tưởng thẩm mỹ cách tân, sẽ sáng tạo ra các tác phẩm mang tính “chửi bới”, thiếu chất văn học, không có tính thuyết phục lâu dài.

Ngược lại, một nền văn học nhút nhát, thường xuyên tránh né chạm mặt với các sự kiện chính trị sôi động sẽ không bao giờ là một nền văn học lớn. Nhiều tác giả tài năng của Việt Nam trước đây, có người thậm chí được gọi là nhà văn lớn, hiện nay đang tàn đi, nhỏ lại, phần lớn là theo kiểu như thế.

Tôi có tỏ ra khó tính quá chăng, thưa chị?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi không biết anh có tỏ ra khó tính quá không. Nhưng những điều anh nói trên đây rất thú vị. Tôi cũng đã có nhiều suy nghĩ khi đọc các tác phẩm về những đề tài cấm kỵ và nhiều băn khoăn trong tôi đã được giải đáp khi nghe anh.

Nguyễn Đức Tùng:

Trong một bài thơ của chị, tôi nhớ câu này:

Nơi chỉ biết tranh đoạt mà không biết chinh phục.

Nơi chỉ biết đòi hỏi mà không biết lao động nghiêm túc.

Nơi đầy ắp những hèn hạ đố kỵ soi mói khó chịu với tất thảy những gì tốt đẹp chung quanh.

 Một nhà thơ bạn tôi mới đây nhận xét: Đinh Thị Như Thúy là một tiếng nói mới giữa những nhà thơ trẻ hiếm hoi, có mang được những vấn đề xã hội vào trong thơ của mình. Chị nghĩ sao về điều này?

Đinh Thị Như Thúy:

Tôi là người cảm tính, tôi thường chỉ viết được về những gì ập vào tôi, ám ảnh tôi, làm nên sự run rẩy chao đảo trong tôi. Tôi nghĩ, những vấn đề xã hội (nếu có như anh nói), có thể cũng đã đi vào thơ tôi bằng con đường đó chăng?

Cuộc sống bên ngoài luôn tác động vào ta theo một cách nào đó. Và theo một cách nào đó, chúng ta phải tìm được cách dung hòa những tác động đó để tồn tại, và giữ được bản thân ta thăng bằng trong tồn tại. Có một thực tế tôi thấy, là môi trường sống bây giờ đã có quá nhiều thay đổi. Tôi luôn có cảm giác bị nhiễm độc bởi những gì phải ăn, phải hít thở, phải nghe, phải tiếp nhận… hằng ngày. Như trong bài thơ:

ngày nhiễm độc

đã dai dẳng trở lại nhiều lần cơn sốt u buồn làm nhoè mờ mọi cảm giác, đó là ngày hai mươi mốt tháng bảy bờ biển phía nam thái bình dương phủ đầy tảo đỏ, người đàn bà trở mình ngồi dậy sự đau nhức trú ngụ trong từng ống xương đã làm nên những cơn ác mộng suốt đêm, thế giới đang bị nhiễm độc những độc tố đang đi vào mỗi vật thể theo những con đường khác nhau, những con cá nhiễm độc những trái táo đỏ nhiễm độc, nhiễm độc dòng sông nhiễm độc bầu trời nhiễm độc sữa, nhiễm độc truyền thông nhiễm độc những ruộng rau muống những nồi thịt hầm, nhiễm độc những tách café sủi bọt, những vô cảm những thản nhiên những cơ hội những đổi thay tráo trở của những con chữ trong những bài thơ của những nhà thơ

người đàn bà với cơn rúc rỉa trong ống chân, nghe ngóng sự đau nhức ứ căng tưởng chừng trong ống xương không là tủy mà tràn đầy độc tố, những cào cấu man dại vào thịt da rướm máu là phản ứng tức thời muốn thanh lọc mình bằng thương tích, đau đớn hãi sợ nàng quẫy cựa muốn hét lên nhưng không một tiếng vang nào được thoát ra từ vòm họng trống rỗng, ngay lúc đó nàng cay đắng nhận ra mình đã đánh mất chiếc lưỡi trong những triền miên trốn chạy, ôi những lời định nói những bài hát định thì thầm những tiếng gọi định gửi vào không gian thinh lặng lúc bình minh tất thảy đã thành vô vọng rồi sao

từ đó nàng tập nói bằng mắt bằng hơi thở bằng những cọng tóc mai cứ chực xoã bung khi bị kích động, từ đó nàng tập nuốt những suy nghĩ xuống bụng và vùng bụng dưới của nàng luôn căng tức nóng ran, chỉ một thời gian sau nàng đã có cái vẻ nặng nề chậm chạp ưu tư của môt thiếu phụ mang thai đang chờ ngày sinh nở

                                                                                    (5.7.2009)

Vì vậy, viết là một cách để tôi thanh lọc bản thân. Tôi thường nhìn ngó tôi trong những trạng huống khác nhau để thấu rõ những cảm xúc suy tư của mình. Tôi cũng mong rằng những bài thơ tôi viết ra sẽ không chỉ là lời thì thầm của mình nói với chính mình, mà nó sẽ tìm được sự sẻ chia từ ai đó khi họ tình cờ đọc được.


Nguyễn Đức Tùng: Tôi rất thích cách nói của chị, và xin nhắc lại, tổng quát hơn: viết là để thanh lọc.

Hình như sự thanh lọc này cũng can dự vào một nỗi ám ảnh dữ dội ngấm ngầm mà tôi thường tìm thấy trong thơ Đinh Thị Như Thúy:

Cách biệt không là núi/ Cách biệt không là sông/ Ngoảnh mặt về bóng tối/ U u miền gió giông

Cuộc sống của chị ra sao? Điều gì làm cho chị hạnh phúc?

