Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, December 14, 2018

TIỄN BẠN 2 - Nguyên Lạc



                          Nhà bình thơ Nguyên Lạc


TIỄN BẠN 2
Nguyên Lạc  

Lời cẩn báo:
Xin thưa: -- Tính nhân bản là một thuộc tính của thơ hay, nước nào cũng có, chỉ có trước hay sau thôi. Cái hay, cái đẹp, nhân bản là tài sản chung của nhân loại; nó không cón riêng của tác giả khi đã được công bố cho công chúng. Những bài thơ Đường tôi phóng dịch vì lẽ nầy, chứ không phải vì "sính ngoại", vi "đội Hán" hay vì muốn chứng tỏ ta đây "tót vời",  "riêng một góc trời" (tựa một bài nhạc). Hãy trân trọng cái hay, cái đẹp của tiền nhân, với điều kiện nó không phục vụ cho một ý đồ xấu. Tiền nhân chúng ta cũng có những bài thơ rất hay tôi từng phóng dịch, thí dụ của Nguyễn Du. Có gì xin các cao nhân bỏ qua cho. Trân trong - Nguyên Lạc
                                      ***
Trong bài TIỄN BẠN 1 tôi có bàn sơ lược về bạn TRI KỶ, nay trong bài 2 tôi xin tóm lược lại để các bạn chưa đọc bài 1 khỏi tốn thời giờ truy tìm.
Tiễn bạn ở đây theo ngu ý riêng tôi là tiễn bạn TRI ÂM, TRI KỶ, chứ không phải là bạn bình thường. Bạn TRI ÂM, TRI KỶ rất khó tìm. Tôi xin mạn phép ghi ra vài dòng về các bạn này.

BẠN TRI ÂM TRI KỶ

1. Bạn Tri kỷ trong tiếng Anh
Trong tiếng Anh, Tri kỷ là: Soulmate, Confidant
-- Soulmate (noun): a person ideally suited to another as a close friend or romantic partner.
[Tạm chuyển ngữ: Một người hoàn toàn phù hợp (lý tưởng) với người khác như là một người bạn thân hoặc người bạn tình lãng mạn]
-- Confidant (noun): a person with whom one shares a secret or private matter, trusting them not to repeat it to others.
[Tạm chuyển ngữ: Một người mà từ họ, ta chia sẻ một vấn đề bí mật hoặc riêng tư, tin tưởng họ không kể lại những điều này với người khác]

2. Bạn Tri ktrong tiếng Việt (và Chinese)
Bạn Tri ktrong tiếng Việt (và Chinese) rộng nghĩa hơn
-- Bạn Tri kỷ: Người hiểu được lòng mình, hiểu được tâm tình và hiểu được cảm giác, tư tưỡng, ngụ ý và cả những điều mình chưa nói hẳn dĩ nhiên không phải đã d kiếm.
-- Bạn Tri k: Người thực sự có sự kết nối đặc biệt với bạn. Bạn luôn cảm thấy có mối liên hệ nào đó với họ, đặc biệt là bạn khó kiềm chế được những rung động và cảm xúc của bản thân với họ. Hơn bất kỳ ai, bạn luôn muốn được ở gần họ nhiều hơn, chia sẻ những điều bạn đang giấu kín với mọi người cho họ. Đó là người duy nhất có thể giúp bạn mở lòng.
Bạn người tri kỷ giống như chiếc chìa khóa, mở ra những cảm xúc bí mật ẩn sâu bên trong tâm hồn bạn, giúp bạn có được những thứ chân thật nhất trong cuộc đời này.
Bạn tri kỷ luôn là người hiểu ta nhất. Chỉ có người ấy mới biết được ta nghĩ gì, buồn gì, vui gì, thích gì, ghét gì… dù ta không cần nói gì hết.
Bạn tri kỷ là người ta mong tìm đến nhất mỗi khi gặp chuyện khó khăn, đau khổ, bất hạnhVà sau khi được tâm sự, những muộn phiền ưu tư sẽ nguôi ngoai… ta bỗng thấy nhẹ lòng hơn.

