Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, March 18, 2017

NHẬT KÝ ĐỒNG BẰNG - thơ Trúc Thanh Tâm

 
  

NHẬT KÝ ĐỒNG BẰNG

LONG AN

Chén tình một thuở cong môi
Ta vời vợi phố, em chơi vơi hồn
Thủ Thừa, Cầu Ván mưa suông
Tầm Vu còn đọng nỗi buồn quắc quay ! 

TIỀN GIANG

Tạ từ buổi sáng Gò Công
Em xa Chợ Gạo, lấy chồng Mỹ Tho
Trung Lương mắt đợi, môi chờ
Cái Bè, Cai Lậy biết giờ gặp nhau !

BẾN TRE

Lăn tăn con sóng Hàm Luông
Mõ Cày nói hộ Giồng Trôm nỗi lòng
Lục bình tím giữa mênh mông
Mưa chiều, đêm xuống thức cùng Bến Tre !

TRÀ VINH

Biển chiều ghẹo gió mùa sang
Tân Thành rượu nghĩa, Cầu Ngang cạn tình
Một lần tạ lỗi Trà Vinh
Cá kèo, hương bún vô tình nhớ nhau ! 

VĨNH LONG

Nhánh bần gie phía Trà Ôn
Long Hồ ta nhớ Trường An, rượu mời
Qua cầu Mỹ Thuận, nắng chơi
Xa dòng Măng Thít đầy vơi nỗi niềm !

ĐỒNG THÁP
Lũ về điên điển vàng bông
Tình ta với bậu cầm bằng ngược xuôi
Làng hoa Sa Đéc tuyệt vời
Đêm nằm Cao Lãnh, nhớ người Nha Mân !

CẦN THƠ

Em về nón lá che nghiêng
Áo bà ba vẫn thơm hương miệt vườn
Cái Răng, Bình Thủy, Phong Điền
Cầu Cần Thơ, mạch máu miền cực Nam ! 

 HẬU GIANG

Vị Thanh mưa tới Kinh Cùng
Thương Long Mỹ, nội về vùng đất sâu
Em từ xa chợ Nàng Mau
Tháng ngày Ngã Bảy nặng sầu nghiêng vai ! 

SÓC TRĂNG

Mây sà xuống nóc Chùa Dơi
Theo đèn gió thả cuộc đời quá giang
Chiều nghiêng Lịch Hội Thượng, buồn
Sóc Trăng, sao cứ bồn chồn trong ta ! 

BẠC LIÊU

Lưu truyền công tử Bạc Liêu
Hòa Bình nắng sớm, mưa chiều Vĩnh Châu
Nghe bài dạ cổ đã lâu
Nhớ về quê mẹ, buồn đau điếng lòng !

CÀ MAU

Bồi hồi chuyện bác Ba Phi
Cây tràm, cây đước nói gì với nhau
Gởi tình Đất Mũi, Cà Mau
Mai về thăm lại qua cầu cố nhân !

KIÊN GIANG

Đêm hòn Phụ Tử trăng mơ
Chiêu Anh Các, những vần thơ thăng trầm
Người con gái Vĩnh Thanh Vân
Tặng ta nỗi nhớ bâng khuâng một thời !

AN GIANG

Núi Sam, mùa phượng hẹn hò
Qua vàm Ông Hổ, nhớ đò Ô Môi
Thất Sơn huyền thoại đất trời
Ta về Châu Đốc thắp đời lửa hương !

TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )
READ MORE - NHẬT KÝ ĐỒNG BẰNG - thơ Trúc Thanh Tâm

KHÚC MƯA - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Hồng Ân - Ca sĩ: Đông Nguyễn

READ MORE - KHÚC MƯA - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Hồng Ân - Ca sĩ: Đông Nguyễn

TÌNH NHỚ - chùm thơ Hoài Huyền Thanh

  TÌNH NHỚ
TÌNH XA
Tình nhỏ anh thả vào thơ
Muộn phiền nắng sớm chiều mưa não lòng
Trách chi biêng biếc trầu không
Quả cau bổ ngữa nên đành mất nhau.

BÂNG QUƠ
Sáng nay xuân muộn thềm nhà
Chùm mai đồng cảm ngỡ là tri âm
Nắng vui ngày lễ tình nhân
Gió bâng quơ nhớ tình gần tình xa

CHỮ YÊU
Nắng xuân hây hẫy bờ ao
Non tơ sóng sánh bước vào bước ra
Nghiêng khoe răng khểnh mười ba
Bàn tay tháp bút mượt mà chữ yêu

HOÀNG HÔN
Hoàng hôn e ấp ôm chiều
Nắng vàng từ tạ cõng theo nỗi sầu
Đong đưa trăng chở niềm đau
Treo ngang song cửa bắc cầu tri âm.