Đinh Thị Như Thúy:

Cuộc sống tôi bình thường như nhiều người khác anh ạ. Tôi có chồng, có hai con trai. Chồng tôi dạy toán cùng trường với tôi. Ngoài thời gian đi dạy, tôi lo công việc nhà và viết khi có điều gì đó thôi thúc. Bạn bè tôi cho rằng: tôi không được buồn, vì không có lý do để buồn.

Nhưng như nhiều người làm thơ khác tôi vẫn thường băn khoăn: Đời sống ta đang sống có thực sự là một đời sống không? (Nguyễn Quang Thiều). Tôi biết cuộc sống luôn bất toàn. Đôi khi có những tan vỡ dịu dàng kiểu như: Sự vỡ tan mang khuôn mặt trăng rằm. (Không là cổ tích). Và những xa cách không phải do khoảng cách địa lý mà tự lòng người.

Điều gì làm cho tôi hạnh phúc? Trong một bài tùy bút, tôi có viết: Cuộc sống đã làm ta yêu vì những điều nho nhỏ như thế này, đúng không? Và hạnh phúc phải chăng cũng thế? Hạnh phúc đôi khi không đến từ những điều gì đó thật lớn lao mà đến từ những điều thật nhỏ bé. Ví như bông hoa này? Hay màu trời xanh kia? Hay một ly cafe cùng bè bạn? Một bàn tay xiết chặt? Một cái ôm ghì thương yêu trong bóng tối?

Một ngày bình yên, nhẹ nhõm cho mọi người thân trong gia đình, và một điều thú vị nho nhỏ từ cuộc sống cho tôi. Với tôi vậy là hạnh phúc rồi. Anh có thất vọng vì câu trả lời này không?

Nguyễn Đức Tùng: Thưa không/ Don’t want nothing/ That can’t be/ Left out in the rain

Đừng đuổi theo hoài/ Điều chi chẳng đặng để ngoài trời mưa

(Gary Snyder)

Hay là:

Hạnh phúc rất đơn sơ/ Nhịp đời đi chậm rãi/ Mái nhà yên bóng trưa/ Ong hút chùm hoa cải

(Huy Cận, trích theo Đặng Tiến, báo Diễn Đàn)

Như thế thì hạnh phúc ấy ngày xưa Huy Cận đã có rồi, lúc nhỏ tôi cũng đã có rồi, bây giờ chị cũng có nữa, vậy thì tôi chỉ mong là có nhiều người hiện nay sẽ được như chị. Có vẻ như chúng ta không cần nhiều lắm những thứ xa vời ảo tưởng khác chăng? Bao nhiêu người sẽ đồng ý với chúng ta?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi mong là ít thôi. Nếu ai cũng bằng lòng với những điều nhỏ bé thì ai sẽ làm nên những điều lớn lao cho xã hội? Mà xã hội bây giờ lại rất cần những người làm được những điều lớn lao anh ạ. Là tôi nghĩ thế.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi hiểu điều mong ước của chị. Ai cũng mong như thế, nhưng tôi không mấy tin vào chuyện ’’ những điều lớn lao”, không tin vào tự sự về các anh hùng, vĩ nhân và những huyền thoại tương tự. Có lẽ nên bắt đầu từ những việc tốt đẹp giản dị và nhỏ nhặt nhất chăng? Nhưng tôi đi hơi xa, xin trở lại với thơ của Đinh Thị Như Thúy nhé? Vì sao chị viết?

Đinh Thị Như Thúy: Câu hỏi này của anh thật sự làm tôi lúng túng. Trả lời được, thì tôi, có khi không viết được nữa anh ạ.

Đôi khi tôi viết như một cách trò chuyện với mình, nhìn vào bản thân mình, nhìn cuộc sống quanh mình với một tâm thế khác? Có khi tôi viết để trốn chạy sự mỏi mệt? Có khi tôi viết với lòng hân hoan say đắm. Có khi tôi viết trong buồn bã chán chường hoang mang.

Tôi không có những khát vọng lớn lao muốn thay đổi cuộc sống quanh tôi. Tôi viết với mong muốn thay đổi bản thân tôi. Nhưng, có khi nào tôi thay đổi thì cuộc sống quanh tôi cũng sẽ đổi khác không, anh?

Dù gì đi nữa, thì thơ tôi là chính tôi, với tất cả những suy tư chiêm nghiệm của tôi trước mọi vấn đề đến với tôi trong đời sống. Tôi trung thực và chân thành với cảm xúc và suy tư của mình. Tôi nghĩ, thơ ca được viết ra, trước tiên, để an ủi chính người làm ra nó.

Nhưng tôi có biết một cô giáo. Dạy văn anh ạ. Cô này không bao giờ đọc sách. Nhất là thơ. Cô ấy bảo với tôi là: sách là sản phẩm của những người có tâm trí điên loạn. Họ viết ra để gieo rắc sự điên loạn của họ. Đọc họ có khi ta sẽ điên loạn như họ, nên tốt nhất là đừng đọc!?

Nguyễn Đức Tùng: Theo chị thế nào là một bài thơ hay, thế nào là một bài thơ dở?

Đinh Thị Như Thúy: Những bài thơ hay thường mang đến cho tôi một cảm giác khát khao. Có thể mơ hồ có thể rõ rệt. Nhưng đó là cảm giác làm tôi không yên ổn. Tôi phải ngay tức khắc làm một điều gì đó. Như hít thở thật sâu, hay bước ra sân chạm tay vào cây lá. Những bài thơ hay khiến tôi thấy mình yếu đuối hơn lại thấy mình mạnh mẽ hơn, thấy yêu cuộc sống và yêu những thân phận. Và thấy cần làm một điều gì đó cụ thể, rõ rệt cho những người thân và cho cả những người xa lạ.

Những bài thơ hay theo tôi còn là những bài thơ có khả năng khơi gợi sự sáng tạo trong người khác. Tôi gọi đó là những bài thơ chứa đầy ánh sáng.