3. Diogenes “người hoài nghi”
 -- Người tri kỷ - thường người lương thiện - rất hiếm, rất khó tìm nên ông Diogenes từng xách đèn đi ngoài phố giữa ban ngày tìm.
Diogenes “người hoài nghi” (tiếng Hy Lạp: Διογένης ὁ Κυνικός, Diogenes ho Kunikos) là một nhà triết học Hy Lạp và là một trong những người sáng lập nên trường phái triết học Hoài nghi. Còn được gọi là Diogenes thành Sinope. ông được sinh ra tại Sinope (ngày nay là Sinop, Thổ Nhĩ Kỳ) trong năm 412 hoặc 404 TCN và qua đời tại Corinth năm 323 TCN - (Wikipedia)
Khi được hỏi làm gì đấy, ông trả lời: “Tôi đi tìm một người lương thiện.” Tương truyền ông chỉ gặp toàn bọn bất lương và vô lại. [*]
-- Bạn tri kỷ "cùng phái tính" đã quý, "khác phái tính" - Hồng nhan tri kỷ, Quân tử tri âm - càng hiếm quý hơn, và thường dễ bị "vượt rào" phải không các bạn?
Có một tiền nhân (tôi quên tên) đã nói đại khái: "Có một người vợ yêu chưa đủ, cần nên có thêm một bạn tri kỷ"; nữ càng quý (NL). Vì lập thuyết của Nho giáo phục vụ cho chế độ quân chủ phong kiến,  "Trọng Nam Khinh Nữ", nên thường ai cũng nghĩ "tri kỷ khác phái" là Hồng Nhan Tri Kỷ. Sao không nghĩ là Quân Tử Tri Âm? Người nữ cũng có quyền nghĩ: "Có được người chồng yêu chưa đ, cần nên có thêm một bạn tri kỷ", Quân Tử Tri Âm càng tốt phải không?
4. Tri âm và Tri k
-- Tri âm
Ai từng nghe qua sự tích Bá Nha - Tử Kỳ hẳn sẽ biết câu: “Cao sơn lưu thủy, tri kỷ khó tìm”. Đây là đôi bạn Tri âm
Bá Nha và Tử Kỳ là đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha làm quan, Tử Kỳ làm nghề đốn củi (tiều phu).
 Bá Nha họ Du tên Thụy, người ở Sính Ðô nước Sở (nay là phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng). Tuy là người nước Sở, nhưng làm quan cho nước Tấn, chức Thượng Ðại Phu.
 Tử Kỳ, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn, gần núi Mã Yên, ở cửa sông Hán Dương, là một danh sĩ ẩn dật, báo hiếu cha mẹ tuổi già nua, làm nghề đốn củi.
Một hôm, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua Sính Ðô nước Sở, vào triều kiến vua Sở trình quốc thư và giải bày tình giao hiếu giữa hai nước, được vua Sở và quần thần thiết tiệc khoản đãi. Bá Nha nhơn dịp nầy đi thăm mộ phần tổ tiên, thăm họ hàng, xong vào từ biệt vua Sở trở về nước Tấn.
Khi thuyền trở về đến cửa sông Hán Dương, nhằm đêm Trung Thu, gặp Tử Kỳ người hiểu rõ tiếng đàn mình, Bá Nha sanh lòng cảm mến nên xin kết nghĩa anh em, để không phụ cái nghĩa TRI ÂM mà suốt đời Bá Nha đi tìm chưa từng gặp.
Hai người kết làm anh em. Tử Kỳ nhỏ hơn Bá Nha 10 tuổi nên làm em. Khi phải chia tay, Bá Nha hẹn ước Tử Kỳ đúng ngày Trung Thu năm sau, hai anh em sẽ hội ngộ nhau tại nơi nầy.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, gần ti ngày ước hẹn với Tử Kỳ, Tử Nha tâu xin vua Tấn cho nghỉ phép về thăm quê nhà
Bá Nha thu xếp hành trang đến núi Mã Yên kịp ngày Trung Thu ước hẹn. Kìa là núi Mã Yên mờ mờ sương lạnh, tịch mịch, nhưng không một bóng người. Bá Nha nghĩ thầm rằng năm trước nhờ tiếng đàn mà gặp được tri âm, đêm nay ta phải đàn một khúc để gọi Tử Kỳ lại.
Sau khi đốt hương trầm, đem Dao cầm ra so dây, Bá Nha đặt hết lòng nhớ nhung của mình vào tiếng đàn réo rắt.  Nhưng sao nghe trong tiếng đàn lại có hơi ai oán. Bá Nha dừng tay suy nghĩ: - Cung Thương có hơi ai oán thảm thê, ắt Tử Kỳ gặp nạn lớn. Sáng mai ta phải lên bờ dọ hỏi tin tức.
Biết ra Tử Kỳ bị bệnh mất rồi Bá Nha khóc nức nở. Khi đến phần mộ Tử Kỳ , Bá Nha sửa lại áo mũ, sụp lạy. Lạy xong, Bá Nha gọi mang Dao cầm tới, đặt lên phiến đá trước mộ, ngồi xếp bằng trên mặt đất một cách nghiêm trang, so dây tấu lên một khúc nhạc thiên thu tiễn người tri âm tài hoa yểu mạng. Tấu khúc nhạc xong, Bá Nha phổ lời ai oán, thay lời ai điếu, vĩnh biệt bạn tri âm. Xong Bá Nha vái cây Dao cầm một vái, tay nâng đàn lên cao, đập mạnh vào phiến đá trước mộ Tử Kỳ; đàn vỡ tan nát, trục ngọc phím vàng rơi lả tả, rồi ca:
Dao cầm đập nát đau lòng phượng,
Ðàn vắng Tử Kỳ, đàn với ai?
Gió xuân khắp mặt bao bè bạn,
Muốn kiếm tri âm ôi khó thay!
(Viết theo Thư Viện Việt Nam)

