Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 19, 2013

TÌM LẠI CHÍNH MÌNH (Bài văn vần & thiền ngôn) - Tuệ Tiền (Lê Bá Bôn) sưu tầm


(Lời giới thiệu của người sưu tầm:

Từ xưa đến giờ, qua bao thời bình và thời chiến, qua bao thăng trầm thế sự, đạo vị của Thiền thường có mặt trong văn chương (nói rộng là trong văn hoá). Theo nhà nghiên cứu Đỗ Trân Duy (một giáo hữu Kitô giáo), đến thế kỉ XVIII Thiền có mặt hầu như khắp thế giới, đa thù đa dạng, nhưng đều có điểm chung là hướng thiện hướng thượng tâm linh… Nhiều người viết có dùng chất thiền; lắm lần người đọc gặp phải chất thiền…

Tôi có duyên quen biết Thiền từ nhiều năm nay, có sưu tầm và tâm đắc một số thiền ngôn (tạm dùng từ này). Xin được giới thiệu đến quý độc giả 10 chùm thiền ngôn dùng cho sự  đánh thức khát vọng giác ngộ, dùng cho sự ấn chứng chứng ngộ (khởi từ sơ ngộ) - nói theo cảm nhận chủ quan của tôi… (Tôi có gạch chân những chỗ mà mình có cảm hứng lớn, mong được thông cảm).

Và cũng xin được bắt đầu với một bài văn vần của tôi).
*****

Tìm lại chính mình
(Bài văn vần & thiền ngôn)

(“Khuôn mặt thật muôn đời” của sự
sống chúng ta là gì? Làm sao để ngộ?)

Đừng khẳng định “tôi”
Là thân xác này
(Xác thân tan rã
Luân hồi còn đây)

Đừng khẳng định “tôi”:
Cảm giác, nghĩ suy…
(Huyễn tướng duyên hợp
Càng chấp càng si)

Sống tức “tôi là …”
Vậy Chân Ngã đâu?
“Giác tâm vô trụ
Tịch Chiếu nhiệm mầu…”

Lời xưa thánh triết
Minh sư trao truyền
Thành tâm tự ngộ
Xa dần đảo điên. (*)

(*)“Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ,
là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền;
mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ,
cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả.
(Đường Về Minh Triết; Văn Nghệ, 2007)

Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)

************************************

Kính dâng quý độc giả 10 chùm thiền ngôn sưu tầm (ở sách) 

Chùm 1:

* Chỗ không có niệm tưởng dấy khởi, rỗng thênh và vô sở trụ, đó là Định. Khi không niệm tưởng, rỗng thênh và vô sở trụ được nhận biết thì đó là Tuệ. Ở đâu việc (vi diệu) này xuất hiện thì ta bảo rằng Định này tự thể hiện và chính là Thể của Bát-nhã, không khác với Tuệ mà chính là Tuệ; lại nữa Tuệ này, tự thể hiện và chính là dụng của Định, không khác với Định mà chính là Định.   (…) Ta nói về Định, nhưng đối với Thể của nó thì không có gì phải sở đắc. Khi thấy được cái Thể bất khả đắc này, luôn luôn tịch lặng tròn đầy bất biến, nhưng vẫn diệu dụng bất tư nghì, thì đó là Tuệ. Chỗ này Định Tuệ đồng đẳng. (Thiền sư Thần Hội) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; Thuần Bạch biên dịch).

* Ánh sáng chiếu soi đó là Tuệ, chẳng phải động và bất biến là Định. Bồ-tát dùng pháp Định Tuệ đồng thể đó được Vô thượng giác. Cho nên nói “Định Tuệ đồng thể tức là giải thoát”. Nói tự tại khỏi nhiễm ô có nghĩa là không còn phàm tình chứ không phải hết thánh tình. (Thiền sư Huệ Hải) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; Thuần Bạch biên dịch).

* Ngộ là một hình thái của tri giác, một thứ tri giác nội tại, phát hiện trong phần sâu thẳm nhất của ý thức. Đó là ý nghĩa của đặc tính tự tri; tức là sự thực tối hậu. Cho nên người ta thường bảo rằng Thiền giống như uống nước, nóng hay lạnh tự người uống biết lấy. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển trung, luận I; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Đừng nghĩ đến thiện, đừng nghĩ đến ác, mà ngay bây giờ hãy nhìn xem bản lai diện mục của ngươi, trước khi nhà ngươi sinh ra là gì? (Lục tổ Huệ Năng) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; Thuần Bạch biên dịch).

* Tự tri là thấy mình, nhìn thấy tâm trí mình từ giây phút này đến giây phút  khác trong lăng kính của tương giao tương hệ của mình đối với tài sản, đối với những sự việc, đối với con người, đối với những ý tưởng… (…) Đây là việc chính yếu: khi mà tôi chưa hiểu được mình, tôi không thể có được căn bản để suy tư, và tất cả sự tìm kiếm của tôi chỉ là vô vọng hão huyền. (…) Chính sự kiện ý thức trực tiếp về hiện thể (cái đang là) là chân lí rồi. (…) Đừng phân tích tâm thức để tâm trí tĩnh lặng. (Thiền sư Jiddu Krishnamurti) – (Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng; J.Krishnamurti; dịch giả: Phạm Công Thiện).

Chùm 2:

* Từ trước cho đến thời Lục Tổ, khái niệm về Phật tánh hiện hữu nơi tất cả chúng sinh, tự thể hoàn toàn thanh tịnh và bất nhiễm, rất thịnh hành. Bổn phận sự của người tu là làm hiển lộ Tự tánh, tức Phật tánh nơi mình, vốn xưa nay thanh tịnh. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả:Thuần Bạch).

* “Nguyên” (“nguồn”) là chơn tánh bản giác của tất cả chúng sinh, cũng gọi là Phật tánh, cũng gọi là tâm địa. Ngộ đó gọi là huệ, tu đó gọi là định; định huệ chung gọi là thiền-na. Tánh này là cội nguồn của thiền cho nên gọi là thiền nguyên (nguồn thiền), cũng gọi là “lí hạnh thiền-na”.
  (…) Chơn tánh này không riêng nguồn của thiền môn, cũng là nguồn của muôn pháp, cho nên gọi là pháp tánh; cũng là nguồn mê ngộ của chúng sinh, cho nên gọi là Như Lai tàng, tàng thức; cũng là nguồn muôn đức của chư Phật, nên gọi là Phật tánh; cũng là nguồn muôn hạnh của Bồ-tát, nên gọi là tâm địa. (Thiền sư Tông Mật) – (Nguồn Thiền; Tông Mật; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Lục Tổ đã giảng rõ cho chúng ta hiểu về Tánh theo cái nhìn của ngài. Tánh là sinh lực ngự trị toàn thể sinh mệnh chúng ta, là nguyên lí của sự sống vật chất lẫn tinh thần. Không chỉ có thân mà cả tâm, trong ý nghĩa cao tột nhất, đang sống vì sự có mặt của Tánh. (…).
  Tự tánh nói một cách khác là tự tri, không phải chỉ là hiện hữu suông mà còn biết. Chúng ta có thể nói như thế vì tự tri tức đang là, tri tức hữu và hữu tức tri. Đây là ý nghĩa câu nói của Lục Tổ: “Nơi bản tánh riêng có trí Bát-nhã và vì thế có tự tri (tự dụng trí huệ). Bản tánh thường quán chiếu và không dùng ngôn ngữ để diễn tả được”. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả:Thuần Bạch).

* Chỉ có một câu mà thiền gia nên ra sức công phu và tìm thấy giải đáp chung quyết là: “Bản lai diện mục của ta là gì?”(Thiền sư Đại Ứng).  “Khi các ngài được dạy cho đặt nghi tình  vào cái nghĩa của niệm Phật, hãy cứ tự nhiên mà chú tâm ngay trên chỗ “ai” niệm Phật”. (Thiền sư Bản Thiện) - (Thiền Luận - quyển trung, luận I; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Những điều kiện tất yếu cho việc làm trỗi dậy ước vọng giác ngộ có thể được tóm tắt như vầy: 1. hành vi đạo đức, 2. thân cận chư Phật và các thiện tri thức, và 3. tâm thanh tịnh, chân thật và từ bi. Khi làm tròn ba điều kiện này, Bồ-đề tâm (Bodhicitta) được coi là đã ngóc đầu dậy và sẵn sàng để tăng tiến.

  (…) (Theo kinh Hoa Nghiêm) “Bồ-đề tâm như đại dương vì chứa tất cả các hạt ngọc công đức. Bồ-đề tâm như núi Tu-di (Sumeru) bình đẳng đứng cao trên tất cả mọi vật. Bồ-đề tâm như núi Thiết-vi (Cakravada) vì bảo trì hết thảy thế gian. Bồ-đề tâm như núi Tuyết (Himàlaya) vì sản xuất tất cả các cây thuốc trí tuệ. Bồ-đề tâm như núi Hương (Gandhamàdana) vì xuất sinh tất cả các thứ hương công đức. Bồ-đề tâm như hư không vì trải rộng vô biên phước đức”. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển hạ, luận IV; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

Chùm 3:

* Nếu giác ngộ đã làm cho toàn thể vũ trụ rung chuyển sáu cách khác nhau như kinh chép, thì vô minh khi chưa bị hàng phục ắt vẫn có đủ thần lực ấy, dầu rằng vì bản chất và hiệu lực, thần lực ấy diễn ngược lại hẳn với giác ngộ. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển thượng, luận III; D.T.Suzuki; dịch giả: Trúc Thiên). (Nếu nghi ngờ điều này và cần biết quan điểm của một số nhà khoa học đương đại, có thể đọc phần viết thêm về Thiền ở: Đường Về Minh Triết – Thuvientutam.vn).

* Nếu ngài thấy rằng ý thức của mình được chia sẻ bởi tất cả con người khác sống trên trái đất này, lúc đó toàn bộ cách sống của ngài sẽ đổi khác. (…) Muốn chuyển hoá thế giới, chuyển hoá sự khốn khổ, chiến tranh, nạn thất nghiệp, nạn đói, sự phân chia giai cấp và tất cả sự hỗn loạn khắp nơi thì chúng ta phải chuyển hoá chính bản thân mình. (Thiền sư Jiddu Krishnamurti) – (Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng; J.Krishnamurti; dịch giả: Phạm Công Thiện).