Nguyễn Đức Tùng: Về nghệ thuật, tôi cũng nhìn thấy một vài điểm tương tự trong phong cách của thơ Đinh Thị Như Thúy và thơ Nguyễn Quang Thiều, và có thể một số nhà thơ khác nữa, như đặc tính dàn trải, giàu chi tiết, nhiều hình ảnh, nặng tính toàn thể. Tôi nghĩ rằng phong cách ấy sẽ ngày càng có nhiều độc giả hơn.

Làm thơ đối với chị dễ dàng hay khó khăn?

Đinh Thị Như Thúy: Với tôi cuộc sống không có gì dễ dàng. Làm thơ cũng vậy.

Nguyễn Đức Tùng: Chị có thường sửa đi sửa lại một bài thơ hay không?

Đinh Thị Như Thúy: Hầu như không anh ạ. Những bài thơ đã được viết ra rồi, cũng như những sinh thể đã được sinh ra rồi, sẽ có một số phận và tôi chấp nhận số phận đó của nó. Như đã nói ở trên, tôi thường viết nương theo cảm xúc và viết là một cách để tôi tự trò chuyện, khám phá, hay thanh lọc bản thân tôi. Bài thơ, do đó, khi viết ra đã làm được điều mà nó phải làm. Nếu có những vụng về, nhạt nhẽo thì cũng đã rồi. Tôi không thích phải can thiệp vào nó bằng cái nhìn tỉnh táo quá. Mà chắc gì sửa đi sửa lại sẽ làm cho bài thơ thú vị hơn?

Nguyễn Đức Tùng: Một trong những định nghĩa căn bản nhất của thơ là: sự sắp xếp tối ưu của các chữ tối ưu.

Định nghĩa này có lẽ đang bị thử thách trong thời kỳ hiện nay, nhất là với chủ nghĩa hậu hiện đại.

Đọc tiểu sử một số nhà thơ, tôi có nhận xét riêng: những người làm thơ dài hơi có khuynh hướng làm một lần, ít sửa lại, những người làm thơ ngắn, cô đọng, có khuynh hướng ngược lại, sửa đi sửa lại nhiều lần. Sự khác nhau này gợi ra nhiều vấn đề về sáng tạo và nhất là về mỹ học. Ví dụ: sự khác nhau giữa những người làm thơ có vần và những người làm thơ tự do, xa hơn, giữa lối đọc cổ điển và lối đọc hiện đại.

Ngoài ngôn ngữ thơ, tôi cũng quan tâm đến cấu trúc: một bài thơ của chị kết thúc như thế nào?

Đinh Thị Như Thúy: Khi những dồn nén ám ảnh thôi thúc trong tôi đã chảy trôi hết theo câu chữ thì bài thơ kết thúc. Ví dụ như bài Với con tàu mắc cạn. Cảm giác bất lực của những con tàu đứng sừng sững trên cát dọc bờ biển Đà Nẵng sau cơn bão làm tôi ngột ngạt. Tôi đã nghĩ đến những thân phận mắc kẹt đâu đó trong cuộc đời. Tôi thấy như thể tôi cũng đang mắc kẹt. Và tôi viết. Khi tôi có cảm giác được giải thoát thì bài thơ đã hoàn thành.

Với con tầu mắc cạn
Sinh ra là để đi
Để dịch chuyển tự do
Để đối mặt với bát ngát xa xăm phơi mở những chân trời sóng

Chiều nay con tầu mắc cạn chết sững sờ bãi cát
Bất lực chịu đựng bao ánh mắt
Thảng thốt giấc mơ về lại biển khơi

Chiều nay con tầu đã làm tôi buồn quá
*
Chúng đã từng bồng bềnh duyên dáng
Từng ngạo nghễ rướn tấm thân vạm vỡ
Từng rúc vang những hồi còi náo động

Những cánh tay đã vẫy chào
Những hải âu đã bay vờn
Những lượn sóng bạc đã dựng tường thành cao vút
Những sao đêm đã nhấp nháy cười

Chúng có thể tan nát nơi ghềnh đá
Có thể nhàn rỗi rũ buồn trong bến cảng già nua
Có thể chìm sâu đáy đại dương

Không một tưởng tượng nào về con tầu sừng sững cô đơn đứng chôn chân trên cát mịn
*
Sinh ra là để khát khao
Rạch trên bao la xanh những con đường bạc
Mỗi lần rời bến là một lần sáng tạo
Những lối đi những hải cảng không trùng lắp
Một chân trời khép mở một chân trời

Chiều nay con tầu kinh ngạc chết trong bất động
Kinh ngạc chết mãi không sao hiểu được
Vì sao

Đám đông hiếu kỳ ném vào con tầu cái nhìn giễu cười thương hại
Mơ hồ những dự báo đáng sợ
*
Sinh ra là để mơ
Những giấc mơ sẽ vẫn tiếp tục tràn trề biển khơi và ánh sáng
Khi những giây leo xanh xanh lạnh bắt đầu bò lan
Khi bóng tối mục ruỗng thân tầu lặng lẽ đến
Cùng những con còng lăng xăng gió

Nguyễn Đức Tùng:
 Đây là bài thơ hay và cũng là một trong những bài hay của Đinh Thị Như Thúy. Chị đi tìm điều gì khi đọc một bài thơ (của người khác)?

Đinh Thị Như Thúy: Có nhiều điều để tìm kiếm lắm chứ anh. Cảm xúc, nội dung, đề tài, cách thể hiện. Tìm những điều tôi có. Tìm những điều tôi thiếu.

Tuy nhiên cũng như khi viết, phần nhiều là: tôi đọc thơ chỉ vì thích đọc thôi. Tôi cũng thích được trôi chảy cùng sự trôi chảy của người khác trong các bài thơ của họ. Sự tìm thấy là điều đến sau, và không phải khi nào cũng cần tìm cho bằng được phải không anh?