-- Tri k

Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân.

Trên đồ sứ Trung Hoa ta thường thấy vẽ 7 ông cụ già ngồi trong rừng tre, kẻ đánh cờ, gẩy đàn, người uống rượu, ngâm thơ. Đó là hình ảnh của Trúc Lâm Thất Hiền đời nhà Ngụy (220-264). Kê Khang là một trong bảy người hiền này.
Kê Khang (223-262) là một người có khí tiết thanh khiết, giàu lòng nghĩa hiệp và cũng là người có biệt tài trong các môn cầm, kỳ, thi, họa ...
Kê Khang vốn họ Khuê, người đất Thượng Ngu, huyện Cối Kê (nay là huyện Thiện Hưng, tỉnh Chiết Giang). Vì một sự thù oán nên ông dời về ở ẩn huyện Hoa Dương, tỉnh An Huy. Gần chỗ ông ở có núi Kê Sơn nên lấy núi Kê làm họ.
Kê Khang cũng như 6 người bạn kia đều thích an nhàn dật lạc, say mê đạo Lão.  Có kẻ nói: "Ba ngày không đọc "Đạo Đức kinh" thì miệng thấy hôi".
Kê Khang làm quan một thời gian rồi từ quan để hưởng cảnh nhàn lúc về già. Từ quan, Kê Khang sống một cuộc đời ẩn dật, ngày ngày ngao du sơn thủy, hái thuốc, vui say với vần thơ điệu đàn.
Lúc ấy ở huyện Đông Bình có người tên Lữ An, vì ngưỡng mộ danh tiếng của Kê Khang nên tìm đến ra mắt. Hai người gặp nhau tâm đồng ý hiệp nên trở thành bạn tâm giao, tri k.
Thời bấy giờ nhà Ngụy suy vi, Tư Mã Chiêu có ý muốn soán ngôi nên tìm mọi cách để trừ khử những kẻ không theo mình. Lữ Tốn vốn là bộ hạ thân tín của Tư Mã Chiêu, cũng là anh họ của Lữ An, thấy vợ của Lữ An xinh đẹp nên y có ý muốn chiếm đoạt. Y bắt Lữ An hạ ngục. Vì tình bạn tri kỷ, Kê Khang không sợ lụy thân, đứng ra minh oan.  Nhưng rồi cuối cùng Kê Khang cũng bị bọn quyền thần bắt giam, dựng tội phản loạn, kết án tử hình chém ngay giữa chợ.  Kê Khang chết vì bạn tâm giao, tri k.
Kê Khang đàn rất hay, khúc "Quảng Lăng" do ông sáng tác khi đánh lên khúc đàn nghe lưu loát, thảnh thoát như nước chảy (lưu thủy), mây bay (hành vân).
Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn tả tiếng đàn của Kiều khi nàng gẩy cho Kim Trọng nghe buổi sơ ngộ, có câu:
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân.
(Viết theo Nguyễn Tử Quang)

Mỗi lần nghe đến cụm từ "khúc Quảng Lăng" là ta sẽ nhớ đến Kê Khang, một người chân chính, hết lòng vì nghĩa bạn bè, chết vì người tri kỷ.
@. Theo Nguyên Lạc tôi, Bá Nha -Tử Kỳ chỉ là một truyền thuyết về tình bạn thông qua thẩm âm, hiểu lòng qua tiếng nhạc;  tình bạn loại nầy so với tình hết lòng vì "nghĩa bạn bè" của Kê Khang - cư xử nhau hết tình, hết nghĩa, xem nhẹ cả mạng sống riêng mình -  tôi trọng những người như Kê Khang hơn.
Tri Âm đã khó kiếm, Tri Kỷ càng khó tìm.

5. Việc giao tiếp
Xin được ghi ra đây ý nghĩ riêng của tôi về việc giao tiếp:
Trong việc giao tiếp ở đời, nên đối xử nhau bằng "Tình đáp tình", đừng xem nhau ta / địch: - Trao tha nhân ân tình thì sẽ nhận lại được ân tình. Giống như quả bóng ném vào bức tường sẽ dội ngược lại, ném mạnh thì dội mạnh. Ném sân si vào "bức tường đời" thì nhận lại được sân si thôi!, nhân nào quả nấy như nhà Phật đã nói. Trân trọng yêu thương cuộc đời thì đời sẽ trân trọng yêu thương lại ta.

BÀI THƠ TIỄN BẠN
Bài thơ tiễn bạn của Cao Thích: BIỆT ĐỔNG ĐẠI kỳ 2
1. Tiểu sử
Cao Thích (chữ Hán: 高適, 702-765), tự Đạt Phu (達夫); là nhà thơ thời Thịnh Đường ở Trung Quốc. Ông cùng với Sầm Than, Vương Xương Linh, là ba gương mặt tiêu biểu trong phái thơ biên tái - Thơ Biên tái: có thể hiểu nôm na đó là những bài thơ sáng tác trong hoàn cảnh chiến tranh, loạn lạc. khi mà những người chiến sĩ ra trận, tâm trạng của họ nhớ về quê hương, nhớ về người thân hay những ý chí sục sôi quyết lập công nơi biên ái.
Cao Thích 高適 (702-765) tự Đạt Phu 達夫, người Thương Châu (nay là tỉnh Hà Bắc,Trung Quốc), trong một gia đình nghèo. Năm Khai Nguyên thứ 22 (đời Đường Huyền Tông), ông theo giúp Tín An Vương lên biên tái đánh giặc Khiết Đan, sau đó lại đi du ngoạn ở vùng Hà Nam. Cho đến năm 40 tuổi, Cao Thích còn lận đận, sống đời áo vải lang thang đây đó. Sau đó được người cất nhắc, thi đỗ hữu đạo quan và được lên làm quan ở Trường An. Ông được giữ chức huyện uý. Tâm tính ông không hợp với chức này, thường làm thơ than thở. Sau đó thăng Tiết độ sứ ở Hà Tây. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, ông tắt đường đến với Huyền Tông ở Hà Trì, dâng thư nói về nguyên nhân thất bại ở cửa ải Đồng Quan được làm Gián nghị đại phu. Sau có công đánh dẹp Vĩnh Vương Lý Lân, được Đường Túc Tông thăng tước hầu ở Bột Hải. [Wikipedia]

2. Nguyên tác bài thơ:

別董大其二 
千里黃雲白日曛,
北風吹雁雪紛紛。
莫愁前路無知己,
天下誰人不識君。
.
BIỆT ĐỔNG ĐẠI kỳ 2
Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân
Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân
Mạc sầu tiền lộ vô tri k
Thiên hạ hà nhân bất thức quân?
(Cao Thích)

3. Dịch nghĩa

Chia tay Đổng-Đại kỳ 2
Ngàn dặm mây vàng, mặt trời đã xế chiều
Gió bấc thổi, tuyết rơi tả tơi, chim nhạn bay đi lệch phương hướng
Chớ buồn con đường phía trước, nơi đất khách  không có người tri kỷ
Vì trong thiên hạ hỏi xem có ai là người không biết bạn?

Ý thơ:
 – Tiễn bạn ra đi trong một chiều, có mây vàng sáng rực - mây vàng trời gió, mây đỏ là mưa - Dự báo thời tiết khắc nghiệt - Y chang, tuyết rơi và gió bấc lạnh thổi về rất mạnh,lòng e ngại . Nhạn còn bay chệch đường huống chi người nghệ sĩ như anh . Liếc nhìn ta hiểu bạn không lo vì thời tiết, nhưng sợ cô đơn nới xứ người – Ta bảo đừng lo trên đường đi đến đích (hướng phía trước) không có người tri kỷ tri âm, bởi người trong thiên hạ ai mà người không biêt đến tên bạn (ý Laiquangnam)

4. Dịch thơ

Chia tay Đổng-Đại
ời dặm vàng pha bóng nhật vân,
Nhạn xuôi gió bấc tuyết bay nhanh
Chớ buồn nẻo trước không tri kỷ!
Thiên hạ ai người chẳng biết anh!
(Bản dịch của Tản Đà)

Nguyên Lạc phóng dịch

Tương biệt với Đổng Đại
Tiễn bạn mây vàng chiều cay mắt
Bấc cuồng tuyết đồ nhạn lệch phương
Buồn chi hướng trước không tri kỷ?
Thiên hạ tên người đã tỏa hương![*]
...........
[*] hữu xạ tự nhiên hương
***
Qua trên ta thấy tình bạn rất đẹp của các thi nhân, đầy nhân bản.
Nguyên Lạc
.....................      
Tham khảo: Thư Viện Việt Nam, Nguyễn Tử Quang, Laiquangnam, Thi Viện, Vũ Thị Minh Huyền, Wikipedia...
Ghi chú:
[2] Theo sử gia Plutarch, khi Alexander Đại Đế tới Corinth, những người đứng đầu thành phố và các triết gia đã lũ lượt kéo nhau tới yết kiến Alexander, chỉ riêng Diogenes vắng mặt. Alexander bèn đích thân đi tìm Diogenes, và thấy ông này đang nằm dài sưởi nắng bên cái thùng ông dùng làm chỗ ngủ. Khi Alexander Đại Đế hỏi: “Hỡi nhà hiền triết, ngươi có muốn ta làm gì giúp ngươi không?”, Diogenes đã trả lời: “Ngài hãy đứng tránh sang một bên để khỏi che lấp ánh mặt trời của tôi.” Các triết gia và đám tùy tùng của Alexander Đại Đế nghe vậy cười phá lên, trong khi chính Alexander Đại Đế nói: “Nếu ta không phải là Alexander thì ta đã là Diogenes.” (theo Đỗ Đình Đăng)

READ MORE - TIỄN BẠN 2 - Nguyên Lạc

MƯA TÂY NGUYÊN - Thơ Đình Thu

Tác giả Đình Thu

Mưa Tây Nguyên

Thả cảm xúc rơi lưng chừng núi
Theo em về Ea Súp ngắm mưa
Cánh rừng thưa
Gọi hồn phố xá
Nằm vắt ngang lưng trời

Môi chưa chạm
Đã nghe mùi gió núi
Nồng nàn…
Trách!
Ông trời đa đoan
Mang về xuôi lời hẹn ước
Con suối khóc ướt nửa bờ vai
Mùa yêu không quay trở lại

Vạt nhớ hanh hao gầy
Nằm nghiêng triền dốc
Chiều trôi qua
Mưa Tây Nguyên khác lạ
Rót nỗi buồn vào trời xanh
Cái tàu lá chuối đành hanh
Sao mà nó biết rằng anh… mai về 
                                                                  Đình Thu


READ MORE - MƯA TÂY NGUYÊN - Thơ Đình Thu

ĐỌC ĐƯỜNG THI “CÀ PHÊ HUÊ” CỦA ÁI KHANH - Châu Thạch

 
Ái Khanh


ĐỌC ĐƯỜNG THI “CÀ PHÊ HUÊ” CỦA ÁI KHANH
                                           
Châu Thạch

Những năm gần đây, phong trào làm thơ Đường Luật bổng nhiên khởi sắc khắp 24 tỉnh thành Việt Nam và dần dân, mỗi ngày một thêm phong phú. Khái niệm Đường thi ngày nay đã co giản, không còn hiểu một cách bó hẹp là thơ của một triều đại xa xưa bên Tàu. Đường thi ngày nay được hiểu là một thể loại thơ, có nguyên tắc và chuẩn mực nhất định, giúp cho thi nhân có cơ hôi diễn đạt cảm xúc dễ dàng mà cô đọng. Đó là một sân chơi lý thú cho mọi người yêu văn chương trong nước ta, nhất là người cao tuổi. Thơ Đường Luật ngày nay dần xa rời với điển tích, với chữ nghĩa cầu kỳ, với đối ngẩu nặng nề, mà trở nên gần gủi vớí ca dao, với thơ mới, tạo cho đôi cánh của con chim Đường Thi không xơ cứng, trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát, bay bổng lên cùng các thể lại thơ khác, hòa nhập vào diễn đàn thi ca hiện đại một cách ngoạn mục. Đọc trong các tuyển tập của các chi hội thơ Đường xuất bản khắp nơi, ta tìm được vô số những bài thơ hay, truyền cảm xúc trọn vẹn đến con tim người thưởng thức. Để chứng minh điều đó không khó, một trong những bài thơ như thế của nhà thơ Ái Khanh, thành viên chi hội Đường Thi Đà Nẵng cũng nói lên được phần nào sắc thái của Đường Thi ngày nay:

 CÀ PHÊ HUẾ
Sóng sánh hạt huyền lặng lẽ rơi
Tách cà phê nóng mộng mơ đời
Đậm đà hương vị say lòng khách
Ấm áp tâm hồn tỉnh dạ tôi
Em ở phương này thèm giọt đắng
Anh về ngõ ấy khát làn môi
Dịu dàng "áo tím" tình ngây ngất
Ngọt tiếng "dạ thưa" uống cạn lời
                       Ái Khanh

Hiếm có loại thức uống nào được ưa chuộng nhiều như cà phê. Cà phê đi vào đời sống hằng ngày của nhiều người như người bạn tâm tình nhẹ nhàng, sâu lắng trong những khoảnh khắc buôn vui của cuộc đời.  Từ đó cà phê cũng đi vào thơ, là một đề tài cho thi nhân sáng tác.

Vào vế đầu của bài thơ “Cà Phê Huế”, hai chữ “sóng sánh” đã cho ta thấy một hình ảnh khác lạ của giọt cà phê. Nghĩa của từ “sóng sánh” là mặt nước chao qua chao lại. Ái khanh đã dùng chữ “sóng sánh” để chỉ giọt cà phê đang rơi. Hình ảnh sự rơi của giọt nước trong ly nhờ đó trở nên sinh động hơn trong cảm nhận của ta về nó. Tiếp theo chữ “sóng sánh” là hai chữ “hạt huyền”. Tiếp theo hai chữ “hạt huyền” là ba  chứ “Lặng lẽ rơi”. Cả câu thơ vào đề đã cho giọt cà phê một màu sắc, nằm trong cảnh động của sự rơi và cảnh tỉnh của sự lặng lẽ, trình diện trước mắt ta một bức tranh gói trọn cái đẹp, khiến ta có cảm tình ngay từ phút ban đầu khi ta đọc thơ.
Câu thơ tiếp  theo của vế khai đề, bổ sung ý nghĩa cho câu thơ thứ nhất. Cái sâu đậm của cà phê trong tâm thức mỗi người chính là vị đắng của cà phê. Thường thường các nhà thơ muốn hình ảnh cô đơn của mình sâu lắng hơn bằng cách tả mình ngồi bên tách cà phê đen không đường. Ái Khanh thì khác, nhà thơ không nói ly cà phê đen mà nói ly cà phê nóng. Chữ “nóng” trong câu thơ “Tách cà phê nóng mộng mơ đời” vừa hợp với thanh trắc bó buộc của luật thơ Đường nhưng cũng vừa cho ta biết tâm trạng người ngồi không mang nỗi sầu da diết , không mang nỗi cô đơn khắc khỏi mà nhiều thi nhân hay cường điệu trong thơ mình.

Thât vậy, bước qua khổ thứ hai, tác giả diễn đạt rõ nét hơn tâm trạng của nhà thơ lúc đó:

Đậm đà hương vị say lòng khách
Ấm áp tâm hồn tỉnh dạ tôi

Chữ “khách” trong vế thơ nầy không phải là những người đang uống cà phê trong quán. Chữ “khách” ở đây phải hiểu là nó nằm trong hồi ức của nhà thơ, là kỷ niệm với một người thân yêu đã từng đối tách bên nhau. Vế thơ như chính sự bình dị của nó nhưng mở ra trong tâm hồn ta cảm nhận được một cuộc tình đậm đà, ấm áp đã xảy ra bên hai tách cà phê. Vế thơ cũng cho ta biết người trong cuộc không bi thảm cuộc tình, đang ngồi hồi tưởng niềm vui thân ái và hoa mộng của một thời nào đó đã qua trong đời. Gôm hai vế mở đề và vế trạng, ta thấy Ái Khanh thật là tinh vi, rành tâm lý khi cho giọt rơi của ly cà phê nóng ở hai câu thơ trên để làm cho chữ đậm đà, ấm áp trong hai câu thơ sau, hữu ý tôn cao mối tình đã có, làm thẩm thấu một cách rất tự nhiên tâm trạng của mình vào tâm hồn người đọc.

Qua vê luận của bài thơ, sự chía ly đã đến:

Em ở phương này thèm giọt đắng
Anh về ngõ ấy khát làn môi

Bây giở giọt đắng của cà phê đã biến thành giọt ngọt của cuộc tình, bên nầy thì thèm còn bên kia thì khát. Đọc vế luận của bài thơ, ta đừng nên nghĩ rằng họ không uống cà phê nữa, để đến nỗi người thèm giọt đắng, người khát làn môi. Đọc vế luận của bài thơ, ta phải hiểu rằng họ không còn uống cà phê với nhau nữa. Em thèm giọt đắng là giọt đắng khi có nhau, anh khát làn môi là khao khát ngụm cà phê nhấp môi của ngày xưa, khi có em ngồi bên cạnh. Sự thương nhớ nhau được bày tỏ trong vế thơ nầy, không đớn đau, không nước mắt, chỉ thông qua giọt cà phê mang cả nỗi niềm phân ly, chia cách. Sư thương nhớ đó được thể hiện trong ly cà phê nóng không còn với nhau nữa càng làm cho nỗi buồn trở nên một thú đau thương thi vị trong cuộc sống.

Qua vế kết, nhà thơ chỉ dùng các từ “áo tím” và “dạ thưa” đã làm nổi bậc xứ Huế mộng mơ, nơi mang kỷ niệm êm đềm của cuộc tình đằm thắm, ngây ngất kia đã biến thành thơ:

Dịu dàng "áo tím" tình ngây ngất
Ngọt tiếng "dạ thưa" uống cạn lời

Không biết tự bao giờ màu tím đã trở thành màu chủ đạo khi nói về Huế mộng mơ. Không hiểu vì sao mà màu của sông nước cỏ cây, hoàng thành rêu mốc và đất trời nên thơ trở thành màu của chiếc áo nữ sinh xứ Huế từ xưa. Còn nói đến hai chữ “dạ thưa” thì không ai không nhớ đến hai câu thơ của Bùi Giáng:

“Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”

Dạ, thưa là đặc điểm của người con gái dịu dàng xứ Huế đã được Bùi Giáng đưa vào thơ, trở thành câu thơ bất hủ.

Nhà thơ Ái Khanh không cần tả Huế, chỉ cần dùng bốn chữ trên thì một xứ Huế hiện ra đầy đủ trong tâm trí mỗi người. Đó là một phương pháp mô tả ẩn dụ, cô đọng, kích thích sự liên tưởng, phát họa mọi hình ảnh tiềm tàng trong ký ức người đọc thật là tuyệt vời.
Thơ Đường là loại thơ gợi mà không tả. Thơ Đường là loại thơ gởi gắm mà không phân tích, là ngôn ngữ hàm xúc, cô đọng. Thơ Đường dùng số ít để biểu hiện số nhiều, dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô cùng. Đọc thơ Đường đôi khi phải dùng giác quan trong tiềm năng để nghe được cái thanh trong vô thanh, thấy được cái sắc trong vô sắc thì khoái cảm văn chương sẽ cho ta hiểu bài thơ rốt ráo.

Tôi không dám nói bài thơ “Cà Phê Huế” đạt được những điều trên, nhưng trong chừng mực nào đó, nhà thơ đã phá được sự câu nệ của nhiều người khi cho thơ Đường bí hiểm, khô khan và gò bó. Đọc bài thơ “Cà Phê Huế” ta thấy sự thơ thới trong tình sầu, nỗi niềm xót xa trở nên thơ nhẹ nhàng thanh thoát. Câu từ trong thơ rõ nghĩa, đối ngẫu trong thơ song suốt. Toàn bộ bài thơ gần gũi với mọi người, dễ hiểu và dễ đồng cảm với thơ.

Ái Khanh đã chứng minh Đường thi ngày nay khác với xưa, không phải là con thuyền lỗi thời, dùng để tải thứ đạo xa xôi lạc hậu nữa./.
                                        
Châu Thạch
READ MORE - ĐỌC ĐƯỜNG THI “CÀ PHÊ HUÊ” CỦA ÁI KHANH - Châu Thạch