Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, May 26, 2015

LÀNG - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

Tác giả Nguyễn Hữu Minh Quân


LÀNG 

Mấy trăm năm đất làng chua mặn
Sông cũng gầy đi vì nghèo
Tôi lớn lên trên doi cát trắng
Gió Lào về sỏi đá cũng tong teo

Cuốc kêu những đêm tháng ba
Vọng vang câu hò của mẹ
Những đêm tha phương nằm mơ tiếng dế
Rưng rưng một góc tuổi thơ

Mùa hạn ruộng đồng nứt nẻ
Tân Định, Cây Mưng, Biền Bưng* thao thức
Những đêm chờ trăng cùng em tát nước
Khúc hát em dài lúa mát mồ hôi

Cơn lũ vừa qua con không về được
Nhà tranh của mẹ lũ cuốn mất rồi
May còn nhờ bà con làng xóm
Không bây giờ con đã mồ côi..,

                      *  *  *

Xa mẹ bao nhiêu năm
Con vẫn nói giọng mình Quảng Trị
Vẫn là con của Lệ Xuyên của vùng Triệu Trạch
Đem chuyện “Đực hết” kể với người quen

Sống chân thật, hào hiệp, thủy chung
Nghèo như Thạch Sanh bước vào đời thật
Ngang dọc chẳng sợ chức quyền…
Chỉ sợ vợ phiền dài lưng tốn vải
                     
                   *  *  * 

Con về thăm mẹ sau mưa
Làng ta bây chừ đổi khác
Đất không chua, nước chẳng mặn
Đường nhựa chạy từ tỉnh về

Xóm thôn tưng bừng ánh điện
Bê tông phủ hóa bờ đê
Trẻ em bây giờ giỏi ngoan hơn trước
Con gái bây giờ tha thướt đẹp mê

Nhà cửa cao tầng hao hao phố xá
Lối nào nhà em hiu hắt mù sương?
Ta muốn quay về mười lăm năm trước
Để đứng chờ em từ phía nỗi buồn

Em ạ, thơ anh bước ra ngoài hay dở
Chẳng cần chi hơn thiệt với đời
Bao nhiêu năm phương trời trăn trở
Với làng, với mẹ, với em thôi 

* Địa danh trong làng

                                NHMQ


READ MORE - LÀNG - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

ĐẾN THAM QUAN THÀNH AN DƯƠNG VƯƠNG - bút ký Nguyễn Hồng Trân




ĐẾN THAM QUAN THÀNH AN DƯƠNG VƯƠNG
Nguyễn Hồng Trân


Ngày Chủ nhật 17-5-2015 vừa rồi, vợ chồng chúng tôi (nhà giáo Nguyễn Hồng Trân và nữ bác sĩ Thái Lê Phương) đến thăm thành trì An Dương Vương ở Cổ Loa, Đông Anh. Vùng di tích lịch sử lâu đời này rất đáng quan tâm ghi nhớ, nhưng tiếc thay đến nay vẫn chưa được tôn tạo cho đàng hoàng xứng đáng với một di tích Lịch sử -Văn hóa của Quốc gia.

Đây là một di tích xa xưa mà chắc nhiều người Việt chúng ta đã từng nghe nói thành vua An Dương Vương. Đó là vùng thành trì xoắn ốc độc đáo trên vùng đồi Cổ Loa.

Vua Hùng 18 không có con trai, nhường ngôi cho con rể là Nguyễn Tuấn (tức Tản Viên). Thục Phán là cháu Vua Hùng làm lạc tướng bộ lạc Tây Vu đem quân đến tranh ngôi, xảy ra chiến tranh Hùng - Thục. Tản Viên khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán. Thục Phán cảm kích dựng hai cột đá thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh thề rằng sẽ kế tục giữ nước và thờ tự các Vua Hùng. Thục Phán sai thợ đẽo đá dựng miếu trên núi và cho mời dòng tộc nhà vua đến ở chân núi lập ra làng Trung Nghĩa giao cho trông nom đền miếu, cấp cho đất ngụ lộc từ Việt Trì trở ngược đến hết địa giới nước nhà. Lại sai dựng miếu ở động Lăng Xương thờ bà mẹ Tản Viên, cấp đất ngụ lộc cho Tản Viên từ cửa sông Đà trở lên phía Tây Bắc. Sau đó Thục Phán xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa đặt tên nước là Âu Lạc.
           
Khu vực này, ngày nay vào các ngày nghỉ, đều có liên tục  du khách đến tham quan, nhưng cũng không tấp nập như các di tích khác. Vì di tích lịch sử này ở một địa thế còn chật hẹp và cảnh quan không có gì hấp dẫn nên khó lôi cuốn người tham quan du lịch, mặc dù phương tiện đi lại rất thuận tiện và không xa với trung tâm Thủ đô Hà Nội.

Khi nhìn quang cảnh tường thành rêu phong, đền miếu tĩnh mịch làm chúng tôi nhớ đến mấy câu thơ của bà Huyện Thanh Quan trong bài:

     THĂNG LONG HOÀI CỔ

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh ấy người đây luống đoạn trường…

                                                                         NHT
                  




READ MORE - ĐẾN THAM QUAN THÀNH AN DƯƠNG VƯƠNG - bút ký Nguyễn Hồng Trân

NGƯỜI VỀ - thơ Hoàng Yên Lynh

Tác giả Hoàng Yên Linh










NGƯỜI VỀ
                                     * Gởi H.Cali

Người về rồi người lại đi
Đành thôi như bòng chim di cuối trời
À ơi ví dặm người ơi
Ca dao còn đó biết người nhớ không ?
Người đi chẳng có bến sông
Chỉ chiều loang nắng mênh mông nỗi buồn
Người về buồn lại buồn hơn
Người đi tình có dỗi hờn mang theo
Chiều nghiêng lá đổ bên thềm
Khúc tình xưa ấy - nỗi niềm cố nhân.

HOÀNG YÊN LYNH
B'lao 03.3.2015


READ MORE - NGƯỜI VỀ - thơ Hoàng Yên Lynh

NGƯỜI ĐÃ ĐI XA - thơ Thế Lộc




Thế Lộc (phải) và phu nhân của Thương Yến Tử


NGƯỜI ĐÃ ĐI XA
     Chia sẻ cùng Thương Yến Tử.

Anh buồn tôi cũng buồn lây
Thương con chim YẾN đã bay về trời
Thương người ở lại đầy vơi
Giọt dài giọt ngắn một đời khóc than
YẾN bay lên cõi thiên đàng
Bỏ quên lại cõi nhân gian người chồng
YẾN ơi, có biết hay không !
Bài thơ đau xót nỗi lòng biệt ly
Một năm YẾN đã bay đi
Một năm thương nhớ không gì nguôi ngoai...
Đêm nay trăng sáng u hoài
Có con bướm trắng đậu ngoài mái hiên.

                              Thế Lộc


READ MORE - NGƯỜI ĐÃ ĐI XA - thơ Thế Lộc

TAY NÂU - thơ Trần Ngọc Hưởng


Tác giả Trần Ngọc Hưởng


             Tay Nâu

 Anh về tóc đẫm màu sương,
 Tay nâu thay lược lệch đường ngôi xưa.
 Đa mang chi chiếc bóng thừa,
 Cho hoa nắng dưới hiên trưa trổ vàng.

Thấm nghe lạnh gió mùa sang,
Quạnh hiu vườn cũ ngỡ ngàng hoài nghi.
Cổng xưa mùa ghé và đi
Bỏ con dế nhỏ nằm truy vấn mình

Người chê chán bước phù sinh,
Gieo chi vạn ý thơ tình hoan ca.
Đẩy ta vào cõi mù sa,
Lơ mơ chếnh choáng bước qua đời mình.

Nghe đâu đây tiếng dỗ dành,
Lòng anh trăn trở quẩn quanh hương nồng
Hôn nhau một thoáng phiêu bồng,
Da thơm má ửng mù không cõi tình

Say men bí tỉ môi xinh
Tay thon tóc ngắn mà tình mênh mông
Nghiêng ly cặn rượu vẫn nồng
Đèn khuya xô lệch bóng không rời hình

                   Trần Ngọc Hưởng
                   mrtranvansau@gmail.com
READ MORE - TAY NÂU - thơ Trần Ngọc Hưởng

TÌNH VẪN CHƯA QUÊN - chùm lục bát Trúc Thanh Tâm


Tác giả Trúc Thanh Tâm


TÌNH VẪN CHƯA QUÊN

Đời ta mấy nẻo bình yên
Nhục vinh nếm trải, ưu phiền bủa vây
Nói rồi ai sẽ nghe đây
Khi tay mình vẫn còn vay nợ đời
Nhìn lên nhận diện mặt người
Kiếp nào mới nói được lời ăn năn!