Nguyễn Đức Tùng: Mặc dù là người nổi tiếng về các bài thơ xúc động lòng người, có khuynh hướng mạnh về xã hội, chính trị, Auden lại là người cho rằng thơ không nhắm hướng tới một vấn nạn nhân sinh gì cả. Ông nói đại ý: tôi hỏi một người trẻ tuổi mới tập viết, tại sao anh làm thơ? Nếu anh ta trả lời rằng anh có một điều gì đó để bày tỏ, phải nói ra cho bằng được, thì tôi sẽ khuyên anh ấy từ bỏ công việc này.

Theo chị, thơ có mục đích gì không?

Đinh Thị Như Thúy: Mục đích của bài thơ là làm xúc động lòng người đó thôi. Và khi lòng người lay động thì người ta có thể làm tiếp một điều gì đó, mà mơ hồ đâu đó trong bài thơ thúc giục. Nhưng những mục đích như thế trong thơ không thể do cố tình mà làm nên được. Tôi nghĩ: tự thân bài thơ sẽ làm được một điều gì đó, nếu nó thực sự được viết ra từ thẳm sâu những xúc động của người viết, trước một vấn đề nào đó của đời sống con người.

Nếu khi viết, người viết có mục đích rõ ràng quá, tính toán sắp đặt gửi gắm quá, tôi nghĩ có khi bài thơ sẽ bị mang vác những thứ không phải là thơ.

Nguyễn Đức Tùng:

Đã có điều gì đó không kịp thời

Đã có cái gì đó chắn ngang đường

(Đinh Thị Như Thúy)

Là một thứ thơ trữ tình mà có tư tưởng, duyên dáng nữ tính mà cứng cỏi. Thơ của chị đầy những nhận diện, chị có sẽ đi đến tận cùng quá trình nhận diện ấy trong thơ chăng?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi không thể nói trước điều gì anh ạ. Biết đâu sẽ có những thay đổi nào đó trong tôi làm thơ tôi khác đi. Duy chỉ một điều tôi chắc không thể khác là những gì tôi viết ra vẫn sẽ trung thực với chính những cảm xúc suy tư trong tôi. Tôi chỉ mong có nhiều khả năng hơn, nhiều cơ hội hơn để được động chạm sâu xa hơn, rõ rệt hơn, cụ thể hơn những đau khổ thực sự của đời sống quanh mình.

Nguyễn Đức Tùng: Những ý kiến của chị rất xúc động. Xin cám ơn chị về cuộc trao đổi thú vị này.

NGUYỄN ĐỨC TÙNG thực hiện
(261/11-10)

Nguồn: 
Tạp chí Sông Hương số 261 (http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c224/n6948/Dinh-Thi-Nhu-Thuy-Sinh-ra-la-tu-do.html.)
READ MORE - ĐINH THỊ NHƯ THÚY: SINH RA LÀ TỰ DO - Nguyễn Đức Tùng

NHỮNG BÀI THƠ VỀ RƯỢU (3) CỦA NGUYÊN LẠC




THUỞ MÊ LẦM
 
Ta từng một thuở mê lầm
Cơn say lỡ đã uống nhầm giai nhân
Thế rồi đành phải trăm năm
Mơ em nhan sắc chết bầm tim ta
 
Còn không độc tửu ngày xưa?
Ta tên ghiền rượu hương mê mơ mòng
Giờ đâu người hỡi giai nhân?
Tìm đâu cái thuở mê lầm thanh xuân?
 
Ai rồi chắc cũng đã từng
Trút bình hết rượu... Mùi hương vẫn còn !
 
 
PHIÊU BỒNG
 
Sáng nay lòng chợt phiêu bồng
Thấy em đứng đó buồn tanh mặt người
Anh đây sao chẳng mỉm cười?
Thôi anh tự diễn "đười ươi" tấu hài
 
"Yêu đời uống rượu sáng nay
Vừa nâng ly đã chớm say ngà ngà
Chớm chừng đã chợt bỏ ra
Đừng say mút chỉ rầy rà tít mây" [*]
 
Rượu đời vừa uống đã say
Rượu tình vừa nhắp thang mây phiêu bồng
Ta mơ... mơ "lá hoa cồn"
Ta mơ "em mọi" hú hồn "đười ươi"
 
Em còn buồn nữa hay thôi?
Muôn đời ta vẫn cánh bay "chuồn chuồn"
"Chuồn chuồn châu chấu" nhớ luôn
Chăn bò đồi vắng "mơ mòng" chiêm bao [**]
 
Cuộc đời dài có là bao
Phiêu bồng ta hãy ... sầu đau làm gì?
 
............
 
[*] Các câu thơ trong Uống rượu yêu đời - Như sương- Bùi Giáng
[**] Anh lùa bò vào đồi sim trái chín - Bùi Giáng
- Những chữ trong "..." là của Bùi Giáng
 
 
ĐỘC ẨM ĐÊM TRĂNG LẠNH
 
Với tay kéo mộng thiên đường
Tặng em… nhìn lại vô thường mà thôi
Thiên đường đã lỡ mất rồi
Còn riêng tan tác một đời lưu vong
 
Vời tay chỉ có hư không
Đâu mùi hương cũ? Xót lòng chén đau
Hẹn em lại một kiếp nào
Kiếp này đành phải khóc màu bể dâu
 
Thôi em còn có gì đâu?
Còn câu thơ cổ "Tiêu sầu cử bôi"! *
Biệt li! Đã biệt li rồi
Có người lữ khách đắng môi nguyệt hàn!
 
............
 
* Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu Lý Bạch
 
 
HỎI TRĂNG
(Nhân đọc Bả Tửu Vấn Nguyệt- Nâng Chén Rượu Hỏi Trăng của Lý Bạch)
 
Ta từng có những đêm vọng nguyệt
Rợn trong hồn thơ cổ nghìn thu
Người sao biết người sao biết được?
Cổ, kim nhân vấn nguyệt nỗi sầu
 
Trăng sẽ rạng sau ngày mây ám
Nguyệt có tàn sau li tán bể dâu?
Ta lữ khách hồn vẫn vầng trăng cũ
Dù biết rằng đời lắm nỗi thương đau
 
Đêm cô lữ trên đầu nguyệt lộng
Người trăm năm tình vẫn mãi thuở nào
Cổ, kim nhân cùng một vầng trăng sáng
Tình xưa nay có khác chi đâu?
 
Người xưa ngắm nguyệt nâng ly hỏi
Ta nay trăng sáng mời rượu nầy
Có khác chi đâu kim hay cổ?
Có khác gì đâu nỗi tình hoài?
 
Người xưa nhàn nhã trong thơ cổ
Mũ áo xênh xang chỉ mộng hoài
Ta nay luân lạc điêu linh khổ
Còn thêm thống hận ngoài tình phai
 
Cô lữ những đêm ta vọng nguyệt
Thấy buốt trong tâm một nỗi buồn
Nâng ly rượu hỏi trăng sao thảm?
Người xưa có thảm giống ta không?
 
                                    Nguyên Lạc

READ MORE - NHỮNG BÀI THƠ VỀ RƯỢU (3) CỦA NGUYÊN LẠC

Monday, March 8, 2021

CÒN NGUYÊN MỘT ĐÓA HOA QUỲNH, CUỘC TÌM KIẾM VÔ MINH – Thơ Lê Văn Trung


 

 
CÒN NGUYÊN MỘT ĐÓA HOA QUỲNH
 
Ôi trăm năm một mùi hương
Còn nguyên trong xác trong hồn của hoa
Ngọt như mật rót từ thơ
Thơm như hương chảy tự hồ dạ lan
 
Ôi trăm năm đóa nguyệt vàng
Còn nguyên xiêm áo đài trang mỹ miều
Em về sáng một vì sao
Tay hồng mở lối xưa vào đào nguyên
 
Tạ trăm năm một cuộc tình
Tạ ơn em, đóa ngọc quỳnh ngát hương.
 
                                       Lê Văn Trung
 
 
CUỘC TÌM KIẾM VÔ MINH
 
tôi tìm tôi trọn một đời
cái tôi tro bụi luân hồi nhân sinh
đến từ sâu thẳm vô minh
trở về từ cỏi vô hình vô ngôn
 
hạt mưa rơi tự đầu nguồn
như tôi hạt bụi rơi buồn ngàn năm
sắc màu nào của trần gian
mà không phai nhạt lụi tàn cùng tôi
 
ra đi từ cõi con người
ta về cùng với đất trời hư không.
 
                          Đồng Nai 2001
                           Lê Văn Trung

READ MORE - CÒN NGUYÊN MỘT ĐÓA HOA QUỲNH, CUỘC TÌM KIẾM VÔ MINH – Thơ Lê Văn Trung

KHÓI ĐỒNG BẰNG – Thơ Tịnh Bình


               Nhà thơ Tịnh Bình



KHÓI ĐỒNG BẰNG
 
Tưới tẩm mùa xanh trên cánh đồng khô hạn
Giọt mưa cằn cỗi gieo nhớ gieo thương
Nắng táp nụ cười muôn đời tần tảo
Cha nâu bùn
Nên con đâu lem lấm chân son...
 
Con neo ước mơ vào đôi cánh chim di
Cha gieo mùa màng bằng giọt mồ hôi đắng đót
Mẹ bấm đốt tay tính toan phiên chợ đời cơm áo
Đêm mệt nhoài trăn trở tiếng ho khan
 
Vun lại liếp rau mẹ chắt chiu trên đôi quang gánh
Trĩu nặng đường cày hạt thóc cũng biết thương cha
Hành trang con xuôi giấc mơ về phố thị
Mùi quê hương thơm thảo vị quê nghèo
 
Những bước chân trở về
Rồi lại ra đi...
Thèm một lần úp mặt vào đất quê
Chợt thương cánh thiên di có bao giờ hiểu được
Vị ngọt phù sa thơm mùi châu thổ
Chỉ khói đồng bằng cay mắt giấc mơ xa...
 
                                           TỊNH BÌNH
                                            (Tây Ninh)

READ MORE - KHÓI ĐỒNG BẰNG – Thơ Tịnh Bình

HỒI ỨC... KHÔNG PHẢI LÀ THƠ – KHALY CHÀM


Nhà thơ Khaly Chàm


hồi ức… không phải là thơ
 
1.
hão vọng luôn dành cho một thằng người
hít thở mùi nụ cười răn đe thú tính
người đàn bà nhặt gió chướng hanh khô
teo tóp những hạt giống được thụ tinh trong ống nghiệm
chắt chiu lắm nhưng chẳng biết để làm gì
đau điếng bảy con quỷ ẩn náu trong tim
người đàn bà trèo lên đỉnh khói sương hai mắt đứng tròng
với tay theo muốn níu giữ khi tôi vừa rơi
 
2.
tôi đã nhìn thấy mình
nằm ngửa mặt trên cánh đồng cỏ ma hoang hoải gió
bầy chim mờ xám trên bầu trời
với đội hình đầu mũi tên bay về phương nam
chúng thả những mật ngữ rơi xuống mắt tôi lạnh buốt

ngươi đàn bà mang cặp kính trắng
mái tóc đen tuyền có thể đã dùng thuốc nhuộm
kéo tay và đỡ tôi đứng dậy dìu đi
tôi chợt nhớ, ngoái cổ lại nhìn cái vỏ chai rỗng không nắp đậy
 
3.
lầm lũi đi trong chiều buông
người đàn bà trên vai quang gánh
những ngọn nắng quái đang trổ mầm bóng tối
mùa đông oặn mình trong chiếc thúng
một lũ bướm đỏ thẫm màu máu thoát thai
có vài con đập cánh trên vạt tóc màu sương muối
một con bướm bà chúa cõng thần hồn tôi bò trên mặt đất
tự lúc nào ngôn ngữ đã trần truồng ói ra bầy rắn độc
má ơi, con vẫn còn thở mà!
 