* Nhìn vào bên trong, chúng ta biết có cái tâm chân thật ở trong. Tâm này thấy sự rong ruổi của ý thức, thấy được vọng niệm  khi dấy khi lặng. Nếu không có tâm ấy, chúng ta làm sao biết được khi có vọng khi không vọng, lúc có ý thức lúc không ý thức. Cái biết được vọng, quyết định cái đó không phải vọng. Vọng thì khi sinh khi diệt, cái thấy rõ sự sinh diệt của vọng quả là không phải sinh diệt. Vọng dấy lên do vin theo bóng dáng trần cảnh nên có tướng mạo, thuộc về nhân duyên. Cái biết vọng, chưa từng dấy lên, chưa từng theo trần cảnh, nên không liên hệ đến nhân duyên. (…) Nhận ra cái đó là thấy tâm chân thật ở trong. (Thiền sư Thích Thanh Từ) – (Thiền Tông VN Cuối Thế Kỉ 20; Thích Thanh Từ).

* Nếu được bạn lành vạch bày liền đốn ngộ cái “biết” không - lặng. Cái “biết” không có niệm, không hình tướng thì đâu có gì là ngã tướng nhân tướng. (Thiền sư Tông Mật) ) – (Nguồn Thiền; Tông Mật; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Mục tiêu của việc tu thiền là nhận ra tự tánh (tức Phật tánh) và giải thoát khỏi mê lầm phiền não. Làm thế nào để nhận ra được? Có thể được, vì tự tánh là tự tri. (…) Bảo rằng quá trình giác ngộ là đốn nghĩa là có một cú nhảy vọt (…). Cú nhảy vọt về mặt luận lí là tiến trình lí luận thông thường khựng lại một cách đột ngột (…). Tiến trình này gián đoạn đột ngột, và đồng thời bất khả tư nghì; đó là kiến tánh. (…) Vì là vô tâm vô niệm nên cái thấy mới thực là thấy. (…) Lí vô ngã không đúc kết từ suy luận duy lí mà là một sự kiện thực tế. (…) Các lí luận gia cần nhớ rằng tôn giáo là sự kiện thực nghiệm (…). (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả: Thuần Bạch).

Chùm 4:

* Ngài Pháp Hải bạch rằng: “Hoà Thượng để lại giáo pháp gì khiến cho những người mê đời sau được thấy Phật tánh?” Tổ bảo: “Các ông lắng nghe, những người mê đời sau nếu biết chúng sinh tức là Phật tánh, nếu chẳng biết chúng sinh muôn kiếp tìm Phật cũng khó gặp. Nay tôi dạy các ông: biết tự tâm chúng sinh, thấy tự tâm Phật tánh. Muốn cầu thấy Phật, chỉ biết chúng sinh; chỉ vì chúng sinh mê Phật, chẳng phải Phật mê chúng sinh. Tự tánh nếu ngộ chúng sinh là Phật, tự tánh nếu mê Phật là chúng sinh; tự tánh bình đẳng chúng sinh là Phật, tự tánh tà hiểm Phật là chúng sinh. (…)”. (Pháp Bảo Đàn Kinh; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Toàn bộ giáo lí Phật giáo, hay cả toàn thể đạo học Đông phương, nói về tri kiến tuyệt đối, tri kiến chỉ đạt được trong thế giới vô niệm, trong đó sự thống nhất toàn thể mọi nhị nguyên đối lập là sự chứng thực sinh động. (Giáo sư vật lí Fritjof Capra) – (Đạo Của Vật Lí; F. Capra; dịch giả: Nguyễn Tường Bách).

* Bản ngã - một ảo tưởng - là kết quả của bộ não bị quy định, bị chương trình hoá. (Giáo sư tiến sĩ vật lí David Bohm).

* (Thầy Đa-ram nói) Năng lượng linh hồn là năng lượng ở ngoài electron và ngoài proton. Nhưng tâm năng mạnh mẽ vô cùng, nó có khả năng tác động lên lực hấp dẫn. Năng lượng của nhiều tâm có một sức mạnh lớn lao. Có tâm năng tích cực và tâm năng tiêu cực, chúng gắn liền với nhau.(…) Tâm năng tiêu cực (xấu ác) có thể thu hút các đối tượng phá phách của vũ trụ, tác động lên thiên nhiên. Bởi vậy, cùng với xung đột và chiến tranh, khá thường xuyên xảy ra động đất, rơi thiên thạch… (Nhà bác học-giáo sư tiến sĩ y học E-rơ-nơ Mun-đa-sep) – (Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu; E. Mun-đa-sep; dịch giả: Hoàng Giang).

* Gọi là Thượng Đế hay chân lí đều như nhau; chân lí là giải thoát tâm trí khỏi mọi gánh nặng của trí nhớ (tâm lí). (Thiền sư J. Krishnamurti).

* Nhược ngộ tịch vi lạc / Thử sinh nhàn hữu dư. (Nếu ngộ tịch là lạc / Đời này nhàn có dư). (Thiền thi sĩ Vương Duy).

Chùm 5:

* Này thiện tri thức, nếu trong các ông hàng hữu học, mỗi lần niệm khởi trong tâm, hãy hồi quang phản chiếu (tận nguồn tâm). Khi niệm diệt trong tâm, sự phản quán tâm cũng tự diệt, đó là vô niệm. Vô niệm hoàn toàn thoát ngoài các duyên ngoại cảnh, bởi vì nếu còn có cảnh duyên nào thì không thể là vô niệm được. (…) Nếu khởi chánh chân Bát-nhã quán chiếu thì trong khoảng một sát-na vọng niệm đều diệt. Nếu biết tự tánh, một phen ngộ tức đến quả vị Phật. (…). Nếu để cho tâm chẳng nghĩ gì hết, đó là diệt niệm, tức bị pháp trói buộc, gọi là thấy một bên. (Lục tổ Huệ Năng) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; dịch giả: Thuần Bạch).

* Dĩ nhiên chúng ta phải sử dụng các ngôn từ khi một điều gì đó được truyền đạt từ người này sang người khác, nhưng các ngôn từ chỉ là sự nêu trỏ suông chứ không phải là chính sự thực. Như kinh bảo, chúng ta phải dùng đến ngọn đèn ngôn từ để đi vào trong cái chân lí nội tại của kinh nghiệm vượt khỏi ngôn từ và tư tưởng. Nhưng quả thực là hoàn toàn khờ dại khi tưởng ra rằng ngọn đèn ấy là mọi sự. (Thiền sư D.T.Suzuki) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn). (Tác phẩm này được thầy Trần Tuấn Mẫn (dịch giả) sửa bản in. Đây là một việc làm vô cùng quan trọng đối với những kinh sách có giá trị cho sự tu học và ấn chứng. Ngày nay có nhiều tác phẩm Phật học bị sai lệch nội dung nghiêm trọng sau khi in ấn! Mong sao điều này được quý vị tác giả và dịch giả quan tâm. –TT LBB).

* Theo Lục Tổ, Bát-nhã là tên đặt cho Tự tánh hoặc Vô niệm, khi Tự tánh tự nhận biết mình, hoặc đúng hơn là hành vi tự nhận biết chính mình. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả: Thuần Bạch).

* Thoại (lời nói) từ tâm khởi, tâm là đầu (ở trước) của thoại. Niệm từ tâm khởi, tâm là đầu của niệm. Vạn duyên đều từ tâm khởi, tâm là đầu của vạn duyên. Sự thật, “thoại đầu” tức là “niệm đầu”; trước niệm chính là tâm. Nói thẳng, trước khi một niệm chưa sinh là thoại đầu. Do đây, chúng ta biết khán thoại đầu tức là quán tâm. Khán “trước khi cha mẹ chưa sinh, mặt thật xưa nay là gì?” là quán tâm. (Thiền sư Hư Vân) – (Thiền Đốn Ngộ; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Người trí xem năm uẩn là những cấu trúc của tưởng. (…) Ba cõi không gì khác hơn là sự phân biệt. (…) Khi một sự chuyển hoá (chuyển y) xảy ra thì có một trạng thái vô tưởng vốn là cảnh giới của người trí. (…) Khi người ta nhận biết rằng không có gì ngoài những thứ được thấy từ chính cái Tâm thì sự phân biệt về hữu và phi hữu đứt đoạn. (Kinh Lăng Già; bản tiếng Anh của D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Tà đến phiền não sinh / Chánh đến phiền não dứt;
  Tà chánh đều không dùng / Thanh tịnh mới hoàn toàn.
 (Pháp Bảo Đàn Kinh; dịch giả: Thích Thanh Từ).

Chùm 6:

* Mười phương thế giới thu vào một điểm hiện tiền; quá khứ, hiện tại, vị lai tụ trong một niệm đương thời. Dù ở giữa hàng chư thiên cũng không có niềm vui nào so được với đây; ở loài người lại càng hiếm lắm. Sự tiến bộ như thế trong đời sống tâm linh có thể thâu đạt được chỉ trong vài bữa, nếu hành giả dốc lòng tu tập. (Thiền sư Bạch Ẩn) - (Thiền Luận - quyển trung; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ). 