HOÀI HUYỀN THANH

15.2.2017  
READ MORE - TÌNH NHỚ - chùm thơ Hoài Huyền Thanh

Friday, March 17, 2017

NHÀ THƠ VÀ CHUYỆN ‘GÁI GÚ’ - Đặng Xuân Xuyến



         NHÀ THƠ VÀ CHUYỆN ‘GÁI GÚ’
Nhà thơ Đỗ Hoàng vừa về thì ông đến. Không bấm chuông, ông cứ đứng trước cửa toáng lên réo: - Hoàng ơi! Hoàng!... Sao không có ai ra mở cửa thế này. Cái thằng này! Hoàng ơi! Hoàng...
Đứng trên ban công tầng 2, tôi vội với xuống: - Chú ơi! Anh Đỗ Hoàng vừa về. Anh ấy nhắn lại nếu rảnh thì chú qua nhà anh ấy chơi.
Ông gắt giọng: - Cậu xuống đây gặp tôi đi. Đứng trên đấy mà trả lời người lớn thì mất lịch sự quá.
Cửa vừa mở, chưa kịp nói câu xin lỗi, ông đã hất hàm hỏi: - Này! Thế cậu với Đỗ Hoàng có quan hệ với nhau kiểu gì thế?
Tôi cười: - Cháu quen biết anh ấy từ thời học Đại học.
Ông nhìn tôi, vẻ nghi hoặc, dài giọng: - Cậu cũng học Đại học?
Tôi cố nhịn cười, trả lời: - Vâng! Cháu cũng trầy trật 4 năm mới xong Đại học đấy ạ.
Ông nheo mắt, hất hàm: - Thế có biết làm thơ không?
Tôi thật thà: - Dạ! Cháu cũng chỉ mượn thơ để giãi bày tâm sự của mình thôi. Mà... Chú là nhà thơ Trần Lý?
Ông nghiêm nghị: - Trần Đình Lý! Tiến sĩ, nhà thơ Trần Đình Lý. Cậu réo tên tôi kiểu đấy rất thô thiển và mất lịch sự. Thế cậu cũng có thơ đăng ở trang của Đỗ Hoàng phụ trách à? Mà sao cậu không mời tôi vào nhà ngồi nói chuyện, cứ để tôi đứng ngoài đường thế này thì tệ quá.
Tôi gãi đầu, thành thật: - Cháu tưởng chú vội, với lại, chú cháu mình chưa biết nhau nên cháu ngại. Giờ chú nói vậy, cháu mời chú lên tầng 3, chú cháu mình ngồi uống trà, hàn huyên đôi ba câu chuyện.
Vừa ngồi xuống ghế, ông vỗ vai tôi: - Này, bỏ xưng hô chú cháu đi, nghe xa cách lắm. Anh em cho tình cảm.
Đưa nước mời ông, tôi tủm tỉm: - Dạ. Chắc cháu tầm tuổi con út của chú?
Ông cười: - Không! Cậu tầm tuổi con gái lớn của tôi. Các cụ nói không sai, con cái là tài sản quý lúc về già. Tôi có 3 đứa con, 2 gái một trai, đứa nào cũng ngoan ngoãn, nên người. Các cháu ngoại tôi tuyệt vời lắm. Ngoan, xinh và học giỏi. Mà cậu có mấy con? Thằng cu vừa rồi đẹp trai và ngoan nhỉ? Rất lễ phép! Cậu này! Giàu nghèo không quan trọng. Con cái ngoan ngoãn và thành đạt mới đáng để tự hào chứ mấy thằng trọc phú, con cái hư hỏng, văn hóa lùn tịt thì có gì để tự hào. Ấy thế mà cái bọn người đấy lúc nào cũng hợm hĩnh, ra vẻ ta đây, hình như họ không biết xấu hổ cậu ạ.
Rồi như chợt nhớ ra chuyện quan trọng, ông nhìn tôi, ngập ngừng: - Vừa rồi cậu nói cậu cũng biết làm thơ đúng không? Thế thì tôi đọc cậu nghe bài thơ tôi vừa viết tối qua, rồi cậu cho lời nhận xét thật khách quan nhé.
Tôi vội chối từ: - Ấy chết. Chú đừng bắt cháu làm việc đấy. Cháu cảm thơ kém lắm ạ. Với lại, khả năng ăn nói của cháu cũng có vấn đề nên chú cháu mình ngồi uống nước nói chuyện khác đi ạ.
Ông nhìn tôi, vẻ khó hiểu: - Làm thơ mà không thích nói chuyện về thơ thì làm thơ làm gì? Cậu có phong cách hệt thằng con trai tôi. Nó không thích nói chuyện về thơ ca nhưng lại thích nói chuyện về kỹ thuật vi tính, làm ăn, đại loại là những chuyện xã hội... Thằng ấy giỏi phết cậu ạ. Tự lập. Không thích dựa dẫm bố mẹ. Năm ngoái, vợ chồng nó mua được căn hộ hơn 6 tỷ bằng tiền kiếm được trong 3 năm đấy. Nó bảo không thích ở chung với bố mẹ nên hai vợ chồng nó phấn đấu kiếm tiền mua nhà rồi ra ở riêng. Giờ còn có 2 vợ chồng già, nhà thì rộng rãi, nhiều khi cũng thấy trống trải lắm.
Ông ngập ngừng một lúc rồi hỏi: - Cậu có hay đi đổi gió không? Là đi này kia với em út ý.
Thấy tôi bưng chén nước kề môi, cứ tủm tỉm cười, ông vội nói: - Chắc vợ chồng cậu hạnh phúc lắm nên không đi đổi gió chứ gì? Không có chuyện đó thì làm thơ mất hay, sáo lắm. Không có cảm hứng thì ra thơ sao được. Lẩn thẩn hết. Tôi đây này. Cái khoản gái gú còn máu hơn Đỗ Hoàng nhiều. Vợ tôi, bà ấy cũng hiểu chồng mình là giới văn nghệ sĩ nên cái khoản lãng mạn này kia không thể thiếu. Bà ấy cũng văn minh lắm, không ghen, không abc gì. Biết tỏng là tôi có bồ bịch mà tảng lờ cứ như không. Mà quái lạ. Chồng là nhà thơ mà vợ lại không thích nghe thơ mới oái oăm. Nhiều đêm, chợt nảy ra tứ thơ hay, quay sang nói với bà ấy thì bà ấy lại gắt: Ông lặng yên cho tôi ngủ. Thơ thẩn cái gì. Cậu thấy có bực không?
Nhấp ngụm trà. Ông lại hỏi dồn: - Thế vợ cậu không phản đối cậu làm thơ à? Thằng cu con cũng không thích thơ đúng không?
Khi biết tôi đang độc thân, ông chùng giọng: - Ừ, thế lại hay. Thoải mái cặp bồ, chả lo ai quản, chả lo làm tổn thương ai. Tôi nhiều lúc cũng muốn có bồ bịch bằng chúng bằng bạn nhưng ngại bà nhà tôi buồn nên khước từ hết. Nhà thơ mà. Nhiều gái mê lắm nhưng mình phải nghĩ đến tâm trạng của vợ con chứ...
Ông buông dở câu nói bằng tiếng thở dài.
Biết là phút thật lòng của ông nên tôi lảng sang chuyện khác để ông đỡ ngại chuyện chiến tích em út (gái miệng) của các nhà thơ. Chừng tiếng sau, vãn chuyện, ông đứng dậy ra về.
 Vừa khóa cửa, chưa kịp bước lên cầu thang, tôi đã nghe tiếng ông oang oang điện cho nhà thơ Nguyễn Đăng Hành: - Ông Hành à! Tôi là Trần Đình Lý đây! Hôm nào tôi sang ông đàm đạo thơ rồi cùng nhau đi cưa gái nhé... Ừ. Nhà thơ mà! Gái gú không có thì ra thơ sao được! Lẩn thẩn hết!
*.
Hà Nội, chiều 16 tháng 03.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
READ MORE - NHÀ THƠ VÀ CHUYỆN ‘GÁI GÚ’ - Đặng Xuân Xuyến