cuchisaigon 3/2021
khaly chàm
 
READ MORE - HỒI ỨC... KHÔNG PHẢI LÀ THƠ – KHALY CHÀM

Sunday, March 7, 2021

Ca khúc DẠ SẦU - Sáng tác: Nguyễn Tâm Hàn - Trình bày: Nguyên Giải Tú Lệ


Lời bài hát: Dạ Sầu

Sáng Tác: Nguyễn Tâm Hàn

Chép từ nhaccuatui.com

 

Lặng nghe tiếng ...gió khua ngoài song

Vời theo ánh trăng lan trời mơ

Thuyền trăng lẻ loi lơ lững trong sương

 

Vườn khuya lắng ... dế khơi niềm riêng

Vàng nỗi nhớ ... nhớ khung trời xưa

Chợt nghe giá băng se sắt tâm hồn

 

Từng ngày tháng ... ý sầu dâng...

Hạc đã xa vời xa ... Lầu yêu vẫn chất ngất hương tình cũ

Đời ... lang thang cánh chim hải âu

Tình... đan theo sóng cho lòng mãi luyến nhớ

Buồn

 

Sầu lữ thứ ... trái tim quặn đau

Vời dĩ vãng ... cố nhân tìm đâu

Lầu trăng hắt hiu hoen úa đêm mơ

 

Ngày xanh đã bóng câu thời gian

Niềm thương nhớ sóng loang dòng Tương

Hồn vương thức mây ... đàn phím tơ chùng

 

Nguyễn Tâm Hàn


From: tamhan44@yahoo.com
READ MORE - Ca khúc DẠ SẦU - Sáng tác: Nguyễn Tâm Hàn - Trình bày: Nguyên Giải Tú Lệ

MẸ QUÊ HƯƠNG - Thơ Phạm Ngọc Thái

 

Thân mẫu nhà thơ Phạm Ngọc Thái



            MẸ QUÊ HƯƠNG

            Kỷ niệm 8/3: Tưởng nhớ về mẹ yêu thương

                       (Bài thơ viết trong chiến tranh.)
                                                          *

Gió đưa cánh võng lưng đèo
Thoảng như tiếng mẹ buông vào canh sâu...
"Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng"


Mẹ ru Kiều giữa đêm giông
Cho con say giấc mơ nồng tuổi xanh
Mẹ ru Kiều giữa năm canh
Nuôi con trong mái nhà gianh phố nghèo


Con qua trăm núi trăm đèo
Còn nghe tiếng mẹ chiều chiều vẫn ru
Đường dài theo nhịp võng đưa
Trăng mơ bóng núi con mơ bóng chiều


Con ăn một búp măng vầu
Đã quen như lá rau bầu quê hương
Những ngày lạt muối, đói cơm
Con lùi thêm khúc sắn thơm lửa hồng.


Mẹ ơi! Trời rộng vô cùng
Thương con mẹ nhớ đừng buồn, mẹ nghe!
Sương rơi ướt vạt cỏ khuya
Chỉ lo mẹ ở miền quê thức hoài


Mẹ giờ tóc đã hoa mai
Sáu mươi đời mẹ hai vai nước, nhà...
Một thân mẹ sống trọn già
Tiễn chồng rồi (lại) tiễn con ra chiến trường


Mẹ hiền muôn nỗi nhớ thương
Đêm nay con trẻ tìm đường thăm quê
Mẹ đừng khóc nhé, mẹ nghe!
Chín năm xa một lần về trọn vui.

Ngẩn ngơ nên gió bồi hồi
Nhìn trăng bóng đã ngả dài núi xa...
 

         Phạm Ngọc Thái

READ MORE - MẸ QUÊ HƯƠNG - Thơ Phạm Ngọc Thái

NGÀY 8/3 ĐỌC “RÉT BÂN NHỚ MẸ”, THƠ HẠT CÁT DIỆU SINH – Đặng Xuân Xuyến

  

Nhà thơ Hạt Cát Diệu Sinh Bùi Cửu Trường

                       

RÉT BÂN NHỚ MẸ

 

Rét Bân vương má con hạt mưa

Kiểu mưa Bân này dễ ho, mẹ ạ

Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?

Mẹ đủ không / khi đất buốt tê?

 

Mẹ ơi!

Từ hồi Mẹ đi

quanh con hơ hoác trống.

 

Mưa Bân chắt lọc

từ li ti hương xuân rất trong

Tình mẹ ấm nồng

gom nhặt từ tháng ngày vất vả

tháng ngày ngược xuôi tất tả

lần hồi mẹ áo nâu sờn...

 

Mưa Bân rất tròn

mỏng dầy xếp giọt

Trời thương Nàng Bân, Trời ban rét ngọt

Con xin Trời cho con nắng tươi

cho con thấy nụ cười

nhóng nhánh hạt na đen của mẹ.

 

Rét Bân rất nhẹ

Đủ lùa thông thống tháng ba.

Đủ cuốn tuổi đông con

về Mẹ chốn bao la

Tìm hơi ấm Mẹ.

 

Hà Nội, 08 tháng 03.2019

Bùi Cửu Trường

 

*

 

NGÀY 8/3 ĐỌC “RÉT BÂN NHỚ MẸ”, 

THƠ HẠT CÁT DIỆU SINH

                                                            Đặng Xuân Xuyến                           

  

Sáng ngày 8 tháng 3, tôi được đọc một bài thơ tự sự, viết về MẸ của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường.

Bài thơ có tựa đề: RÉT BÂN NHỚ MẸ.

 

Tôi ấn tượng với bài thơ ở ngay những câu đầu:

 

"Rét Bân vương tay con hạt mưa

Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ

Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?

Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?"