* Người học kinh, xem giáo lí, mỗi câu mỗi câu đều phải uyển chuyển xoay về nơi mình để làm sáng tỏ tánh giác. (Thiền sư Bá Trượng) - (Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng;  dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Tối kị nhằm trong ngôn cú tạo kế sống. Vì sao? Vì bánh in đâu có nước. Người ta phần nhiều rơi vào ý thức. Cần phải nhắm về trước khi ngữ cú chưa sinh để hội lấy, mới được đại dụng hiện tiền tự nhiên thấy được. (Bích Nham Lục; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Không (trong Bát-nhã) là thành quả của trực giác tâm linh, chứ không phải là hậu quả của suy luận. (Thiền sư D.T.Suzuki) – (Thiền & Bát-Nhã; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Khi đức Phật dạy về Khổ thánh đế, Ngài nói đến năm uẩn; Ngài muốn cho chúng ta biết và thấy năm uẩn. Thế giới loài người của chúng ta là sự hiện hữu của năm uẩn, và trừ phi chúng ta biết và thấy được năm uẩn này, bằng không chúng ta không thể hiểu rõ lời dạy của đức Phật. (…) Khi hành giả phát triển được định tâm mạnh mẽ, hành giả sẽ thấy rằng đối tượng được phản chiếu trong ý môn như trong một tấm gương. (Thiền sư Pa-auk Sayadaw) – (Biết Và Thấy; P. Sayadaw; dịch giả: Pháp Thông).

* Được gia trợ bởi năng lực của chư Phật, chư Bồ-tát Ma-ha-tát đang ở cấp độ thứ nhất của mình (sơ địa) sẽ đạt đến Bồ-tát Tam-ma-địa gọi là Ánh sáng đại thừa (phát quang địa), thuộc về chư Bồ-tát Ma-ha-tát. (Kinh Lăng Già; bản tiếng Anh của D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

Chùm 7:

* Tất cả nhân loại không quý gì bằng sinh mệnh, sinh mệnh được coi trọng nhất trên trần gian này. Bởi vì tất cả của cải sự nghiệp, danh vọng tài sắc… đều để tô điểm cho sinh mệnh. Mất sinh mệnh, tất cả cái ấy trở thành vô nghĩa. Song sinh mệnh con người thời nay, nếu kéo dài lắm chỉ trong vòng bảy tám mươi năm. Cái đau khổ nhất của con người là khi nghe mình sắp mất sinh mệnh. (…) Thực là mối đau khổ truyền kiếp không ai thoát được. Nếu có một phương pháp nào khiến con người thoát được cái chết thì trên nhân gian này còn gì quý bằng! Ở đây chúng tôi xin giới thiệu quý vị phương thuốc hi hữu duy nhất trên đời, nếu quý vị uống nó vào thì “bất tử”, chính là tánh giác của quý vị đấy. Người giác ngộ tánh giác là nhận ra được cái “bất tử”. Vì thế tánh giác này được Phật dụ là hòn ngọc như ý. Được hòn ngọc này rồi, con người dứt sạch mọi đau khổ; mọi mong cầu đều toại nguyện. (Thiền sư Thích Thanh Từ) – (Thiền Tông VN Cuối Thế Kỉ 20; Thích Thanh Từ).

* Lục Tổ nói lên câu đầu tiên liên quan đến sự chứng nghiệm của Tổ là “xưa nay không một vật” và sau đó là “kiến tánh”, cái tự tánh vì là “không một vật” nên là “Không”. Vì thế “thấy tánh” là “thấy Không” như Thần Hội nói. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả:Thuần Bạch). 

* Trước Big Bang thời gian chưa trôi: mỗi giây tương ứng với vĩnh cửu. Chúng ta ước đoán thế vì vật lí lượng tử xuyên qua ảo ảnh thời gian, tách khỏi đồng hồ nguyên tử để đi sâu hơn vào nhà máy Tự nhiên. Rung động dừng lại tại mức độ sâu nhất. Đáy của vũ trụ giống như bộ não chết. Tuy nhiên biểu hiện của cái chết là ảo giác, vì biên giới nơi mọi hoạt động chấm dứt đánh dấu sự bắt đầu một vùng mới, gọi là thực tại ảo – nơi vật chất và năng lượng tồn tại dưới dạng tiềm năng thuân tuý. Cơ sở của thực tại ảo rất phức tạp nhưng nói một cách đơn giản nhất, vùng phi vật chất phải tồn tại để sinh ra vũ trụ vật chất. Vùng này trống rỗng nhưng không hề hư vô. (…) Sáng tạo nhảy vọt từ trống rỗng lên đầy tràn, cũng như vĩnh cửu nhảy vọt từ phi thời gian sang đầy tràn thời gian.

  Nếu vĩnh hằng đang cùng với ta bây giờ, làm cơ sở cho toàn bộ tồn tại vật chất, nó phải làm cơ sở cho tôi và bạn. (Tiến sĩ y học Deepak Chopra) - (Sự Sống Sau Cái Chết; Deepak Chopra;  dịch giả: Trần Quang Hưng).

* Trong Truyền Đăng có chép rằng: “Thượng thư Ôn Tháo hỏi ngài Khuê Phong: Người ngộ lí, một phen tuổi thọ hết, gá nương chỗ nào? Khuê Phong đáp: Tất cả chúng sinh đều có đầy đủ linh minh tánh giác, cùng với chư Phật không khác. Nếu hay ngộ tánh này tức là pháp thân, vốn tự vô sinh có gì nương gá? Cái linh minh chẳng muội, rõ ràng thường biết, không chỗ đến cũng không chỗ đi. Chỉ lấy không - tịch làm tự thể, chớ nhận sắc thân. Lấy linh tri làm tự tâm, chớ nhận vọng niệm. Vọng niệm nếu dấy lên đều không theo nó, đến lúc mạng chung, khi ấy nghiệp tự nhiên không thể cột. Tuy có thân trung ấm mà chỗ đến tự do. Cõi người cõi trời tuỳ ý gửi nương. Đây tức là chơn tâm trước và chỗ đến của thân sau vậy”. (Thiền sư Phổ Chiếu) – (Chơn Tâm Trực Thuyết; Phổ Chiếu; dịch giả: Thích Đắc Pháp).

* Vì nhục thể rữa nát khi chết, linh hồn rời đi nhập vào giới siêu hình tương ứng với sự tồn tại của nó ở bình diện vật chất, vào tần số tương ứng với cuộc sống cũ của nó nhất. (…) Quá trình biến đổi sau cái chết không phải là sự di chuyển đến một nơi chốn khác hay thời gian khác; nó chỉ là sự thay đổi về chất sự chú tâm của chúng ta. Bạn chỉ có thể nhìn thấy những gì có rung động tương ứng với bạn. (Tiến sĩ y học Deepak Chopra) - (Sự Sống Sau Cái Chết; D. Chopra;  dịch giả: Trần Quang Hưng).

* Giác ngộ không phải là một công việc riêng tư chẳng can dự gì đến khối lớn cộng đồng; điểm tựa của nó được đặt ngay trong lòng vũ trụ. (…) Cái được gọi là “thiện căn” chỉ có giá chừng nào nó làm lợi ích cho tất cả thế gian. Nếu không thể phụng sự cho toàn thể môi trường gồm những thân thuộc mà mình đứng trong đó – nghĩa là, nếu cái nhìn tâm linh của mình mà không trải ra đến bờ cõi xa xôi nhất thì “thiện đức”của y không phải là “thiện đức” thứ thiệt, và chẳng có cái lối chứa nhóm nào như vậy mà lại có thể làm trỗi dậy ước vọng giác ngộ (tức Bồ-đề tâm). (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển hạ, luận IV; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Nền vật lí này bây giờ đã thấy rằng vũ trụ là một mạng lưới chằng chịt vật chất và tâm linh liên quan mật thiết với nhau, mà mỗi phần tử chỉ được định nghĩa trong mối tương quan với toàn thể. (Giáo sư vật lí Fritjof Capra) – (Đạo Của Vật Lí; F. Capra; dịch giả: Nguyễn Tường Bách).

 Chùm 8:

* Bảo rằng “Duy tâm” là do bởi tâm, cũng là được sinh ra từ tâm; khi thông hiểu được các tướng trạng đặc thù trong tất cả những biến đổi có thể có được thì chúng không gì khác hơn là chính cái Tâm. (Phần Tổng kệ của kinh Lăng Già) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Trường ý thức là cơ sở của mọi hiện tượng trong Tự nhiên, bởi vì khe hở tồn tại giữa mọi electron, mọi ý nghĩ, mọi khoảnh khắc thời gian. Khe hở là điểm khống chế, sự tĩnh lặng ở tâm của sáng tạo, nơi vũ trụ liên kết mọi sự kiện. (…) Chúng ta cần nhớ nguồn gốc chung của mình. Tinh thần con người suy thoái khi chúng ta hạn chế mình trong một kiếp người và giam trong một thể xác. (Tiến sĩ y học Deepak Chopra) - (Sự Sống Sau Cái Chết; D. Chopra;  dịch giả: Trần Quang Hưng).

* Tôi tuyệt đối tin rằng sự sống vật thể trên trái đất đã được tạo ra bằng cách hồn cô đặc dần. Mọi học lí cho rằng, sự sống trên trái đất xuất hiện do những phân tử phức tạp tự phát sinh và cô đọng thành những cơ thể sống, không vững vàng, xét cả trên quan niệm tôn giáo lẫn quan điểm vật lí học và hoá học hiện đại. (Nhà bác học-giáo sư tiến sĩ y học E-rơ-nơ Mun-đa-sep) – (Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu; E. Mun-đa-sep; dịch giả: Hoàng Giang).

* Sự ô nhiễm tâm linh không phát xuất từ đâu khác cả mà chính là ở trong mạt-na (ý), căn gốc của tri thức và của ý chí. (Thiền sư D.T.Suzuki) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Giác ngộ phải gồm cả ý chí lẫn tri thức. Đó là một hành vi trực giác phát sinh từ ý chí. Ý chí muốn tự biết nó là gì, y như thực, ngoài tất cả các điều kiện chi phối sự hiểu biết. (…) Khi nói đến chứng đạo hoặc giác ngộ, tự nhiên ta dễ liên tưởng đến khía cạnh nhận thức và quên mất động lực phi thường của ý chí tác động ở bên sau, mà cũng chính là động lực cấu tạo nên cốt cách của một cá nhân. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển thượng, luận III; D.T.Suzuki; dịch giả: Trúc Thiên).

* Giác là vậy, một trạng thái tuyệt đối của tâm dứt bặt hết phân biệt - vọng tưởng hoặc biến kế chấp. Để thể nghiệm trạng thái kiến chiếu muôn vật “trong một niệm” ấy phải có một khí lực dũng mãnh. (…) Và vì lẽ “nhất niệm” mới có giác nên cần nỗ lực vượt qua cái thế đối đãi ấy của ý thức kinh nghiệm chấp dính vào cái nhiều thay vì cái một của sự vật. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển thượng, luận III; D.T.Suzuki; dịch giả: Trúc Thiên).

Chùm 9:

* Xin đừng hỏi: “Làm cách nào để thấy?” Ngay lúc ngài hỏi làm thế nào, có người sẽ sẵn sàng giúp ngài, rồi ngài trở thành nô lệ của người đó. Nhưng nếu ngài tự thấy rằng suy nghĩ và thời gian (tâm lí) thực sự là gốc rễ của sợ hãi, không cần phải đắn đo hay quyết đoán ngài cũng vẫn hành động. Ví như gặp con bọ cạp nguy hiểm, con rắn độc – khi nhìn thấy chúng ngài sẽ hành động tức thì. (…) Vậy thì mỗi người chúng ta có thể cảm thấy được trách nhiệm mà chúng ta đã tạo ra cái xã hội chúng ta đang sống không? Cái xã hội quái gở, vô đạo đức ngoài tưởng tượng! (…) Vậy có cần nên hết sức tỉnh thức, nhận biết được mỗi suy nghĩ? Chúng ta có thể là vậy không? (…) Tư tưởng, suy nghĩ có thể nào mang lại trật tự không, trong khi chính cái tư tưởng bị giới hạn này là nguồn gốc của hỗn loạn? (…) Có thể nào trí não chỉ dùng đến suy nghĩ khi cần thôi? Những lúc cần sống với suy nghĩ là khi lái xe, khi ăn, khi viết thư, khi làm điều này điều nọ trong thực tế. Mọi thứ này là hoạt động của cái suy nghĩ giới hạn – nghĩa là khi cần thì suy nghĩ có thể hoạt động. Nhưng ngoài những chuyện đó ra, sao nó lại ba hoa suốt cả ngày vậy? (Thiền sư Jiddu Krishnamurti) – (Lời Cuối Bình Yên; J. Krishnamurti; biên dịch: Mộc Nhiên).

* Những cấu trúc mà nhà khoa học quan sát được trong thiên nhiên thực ra liên hệ rất chặt chẽ với cấu trúc của tâm ý họ; với khái niệm, tư tưởng và hệ giá trị của họ. Do đó, kết quả khoa học mà họ thu được và sự ứng dụng kĩ thuật mà họ tìm hiểu sẽ rất tuỳ thuộc vào khuôn khổ tâm thức của họ. (…)  Thế nên, nhà khoa học phải chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình, không những chỉ về tri thức, mà cả về mặt đạo lí.  (Giáo sư vật lí Fritjof Capra) – (Đạo Của Vật Lí; F. Capra; dịch giả: Nguyễn Tường Bách).

* Pháp môn vô niệm thuộc về hàng thánh nhân, nhưng nếu phàm phu tự tu tập theo đó, họ không còn là phàm phu nữa. (…) Ai quán vô niệm, kẻ ấy tức thì tăng trưởng phước đức nhiều như cát sông Hằng. (…) Ai quán vô niệm, kẻ ấy ôm trọn vạn vật trong lòng mình. (…) “Vô” có nghĩa là vô nhị tướng, “niệm” là niệm Chân như. (Thiền sư Thần Hội) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả:Thuần Bạch). 
* Tột trước cùng sau trở về niệm hiện tiền. (Kinh Lăng Già Tâm Ấn; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Các nhà khoa học cũng đang quay lại và hướng sự tập trung vào việc tìm hiểu cách thức suy nghĩ và trạng thái của chúng ta thực sự ảnh hưởng đến lực từ trường bên trong và xung quanh chúng ta. (Tiến sĩ sinh học Karen Nesbitt Shanor) – (Trí Tuệ Nổi Trội; K.N.Shanor; dịch giả: Vũ Thị Hồng Việt).

* Các nghiên cứu tại trường Đại học Stanford đã chỉ ra rằng thông qua suy nghĩ, chúng ta có thể gây ảnh hưởng tới huyết áp và nhịp tim của một người ở cách xa chúng ta. Còn các nhà khoa học tại trường Đại học Princeton đã chứng minh được quá trình trao đổi thông tin giữa hai người ở cách xa nhau hàng nghìn dặm. (Tiến sĩ sinh học Karen Nesbitt Shanor) – (Trí Tuệ Nổi Trội; K.N.Shanor; dịch giả: Vũ Thị Hồng Việt).

Chùm 10:

* Khái niệm quan trọng nhất trong hệ thống các thức là Tập khí. Tập khí là gì? Về mặt tâm lí, như đã được nêu trước đây, tập khí là kí ức, vì đấy là cái gì để lại sau khi một hành động được thực hiện, thuộc tâm lí hay vật lí, và được nó giữ lại, được chứa đựng trong A-lại-da như một thứ năng lực tiềm tàng sẵn sàng được trở thành hành động. Cái kí ức hay tập khí này, hay sự quen xông ướp, không nhất thiết thuộc cá biệt, không những chỉ giữ trong nó cái kí ức cá biệt mà còn giữ tất cả những gì mà các chúng sinh hữu tình đã kinh nghiệm. Khi kinh bảo rằng A-lại-da có tất cả những gì đã diễn tiến từ thời vô thỉ được chất chứa một cách hệ thống như một loại hạt giống, thì điều này không trỏ vào những kinh nghiệm đặc thù cá nhân mà trỏ vào những gì tổng quát, vượt khỏi cái đặc thù, theo một cách nào đó, tạo thành cái nền mà dựa vào đó mọi hoạt động tâm lí cá nhân được phản ánh. Do đó, A-lại-da vốn là thanh tịnh, nó là trú xứ của Như Lai tính, ở đó không có sự ô nhiễm của cái tri thức và tình cảm đặc thù hoá nào có thể đến được; sự thanh tịnh, về mặt luận lí, có nghĩa là tính phổ quát, và các ô nhiễm (lậu hoặc) hay tội lỗi có nghĩa là sự cá biệt, từ đó những chấp trước và các hình thức khác nhau được phát sinh. Tóm lại, thế giới khởi sự từ tập khí và chính tập khí vì vẫn có tính chất phổ quát trong A-lại-da nên không có gì xấu, và khi chúng ta được gỡ khỏi cái ảnh hưởng của sự phân biệt sai lầm thì toàn bộ hệ thống thức được đặt thành chung quanh A-lại-da, lấy lại A-lại-da làm trung tâm, sẽ kinh nghiệm một sự đột biến (paràvritti) mà thành sự nhận thức thực sự. Đây là điểm chủ chốt trong giáo lí của Lăng-già.

  Sự đột biến này đánh dấu cái đỉnh điểm của tâm lí học thực hành của Lăng-già, vì chính nhờ sự kiện này mà có thể có được sự thể hội về tự chứng Thánh trí cảnh giới, và sự thể hội này là chủ đề trung tâm của bộ kinh. (…). (Thiền sư D.T. Suzuki) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T. Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Người cổ xưa cho rằng, vật chất sinh ra từ khoảng không. Nhà vật lí thiên tài Nga Ghên-na-đi Si-pốp, người đã lập được phương trình (A. Anh-xtanh đã không lập được) mô tả vật lí chân không, tức Tịnh vô tuyệt đối hoặc Tuyệt đối, cũng cho như vậy. (…).

   Tuyệt Đối đó không đơn thuần là tịnh vô; đó là Khoảng Không có Cái gì đó. Trước mắt, khoa học chưa biết Cái gì đó. Theo G. Si-pốp, nguyên tử và phản nguyên tử phát sinh từ Tuyệt đối. Chúng sinh ra, đụng độ nhau và huỷ diệt nhau. Nhưng có một lần, cách đây nhiều tỉ năm, vào một thời điểm các nguyên tử và phản nguyên tử sau khi tạo thành trong không gian, đã tản đi. Vật chất phát sinh từ Tuyệt đối là như vậy.

   Các trường xoắn và phản xoắn (xoắn theo cách khác) siêu tần số cùng phát sinh từ Tuyệt đối, chúng cùng huỷ diệt lẫn nhau và hỗ trợ Tuyệt đối. Nhưng cũng có thể xuất hiện thời điểm, khi các trường xoắn huỷ diệt nhau tản đi. Thế giới tế vi phát sinh từ Tuyệt đối là như vậy.

   Theo giả thuyết của G. Sipốp: giữa các trường xoắn của thế giới tế vi và ý thức có mối liên hệ trực tiếp, bởi các trường xoắn là những chất chứa đu-sa và đu-khơ.

   (…) Dần dà trong quá trình tiến hoá trong thế giới tế vi xuất hiện đu-khơ – là khối năng lượng tâm thần kết đông dưới dạng các trường xoắn có thể bảo toàn vĩnh cửu trong mình một khối lượng thông tin to lớn. Nhiều đu-khơ tạo thành giữa chúng những mối liên hệ thông tin và tạo ra Không gian thông tin toàn thể, tức Cõi kia (…). 

   (…) Mọi ngưòi đều biết rõ khái niệm karma (nghiệp), tức là các “vết tích” của các tiền kiếp để lại trong đu-khơ. Giai đoạn trần thế ở thế giới vật thể, đu-khơ có thể hoàn thiện mà cũng có thể thoái hoá. (…). (Nhà bác học-giáo sư tiến sĩ y học E-rơ-nơ Mun-đa-sep) – (Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu; E. Mun-đa-sep; dịch giả: Hoàng Giang).

* (…) Đại thừa đứng vững trên hai chân, Trí tuệ và Từ bi, cái ý niệm siêu việt và tình yêu trùm khắp đối với tất cả các loại chúng sinh, hữu tình cũng như vô tình. Trí tuệ nhìn thấy vào cái nhất tính của các sự vật và từ bi thể hội cái tự tính của chúng. Vị Bồ-tát khóc cùng với các chúng sinh đau khổ và đồng thời hiểu rằng có một vị không bao giờ khóc, ở bên trên mọi đớn đau, sầu khổ và ô nhiễm. (…) Và sự cân bằng này được nhìn thấy trong Pranidhàna hay bổn nguyện của vị Bồ-tát. (Thiền sư D.T. Suzuki) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T. Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Tùng Duyệt, toạ chủ chùa Đâu Suất, thường đặt ra ba câu hỏi sau đây để khảo nghiệm sở kiến của môn nhân đối với đạo lí của Thiền. 1) Ông bái phỏng từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ cốt là để thấy tánh; vậy, ngay lúc này, tánh của ông ở đâu? 2) Biết được tự tánh mới có thể thoát khỏi sinh tử; nhưng khi ông chết rồi làm sao thoát? 3) Thoát khỏi sinh tử là biết chỗ đến của mình; vậy khi tứ đại tan rã, chúng ta đi về đâu?

  “Tôi là gỉ?” “Tôi ở đâu?” “Tôi từ đâu đến?” “Tôi đi về đâu?” Tất cả chỉ là một vấn đề, được hỏi khác nhau. Hiểu được một sẽ giải quyết tất cả còn lại. “Tôi là gỉ?” là một nghi vấn dò vào tự tánh của thực tại, căn cơ của mọi sự vật chủ quan và khách quan. (…)

  Trên phương diện tâm lí, trả lời cho cái “ở đâu?”, cho thấy thái độ tâm lí căn bản của ta đối với thế giới khách quan một cách tổng quát, và ở Thiền câu hỏi này thường khoác dưới hình thức “ở đâu đến?”, nhờ đó thiền sư mong thấy tăng chúng tìm ra nơi trú ẩn tâm linh của họ nằm ở đâu. Toàn bộ sự đào luyện của Thiền tông, có thể nói, cốt ở sự đặt để này, cũng gọi là tìm tòi hay đào xới. (…) “Từ đâu?” và “Đến đâu?”, những ai có thể trả lời đích đáng, những vị ấy quả là đã tỏ ngộ.

  (…) Đạo Phật, là một lối luyện tập tâm linh thực tiễn, dù có những lời nhằm phô diễn thẳng về kinh nghiệm, không cho phép có sự can thiệp của lối giải thích trí năng hay siêu hình nào ở đây. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển hạ, luận I; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Tất cả tâm ý thức đều từng phần, cục bộ, tù hãm, trong  khi chú tâm toàn vẹn là bao trùm ý thức với những giới hạn của nó; do đó chú tâm có khả năng xoá bỏ biên cương và giới hạn. (…) Thấy biết cái giả như giả là chú tâm, nhưng cái giả sẽ không được thấy là giả khi còn có ý kiến, phán đoán, lượng giá, trói buộc… Mọi thứ này là hậu quả của sự không chú tâm. Chú tâm toàn vẹn là quán chiếu vào mọi cơ cấu của sự không chú tâm. Tâm có chú tâm là tâm rỗng rang. (…) Chỉ có chú tâm tỉnh giác với một trung tâm chú tâm, nơi đó cội gốc của tư tưởng biến mất, không bạo lực, thật tự nhiên, thật dễ dàng. (Thiền sư J. Krishnamurti) – (Bút Hoa; J. Krishnamurti; dịch giả: Ẩn Hạc).

* Thiền, cốt yếu nhất là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng ta; nó chỉ con đường từ triền phược đến giải thoát. (…) Bấy giờ, ta nhận ra ý nghĩa cuộc sống, ta biết rằng đó không phải là một nỗ lực mù quáng, mà cũng không phải là trường thao diễn những bạo lực vô tri; nhưng dầu không thấu hiểu được những ý nghĩa tối hậu của kiếp người, vẫn có cái gì đó khiến ta vui không cùng để mà sống, và qua mọi cuộc thăng trầm ta vẫn thảnh thơi mà an thân lập mệnh, không thắc mắc, không hoài nghi, không bi quan yếm thế. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển thượng, luận I; D.T.Suzuki; dịch giả: Trúc Thiên).

                                                          Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn) sưu tầm
lebabon04@gmail.com

READ MORE - TÌM LẠI CHÍNH MÌNH (Bài văn vần & thiền ngôn) - Tuệ Tiền (Lê Bá Bôn) sưu tầm

KHÚC HÁT DÃ TRÀNG - thơ Sĩ Chương

Trường Sa. Ảnh Vũ Anh Tuấn


Nghe sóng vỗ em biết rằng biển động
Nhìn quê nhà thương nhớ lắm anh ơi
Tàu anh đi xa tít cuối chân trời
Em ở lại đau buồn ngày gió lớn
Giữa mênh mông rì rào con sóng dợn
Biển chiều về Hải Âu chuyển bờ xa
Nghe bảo dữ em vô cùng lo lắng
Biển vô tư nên suốt đời biển mặn
Sóng vô tình nên sóng vỗ chiều lên
Tàu ra khơi đi cuối biển đầu ghềnh
Bến luôn sợ tin buồn ngày bão tố
Anh vẫn đi và sóng đời vẫn vỗ
Khúc Dã Tràng hát mãi bản tìm nhau
Đi bên anh luôn biển vắng đêm dài
Về bến cũ thương tình em lận đận
Nỗi nhớ anh nơi cuối miền đảo sóng
Ngóng biển trời bờ cát nắng phương xa
Biển hiền lành hay biển lắm phong ba
Cũng có thể mỗi một mình anh hiểu
Biển sóng mênh mông mây trời không thiếu
Giữa vô cùng nỗi nhớ chỉ một phương.
               
                    Sĩ Chương
lesichuong@gmail.com
READ MORE - KHÚC HÁT DÃ TRÀNG - thơ Sĩ Chương

Friday, January 18, 2013

ĐAU ĐÁU HOÀNG SA - Truyện ngắn của Phan Trang Hy

Kính tặng các chiến sĩ Hoàng Sa, Trường Sa… 

Trường Sa. Ảnh Vũ Anh Tuấn


        Lệ thường, ngày nào cũng vậy, lão Ban lại ra biển. Không nhìn thấy biển là lão cảm thấy sao sao ấy. Lão dễ nổi cáu với vợ. Chỉ cần nhìn thấy biển, nhìn ra ngoài khơi xa là lão mới dịu đi những cáu ghét của cuộc đời. Lão đi biển không phải để nhìn thiên hạ tắm, không phải tập thể dục dưỡng sinh, cũng không phải bông lơn chọc ghẹo những mụ hồi xuân. Lão nhìn biển như thể cho vơi bớt nỗi lòng của mình, khi chẳng biết tỏ cùng ai. Thường là lão đi một mình. Nhưng lần này lại khác. Lão cùng thằng cháu nội ra biển chơi.
        Nhìn thằng cháu đang lượm những vỏ ốc, vỏ sò, những con sao biển, lão thấy hồn mình như nhập vào sóng biển. Vẫn tiếng sóng vỗ bờ, vẫn tiếng rì rào của đại dương, của hồn biển Đông muôn thuở. Vẫn đâu đây từ cõi sơ khai nước mặn, trời nồng. Bỗng thằng Phong - thằng cháu nội của lão - lên tiếng :
        - Nội ơi ! Nội coi nè ! Vỏ ốc này đẹp quá, nội ơi ! - Vừa nói, nó vừa chạy tới khoe lão.
        - Ừ ! Đẹp quá !- Lão khẽ nói.
        Nhìn vỏ ốc trên tay thằng Phong, lão lại nhớ cái vỏ ốc mà lão đã tặng cho Vũ - ba của thằng Phong. Quá khứ ấy như hiện ra trước mắt …
        Lão làm sao quên được cái ngày lão được nghỉ phép về thăm gia đình ở Đà Nẵng. Được trở về đất liền, được thăm vợ, thăm con - thăm cái thằng con trai, cái thằng con mà lão chưa biết mặt, lão cảm thấy sao quá tuyệt vời. Nằm thao thức, nghe sóng, gió mang vị mặn trong đêm, lão không ngủ được. Ngày mai là có tàu vào đất liền. Mừng thật ! Vui thật ! Nghĩ đến vợ con, lão lục tìm trong đầu nên tặng vợ, tặng con những gì ? Ở trên quần đảo này có gì ngoài phân chim, cát vàng, san hô, ốc biển…Tặng gì đây cho vợ, cho con ?
        Vừa về đến nhà, lão chào mọi người. Vợ lão ôm chặt lão, khóc : “Sao anh không ở ngoài đó ? Anh về làm gì ?”. Lão biết vợ quá thương mình nên nói vậy thôi. Chính vợ lão đã khuyên lão ra đảo nhận công tác khí tượng kia mà.
        Nhìn thằng Vũ nằm trên nôi, lão giơ hai tay ra, vừa vỗ vỗ vừa kêu lên : “Ba đây con ! Cho ba bồng tí !”. Thằng Vũ nằm trong nôi khóc ré lên. Thương con, lão muốn bồng con, ôm con. Nhưng mỗi lần lão bồng nó thì nó không chịu. Một bữa, vợ lão lo sắm sửa một ít đồ dùng để lão ra lại đảo, bèn giao con cho lão. Thằng Vũ cứ khóc, không chịu cho lão bồng. Lão lấy những thứ đồ chơi bằng nhựa cho nó chơi, nhưng nó vẫn không chịu nín. Cực chẳng đã, lão bồng con và dỗ. Lão kêu kêu, cười cừời ; lão làm đủ trò ; nhưng thằng bé vẫn cứ khóc. Khóc miết rồi cũng mệt. Mệt nên nó nín. Rồi nó đưa mắt nhìn lão, nhìn khắp phòng. Lão thấy mắt thằng bé nhìn các thứ để ở trong tủ gương như muốn khám phá điều gì đấy. Nhìn con, lão lấy làm lạ. Những thứ trong tủ có gì lạ đâu. Toàn san hô, ốc biển…, những thứ lão mang từ đảo về. Lão bồng con đứng trước tủ. Thằng bé cười - lần đầu nó nhoẽn miệng cười. Lão lấy mấy thứ nhỏ xinh cho thằng bé chơi, nhưng nghĩ lại, lão sợ thằng bé chơi, rồi nuốt bậy, nên lão cất. Thằng bé lại khóc. Cuối cùng, lão chọn cho con một con ốc to bằng nắm tay. Đây là con ốc lão lượm trên đảo đúng vào lúc nghe tin vợ ở nhà sinh thằng Vũ. Thằng bé cầm con ốc, ngậm vào miệng ra chiều thích thú.
        Kể cũng lạ ! Từ khi chơi với con ốc, thằng bé lại muốn lão bồng, lão bế. Chỉ trừ lúc nó thèm sữa, còn thì nó đòi lão bồng chơi cùng con ốc cho bằng được. Nó cũng thích lão hát cho nó nghe, nó cũng thèm lão hôn nó…
        … Lão vẫn nặng nợ với đảo. Đảo là nhà, là phần cuộc sống của lão. Những lúc thương con, nhớ vợ, lão chỉ biết ngồi trên bãi san hô nhìn vào đất liền. Làm sao lão quên được những hoàng hôn. Màu sắc kỳ ảo vàng đỏ tím xanh cả biển. Mặt trời lặn dần xuống biển như thể thiên nhiên đang cất giấu viên ngọc hồng vào trong rương vũ trụ. Chỉ còn thứ ánh sáng diệu kỳ trên biển. Và trong lão sáng lên thứ ánh sáng của đêm, thứ ánh sáng gia đình, quê hương…Lão thèm được nhìn vợ, nhìn con, nhìn những gì thân thương của mình. Lão quên sao được những lần đem thư của con ra đọc. Ngó thế mà thằng Vũ cũng đã lớn rồi. Học lớp 11.Thư gửi cho lão, lúc nào nó cũng nhắc đến con ốc mà lão cho nó. Cũng từng ấy câu chữ, nó cứ viết vào những lá thư gửi cho lão : “Ba biết không ? Bạn bè con, đứa nào cũng trầm trồ vì con có con ốc đẹp. Con đã từng khoe với bọn chúng là con ốc mang cả hình hài của quần đảo Hoàng Sa. Bọn chúng không tin. Nhưng con tin là thế !”.
        Lão cũng tin là thế ! Lão tin quần đảo Hoàng Sa là máu thịt của quê hương. Làm sao lão quên được có lần lão đã dắt thằng Vũ về quê ở tận Quảng Ngãi. Trong lần giỗ chạp, ông tộc trưởng họ Đặng của lão đã từng nhắc rằng lão là kẻ hậu sinh đang kế nghiệp tiền nhân. Mở gia phả, lão rưng rưng đọc những dòng chữ ghi công tích của họ Đặng. Vua triều Nguyễn đã từng phái dòng tộc lão vượt đại dương trấn giữ Hoàng Sa. Lão cảm thấy như máu tiền nhân đang chảy trong cơ thể, tăng thêm nghị lực, tăng thêm tình yêu cho lão trên đảo Cát Vàng. Làm sao lão quên được lúc cúng tế, bà con tộc họ đã bỏ thức ăn, sau khi xong lễ, vào một chiếc thuyền làm bằng bẹ chuối, thả xuống biển. Mũi thuyền hướng về Hoàng Sa như thể rằng Hoàng Sa không thể quên trong hồn người đã khuất. Trong tâm tưởng lão, lúc nào chiếc thuyền bẹ chuối ấy cũng lớn như những chiếc thuyền của dòng tộc họ Đặng, họ Trần, họ Lê…ở quê lão vâng lệnh triều đình, tiến thẳng Hoàng Sa…Trong lão như trỗi dậy những bài văn tế các thủy binh thời ấy. Nhận lệnh vua, nặng nợ nước nhà, buổi ra đi đâu dễ dàng. Sóng gió trùng khơi, thủy quái dẫy đầy, đến Hoàng Sa đâu dễ. Các thủy binh được tế sống lúc lên đường như thể rằng quê hương vẫn nặng nợ với những người con. Lão bùi ngùi, run rẩy như có ai đang bóp nghẹt trái tim. Lão khóc…
Và lão đã khóc rất nhiều khi nghe tin thằng Vũ hy sinh trên Trường Sa năm 1988. Lão không ngờ như vậy. Kỷ vật cuối cùng của con lão là quyển nhật ký. Lão đã đọc đi, đọc lại hoài. Những dòng cuối cùng lão như thuộc lòng : “Ba ơi ! Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu. Dẫu có hy sinh, con vẫn không hối tiếc điều gì vì đã thực hiện theo lời ba dạy.”. Đến giờ, lão vẫn không biết mình dạy con điều gì. Lão chỉ nhớ những việc làm, những tình cảm gắn bó với Hoàng Sa. Không biết có phải những điều ấy là lời lão dạy với con ? Có lần thằng Vũ cầm con ốc đố lão - lúc nó vừa thi xong tú tài : “Đố ba, trên mình con ốc này có gì ?”. Lão ngạc nhiên sao con lão đố như vậy. Nhìn con ốc, lão cười đáp : “Thì chỉ những chấm, những chấm màu vàng nâu”. Thằng Vũ cũng cười, nói : “Rứa con đố làm gì !”. Rồi nó chỉ từng cái chấm, hỏi lão có giống những đảo mà lão đã từng ở không, nhiều chấm có phải là quần đảo không…Và rồi nó kết luận : “Trên mình ốc có in hình quần đảo Hoàng Sa”. Kể cũng hay hay. Từ đó, nó để con ốc vào chỗ trang trọng nhất. Khi nhập ngũ, đi bộ đội hải quân, nó xung phong đi Trường Sa. Lão không gàn con. Nó cũng có tình yêu đảo như lão kia mà !
       Kể từ ngày thằng Vũ mất, lão như mất hồn. Cứ những đêm rằm, mồng một, lão lại ra biển. Dù nắng, dù mưa, lão vẫn ra biển thắp ba cây nhang hướng về Hoàng Sa, Trường Sa mà vái. Ngoài kia, những con thuyền thả lưới, những chiếc tàu đánh bắt cá sáng rực những ánh đèn như thành phố nổi trên biển. Trước mắt lão hiển hiện những ngư dân cần mẫn, chăm chỉ, chịu khó chịu thương. Trước mắt lão hiện lên những chàng trai giữ đảo, có cả hồn của những người như con trai lão cùng tiền nhân giong thuyền xuôi ngược biển Đông. Nhiều lúc lão lẩm bẩm một mình như đọc thơ về Hoàng Sa…
        Và rồi thành phố Đà Nẵng bổ nhiệm Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa. Lòng lão trỗi dậy thứ tình yêu biển đảo mà bấy lâu nay ẩn trong tiềm thức. Người họ Đặng hôm nay lại nối tiếp họ Đặng, họ Trần, họ Lê… ở quê lão, như cái thuở cha ông vâng lệnh triều đình ra đảo, gánh trách nhiệm với Hoàng Sa. Lão thấy mình như trẻ lại, khỏe lại và vui hơn. Không vui sao được khi đất đảo quê hương được nhắc đến ? Không vui sao được khi có người dám nhận trách nhiệm nặng mang ? Lời thằng Vũ trong nhật ký sáng rực trong tâm trí lão : “Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu…”.
        Tiếng thằng Phong như đánh thức lão :
        - Nội ơi ! Mai con phải vào thành phố Hồ Chí Minh.
        - Ở thêm ít ngày, được không ? - Lão hỏi như trách .
        - Con phải vào để thầy hướng dẫn làm luận văn .
        - Thế thì phải vào thôi ! Mà này, con làm đề tài gì ?
        - Dạ ! Con làm đề tài về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong mối quan hệ với biển Đông.
        Trầm ngâm một lúc, lão lên tiếng :
        - Gay đó con ! Nhưng phải gắng thôi.
        - Dạ ! Con nghe lời nội.
        Hai ông cháu cùng dắt tay xuống tắm. Nước biển tắm mát cơ thể lão, cơ thể cháu lão. Nước biển Mỹ Khê giống như nước biển Hoàng Sa. Lão nghe mằn mặn bờ môi. Lão đứng lên. Mặc từng cơn sóng đổ trên người, lão nhìn ra xa khơi. Đau đáu là Hoàng Sa trong nỗi nhớ…


                                                           Tháng Năm, 2009
                                                           Phan Trang Hy

(Trích từ tập truyện ngắn Người Thầy Dạy Búp Bê , Nxb Văn Nghệ, 2009
READ MORE - ĐAU ĐÁU HOÀNG SA - Truyện ngắn của Phan Trang Hy

Hoàng Yên Lynh - VỚI XUÂN



Nâng ly ơi ới bạn hiền
Xuân sang trước ngỏ chạnh niềm cố hương
Mấy mươi năm sống tha phương
Gỡ tờ lịch cuối mà thương phận mình
Bỏ quê xa bạn mất tình
Tàn cơn binh lửa cuối ghềnh đầu non
Sáu mươi cứ mãi long đong
Mỏi mòn phiêu bạt vẫn mong chốn về
Thêm ly ơi bạn cố quê
Bờ tre giếng nước chân đê sáo diều
Hương xuân quyện với hương yêu
Mà sao đời mãi quạnh hiu hỡi người
Ừ thì xuân, xuân muôn nơi
Chẳng riêng ai cả dẫu đời buồn vui
Sáu mươi một chút ngậm ngùi
Xuân khoe sắc mới tuổi đời buồn thêm
Bạn ơi trăng ngã bên thềm
Rượu chưa cạn hết đã mềm đắng cay
Cạn ly bạn nhé mình say
Một năm, năm nữa biết ai mất còn ...
"Trăm năm bia đá dẫu mòn ..."
Tình riêng còn lại tấc lòng ai ơi
Trăng đầy rồi trăng lại vơi
Lá xanh rồi lại lá rơi cuối mùa
Đường đời vinh nhục hơn thua
Có chăng nấm mộ nắng mưa bên đường ...

                      &

Ừ cũng xuân, xuân tha phương
Đốt ló hương cũ tìm hương thuở nào
Người đi cuối nẻo quan san
Để người lưu lạc nghẹn ngào giấc mơ
Hết năm mòn mỏi trông chờ
Ơi tình ơi bạn hững hờ ... Xuân qua
Cạn ly bạn uống cùng ta ...



HOÀNG YÊN LYNH
B'Lao,  01-2013
hoangmylinh@live.com
READ MORE - Hoàng Yên Lynh - VỚI XUÂN

CHÙM THƠ CẢM TÁC HOÀNG HẠC LÂU - Nhiều tác giả



 Bài xướng:

 LẦU HOÀNG HẠC


Hạc vàng bay mất tự bao giờ
Mà mái lầu xưa vẫn đứng trơ
Đôi cánh vút đi không trở lại
Ngàn mây lờ lững mãi mong chờ
Hán Dương gờn gợn cây lồng bóng
Anh Vũ mơn man cỏ phủ bờ
Sương khói trên sông, chiều bãng lãng
Quê hương vời vợi khuất xa mờ...

       Sông Thu dịch Hoàng Hạc Lâu, thơ Thôi Hiệu

Các bài họa:

LẦU HOÀNG HẠC

Hạc bay biền biệt tận đâu giờ
Lầu cũ buồn hiu mái lạnh trơ
Bận bịu người đi không hẹn lại
Hững hờ mây trắng mãi trông chờ
Hán Dương cây cảnh đà thay lá
Anh Vũ cỏ hoa đã rậm bờ
Lãng đãng trời chiều mây ảm đạm
Trên sông sầu muộn phủ giăng mờ

                                  Thanh Trương


ĐÂU CÒN NỮA

Loài hạc mất tăm tự bấy giờ
Đầm lầy chỉ thấy cỏ năn trơ
Môi trường ô nhiễm không về lại ( 1)
Cảnh vật cằn khô chẳng đến chờ ( 2)
Rừng núi thưa dần cây phủ bóng
Đồng bằng thiếu vắng cỏ che bờ
Chim trời cá nước đâu còn nữa
Thế giới tương lai tối mịt mờ

                                      16-01-2013
                                      Hoàng Từ

1.     Chim hạc bay đi không về lại
2.     Chim chẳng đến để chờ môi trường tốt hơn


 ĐỌC LẠI THƠ XƯA

Hoàng hạc xa bay tự bấy giờ
Ngàn năm cảnh vật vẫn còn trơ
Mây xưa trắng phủ màu thương nhớ
Mái cũ nâu che sắc  đợi chờ                  
Nắng biếc Hán Dương dài chiếc bóng
Cỏ xanh Anh Vũ rộng đôi bờ
Tìm đâu khói tỏa thời xa đó ?
Vời vợi quê hương, lệ ướt mờ...

                        THY LỆ TRANG
                        MASSACHUSETS


HOÀNG HẠC LÂU

Truyền mãi ngàn xưa cho đến giờ
Hạc vàng tung cánh để lầu trơ
Trần gian thưa thớt tiên còn hẹn
Nhân thế nhúc nhung tục vẫn chờ
Thắng tích gợi hồn thơ bất tận
Cảnh quang mở niệm ý vô bờ
Người đi đất ở tình son sắt
Sông rộng trời cao bóng tháp mờ

                             Nha Trang,17.01.2013
                             Võ Sĩ Quý


HOÀNG HẠC LÂU

Cái hạc bay xa tự bấy giờ                  
Lầu tình vắng chủ đứng buồn trơ
Trên trời Hạc-trắng không quay lại      
Dưới đất non xanh mãi ngóng chờ       
Cây cảnh Hán-Dương chồi nứt lá
Cỏ hoa Anh-Vũ nụ chen bờ                      
Người đi, chốn cũ nhiều nhung nhớ 
Mây nước từ nay khuất mắt mờ.

                                     Cao Bằng

  
THĂM LẦU HOÀNG HẠC


Cưỡi hạc vàng bay tự bấy giờ
Mà lầu kỷ niệm cũ còn trơ?
Người đi tìm lại hình mây đợi
Ta đến thấy đâu bóng nước chờ.
Dương Tử sông xanh ôm trọn bãi
Xà Sơn núi biếc ấp quanh bờ.
Nắng chiều lấp loá vờn trên sóng
Chợt nhớ cố hương  mắt lệ mờ.

                                Lương Thế Hùng 
                                17/01/2013


  CẢM TÁC HOÀNG-HẠC-LÂU
                          
  Hạc đi buổi ấy tự bao giờ
  Lầu vắng ngàn năm sương nắng trơ
  Ai đó chuyện xưa, hồn ngớ ngẫn
  Người đây tích cũ, ý mong chờ
  Hán-Dương cây nước chừ tan biến
  Anh-Vũ cỏ hoa đã rụi bờ
  Chỉ áng thơ hay lưu hậu thế
  Cảnh tình muôn thuở vẫn chưa mờ.

                             MẠNH-TRƯƠNG
                             Washington DC/USA


 CẢM TÁC ĐỌC LẠI THƠ XƯA

Hạc vàng người cỡi biết đâu giờ ?
Lầu cũ rêu phong mãi cứ trơ
Một thuở cánh xưa bay vút mất
Ngàn năm mây trắng vẫn trông chờ
Hán Dương ngần bạc trăng tràn bến
Anh Vũ xanh non cỏ ngút bờ
Chiều nắng nhẹ buông quê khuất bóng
Não lòng sóng biếc khói sương mờ.

                                Trần Văn Hạng
                                 


SÔNG THU biên tập
songthu195@yahoo.com.vn

READ MORE - CHÙM THƠ CẢM TÁC HOÀNG HẠC LÂU - Nhiều tác giả

XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY - Dương Thế Kinh Luân


Tốt nghiệp Đại học với bằng kỷ sư xây dựng, có việc làm trong một công ty xây dựng lớn tại miền Trung, lấy vợ là một bác sĩ tại một bệnh viện ở trung tâm thành phố Đà Nẵng, tập tành làm thơ viết văn, cuộc đời của Dương Thế Kinh Luân - con trai nhà thơ Thế Lộc – quả là may mắn và  hạnh phúc mà không phải thanh niên độ tuổi 30 nào cũng có được. Thế nhưng ông trời thương không trót, cách đây đúng một năm, vào ngày 8 tháng Chạp năm Tân Mão, một tai nạn giao thông đã cướp mất cậu con út của nhà thơ Thế Lộc, để lại nỗi đau đớn vô hạn cho gia đình anh và nỗi tiếc thương cho bạn bè và đồng nghiệp, để lại hạnh phúc dở dang cho người vợ đang mang thai đứa con đầu lòng vừa tròn 8 tháng.

Nhân ngày giỗ đầu của Dương Thế Kinh Luân (ngày 8 tháng Chạp năm Nhâm Thìn), nhà thơ Thế Lộc gởi đăng hai tác phầm đầu tay và cũng là cuối cùng của người con quá cố của anh. VNQT xin chia buồn cùng nhà thơ Thế Lộc và trân trọng giới thiệu.


Dương Thế Kinh Luân


XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY

            Hè! tiếng gọi quen thuộc của tuổi học trò, mỗi lần nhắc đến ai cũng vui mừng, phấn khởi vì mình có thể thư giản, vui chơi thỏa thích để trút bỏ mọi ưu phiền trong lòng cũng như trong học tập. Nhưng sao hè này mình chẳng muốn nó đến chút nào, làm sao mình có thể cản được, thời gian mà ! Nó trôi đi một cách phũ phàng và sẽ không bao giờ trở lại. Mình biết hè đến cũng là lúc mình, các bạn và thầy cô phải xa nhau mãi mãi, mình không muốn những gì bao năm có được bây giờ lại tan biến tất cả: Thầy, cô, bạn bè, tuổi học trò ư? Không, mình không đủ can đảm để lĩnh nhận sự thật ấy. Bao năm cùng bạn bè sống chung trong một mái trường, cùng nhau san sẻ mọi biến cố, dù trong mọi hoàn cảnh vui hay buồn thì bây giờ bỗng phút chốc trắng tay, mình không còn oán trách ai, mà chỉ trách tạo hóa hay trêu ngươi, thường trái ngược với cuộc đời. Bây giờ còn đây những gương mặt, cử chỉ, điệu bộ, mình phải biết trân trọng vì bước chân ra trường sẽ là mất nhau, không biết sau này sẽ như thế nào, nếu như năm năm, mười năm rồi hai mươi năm sau trong cuộc sống bận rộn, hối hả xuôi ngược của cuộc đời mình có thể gặp lại các bạn không? Có rảnh để ngồi lại hàn huyên nói chuyện, tán gẩu như ngày xưa không? Hàng loạt câu hỏi cứ tuôn ra, mình không biết, mình phó mặc tất cả, mình tự để cho thời gian trả lời. Nhưng mình vẫn mong và hy vọng các bạn một điều là vẫn luôn nhớ đến ngôi trương Hồng Đức nơi đã dạy cho chúng mình những tri thức để bước vào đời và cũng là nhịp cầu cho chúng mình quen nhau.
                        Ba năm là dài hay ngắn
                        Sao bỗng thẫn thờ giây phút chia tay
         Một việc nữa mà mình vẫn luôn giấu giếm bấy lâu nay, mình để nó trong tận trái tim này của mình, mình cảm ơn cô chủ nhiệm lớp 12/3 cô Nguyễn Thị Trinh, người đã tận tụy dẫn dắt và luôn có mặt kịp thời để giúp đỡ mình trong những tháng ngày qua,. Lúc ấy mình cảm thấy như một luồng hơi ấm của một người Mẹ dịu hiền. Bây giờ nghĩ lại mình thật có lỗi với cô, mình đã làm cho một người Mẹ phải buồn về đứa con ngỗ nghịch. Bao lần mình đã phạm hết sai lầm nầy đến sai lầm khác, nhưng cô vẫn từ tốn phân tích lời hay lẽ phải. Nhưng cũng có lúc cô chỉ buồn và lặng lẽ làm thinh, mình biết lúc cô lặng lẽ cũng là giây phút cô buồn nhất, cũng nhờ những lời trách móc, sự lặng lẽ buồn của cô đã làm cho đứa con này thay đổi.
       Cô ơi, nhờ cô mà em đã thay đổi, những lời này thật sự thốt ra từ đáy lòng của em, em không dối trá, em không muốn lời thú tội của một người con nói ra khi đã quá muộn màng. Em không định nói ra nhưng không nói sẽ không còn cơ hội nào để tỏ bày nữa. Có ai đó đã nói rằng "Nghề giáo như một nghề chèo đò, mỗi năm là một chuyến đò chở khách qua sông". Nhưng riêng em thì em không nghĩ như vậy. Dù sao đi nữa, bên em vẫn vang vọng tiếng của cô như lời nhắc nhở, bài giảng của cô như chắp cánh ước mơ cho em bay khỏi vùng trời cổ tích. Có những lúc lặng thầm em ngắm vầng trán cô đọng lại những nếp nhăn ... Tuổi thơ em như ánh trăng rằm, sao thấy được nỗi lòng cô cùng năm tháng. Đã đi qua một thời gian em đã lớn, bài học đầu tiên em hiểu được Thầy Cô. Lời giải đáp cho em không còn là ẩn số mà cả tấm lòng của gió, em gởi lòng mình thương kính đến Cô yêu .

DƯƠNG THẾ KINH LUÂN
Trích DƯ ÂM tuyển tập thơ văn lớp 12/3 trường PTTH HỒNG ĐỨC  năm 1999.


CON KHÔNG QUÊN

Ngày tôi về em ra đầu ngõ đón
Nước mắt lăn dài vai nhỏ run run
Em kể lể trong từng cơn nấc nghẹn
Mẹ qua đời giữa đêm lụt vừa qua

Xác Mẹ trôi theo cơn lũ băng nhà
Rồi vướng lại nơi hàng tre cuối xóm
Mấy ngày sau nước đi, xác Mẹ sạm
Dân làng mình chôn Mẹ đậm tình thương

Cơn lũ đi qua như bải chiến trường
Nhưng tình quê hương còn cao hơn lũ
Em lớn lên làm người dân xứ Quảng
Ngàn đời không quên nghĩa xóm tình làng.

DƯƠNG THẾ KINH LUÂN
(Trích Đặc san ĐỨNG TRÊN ĐỈNH LŨ, trang 130, do Ban Tuyên Giáo Thành Ủy và Hội Văn Học Nghệ Thuật TP Đà Nẵng xuất bản tháng 01 năm 2000 .

READ MORE - XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY - Dương Thế Kinh Luân

Thursday, January 17, 2013

HOA ANH ĐÀO VŨNG TÀU KHOE SẮC MỘT GÓC XUÂN- video Dương Đình Hùng







DƯƠNG ĐÌNH HÙNG
Sinh năm 1950 – Huế.
Tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa Sài Gòn.
Bác sĩ Bệnh viện Chợ Rẫy, Dưỡng đường Cao Bá Nhạ, Thẩm mỹ viện Ngô Văn Hiếu, Cẩm Thạch…
Email: drduongdinhhung@gmail.com
ĐT: 84.8.8325708



ĐỌC THÊM VỀ HOA ANH ĐÀO VŨNG TÀU
 Vào mùa xuân, du khách đến Vũng Tàu sẽ rất ngạc nhiên khi bắt gặp rừng hoa anh đào nở rộ bạt ngàn hai bên tỉnh lộ 44, đoạn từ đèo Nước Ngọt đến Cầu Tum, dưới chân núi Minh Đạm, thuộc xã Phước Hải (huyện Đất Đỏ).

Hoa anh đào ở đây có hai màu: trắng tinh và hồng phớt. Không ai biết lai lịch của loài hoa anh đào này. Nếu có người mang từ Nhật về trồng thì cách đây có thể vài thể kỷ, bởi phải có thời gian thật lâu để một vài cây phát triển thành một rừng cây và mọc tự nhiên như cây bản địa, không cần chăm sóc. 


Thế nhưng giờ đây, rừng hoa anh đào Phước Hải lại đang đứng trước nguy cơ bị "xoá sổ"… 


Năm 2005, khi tuyến đường ven biển bắt đầu thi công qua đây, nhiều cây anh đào ven đường theo đó bị đốn hạ, làm cho cánh rừng trở nên xơ xác … Ngành du lịch cũng bắt đầu triển khai xây dựng các khu du lịch và vô số cây hoa anh đào nữa bị đốn hạ không thương tiếc, một số cây còn lại bị khói bụi phủ lên, bị chặt cành, trơ gốc, trông quá tiêu điều. Hậu quả là diện tích rừng hoa anh đào đang bị thu hẹp. Người ta quên rằng khu du lịch ven biển thì suốt dọc bờ biển Việt Nam, ở đâu mà chẳng có, thậm chí nhiều nơi còn tốt hơn Vũng Tàu, nhưng chỉ ở Vũng Tàu mới có hoa anh đào.


Phát triển du lịch là đúng nhưng phải gắn liền với bảo tồn thiên nhiên, phải giữ nét đẹp đặc trưng tự nhiên của vùng đất, ở đây là rừng hoa anh đào Phước Hải, một đặc điểm để thu hút khách du lịch đến Vũng Tàu mà không có khu du lịch biển nào khác ở Việt Nam có được. 


 (Tham khảo bài Cứu Rừng Hoa Anh Đào Phước Hải, Báo Bà Rịa Vũng Tàu : baobariavungtau.com.vn)
READ MORE - HOA ANH ĐÀO VŨNG TÀU KHOE SẮC MỘT GÓC XUÂN- video Dương Đình Hùng

BÀN VỀ CHỮ TẦM - Vũ Từ Sơn

Nhà thơ Vũ Từ Sơn và nhà thơ Nguyễn Trân Trân viếng chùa Thanh Mai (Hải Dương).
Ảnh từ trang duyphitho.blogspot.com


Trong một tập hợp người từ tập hợp nhỏ đến tập hợp lớn đều phải có người lãnh đạo. Muốn làm được chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo phải có "Tầm" nhất định, nếu không sẽ hỏng việc, thậm chí hỏng cả một cơ nghiệp của một đất nước.

Vậy "Tầm" của người lãnh đạo là gì?


Quy lại có ba trạng thái tầm: dưới tầm, ngang tầm, trên tầm. Ba trạng thái, ba bậc này để đánh giá một người lãnh đạo. Lãnh đạo A khi đảm nhiệm một cương vị lãnh đạo nào đấy luôn không hoàn thành nhiệm vụ; để công việc lẹt đẹt, trì trệ, dẫn đến việc hoàn thành kém, hỏng việc. Đó là dưới tầm. Một lãnh đạo B, kết quả cho thấy đạt ở mức hoàn thành trung bình, đạt yêu cầu. Đó là ngang tầm. Một lãnh đạo C luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; đưa công việc họ đảm nhiệm, chức vụ họ được giao phó đến tốt đẹp, mỹ mãn. Người đó có thể sử dụng ở mức cao hơn. Đó là trên tầm. Ví như Bàng Thống trong "Tam quốc diễn nghĩa", tài cao học rộng, có tầm quốc gia, Lưu Bị lại chỉ sử dụng ở chức quan huyện xoàng, khiến ông ta suốt ngày uống rượu, làm thơ, giải quyết công việc của một tháng chỉ trong một ngày .

Vậy làm thế nào để có một người lãnh đạo trên tầm?

Mỗi con người đều trải qua một vòng đời: Sinh - Trưởng - Lão - Tử. Quỹ thời gian hữu hạn, đều phải trải qua thời kỳ nuôi dưỡng giáo dục, học tập, rèn luyện, phấn đấu đúc rút kinh nghiệm, vươn lên trau dồi đạo đức, trí tuệ. Sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cộng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân để có một con người cụ thể nhất định. Trường đời, qua lao động nhanh chóng nhận rõ ai là người làm được việc. Lấy công việc để đo con người ấy như thế nào, lúc đó tầm của họ biểu hiện rõ nhất!

Ta bàn thêm về trí tuệ.

Thông minh vốn sẵn tính trời! Việc đó chỉ đúng một phần, thông minh không quyết định tất cả. "Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên" (Hồ Chí Minh). Hình chóp "Tam giác trí tuệ" xếp loại người ra 5 tầng trí tuệ: dưới bình thường - bình thường - thông minh - thông tuệ - minh triết. Khảo sát trí tuệ dân số một đất nước theo tam giác trí tuệ: Số người dưới bình thường, bình thường ở đáy tam giác chiếm tỷ lệ lớn; thứ đến người thông minh chiếm tỷ lệ đáng kể; người thông tuệ chiếm ít, người minh triết thì cực hiếm.

Có người viết về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trên một tờ tạp chí với tiêu đề nghe rất sang trọng: Minh triết Nguyễn Huy Tưởng. Nghe thấy lạ!

Ở nước ta từ cổ chí kim người minh triết là: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Chí Minh... và chỉ một số rát ít người nữa mà thôi.

Có người ở tầm cao không làm được gì đáng kể cho đất nước, khi về đời thường lại hành xử không bằng một thường dân. Hiện xã hội ta còn tồn tại một số người lãnh đạo có trí tuệ bình bình, may mắn được cất nhắc lên một vị trí cao hơn khả năng, khiến họ xử lý công việc hạn chế, lại vinh thân phì gia, bán rẻ lợi ích tập thể, mưu lợi bất chính. Thời gian và lịch sử sẽ trả lời, sẽ minh chứng.

Xã hội vận động tiến lên, mọi người đứng trong xã hội đều phải sống và làm việc theo tầm của mình. Xã hội mà mọi công dân ở mọi vị trí đều ngang tầm hoặc trên tầm là xã hội phồn vinh.

Làm được trọn vẹn chữ "Tầm" khó lắm thay!

Bắc Giang, tháng 11/ 2012


VŨ TỪ SƠN
            vutuson01@gmail.com
                                                                        ĐC: Số 29 , ngõ 137  Hùng Vương,
TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
                                                                                               

READ MORE - BÀN VỀ CHỮ TẦM - Vũ Từ Sơn