Thursday, March 16, 2017

MỘNG TRÙNG LAI - Thơ Trần Mai Ngân





MỘNG TRÙNG LAI

Mộng trùng lai hết rồi
Tôi cũng rời xa tôi
Hồn vô tri sỏi đá
Tim hồng bạc màu vôi!

Tôi xa tôi hay người
Khởi nguyên nào tinh khôi
Ai nợ ai nụ cười
Tình vay tình xa xôi...

Mộng trùng lai nơi đâu
Đi qua mấy nhịp sầu
Phố cổ không còn ai 
Tôi yêu người kiếp sau

Mộng trùng lai mộng dài
Ta bao giờ có nhau
Không gian, thời gian chết
Hương đóa tình phai mau!

              Trần Mai Ngân

READ MORE - MỘNG TRÙNG LAI - Thơ Trần Mai Ngân

MƯA HỌC TRÒ - thơ Trúc Thanh Tâm



 MƯA HỌC TRÒ

 Rất khẽ mùa xưa lên tiếng gọi
 Rớt xuống quanh đời hạt nắng trong
 Dễ thương nào biết yêu có dễ
 Một trời áo trắng nhớ mênh mông

 Em thả tóc bay tình tứ quá
 Mấy ngõ hồn ta lên tiếng reo 

 Những đáng yêu nào ta bắt gặp
 Mơn trớn lòng ta một nét yêu

 Phượng trên cành nói gì với gió   
 Một thời để nhớ một thời xa
 Mưa học trò ngang qua cửa lớp
 Mắt em buồn có phải vì ta!

TRÚC THANH TÂM
(Châu Đốc)
READ MORE - MƯA HỌC TRÒ - thơ Trúc Thanh Tâm

ĐAM B'RI NGÀY LÚA MỚI - Thơ Hoàng Yên Lynh




READ MORE - ĐAM B'RI NGÀY LÚA MỚI - Thơ Hoàng Yên Lynh

Wednesday, March 15, 2017

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ NHÀ THƠ BÙI GIÁNG



             Nhà thơ Chu Vương Miện


QUỚI NHƠN BÙI GIÁNG

Ngàn thu rớt hột mưa nguồn
Cũng toàn là lá hoa cồn ngao du
Thi ca thi hót mùa thu
Sóng bình nguyên cũng lu bù đó sao?
Trên ngàn chim hót xôn xao
Rừng hoa toàn những hoa đào, đào rơi
Loanh quanh trọn một kiếp người
Lòng vòng dở khóc dở cười phố khuya

                               Chu Vương Miện

TRÍCH TIÊN BÙI GIÁNG

Giữa cuộc đời bài ba lá
Giữa lòng người đảo điên
Tỉnh mãi cũng chả được
Thà man man dở cuồng
Giầy dép soong chảo khoắc trên vai
Lỉnh cà lỉnh kỉnh
Đầu trần tóc xõa ngang lưng
Vừa đi vừa chửi rủa
Miệng luôn lầm bầm
Nhà giáo nhà thơ
Dịch giả triêt gia ở chúa
Chân đất vừa cười vừa khóc
Sông có đọạn người có lúc
Chừ là lúc 
Dở dại dở khùng
Nhìn lại tưởng lầm
Là Khuất Nguyên
Người đục mà mình trong
Thôi chả còn gì trường cửu
Toàn là chó chết trôi sông
Thả thân xác trên dòng Mịch La
Thế là xong
Tàn cuộc
Một đời tài hoa
Bạc mệnh lênh đênh

Chu Vương Miện

BÙI GIÁNG XƠI PHỞ

Thi sĩ ngồi xuống ghế
Tô phở cùng ly cà phê sữa
Được bưng ra đặt ngay trước mặt
Thi sĩ lấy muổng
Khuấy ly cà phê
Lấy tương đen tương đỏ
Và vắt chanh vào tô phở
Xong
Thi sĩ đổ ly cà phê vào tô phở
Và móc trong túi ra một điếu thuốc
Đà lạt
Bóc giấy vứt đi
Rồi bỏ tiếp vào tô phở
Lấy đũa và muổng
Trộn lên rồi bắt đầu ăn

Chu Vương Miện

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ NHÀ THƠ BÙI GIÁNG

XA XĂM - Thơ Thủy Điền

   
          Tác giả Thủy Điền


XA XĂM
(Nhớ Hara con chó nhà đã qua đời ngày 20 tháng 3 năm 2017)

Hai tuần nay buồn lắm
Mầy theo tao mười năm
Tao bên mầy trăm tháng
Thế giờ lại xa xăm

Tao còn chốn dương trần
Còn nhìn đời cay đắng
Còn thấy cảnh thê lương
Còn khổ đau vạn thứ

Mầy về nơi âm phủ
Nằm yên ngon giấc ngủ
Có lẽ sướng hơn tao
Phải không? Nầy bạn cũ

Thương mầy tao ủ rũ
Tiếc tình bạn bao năm
Nhớ mầy tao khổ lắm
Đêm về khóc dưới trăng.

                Thủy Điền
              15-03-2017

READ MORE - XA XĂM - Thơ Thủy Điền

Tuesday, March 14, 2017

EM HÃY LÀ / GÓC NHỎ TRONG TIM * Thơ Hiền Phương


Hiền Phương


EM HÃY LÀ

Xin em hãy cứ dịu dàng
Cho anh quên hết trái ngang cuộc đời
Môi hồng nở nụ cười tươi
Để bao phiền muộn vơi nguôi trong lòng
Hãy là ngọn lửa tình đông
Sưởi tim anh khỏi lạnh lùng giá băng
Hãy là thước ngọc khuôn vàng
Để anh một kẻ ngang tàng hàng quy
Em ơi xin cứ nhu mì
Trói anh bằng tiếng thầm thì trong đêm.

HP 15.3.17
Hiền Phương


GÓC NHỎ TRONG TIM

Có một nơi gọi là miền kí ức
Rất gần thôi mà thổn thức từng đêm
Thầm gọi tên khi dậy sóng khát thèm
Mà không thể thỏa nỗi niềm trống vắng.

Có một nơi như dòng sông phẳng lặng
Âm thầm trôi về bến đỗ xa xôi
Đò ngang ơi sao chẳng đón đợi người
Để tiếng gọi vọng rơi trên bến vắng.

Có một nơi tình yêu ai thầm lặng
Chẳng ồn ào chỉ lặng lẽ dõi bên
Luôn động viên chia sẻ nỗi ưu phiền
Khép dòng tủi vào miền xưa dĩ vãng.
Có một nơi ta khắc sâu nghĩa nặng.


HP 14.3.27
Hiền Phương
READ MORE - EM HÃY LÀ / GÓC NHỎ TRONG TIM * Thơ Hiền Phương

KHI THÌ...- Trần Mai Ngân






KHI THÌ...

Khi thì anh thật nhẹ nhàng
Nói em là cả thiên đàng của anh
Lúc ấy trời đẹp trong xanh
Em như hoa nắng hiền lành long lanh...

Khi thì anh lại loanh quanh
Giận em không nói mong manh trưa hè
Hỏi gì anh cũng chẳng nghe
Để em hờn tủi nhạt nhoè lệ rơi...

Khi thì anh bảo cuộc đời
Em là tất cả mà trời ban cho
Yêu anh em mãi cứ lo 
Khi thì, lúc vậy... đắn đo âu sầu...

Anh ơi ! qua mấy nhịp cầu
Dù chênh vênh mấy cũng mầu thủy chung
Tin em anh hãy bao dung
Đừng hờn, đừng giận... mịt mùng tình yêu !

                                   Trần Mai Ngân

READ MORE - KHI THÌ...- Trần Mai Ngân

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ VÀ ĐIỂN CỐ PHẦN 11 - Nguyễn Ngọc Kiên

      


       NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ
                         VÀ ĐIỂN CỐ - PHẦN 11

 (25) 三顾茅庐[tam cố mao lư] (ba lần đến lều tranh)
Thành ngữ này có xuất xứ từ "Xuất sư biểu" của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc.
Cuối thời Đông Hán, Lưu Bị bị Tào Tháo đánh bại, phải chạy sang Kinh Châu với Lưu Biểu. Nhằm gây dựng nghiệp lớn, Lưu Bị đã đi khắp nơi tìm kiếm nhân tài, chiêu mộ hiền sĩ. Sau danh sĩ Kinh Châu Tư Mã Huy đã tiến cử với ông "Ngọa Long tiên sinh" Gia Cát Lượng.
Gia Cát Lượng sống ẩn cư ở Long Trung cách phía tây thành Tương Dương 20 dặm, dưới mái nhà tranh vách nứa và làm nghề đồng áng̣. Ông học thức uyên bác, tinh thông sử sách, là một nhân tài kiệt xuất. Lưu Bị được biết bèn đến Long Trung thăm viếng. Ông trước sau đến Long Trung ba lần, hai lần trước Gia Cát Lượng đều tránh không gặp, đến lần thứ ba mới chịu ra tiếp đón. Gia Cát Lượng đã cùng Lưu Bị phân tích tình hình thời cuộc, thảo luận việc giành chính quyền ra sao, và kế sách thống nhất thiên hạ, khiến Lưu Bị vô cùng khâm phục, nguyện tôn Gia Cát Lượng làm quân sư, gây dựng lại Hán thất. Gia Cát Lượng cảm động trước tấm lòng chân thành của Lưu Bị đã ba lần đến lều tranh mời mình, liền ưng thuận ra giúp Lưu Bị tranh đoạt thiên hạ.
Từ đó Gia Cát Lượng trở thành trợ thủ đắc lực của Lưu Bị, phía đông liên minh với Tôn Quyền, phía bắc đánh Tào Tháo, lần lượt chiếm được Kinh Châu và Ích Châu, lập nên chính quyền Thục Hán, hình thành ba nước thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô.
Trước khi qua đời, Gia Cát Lượng đã viết cho hậu chủ Lưu Thiền tờ "Xuất sư biểu" trong có đoạn viết: "Tiên đế đã không chê thần là kẻ thấp hèn, đã ba lần đến lều tranh mời thần.
Có nhiều người đặt dấu hỏi rằng “tam cố mao lư” cùng với việc Gia Cát Lượng tại Phàn Thành tự thỉnh cầu tương kiến là chuyện thật hay chuyện bịa? Học giả đời Thanh Hồng Di Huyên 洪颐煊 trong Chư sử khảo dị 诸史考异 nói rằng Gia Cát Lượng lần đầu gặp Lưu Bị tại Phàn Thành, Lưu Bị tuy đãi vào hàng thượng khách, nhưng không đặc biệt coi trọng. Đợi đến khi Từ Thứ tiến cử, Lưu bị lần thứ hai gặp mặt mới dần có cảm tình sâu đậm. Đồng thời chỉ ra rằng: Lần gặp đầu tiên vào năm Kiến An 建安 thứ 12, lần thứ hai vào năm Kiến An thứ 13.
          Gia Cát Lượng và Lưu Bị rốt cuộc “nhất kiến”, “tái kiến” hay là “tam kiến”, điều này chỉ có người đương sự mới biết, nhưng “câu chuyện “tam cố mao lư” lưu truyền lại hấp dẫn rất nhiều người. ". Qua đó đã biểu lộ được sự hoài niệm sâu sắc của Gia Cát Lượng đối với ân chi ngộ của Lưu Bị, tình cảm hết sức chân thành và rung động lòng người cho tới ngày nay.


( 26)漂母之恩/漂母饭信

 [Phiếu Mẫu chi ân] (ơn Phiếu Mẫu/ Bát cơm Phiếu Mẫu)


Bà Phiếu Mẫu, nhànghèo khó, đã giúp Hàn Tín trong cơn đói cơm rách áo. Thuở hàn vi, Hàn Tín nghèo rớt mồng tơi, ngày ngày câu cá, nhưng cũng không kiếm đủ miếng ăn. Tuy vậy, Hàn Tín lại rất ham mê đèn sách, nghiên n cứu binh thư; lại muốn ra oai như mình là con nhà võ, đi đâu cũng lè kè mang theo cây kiếm. Bà Phiếu Mẫu ở cạnh nhà, kiếm ăn bằng nghề giặt thuệ Tuy miếng cơm vẫn thiếu trước hụt sau, nhưng thấy Hàn Tín quá đói khát, bà thường dẫn chàng dở hơi này về nhà cho cơm. Hàn Tín cảm động thưa:
- Xin cảm on bà đã quá tử tế với tôi. Sau này công thanh danh toại tôi nguyện sẽ không quên ơn bà.
Phiếu Mẫu cười hiền hậu:
- Ta thấy ngươi đói khát, nên chia sẻ miếng cơm giọt nước với ngươi, chứ đâu cần ngươi sẽ trả ơn sau này. Đàn ông gì như ngươi , tự nuôi thân không nổi thì noí chi đến quyền cao chức trọng sau này.
Hàn Tín hỗ thẹn vì lời chê trách, nên không dám tìm qua nhà Phiếu Mẫu kiếm cơm nữa. Bà già vẫn thương người cùng khổ, ngày ngày đem cơm đặt trước căn lều của Hàn Tín. Người trong làng xóm biết chuyện, gọi đó là "Bát cơm Phiếu Mẫu".
Một hôm ở ngoài chọ có gã bán thịt to lớn, trông thấy Hàn Tín bước đi xiêu vẹo nhưng vẫn lòng thòng thanh kiếm bên lưng. Gã trêu tức:
- Này tên ma đói kia, nam nhi như mày mà không kiếm ăn được, hằng bữa phải nhờ đến bát cơm Phiếu Mẫu, không biết nhục à? Có giỏi thì rút kiếm ra đấu, ta tay không. Thắng được ta thưởng cho cái đầu heo. Bằng không dám đấu, thì luồn dưới trôn của ông nội mày đây.
Sắc mặt Hàn Tín đã xanh này càng xanh hơn. Tần ngần một lúc, Hàn Tín khúm núm lòn qua trôn gã hàng thịt. Cả chợ nhốn nháo chê cười Hàn sĩ. Nhưng có một tiều phu là Hứa Phụ, tình cờ qua đó, dừng lại trước Hàn Tín:
- Huynh là người có tướng vương hầu; tuy nay khốn khổ nhưng hậu vận lại vinh hoa phú quí.
Hàn Tín trở vềtúp lều, ngày đêm vẫn miệt mài dùi mài kinh sử. Lúc Hạng Lương nước Sở khởi binh đánh Tần, Hàn Tín đứng chống gươm bên bờ sông Tứ Thủy, tự tìm cơ hội tiến thân. Trông thấy Hàn Tín ngoại hình xanh xao vàng vọt, Hạng Lương "dội" ngay. Nhưng quân sư Phạm Tăng vội khuyên:
- Tuy nhìn bề ngoài yếu đuối, nhưng chân tướng là người thao lược, ngài chớ nên bỏ
Hạng Lương miễn cưỡng nhận lời, cho Hàn Tín làm chấp kích lang, tức là vác giáo theo hầu.
Trong thơi gian này, Lưu bang đang dựng nghiệp đế ở Hán Trung, nhờ Trương Lương, giả lam lái buôn, đi chu du thiên hạ để chiêu hiền. Khi đến đất Sở, gặp được Hàn Tín, Trương Lương nhận ra ngay đây là một chân tài nhưng Sở không biết dùng người. Trương Lương bèn làm quen, và trao cho Hàn Tín một thanh kiếm báu, đề thơ tặng:

Kiếm báu lập lòe tay dũng sĩ
Non sông một giải chí hiên ngang.
Máu hồng, men rượu say băng tuyết
Muông dặm sơn hà một tấc gang.

Hàn Tín đang còn ngỡ ngàng, thì Trương Lương đã tiếp:
- Tại hạ biết được huynh là đấng hào kiệt nên đem kiếm báu tặng chứ không bán. Nay có chút quà mọn, xin huynh chớ từ chốị Hãy cùng nhau nhấp chén rượu mừng buổi sơ kiến. Hẹn ngày hội ngô trên đất Hán.
Sau chầu rượu, Trương Lương thuyết phục Hàn Tín nên bỏ Sở, về phò Lưu Bang, là người nhân đức biết trọng lương thần, xứng danh thiên tử. Hàn Tín thuận tình, nên bỏ trốn khỏi Sở. Mấy ngày lạc trong rừng không tìm đường để lần đến Hán Trung, đói khát lả người. May thay, gặp được một lão tiều, cho ăn uống và hướng dẫn đường đi nước bước chu đáọ Hàn Tín sụp lạy cảm ơn cứu tử, rồi nhanh nhẹn lên đường. Nhưng vừa qua được một khúc quanh, Hàn Tín chợt nghĩ:
- Ta đang bị Sở Bá Vương truy nã. Nếu chẳng may quan quân Sở cũng lần ra dấu vết đến đây, hỏi lão tiều phu này, thì tính mạng ta khó thoát. Lão già suốt ngày lẫm lũi trong rừng sâu, rồi cực khổ cũng chết khô xương , còn ta, cả cơ đồ sáng lạng trước mắt. Thôi thì, ta đành làm người vong ơn bội nghĩa..
Hàn Tín quay trở lạị Kiếm vung lên, thân lão tiều phu đứt làm đôị Hàn Tín đem xác vùi bên sườn núi.
Khi đến Hán Trung, Hàn Tín được Tiêu Hà - cận thần của Hán Vương tiếp kiến, liền tiến cử với Hán Vương. Vừa nghe đến tên Hàn Tín, Hán Vương đã cười khẩy:
- Khi còn ở huyện Bái, ta đã nghe tiếng người này lòn trôn Đỗ Trung, xin cơm Phiếu Mẫu, làng nước ai cũng khinh bỉ. Con người như vậy thì làm sao mà làm được việc lớn?.
Tiêu Hà bào chữa:
- Xin Chúa công hãy suy xét, nhiều người bần tiện thuở thiếu thời nhưng sau vẫn dựng nên sự nghiệp, như Y Doãn là người sơn dã, Thái Công là kẻ đi câu ở sông Vị, Ninh Thích là gã buôn xe, Quản Trọng là kẻ tội đồ, đến lúc gặp thời đều làm nên đại sự. Hàn Tín tuy đã lòn trôn mưu sống, xin cơm cứu đói, giết ân nhân để trừ hậu hoạn..nhưng đó vẫn là người uyên bác, mưu lược; không dùng, tất hắn sẽ bỏ đi tìm nơi khác trọng dụng.
Nể lời tấu trình của cận thần, Hán Vương giữ Hàn Tín lại, cho làm thủ kho lương thực. Tiêu Hà không đồng ý vì cho rằng Hàn Tín là người trí dũng, đem dùng vào việc nhỏ không xứng với tài năng. Phần Hàn Tín cũng chán nản; nấn ná một hai hôm lại trốn đi, để lại ít câu thơ, thảo trên vách:
Anh hùng lỡ vận bước long đong
Thà chịu an thân khỏi thẹn lòng
Vó ngựa xa vời trông cố quận
Công danh chán ngắt mộng anh hùng.
Tiêu Hà hay tin Hàn Tín đã bỏ đi, dậm chân kêu trời, tiếc thay người tài không có đất dụng võ. Không nản lòng, Tiêu Hà đem theo ít quân hầu lần theo dấu tích Hàn Tín. Khi tìm gặp được, Tiê Hà cầm tay Hàn Tín ân cần:
- Cổ nhân có câu: Sĩ vị tri kỷ giả tử (kẻ sĩ có thể chết theo người tri kỷ). Tại hạ hiểu huyng là người tài, đã quyết tâm tiến cử, nhu8ng Chúc công vần chưa tin dùng. Nay nếu một lần tiến cử nữa, mà Chúa công vẫn không nhận, thì Tiêu Hà này cũng từ chức mà lui về vườn.
Hàn Tín cảm kích lòng thành của Tiêu Hà, nên lại lên ngựa quay trở về Hán Trung. Nghĩ đến số phận mình còn long đong, Hàn Tín đề thơ:
Mây gió phôi pha bóng nguyệt tà
Vận thời chưa gặp khó bôn ba
Nghèo hèn phận bạc đời dang dở
Con tạo trêu ngươi mãi thế à!
Chợt, Hàn Tín nhớ mấy câu thơ của "anh lái buôn " Trương Lương đã đề tặng mình. Lúc đó, Trương Lương vẫn còn chu du chiêu hiền chưa về đến. Hàn Tín đưa thơ cho Tiêu Hà xem. Tiêu Hà mừng rỡ:
- Trời đất, thư giới thiệu của Tử Phòng, sao tướng công đã không trình cho Chúa công.
Khi xem thơ của Trương Lương, Hán Vương giật mình:
- Ôi chao, thì ra người của Trương Tử Phòng tiến cử. Ta thật không biết nhìn người.
Theo đề cử của Tiêu Hà, Hán vương phong Hàn Tín làm Đại Nguyên Soáị Hàn Tín đã đem tài năng mình phò Lưu Bang, tóm thâu thiên hạ, dựng nên nhà Hán.
Trong khi danh vọng ngất trời, Hàn Tín vẫn hãnh diện vì cái quá khứ bát cơm Phiếu Mẫu của mình và cũng từ đó, lưu truyền trong dân gian điển tích này.
Chỉ tiếc khi tài - danh lên tột đỉnh, Hàn Tín vẫn không hượm chân, nên đã chết thảm dưới tay Lữ Hậu.
                               (Theo Maxreading)
Trong Truyện Kiều, khi xử ân oán, Thúy Kiều mời bà quản gia và sư Giác Duyên đến tạ ơn:
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân.

(27) 班门弄斧 [Ban môn lộng phủ] ( múa rìu qua mắt thợ)
THành ngữ này được dùng đả kích ví trường hợp làm hoặc khoe khoang việc mà mình không thạo trước mặt người rất thành thạo, (cũng dùng trong lối nói khiêm tốn) người dám thể hiện bản lĩnh nghiệp dư trước những người có nghề chuyên nghiệp .
Thành ngữ này có xuất xứ:
Thời xuân thu, Lỗ Ban là người nước Lỗ rất giỏi nghề mộc, ông còn được tôn là ông tổ nghề mộc.
Nhà Thơ Lí Bạch nổi tiếng đời Đường , tự Thái Bạch hiệu là Thanh Liêm Cư Sĩ ,người Miên Châu, Xương Long . Từ nhỏ ông đã có kiến thức rất phong phú, ngoài kinh điển nho gia, sách sử nổi tiếng , ông còn đọc sách của bách gia tri tử và yêu thích thích kiếm thuật . Ông rất tin vào đạo giáo , thích ẩn cư , học thuật cầu tiên. Đồng thời lại mang hoài bão góp sức cho nước nhà.
Đưòng Huyền Tông từng có lời thề trở thành ông vua anh minh đã cho triệu tập nhân tài.Trong dịp này Lý Bạch cho rằng chơ hội thi thố tài năng đã đến . Đường Huyền Tông thấy ông có tài ngang dọc , giỏi thơ văn lại có vẻ bề ngoài tuấn tú bèn cho làm quan ở Hàn Lâm Viện .Một thời gian sau Vương công , quý tộc quan lại hiển đạt đua nhâu kết thân với Lý Bạch . Do tính tình ông cương trực , không a dua nịnh hót, thường phản bác những lời lẽ rèm pha nên chưa đầy 2 năm sau ông bị cách chức ,đuổi ra khỏi kinh thành .
Theo kể lại , vào một đêm ,khi Lý Bạch trèo thuyền đi dạo trên hồ , thăm Thái Thạch Cơ , ông đã uống rất say, nhìn thấy trăng dưới nước ông nhảy xuống mò nên bị chết đuối .
Cũng có ý kiến cho rằng : Lý Bạch cố tình nhảy xuống sông tự vẫn ( lý do này có lý hơn bởi có nhiều nhà văn, nhà thơ tài ba tìm con đường giải thoát mình bằng cách tự vẫn .)
Người ta an táng ông tại Thái Thạch Cơ. Từ đó Thái Thạch Cơ trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng .
Mấy thế kỷ sau nhà thơ đời nhà Minh , Mai Chi Hoán
梅之焕 đến Thái Thạch Cơ làm bài điếu trước mộ Lý Bạch .Khi đứng trước mộ Thi Tiên Lý Bạch ,ông vô cùng ngạc nhiên và tực giận khi thấy những chỗ nào có thể viết chữ trên bia mộ thì mọi người đã viết cả . Những tác giả này văn thơ chẳng ra sao , đề loạn lên bài tiên thơ của LÝ Bạch, những câu thơ đó mà lại viết lên mộ của Lý Bạch thật là nực cười !.Ông cảm thấy thật không phải với Lý Bạch, bèn đem bút viết :
采石江边一堆土,
李白之名高千古。
来来往往一首诗,
鲁班门前弄大斧

“Thái Thạch giang biên nhất đống thổ
Lý Bạch chi danh cao thiên cổ
Lai lai võng võng nhất thủ thơ
Lỗ Ban môn tiền lộng đại Phủ”

Bản dịch của mailang

Thái Thạch bên sông một nấm mộ,
Danh cao Lý Bạch lưu thiên cổ.
Qua qua lại lại cũng đề thơ,
Trước cửa Lỗ Ban còn búa bổ
.

Ý nghĩa của bài thơ là ca ngợi Lý Bạch tài danh của ông cũng xứng đáng được tôn danh như Lỗ Ban . Và
班门弄斧 đã trở thành thành ngữ của người Trung Quốc và còn lưu truyền cho tới ngày nay.
Mọi dân tộc có cách tư duy giống nhau nhưng cách biểu đạt thì khác nhau  do văn hóa khác nhau  Ở Việt Nam nó được dùng là múa rìu qua mắt thợ hoặc đánh trống qua cửa nhà sấm .

(28)
杯弓蛇影 [Bôi cung xà ảnh] ( sợ bóng sợ gió)  
Thành ngữ này để nói về người sợ những thứ do mình tự tưởng tượng ra.
Nó có xuất xứ như sau:
Thời Tây Tấn , có một người tên là Nhạc Quảng . Anh ta giỏi ăn nói , thích nói dóc, cho dù ai có hỏi anh ta khó đến đâu anh ta cũng chỉ dùng mấy câu đơn giản để cho họ một câu trả lời vừa ý : Tuy nhiên những điều ông ta không biết thì không bao giờ nói bừa .Lúc đó thái úy Vương Diễn , Quang Lộc đại phu Bùi Gia cũng rất giỏi tán gẫu , họ đã từng mời Nhạc Quảng nói chuyện thâu đêm , nhưng cũng phải thừa nhận mình không bằng Nhạc Quảng . Vương Diễn thường nói với người khác : " Trước đây ta tưởng rằng mình ăn nói đã rất rõ ràng , ngắn gọn . Hôm nay gặp được Nhạc Quảng mới biết thế nào là ngắn gọn rõ ràng. Trước mặt anh ta chúng tôi đều cảm thấy mình nói rất lôi thôi ..."
Lúc đó một nhà thư pháp nổi tiếng , những năm đầu Hàm Ninh thời Tấn Vũ Đế được phong làm thượng thư lệnh. Một hôm nhà thư pháp thấy Nhạc Quảng đang tranh luận với thái uý Vương Diễn và mọi người , lời lẽ sâu sắc , sinh động , hài hước, cảm thấy vô cùng lạ nói : "Từ khi rất nhiều danh sĩ từ trần trở lại đây , ta cứ sợ rằng những lời lẽ tuyệt diệu sẽ không có người kế thừa, không ngờ hôm nay lại được nghe thấy ở đây”. Một hôm ông có người bạn từ nơi xa đến quê ông , Nhạc Quảng mời vị khách về nhà mình .Trời vừa tối , Nhạc Quảng bày ra bữa ăn thịnh soạn ở phòng khách hiếm khi sử dụng . Người xưa có câu , tửu phùng tri kỷ ngàn chén chưa say. Khi đã uống tới đầu óc quay cuồng , vị khách đứng dậy định cạn chén thì bỗng nhìn thấy một con rắn nhỏ đang lay động trong chén . Anh ta cảm thấy rất buồn nôn , nhưng rượu đã đến miệng thì phải uống . Để giữ thể diện chủ nhà , ông xin phép chủ nhà về nghỉ trước .Về phòng khách , ông cảm thấy buồn nôn vì nghĩ trong bụng có một con rắn .Không lâu sau ông ngã bệnh. Nhạc Quảng nghe thấy bạn mắc bệnh, và nguyên nhân của bệnh thì rất buồn , băn khoăn: "Trong rượu thì làm sao có rắn được ?"
Thế là ông tìm người đầu bếp đến đó hỏi , rồi lại đến phòng khách quan sát kỹ , phát hiện thấy một cây cung sơn đầu đã cũ được treo trên xà nhà . Nhạc Quảng lập tức mang chén trà đi rót nước vào , đặt ở nơi hôm trước vị khách đặt, lúc đó bóng của cây cung vừa chiếu lên cốc rượu, lắc la lắc lư quả thật rất giống một con rắn . Sau khi đã hiểu rõ nguyên nhân , ông vui mừng chạy đến chỗ người bạn mời anh ta uống rượu . Khi vị khách vừa cầm chén rượu lên thì lại thấy hình một con rắn ở trong cốc lay động . Mặt ông ta tái xanh lại , hai tay run run,đến chén rượu cũng không dám ném đi .Lúc đó Nhạc Quảng chỉ cây cung treo ở trên tường , cười nói với bạn :" Lão huynh !làm gì có rắn ! Anh xem chẳng qua đó chỉ là hình cây cung thôi " Nói xong ông bỏ cây cung xuống thì trong cốc không còn hình con rắn nữa . Người bạn hiểu ra nguyên nhân , từ đó không còn lo sợ , bệnh quả nhiên khỏi

(còn nữa, kì sau đăng tiếp)
                                                             Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ VÀ ĐIỂN CỐ PHẦN 11 - Nguyễn Ngọc Kiên