 

Những câu thơ tự sự giản dị, mộc mạc, trĩu nặng nỗi niềm, từ hạt mưa vương vào tay, gợi nên nỗi lo dịu dàng thường trực: "Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ", rồi đột nhiên thay đổi tâm trạng, từ dàn trải tâm sự sang dồn nén những lo lắng:

 

"Mẹ đủ ấm không/ khi trời lạnh giá?

Mẹ đủ ấm không/ khi đất buốt tê?"

 

Khiến người đọc sững lại, rồi trầm lặng khá lâu trước sức ám ảnh của những hình ảnh xuất hiện trong những thước phim rất ngắn. Đến đây, người đọc mới vừa thốt lên lời đồng cảm cùng tâm trạng xót thương của người con hiếu đễ với người Mẹ đã khuất, thì lại vỡ òa cảm xúc bằng những câu tự sự lắng đầy nước mắt. Sự nhớ thương trong đau xót, cút côi được dồn nén đến tận cùng bởi những câu thơ ngấn lệ, trầm buồn:

 

“Mẹ ơi

Từ hồi Mẹ đi

quanh con hơ hoác trống.”

 

3 chữ “hơ hoác trống” đã diễn tả tất cả sự nhớ thương - mất mát - cút côi của người con khi mất Mẹ.

 

Tôi thích 4 câu thơ:

 

"Rét Bân vương tay con hạt mưa

Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ

Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?

Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?"

 

được viết ban đầu hơn so với 4 câu đã được nhà thơ chỉnh sửa.

Bởi theo cảm nhận của riêng tôi thì 4 câu chưa chỉnh sửa rất gợi cảm xúc với người đọc. Câu “Rét Bân vương tay con hạt mưa” gợi tâm trạng chông chênh, chới với của người con giữa trời mưa rét khi cô đơn, vắng (mất) Mẹ. Sự lặp lại cụm từ 4 chữ: "Mẹ đủ ấm không" ở 2 câu cuối khổ thơ: “Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?” - “Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?” nghe chân chất, mộc mạc, như tự nhiên bật ra trong tâm thức nhà thơ trước cái lạnh giá của tiết trời và chính sự lặp lại cụm từ 4 chữ ấy đã làm câu thơ thêm day dứt, xót xa. Câu thơ lấy nước mắt người đọc bởi sự tự nhiên, chân chất ấy. Nhưng với 2 câu thơ đã chỉnh sửa: “Chân mẹ ấm không / rét Đài sương giá?” - “Tay mẹ cóng không / rét Lộc buốt tê?” thì sự cẩn thận về kiến thức, sự cầu toàn về ý thức tay nghề đã lấy đi nét mộc mạc, dung dị, khiến câu thơ trở nên thiếu nhựa. Sự rành mạch "rét Đài" - "rét Lộc" - “rét Bân” vì sự cầu toàn... ở 2 câu thơ trên là không cần thiết, bởi theo thiển nghĩ của người viết, sự rành rẽ câu chữ như thế khiến bạn đọc khó "phiêu" cùng bài thơ để khám phá và cảm thụ bài thơ, cũng vì thế mà làm bài thơ bớt hay.

 

Là kẻ lười đọc thơ nhưng tôi lại thích đọc thơ Bùi Cửu Trường, có lẽ vì cách dùng từ ngữ của bà khá độc đáo, sáng tạo nhưng vẫn giữ được chất dân dã, chân quê. Những câu: “Từ ngày mẹ đi/ quanh con hơ hoắc trống”, "lần hồi mẹ áo nâu sờn .."/ "Nhóng nhánh hạt na đen của Mẹ." hay: "Rét Bân rất nhẹ/ đủ lùa thông thống tháng ba/ đủ cuốn tuổi Đông con" trong RÉT BÂN NHỚ MẸ, tuy chưa phải là những câu thơ thật hay, những câu thơ tài hoa nhưng những câu thơ đậm dấu ấn rất riêng của Bùi Cửu Trường như thế thì không phải dễ làm, không phải cứ muốn là viết được.

 

                                                         Hà Nội, chiều 08 tháng 03.2019

                                                               ĐẶNG XUÂN XUYẾN



READ MORE - NGÀY 8/3 ĐỌC “RÉT BÂN NHỚ MẸ”, THƠ HẠT CÁT DIỆU SINH – Đặng Xuân Xuyến

GÁI LỠ THÌ - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

 



GÁI LỠ THÌ

Truyện ngắn

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN


                Năm bốn mươi tuổi chị vẫn chưa lấy chồng. Sinh ra trong gia đình nghèo lại là chị cả trong nhà, chị chưa bao giờ nghĩ bất cứ điều gì cho bản thân: Khi thanh xuân vừa đến chưa kịp bắt đầu yêu thì ba mất, trụ cột trong nhà ra đi, người mẹ già yếu và đàn em thơ khiến chị dường như chỉ biết sống với nỗi niềm tận lực cố gắng làm tất cả để lo cho gia đình. Chẳng mấy chốc nhờ tính chịu thương chịu khó chị xin được vào làm ở một công ty lớn. Tính chất của công ty khiến mỗi ngày đi làm đều là một cuộc đấu tranh nhưng nó lại khiến chị hào hứng. Phần vì tuổi trẻ háo thắng, phần vì thực lực được công nhận, cứ thế chị dần quên đi thanh xuân của mình chưa một lần lỗi nhịp vì ai.

            Được ít lâu mẹ chị qua đời, chị trở thành người nuôi những bốn đứa em. Từng giây của cuộc đời chị là một cuộc chạy đua không mệt mỏi và chưa bao giờ dừng lại. Đến khi chúng dần lớn lên, chị dựng vợ gả chồng cho từng đứa thì cũng là lúc chị chợt nhận ra ngôi nhà nhỏ chỉ còn bóng hình của một phụ nữ nửa chừng xuân.