NỖI NHỚ

Ngả đầu trên vũng thương đau
Ta nghe đời cũng trót vào tương tư
Dài theo nỗi nhớ viễn du
Ngày nâng niu mộng giờ như mơ hồ
Một linh hồn nhỏ chết khô
Đời em nửa gánh đò đưa sông dài .

TRÚC THANH TÂM
( Lục Bát Thời Yêu Em - 1972 )


READ MORE - TÌNH VẪN CHƯA QUÊN - chùm lục bát Trúc Thanh Tâm

EM CÓ NGHE - chùm thơ Phạm Phan Hòa


Tác giả Phạm Phan Hòa


Em Có Nghe
                                            
             Hỏi TM -NTB (Thúy của ngày xưa)
       
Em có nghe tình trôi       
Lặng qua ngày xa xôi       
Em có hay mùa  rụng       
Phong kín cả  chân đồi       
Ta hát lời hư không       
Có nghe khúc nhạc lòng       
Ta thở vào trong đá       
Xanh tình em rêu phong       
Lời thầm thỉ từng đêm       
Thương ngày em vất vả      
Em có nghe lả chả      
Tình anh gieo xuống đời       
Nếu nghe tiếng mưa rơi       
Lúc lòng anh nức nở       
Anh xin là muôn thưở       
Hát bên đời ru em

                                17/5/2015

          
Người Yêu Vỹ Dạ
 
*  Mãi em là ngọt dòng ca dao, là từng con sóng mãi ngàn đời ru bờ cát, Nguyễn ơi!
          
Thôn Vỹ rằng xưa có người em          
Khóm trúc hôm nay xỏa tóc mềm          
Thưở nao người tới còn e thẹn          
Vỹ Dạ chừ đây gửi vẹn tình
                                 18/5/2015


Nghe Em Nói                                   
               Tặng em TM 
            
Suối hát ru loài đá ngủ           
Lời ca năm tháng mỏi mòn           
Tình cứ trôi xa chùng gót            
Ngày về tô lại chân son            
Đừng đi - xa nhau anh ơi!            
Mưa trơn trợt lối ... trắng trời            
Về đây em treo võng lụa            
Yêu anh - đưa mộng ơi ... hời            
Anh lắng nghe tiếng ngàn khơi?            
Xa xăm vỗ về bờ cát            
Có nghe cõi lòng tan nát?            
Vỡ toang muôn thủa tơi bời
                                  
19/5/2015
                                     
Phạm Phan Hòa                                     
(Quảng Nam)


READ MORE - EM CÓ NGHE - chùm thơ Phạm Phan Hòa

Monday, May 25, 2015

NHỊP ĐẬP CON TIM - Thơ Nguyễn Văn Quang





NHỊP ĐẬP CON TIM 

(Thương tặng vợ và các bạn gặp rắc rối về tim)


Ngày xưa khi mới yêu nhau

Con tim chưa đều nhịp đập

Thất thường lúc chậm lúc mau

Em bảo - tại lòng thổn thức.


Năm ngoái đè tây lên ngực

Em nghe tim đập không đều

Anh bảo: tại lòng rạo rực

Như ngày em mới biết yêu!


Ngờ đâu đến hồi mỏi mệt

Tim em lệch nhịp an toàn

Đường ống dẫn truyền hở hẹp

Phải làm đại phẩu thay van!


Hôm tiễn em vào phòng mổ

Đúng ngày giải phóng Điện Biên(*)

Anh bảo: Em ơi, đừng sợ!

Quân mình đại thắng - tất nhiên!


Bước chân nặng nề quay lại

Anh sờ thấy ngực nóng ran

Ai xui, anh thầm nghĩ dại

Biết đâu em chết giữa đàng!


Người ta cưa xương, xẻ ngực

Đưa tim em bỏ ra ngoài

Tiếng rưởi đồng hồ ngưng đập

Làm sao sống được em ơi!


May nhờ lương y giỏi quá

Cứu người như có phép tiên

Công ơn, xin nguyền tạc dạ

Giúp anh giành lại vợ hiền!

Hồi xưa chấp năm chấp tháng

Giờ đây tính buổi tính ngày

Đã nguyền yêu nhau, hãy ráng

Ôm tròn hạnh phúc trong tay!


Dù đã qua thời oanh liệt

Tình yêu đâu có tuổi già

Con tim kiên trì gõ nhịp

Cho tình mình mãi thăng hoa!


Mai kia đôi tim ngừng đập

Đưa nhau về chốn vĩnh hằng

Gió trời ru ta an giấc

Hương tình thoang thoảng ngàn năm!

                NGUYỄN VĂN QUANG
               (Quảng Trị - tháng 5, 2015)

.........................

(*)Vợ tôi lên bàn mổ tại Bv TƯ Huế ngày 7/5/2014,

đúng vào dịp kỷ niệm 60 năm giải phóng Điện Biên Phủ-

(7/5/1954-7/5/2014).

READ MORE - NHỊP ĐẬP CON TIM - Thơ Nguyễn Văn Quang

Sunday, May 24, 2015

CỔNG TRE - Thơ Nguyễn Khôi & thơ họa của Nhã My






  CỔNG TRE
  (Tặng Lê Bình)
                   
  Lâu ngày, về với Cổng Tre
Thân thương Người đứng bên hè chờ ta
  Bóng Cau rực ánh chiều tà
Cái mùi khói bếp tỏa ra nồng nàn.
                     
  Lại về tựa gốc Ngọc Lan
Soi vào chum nước thấy ngàn mây trôi
  Kìa ai nón trắng bên trời
Đi ngang đồi Cọ để rồi bặt tăm.
                     
  Lại về ra giếng rửa chân
Ngồi lên cái bệ đá Ong mơ màng
  Kể từ xa lũy tre làng
Thực / mơ... thấm thoát mười năm não nề.
                     
  Chen chân Phố thị ...thèm về
Thênh thênh ngõ rộng, chân đê...bồi hồi
  Cổng Tre nào khác Cổng Trời (1)
Đưa ta vào XỨ CON NGƯỜI  mát xanh.

    Hạ Giáp, Hạc Trì, Phú Thọ 14-5-2015

                                     Nguyễn Khôi


-----
(1) Vào Cổng tre  trung du Phú Thọ , NK lại nhớ "Cổng trời" trên cao nguyên đá Hà Giang...

 THƠ HỌA:

BÓNG TRE
(Đáp họa và kính tặng anh Nguyễn Khôi)


Lâu rồi chẳng thấy bóng tre
Cầu ao, đường đất phủ che mát lòng
Gió đêm thổi nhẹ bên sông
Vi vu lả ngọn tre lồng bóng trăng
Mẹ già quang gánh khó khăn
Đường đê lồi lõm tháng năm ruộng đồng
Tre xanh bao bọc trường làng
Tre tàn, măng lớn thênh thang nẻo đường
 Mẹ thì một nắng hai sương
Cho con ăn học rộng đường công danh
Phận nghèo chiếc áo mong manh
Thương con non trẻ lòng thành chở che  
Chỏng tre mẹ ngủ trưa hè
Tiếng ru bên võng còn nghe thấm tình
'' Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi…’’
Con qua đã mấy trường thi
Trường đời may mắn mẹ thì gian lao
Chiều nay tiếng gió xôn xao
Xa quê chợt nhớ  hàng rào tre xanh
Tiếng gà còn gáy tàn canh?
Bóng tre còn có phủ quanh quê nghèo…?

                                        NHÃ MY
   
READ MORE - CỔNG TRE - Thơ Nguyễn Khôi & thơ họa của Nhã My

AI HOÀI CỔ HƠN AI? - Phạm Đức Nhì

        
                  Tác giả Phạm Đức Nhì



        AI  HOÀI  CỔ  HƠN  AI?


        Khoảng cuối năm 2011, một người bạn văn chương ở trong nước gởi cho tôi 4 bài thơ kèm theo một câu hỏi như kiểu đánh đố: “Ai hoài cổ hơn ai?” Tôi hiểu ý anh bạn, nhưng theo tôi, cách đặt vấn đề của anh không được chính xác lắm. Với một người thích đọc thơ và thỉnh thoảng cũng làm thơ như tôi, câu hỏi đó phải là: “Trong 4 bài thơ thể hiện tâm tình hoài cổ, bài thơ nào hay hơn? Hoặc tài thơ của tác giả nào cao hơn?”
         Đến khi tra cứu để bình bài thơ Sông Lấp tôi lại đọc được bài Về Bài Thơ Sông Lấp Của Tú Xương (1) của Vũ Bình Lục, trong đó tác giả cho rằng: “… Tú Xương và Nguyễn Khuyến, căn cốt vẫn là những nhà thơ trữ tình đặc sắc của dân tộc. Phải nói thêm là cả hai cụ, đều trữ tình ngay cả trong trào phúng và ngược lại. Riêng về thơ, về tài thơ thì tôi cũng muốn xếp cụ Tú Xương cao hơn một tí. Cụ Nguyễn Khuyến kinh điển hơn, uyên bác hơn, nhưng đó lại chính là chỗ gây khó cho nhà thơ nổi tiếng này.”
          Với tôi, thi sĩ, ngay cả trong cùng một loại thơ, như thơ trữ tình chẳng hạn, không phải lúc nào cũng sáng tác đều tay như một cỗ máy sản xuất một món hàng công nghệ. Có khi cao hứng, chữ nghĩa, ý tứ từ trên trời rơi xuống, viết được bài thơ rất hay. Nhưng cũng có khi, bài thơ viết ra chỉ muốn vứt vào sọt rác, hoặc giả đem trình làng, thì chỉ như viên sỏi vứt xuống biển, chẳng thấy tăm hơi gì cả.
         Có thi sĩ chỉ viết có vài bài mà nổi danh, nhưng cũng có người in hết tập này đến tập khác mà khi xưng tên thì chả ai biết ngài là ai cả. Bởi vậy, tôi không dám dùng phương cách đem “gia tài thơ” của cả hai thi sĩ đặt lên bàn cân rồi kết luận ai tài hơn ai. Công việc ấy không phải là không làm được, nhưng phải cần một ê-kíp những nhà phê bình văn học có tài, phải ra công tra cứu ngọn ngành, phân tích chi li, kỹ lưỡng, phải có óc tổng hợp, phải cân nhắc đủ chiều, đủ mặt. Mà dù có làm được việc ấy, kết luận đưa ra vẫn còn đầy tính chủ quan, còn gây nhiều tranh cãi.
        Thôi thì “mèo bé bắt chuột con”, thỉnh thoảng tôi chỉ dám đem bài thơ này so sánh với bài thơ kia (nhưng chỉ giới hạn scope của việc so sánh vào một đặc điểm nào đó thôi). Theo tôi, nếu chọn hai bài thơ thuộc loại “những con tương cận”, nghĩa là có chung một đặc điểm nào đó (chung một đề tài, chung một thủ pháp nghệ thuật…) thì việc so sánh sẽ dễ hơn. Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác và Cảm Hoài của Đặng Dung là “những con tương cận” vì có chung một đề tài, một tâm sự; đó là hào khí của một sĩ phu trước cảnh nước nhà nguy biến. Dĩ nhiên, khi so sánh, có người coi trọng cách dùng chữ, có người coi trọng cái thâm trầm, sâu sắc, người khác lại thích cái hào sảng, phóng khoáng, hơi thơ nóng bỏng, dòng chảy cuồn cuộn như thác đổ. Và từ đó họ có sự đánh giá cao thấp khác nhau.
          Trong tinh thần đó tôi thấy việc tìm câu trả lời cho câu hỏi của anh bạn về 4 bài thơ là khả thi, là tương đối dễ dàng. Bốn bài thơ đó là:
  1.  Nhớ Quy Nhơn của Vương Linh.
  2.  Thăng Long Thành Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan.
  3.  Ông Đồ của Vũ Đình Liên.
  4.  Sông Lấp của Tú Xương.

Hoài cổ là nhớ thương, tiếc nuối một thời đã qua. Như vậy, Nhớ Quy Nhơn, đúng ra, là tâm tình hoài hương chứ không hẳn là hoài cổ. Dĩ nhiên, trong hoài hương đã ẩn chứa hoài cổ (Nhớ Quy Nhơn là nhớ cả cái thời gian mình đã sống ở Quy Nhơn); tuy nhiên, ở đây khung trời quê hương mới chính là tâm điểm của bài thơ. Ba bài còn lại thì đúng là hoài cổ; nhớ thương, tiếc nuối đều xoáy vào “một thời đã mất”.

NHỚ  QUY  NHƠN (2)
                   Không đủ ban ngày để nhớ nhau
                   Tối nằm chợp mắt đã chiêm bao
                   Nửa đêm trở dậy hương rừng thoảng
                   Tương biển Quy Nhơn gió thổi vào.
                             (Vương Linh, 1921-1992)

          Không rõ trước khi rời quê hương miền trung, tập kết ra bắc (1954), chàng thanh niên Lê Công Đao (Vương Linh) có được đọc và học thơ Trần Tế Xương không, chứ đọc Nhớ Quy Nhơn của ông tôi thấy rất đậm mùi … Sông Lấp. Tuy không sử dụng phép ẩn dụ, Nhớ Quy Nhơn cũng dùng cách bày tỏ, diễn tả chứ không kể lể, biện giải dài dòng (show, not tell), cũng ngửi cái này, tưởng cái kia. Riêng mức độ tài năng thì cao thấp rất rõ nét. Thôi thì cứ cho hoàn toàn là do tình cờ mà hai bài thơ có hơi hướm giống nhau, chỉ riêng thủ pháp “show, not tell” đã cho người đọc thấy rõ sự “không khéo” của Vương Linh. Trước hết, thay vì dùng hình ảnh khác để người đọc liên tưởng đến Quy Nhơn thì Vương Linh lại bí bách đến độ ôm hai chữ Quy Nhơn, rất vụng về, nhét vào câu thứ tư:
                   Tưởng biển Quy Nhơn gió thổi vào
         
Rồi cái tựa Nhớ Quy Nhơn của bài thơ thì lại “lạy ông tôi ở bụi này”, khiến cái phương cách “show, not tell” trở thành “half-show, half- tell”, nửa đời, nửa đoạn.
        Nhớ Quy Nhơn đưọc chọn đăng trong tập Thơ Việt Nam Thế Kỷ XX, Thơ Trữ Tình và được Nguyễn Bùi Vợi khá mạnh miệng ngợi khen.(2)
         Với tôi, giá trị nghệ thuật của Nhớ Quy Nhơn chỉ ở mức trung bình. Không kể cái “tội” na ná vóc dáng của Sông Lấp, mà chỉ riêng cái thủ pháp “half-show, half-tell” nửa đời, nửa đoạn cũng đủ xếp bài thơ ở cuối bảng trong số 4 bài thơ mà tôi được “yêu cầu” bình phẩm.

         Với Nhớ Quy Nhơn của Vương Linh ở hạng tư, vị trí hạng ba sẽ dành cho Thăng Long Thành Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan (3). Lý do: TLTHC là một bài thơ Đường luật hay, ngôn ngữ sang cả, cảm xúc dạt dào nhưng có hai khuyết điểm mang tính thời đại là hình ảnh khuôn sáo và thể thơ gò bó.
           Còn Ông Đồ (4) và Sông Lấp (5) đều là tuyệt tác, đều có những “tuyệt chiêu” trong thơ ca. Việc chọn lựa vị trí hạng nhì và hạng nhất cũng làm tôi có một chút đắn đo, suy nghĩ. Sau đây là một vài điểm so sánh, cân nhắc:
  • Cả hai đều áp dụng thủ pháp “show, not tell” thành công.
  • Cả hai đều có phép ẩn dụ hoàn hảo, kín kẽ (không sơ hở); tuy nhiên, phép ẩn dụ của Sông Lấp tài tình hơn, sâu kín hơn.
  • Tứ thơ của cả hai bài đều mạch lạc; cảm xúc, hình ảnh tuôn chảy theo một trình tự hợp lý.
  • Trận địa chữ nghĩa của Ông Đồ lớn hơn, bề thế hơn; nhưng câu chữ, âm thanh, hình ảnh, cảm xúc của Sông Lấp được xếp đặt, nối kết như một thế trận chặt chẽ hơn.
  • Ông Đồ có “tuyệt chiêu” thi hóa thân thành họa; Sông Lấp không có.
  • “Tuyệt chiêu” thi hóa thân thành họa của Ông Đồ không hoàn hảo; bức tranh thứ năm vẫn cồm cộm chữ nghĩa.
  • Sông Lấp không có hội chứng nhàm chán vần; vị ngọt thơ ca của Ông Đồ hơi đậm.

         Dựa vào những phân tích trên đây, tôi, với cái nhìn chủ quan của mình, chọn Sông Lấp vào vị trí hạng nhất. Như vậy, thứ tự (từ cao xuống thấp) của 4 bài như sau:
  1.  Sông Lấp.
  2.  Ông Đồ
  3.  Thăng Long Thành Hoài Cổ
  4.  Nhớ Quy Nhơn

    Phạm Đức Nhì
    Galveston, đầu năm 2014
    Rất mong nhận được chỉ điểm, bổ khuyết, phê bình của những người yêu thơ. (nhidpham@gmail.com)

    ..................................................................................................
    Chú thích
    (2) Thơ Việt Nam Thế Kỷ XX, Thơ Trữ Tình, Nhà xuất bản Giáo Dục 2004, trang 418.
    (3) Xin xem thêm Đọc Thăng Long Thành Hoài Cổ Nghĩ Về Vị Trí Của Thơ Đường Luật (t-van.net)
    (4) Xin xem thêm Ông Đồ: Những Bức Tranh Thơ. (t-van.net)
  5.   Nếu có ai trong số người đọc có cái nhìn khác, nhận định khác, cách xếp hạng khác xin e-mail cho tôi biết. Tôi sẽ thêm vào phần “ý kiến bạn đọc”.
  6.  (5) Xin xem thêm Sông Lấp: Một Bài Thơ Toàn Bích (t-van.net)


READ MORE - AI HOÀI CỔ HƠN AI? - Phạm Đức Nhì

CHIỀU MƯA XA - Thơ Nhật Quang





CHIỀU MƯA XA

Rưng rưng mưa đẫm giọt buồn
Lơi rơi chiều ngả ngõ hồn xanh xao
Lả lơi mây lượn chốn nao ?
Mà nghe ray rứt,cồn cào nhớ nhung

Đêm hoang gối mộng mông lung
Vang cung đàn lỡ ngàn trùng bể dâu
Gió xô sóng cuộn về đâu
Em ơi ! còn đọng niềm đau bẽ bàng

Tìm đâu vạt nắng mơ màng
Hong khô tình đã lỡ làng trăm năm
Sương rơi giăng phủ đêm trầm
Hồn thơ vãn Nguyệt, lặng câm tiếng lòng

Lênh loang vỡ giấc mơ hồng
Chông chênh kỉ niệm ấm nồng tan đôi
Chiêm bao ướt lạnh tình côi
Hương xưa lãng đãng, mây trôi cuối trời.

                                        Nhật Quang
                                        (TP. HCM)

READ MORE - CHIỀU MƯA XA - Thơ Nhật Quang

Saturday, May 23, 2015

GẤP ... - Thơ Trần Mai Ngân





     GẤP ...

 

     Gấp nỗi buồn xa xưa

     Gửi vào năm tháng cũ

     Ngày tàn vơi ũ rũ

     Mưa khóc ở phương nao ...

 

                                         Gấp lại những ngọt ngào

                                         Cất vào trong giấc mộng

                                         Chẳng còn chút xôn xao

                                         Buộc hồn nhau lao đao ...

 

     Tháng Năm có dạt dào

     Hoa Loa Kèn như nhớ

     Trong hương tình phai mau

     Ta thở dài xa nhau ...


                                                         Trần Mai Ngân

READ MORE - GẤP ... - Thơ Trần Mai Ngân