             -Chị này, hay cứ thử tìm hiểu một ai đó xem. Em nghe phòng bên có anh Đình nghe đâu được lắm, cũng trạc tuổi chị. Thử thôi có chết ai.    

         Nhỏ em đồng nghiệp “mồi chài” chị. Ban đầu chị không thích, đã quá lâu chị chưa bước ra khỏi vỏ bọc của mình, cũng chưa hiểu phải đối xử với một người khác giới là như thế nào. Chị cuồng công việc, về đến nhà chỉ lo cho gia đình, dù công việc chị thăng tiến đến đâu thì trong giao tiếp với đàn ông, tất cả chỉ là số 0 tròn trĩnh. Nhờ sự tác động của đứa em, chị bắt đầu có những cuộc hẹn đầu tiên với người đàn ông tên Đình ấy, là người của tổ nhân sự, theo như cách anh ta giới thiệu là vẫn còn độc thân. Hai người bắt đầu điện thoại qua lại, tâm sự hàng đêm, có lẽ vì đều bước vào tuổi “ băm” và cũng vì đều quá cuồng công việc nên hai người cũng có khá nhiều điểm chung để nói.

            “Chị là ai”

            “Ai vậy?”

            “Tôi thấy chị và anh Đình hay nhắn tin cho nhau, điện thoại nữa. Chị dừng lại đi, đừng phá vỡ hạnh phúc gia đình tôi. Tôi là vợ của anh ấy.”

            Mối tình đầu của chị tan vỡ đơn giản chỉ vì sự nói dối của một người đàn ông. Nhưng khi mọi việc bắt đầu lộ ra, mọi người nhìn chị bằng những con mắt khác: Có người nói làm sao chị không biết người kia đã có gia đình được, chị phá vỡ gia đình người ta; Có người dè bỉu chị đã lỡ thì, bỗng nhiên tuổi tác cũng trở thành một vấn đề để khinh rẻ; chỉ một số ít mới thấy chị đáng thương khi bị lừa dối.

            Người đàn ông thứ hai đến với chị là một đối tác giao tiếp làm việc với chị từ lâu. Câu đầu tiên anh ta nói với chị là: "Mình hãy thử tìm hiểu nhau đi” nhưng câu thứ hai đã là: "Đã ế quá rồi, sale thôi chứ cần gì tính toán.” Có thể là lời nói đùa mà thôi nhưng nó vô tình làm chị cảm thấy bị tổn thương. Người phụ nữ khi đã quá tuổi dường như chỉ được xem như một món hàng giảm giá, không có sự lựa chọn, là ai cũng được.

              -Anh ta giàu, mình cũng quá lứa rồi. Thôi cứ ưng thuận về làm vợ tới đâu thì tới. Tuổi này rồi làm gì có quyền lựa chọn ai.   

            Ngay cả những người quen của chị cũng khuyên như thế, chị chợt nhận ra phận người phụ nữ bi đát quá. Dù thế, chị vẫn mong dành thời gian để nói chuyện tìm hiểu, chị không muốn sự lựa chọn của cả một đời người là sai lầm.

            -Tôi nói rõ luôn với em là tôi không có thời gian cho việc tìm hiểu. Một là cưới, hai là thôi. Nam nữ sinh ra chỉ có cho việc này mà thôi.  

             Không hiểu “ việc này” mà anh nói là gì nhưng chị lại kết thúc một mối tình thoáng qua mau chóng.

            -Chị uống nước đường đỏ, hình như chị lại đau bụng. Anh nhẹ nhàng đặt trước mặt chị, từ mấy năm trước trong một lần vô ý biết ngày tới tháng của chị và chị đau bụng như thế nào, anh vẫn hay để ý nấu loại nước này – Chị không cần cố gắng để kiếm tìm một người đàn ông hợp với mình rồi miễn cưỡng. Bất quá thì cứ như tôi này, độc thân và chơi với nhau từ bấy.

            Câu nói của người đàn ông trẻ hơn chị non hai tuổi và đã là đồng nghiệp kể cũng hơn chục năm từ những ngày mới vào làm khiến chị bật cười. Chị và anh quá thân với nhau và luôn là một tổ hợp nổi bật “nghiện công việc” trong công ty đến độ chị không nhận ra khi chị trải qua những khó khăn nhất trong cuộc đời chị đều có anh. Cả khi chuyện với người ngoại tình kia xảy ra, khi mọi người dè bỉu chị cũng chỉ có mình anh nói với tất cả:

             -Mọi người đều đã là đồng nghiệp lâu năm, đều hiểu rõ chị nhưng cuối cùng lại chỉ vì một đề tài trò chuyện mà nỡ bán đứng chị sao? Ai lo cho mấy người khi vừa vào công ty, chỉ bảo tận tình? Ai đưa ra lời khuyên? Ai gánh tội khi mọi người bị cấp trên quở trách? Chị phá vỡ gia đình người ta? Bản thân các người đều biết rõ câu trả lời nhưng các người đều trốn tránh, việc xâu bao giờ cũng dễ buôn chuyện hơn.

           -Cũng chỉ mình anh mỗi tối sau khi tan ca đều để lại nơi bàn chị một hộp sữa hoặc khi những việc không hay xảy ra cũng chỉ mình anh tối nào cũng tới nhà chị chở chị đi ăn cho kì được do sợ chị bỏ bữa. Chị đánh vào vai anh cái bộp: "Bạn thân” rồi tự sốc lại tinh thần mình làm việc tiếp. Tiếng một người nói nhỏ vào tai anh: "Hơn thập kỉ rồi đấy, đến khi nào mới nói với chị ấy, chỉ là lí do cậu vào công ty này?”  Anh phì cười: "Không sao đâu anh, em đã đợi chị ấy cả từng ấy năm, đến giờ em vẫn còn đợi được.”

           

Tác giả : Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

 Phongtruongtu201@gmail.com


 

READ MORE - GÁI LỠ THÌ - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân