TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Tuesday, November 29, 2022
Monday, November 28, 2022
MƯỜI BÀI THƠ TỨ TUYỆT CỦA NGUYÊN LẠC
1. ĐÊM CHIA PHÔI
Ngấn lệ từ li mặn đắng môi
Cho nhau cho hết lúc chia phôi
Hành trang cuộc lữ đêm tình giữ
Mai phố nghìn xa chút hương người
2. ĐÊM CUỐI NĂM
Chong khuya lệ nến tiếng đêm trôi
Sầu khúc Hương xưa dáng ai ngời?
Đón Tết nơi nầy đêm trắng quá!
Rơi chi bông tuyết buốt tim người?!
3. TRẦM TƯ ĐÊM BÊN SÔNG
Tóc rồi sương điểm theo năm tháng
Sắc cũng tàn phai theo tuổi đời
Ai xui trăng rụng trên dòng lắng
Một kiếp người thôi thế nhân ơi!
4. PHONG VŨ
Phong là gió nhưng chắc đâu là gió?
Vũ là mưa nhưng có phải mưa đâu?
Khanh ơi gác trọ dâng hương sắc
Phong vũ nghìn năm cố lý sầu!
5. ĐÊM MƯA THU
Giọt mưa nào lăn tròn trên lá nhớ?
Tí tách nào nhắc nhở thuở yêu em?
Trong ký ức tận cùng đêm mưa đó
Trăm năm dù dâu bể cũng không quên!
6. CĂN BỆNH TÌNH YÊU
Tình yêu căn bệnh lạ lùng
Ai mà nhiễm phải không khùng cũng điên
Điên thì ta hãy cứ điên!
Yêu thì ta cứ! Có phiền em không?
7. TỘI CHO QUA
Gió lay rụng trái mù u
Giận ai bậu nói đi tu cho rồi?
Tội cho qua lắm bậu ơi!
Bậu đi tu chắc sự đời qua xong!
8. ÁO HỞ DẬY THÌ
Mơ màng em giấc chiêm bao
Gió lay áo hở hoa đào phương phi
Anh nghe tiếng gọi tình si
Mãn khai hiển lộ dậy thì... điếng anh!
9. MÙI HƯƠNG ĐÊM NÀO
Cánh đồng trăng khuyết thầm thì
Ôm em thân quế nhu mì mến thương
Bể dâu một thuở đoạn trường
Thiên thu vẫn mãi mùi hương đêm nào!
10. GIÓ CHIỀU
Chiều nào gió nhẹ bên nương
Thổi em hở áo ngực hường chín cây
Có người không rượu mà say
Trăm năm vẫn nhớ ửng hây chiều chiều
Nguyên Lạc
MƯA ĐÔNG HẠT MÉO HẠT TRÒN – Thơ Lê Phước Sinh
Chim Bói Cá nghiêng cổ nhìn trời
sợi mưa lơ lửng
lành lạnh
Thấp thoáng
điểm mặt cuối năm
cái ăn cái uống
dãn rộng ra
giờ phải co vào
bập bùng
khu trú
Mây xám thờ thững
đi tìm sợi nắng
lạc độ chốn nào
Tìm những vòng tay
bếp lửa
ma trơi
ẩn hiện.
Lê Phước Sinh
LÀ HỒ ĐIỆP, LẠI LỤC BÁT, LÊN XUỐNG – Thơ Chu Vương Miện
lúc lại là hồ điệp
lúc thôi đành Trang Sinh
nhẩm pho kinh một lúc
ờ tứ đại giai không?
hoa sứ rơi trên suối
đục trong chẩy một dòng
chuông thu không tịnh độ
danh lợi lầm bến mệ
chạy vội theo hư ảnh
quên mất luôn lối về
mấy vầng trăng cổ độ
trước mặt mất đàm khê
bên hông là đá lũng
ta là ai? bây giờ
gõ mãi trên mõ gỗ
dộng mãi quả chuông đồng
gỗ kêu theo âm gỗ
hồng chung vọng hồng chung
mỏi tay gần suốt kiếp
hiểu gì? được chữ không ?
niệm xong một bài kinh
con chim bay khuất khuất
chiếc lá giữa lòng đường
chờ tái sinh kiếp khác
ta vẫn chỉ là ta
sao kiếp xưa đi lạc
LẠI LỤC BÁT
người về ta để cho về
ta nắm vạt áo ta đề chữ quên?
vừa đi người đã quên liền
còn ta đứng đó nửa tiên nửa đời
nhìn chi? con sáo bay rồi
100 năm có một chữ tài (đại)
1000 năm chữ Xỉu (tiểu) ván bài nghỉ chơi
cò quay lẫn với cò mồi
hồ lỳ với bọn cò ruồi y nhau?
100 năm còn có gì đâu?
nước đen nước đỏ ván đầu ván đuôi
trắng tay há miệng ra cười
đầy tay mật lại cùng ruồi một mâm
thầy đồ nhà trống ba gian
thiên trời địa đất càn khôn khôn càn
Quốc Oai phất ngọn cờ tàn
muốn xoay bạch ốc lầm than kiếp này
nào ngờ trắng mắt trắng tay
ờ mà một lũ quen nhau
chốn nao tình cũ dây trầu cục vôi
bây giờ gió cuốn mây trôi
trầu không cau rụng kẻ ngồi kẻ than
trơ ra cục gạch mạ vàng
thân em như tấm lụa đào
bèo nhèo giữa chợ vái chào tứ phương
ngẩn ngơ ngó mãi chân tường
rêu xanh từng vạt gợi hồn liêu trai
rằng đây đâu phải Tần Hoài
mà thơ Đỗ Mục bên tai vọng về
không sông trăng cũng chả về
hạt mưa sa vẫn ê chề còn rơi?
LÊN XUỐNG
lên non vội vã xuống non
ờ ra gã lại bon chen về trần
mấy năm mõ gỗ cẩm vân
chầy kình dộng mãi cũng lần ấy thôi
rằng tôi chẳng phải ià tôi
chẳng qua tâm động qua lời kệ xưa
mưa trong trăng trăng trong mưa
"tựa thơ thầy cũ" hè trưa váng đầu
thầy về bến giác bao lâu
mà tôi cứ lạc dưới lầu Hoa Nghiêm
nửa vò rượu tĩnh hỗn nguyên
nửa vò còn lại tục tiên một bè
mai ta để tóc mây che
của thiên trả địa mấy hồi
con người với lại con ruồi giống nhau
có đình có đám tới mau
có xôi có thịt uýnh nhau vỡ đầu
nước tương anh họ xì dầu
tàu hủ đậu phụ tiềng tàu tiếng ta
con người sống thác là ma
con gà khi sống tránh xa bụi gừng
con lợn sống thác vô chừng
sáng thì có đó chiều không có chuồng
tình đời lúc trắng lúc đen
lòng trời vân cẩu tang thương nhức đầu
làm thân lừa ngựa bò trâu
chả nói cũng rõ đớn đau vô cùng?
thênh thang như chốn bìa rừng
lòng thòng là sợi dây thừng cột nhau?
Chu Vương Miện
THƠ HAIKU, NGƯỜI ĐIÊN, CÁNH ĐỒNG TÌNH – Trần Mai Ngân
** Thế giới này
Bao nhiêu đường chim bay
Tôi mãi tìm ai…
** Khi nào tôi chết
Sẽ đẹp như mùa Thu
Không khóc!
** Để lại đôi dòng thơ
Tập di cảo ố vàng
Giấc Thuỵ Du!
** Một tia chớp giữa khuya
Bừng sáng đêm tăm tối
Soi đường cánh vạc bay
** Sự yên lặng của đá
Trăm năm, nghìn năm
Vọng âm lời cũ!
Trần Mai Ngân
P/S: Kính nhớ Thầy Lưu Đức Trung
NGƯỜI ĐIÊN
Hôm qua chạy giữa đám đông
Níu áo người hỏi bởi không thấy mình
Đâu rồi… đâu bóng, đâu hình
Hay cười hay nói với tình yêu tôi
Hoảng loạn tìm kiếm xa xôi
Ở trong góc khuất đơn côi phận người
Bàn tay run rẩy lật từng
Những ngày xưa cũ chúc mừng Uyên Ương
Thần tiên gãy mộng thiên đường
Tôi la tôi khóc như dường người điên!
Trần Mai Ngân
CÁNH ĐỒNG TÌNH
Hai con tim cãi nhau giữa cánh đồng tình tàn úa
Trái tim đau khi ta quay về phía khác
Mùa chông chênh
Cánh đồng đã gặt xong...
Hai con tim cãi nhau nên long đong mãi long đong
Rời xa nhau có nuối tiếc trong lòng?
Mênh mông khói đốt đồng cay mắt ai
Dẫu chúng mình cả hai đều không khóc...
Hai con tim phụ rẫy nhau khi mùa yêu còn đang chín
Tại sao... dưng không vì đâu, vì đâu...
Hai con tim đập khác nhịp, khác màu
Nên nông cạn rời xa mãi mãi...
Ngày mai đây cánh đồng gieo mạ mới
Lại xanh màu… tro tình của năm xưa
Chỉ đôi ta hai nẻo đường mê
Mùa tình chín - ta không về đường cũ!
Trần Mai Ngân
25-11-2022
Sunday, November 27, 2022
NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn
Những kỷ niệm cùng Đỗ Tư Nghĩa
ĐỖ TƯ NHƠN
LTS TC CỬA VIỆT:
Nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa
người Quảng Trị, từng sinh sống và làm việc lâu năm ở Lâm Đồng. Sống lặng lẽ,
song ông đã dịch nhiều tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng đã được xuất bản;
và còn nhiều tác phẩm dịch thuật ở dạng bản thảo, hoặc được đăng tải trên mạng.
Một năm sau ngày mất của Đỗ Tư Nghĩa, thương tiếc người em tài hoa, nhà giáo Đỗ
Tư Nhơn có bài viết gửi cho tòa soạn Cửa Việt.
Giờ
đây Nghĩa đã về với tổ tiên, ông bà, thầy mợ nơi cõi vĩnh hằng sau 75
năm Bước lững thững qua trần gian một bận / Đã thấy sầu in vết dưới chân im (Bi
khúc 1-1972 trong tập Gởi tình Yêu- Gởi Cuộc đời của Đỗ
Tư Nghĩa). Những kỉ niệm với gia đình, bè bạn còn trong ký ức của những người
thân,từng gắn bó kết giao tình cảm.
Ba
chị em chúng tôi: Đỗ Thị Như Mai, Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa vốn nguyên quán là
làng Cui, Tuy Lộc, Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bố chúng tôi vào Quảng Trị làm viên
chức thừa phái dinh Tuần Vũ đóng tại Thành Cổ, nhưng mất sớm lúc tôi vừa lên
ba, Nghĩa còn trong bụng mẹ.
![]() |
| Chân dung Đỗ Tư Nghĩa qua nét ký họa của Thanh Trí |
Nghĩa cất tiếng chào đời ở làng ngoại Quảng Điền, Triệu Phong, Quảng Trị khi gia đình tản cư về đây, sống trong căn nhà của ông bà ngoại đã qua đời. Biết bao kỷ niệm giữa bom đạn chiến tranh, với những mùa mưa lụt nước mênh mông mà ba chị em chúng tôi cùng chịu đựng nơi miền quê này.
Khoảng
7,8 năm sau, gia đình tôi chuyển lên thị xã Quảng Trị, mẹ buôn bán kiếm sống
nuôi con ăn học. Chúng tôi có chung kỷ niệm ấu thời. Từ lúc nhà ở gần trạm điện
cho đến khi sống giữa làng Thạch Hãn cùng bạn bè chơi bi, đánh đáo, ù mọi, đánh
căng và làm báo viết tay.
Những
năm học trung học Nguyễn Hoàng, Nghĩa nổi tiếng giỏi Văn, Anh Văn. Tôi và Nghĩa
đều yêu thích văn chương, sách báo. Khi quyển sách Ý thức mới
trong văn nghệ và triết học của Phạm Công Thiện ra đời, anh em chúng
tôi tìm mua cho mình mỗi người một tập, Nghĩa đọc kỹ, gạch đỏ những đoạn văn
tâm đắc. Sau này chính Nghĩa cho biết đã chịu ảnh hưởng của Phạm Công Thiện khá
đậm.
Mẹ
của chúng tôi tần tảo, thương yêu các con vô cùng, mà chưa thể nào chúng tôi
báo đáp thì mẹ đã qua đời. Đó là mùa xuân năm 1971, Tết đó, sau những ngày buôn
bán cuối năm vất vả, mẹ tôi nhuốm bệnh. Vợ chồng tôi, Nghĩa, Thắng ở một bên
giường mẹ lo lắng, rồi nhờ chị Định, y tá truyền nước biển. Ngày mồng một, mẹ
tôi còn nhận biết, nhưng tờ mờ sáng mồng hai, mẹ ra đi không lời trăng trối.
Anh em chúng tôi vô cùng buồn đau, thương tiếc. Ở tầm hồn Nghĩa, bắt đầu có sự
hụt hẫng vì Đìu hiu trái đất đâu còn mẹ / Sông núi xanh còn ta lãng du (Bi
khúc 3).
Một
biến cố thứ hai “đã ném” Nghĩa và người dân Quảng Trị ra khỏi quê nhà, đó là
mùa hè đỏ lửa năm 1972. Tất cả chạy loạn vào trại tạm cư Đà Nẵng - Quảng Nam.
Nghĩa đưa bà nội vào Đà Lạt nương náu tại nhà người cậu ruột một thời gian rồi
về Bảo Lộc dạy học. Tâm thức Nghĩa buồn đau vô vọng, đã gởi vào 4 bài Bi
khúc được sáng tác vào năm này.
Suốt
9 năm dạy học tại Bảo Lộc đã để lại trong tâm hồn Nghĩa những kỷ niệm đẹp. Đó
là mối tình với Hoài An, cô giáo Đà Lạt xa nhà. Năm 1976, lễ cưới được người
cậu tổ chức cho Nghĩa - An đàng hoàng, chúng tôi không vào dự được chỉ gởi quà
mừng.
Năm
1981, vợ chồng Nghĩa được chuyển lên dạy trường Nguyễn Du Đà Lạt, Nghĩa bắt tay
vào việc dịch thuật. Cuộc sống mỗi lúc một khó khăn đã tác động vào tâm hồn
Nghĩa, những bài thơ nhức nhói, trăn trở được viết vào năm 1983, 1984 sau này
in vi tính thành tập thơ Gởi tình yêu - Gởi cuộc đời.
Đôi
ba niềm vui đã đến, là khi các tập sách dịch được xuất bản từ năm 1986
như: Khi bố còn thơ, Như cơn mưa bay đi, Những cuộc phiêu lưu của
Sherlock Holmes… Nghĩa đã gởi về cho chúng tôi và bạn bè với chữ ký tặng.
Bạn bè chia sẻ niềm vui cùng Nghĩa qua những bức thư hồi âm.
Cuộc
đời không phải bao giờ cũng yên ả, gia đình Nghĩa bỗng phải chia hai. Vào năm
1992, Nghĩa quyết định ở lại Việt Nam, để cho vợ và hai con sang Mỹ định cư
theo diện gia đình vợ bảo lãnh. Chúng tôi góp ý, khuyên Nghĩa rất nhiều lần nên
cùng đi với gia đình. Sau này nghĩ lại, chúng tôi thấy Nghĩa đúng.
Ban
đầu, lúc vợ con ra đi, Nghĩa đến ở với anh bạn Nguyễn Diệp, trong khu đất Sở
Giáo dục Đà Lạt. Một thời gian ngắn sau, Nghĩa về thuê căn phòng trọ gần nhà cũ
hẻm số 19 đường Nhà Chung, cạnh nhà thờ Con Gà, ở đó suốt 30 năm cùng những
chồng sách cũ, mới ngập cả phòng.
Sống
một mình, dạy trẻ học tiếng Anh, ăn chay trường và tiếp tục dịch sách. Các anh
chị và các cháu thông cảm hoàn cảnh Nghĩa đã hỗ trợ một ít trong một thời gian
ngắn, trước khi liên lạc với vợ con. Nghĩa nhận được quà và tiền để chi phí cho
cuộc sống, sách báo, máy tính để làm việc.
Rồi
Nghĩa gửi một bức tâm thư cho Hoài An sau 10 năm xa cách. Nghĩa chân tình nói
với Hoài An rằng: Nếu có một người đàn ông biết yêu thương An và hai con, có
trách nhiệm với gia đình thì nên đồng ý. Còn về phần Nghĩa, bấy lâu quen cuộc
sống độc thân, không bị ràng buộc khó sống chung trong một gia đình.
Sống
Đà Lạt với hoa dã quỳ thơ mộng, nhưng cũng có lúc tâm hồn Nghĩa chợt nhớ quê cũ
Quảng Trị, với bạn bè người thân một thuở gắn bó. Mùa xuân 2004, con gái đưa
Nghĩa về thăm chúng tôi, cùng hưởng một cái Tết đoàn tụ, trong khói hương,
tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, thầy mợ. Rồi tôi và Nghĩa vào Huế thăm mộ bố chúng
tôi ở chân núi Ngự Bình, gặp các bạn thời sinh viên… Lần này chúng tôi muốn
Nghĩa ở lại quê nhà, để anh em cùng sống bên nhau lúc già yếu, bệnh tật. Nhưng
độ 2,3 tuần Nghĩa cảm thấy buồn, nhớ Đà Lạt, hơn nữa trời lạnh quá làm Nghĩa bị
mệt, phải chia tay Quảng Trị.
Tôi
lên Đà Lạt thăm Nghĩa nhiều lần. Có năm, lên Trúc Lâm thiền viện thỉnh kinh
sách, Nghĩa mua tặng tôi nhiều tập, đĩa CD giảng đạo của quý thầy. Nghĩa nghiên
cứu sâu xa và thực hành về đạo Phật cho nên sau này dịch sách của các đạo sư,
ni sư thật rõ ràng, chú thích rất bổ ích cho người đọc.
Vốn
liếng triết học Đông Phương và Tây Phương cũng tạo cho Nghĩa niềm say mê khi
chuyển ngữ các tác phẩm mang giá trị tư tưởng: Nghệ thuật sống, Suy
niệm mỗi ngày, Kahlil Gibran, Phiếm thần luận…
Chẳng
bao lâu Nghĩa bị tai biến lần hai, tôi và con trai lên thăm vào 27 tháng chạp,
chuẩn bị đón Tết Tân Sửu. Bệnh tình của Nghĩa nặng hơn, tuy mắt còn sáng, trí
óc hiểu biết nhưng chân tay bị liệt, Nghĩa cảm thấy buồn vô vọng.
Khi
chúng tôi về lại Quảng Trị, được tin Nghĩa bị dịch tràn màng phổi, phải thở
ôxy, giữa lúc dịch Covid đang lan tràn. Con gái Nghĩa bằng mọi cách đã về bên
bố giai đoạn cuối đời. Chúng tôi thường liên lạc với nhau để biết tình hình sức
khỏe của Nghĩa, khi nguy kịch, khi tạm ổn.
Nhưng
rồi Nghĩa đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 6 giờ 15 phút sáng 16/9/2021, bên
cạnh con gái và 3 cháu điều dưỡng, ông cậu tu sĩ. Bạn bè, bà con, học sinh cũ
gần xa đã đến phúng viếng, gởi vòng hoa chia buồn cùng gia đình.
Nghĩa
là một con người quen sống thầm lặng, ít giao tiếp nhưng khi từ giã cõi đời lại
được nhiều người thương tiếc về nhân cách, tâm hồn, sự khiêm tốn và tài năng
qua các tác phẩm dịch và thơ để lại cho đời.
Nhà
thơ Bùi Minh Quốc và nhóm “người hiền Đà Lạt” mà Nghĩa từng kính phục, đã gởi
đến hai câu đối:
Xe thiên cổ đưa người về cực lạc
Chốn hồng trần bè bạn luống đau thương
Bình
tro được đặt trên bàn thờ. Con gái tiếp tục phóng sinh, làm từ thiện. Sau 49
ngày, tro sẽ được rải trên hồ nước trong xanh Tuyền Lâm, dưới chân của thiền
viện Trúc Lâm của Đà Lạt. Trong dịp này, cháu Diễm Thư, theo lời dặn của bố đã
trao trọn vẹn tủ sách quý giá của bố cho Trần quốc Vĩnh - làm thư viện Đỗ Tư
Nghĩa để thân hữu và con cháu yêu thích đến đọc để tâm hồn được thăng hoa, điều
Nghĩa luôn mong muốn.
_________________
Một số
sách dịch thuật văn học nước ngoài của Đỗ Tư Nghĩa đã xuất bản:
1. Những
cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes (Conan Doyler), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng,
1985.
2. Khi
bố còn thơ (Araskin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.
3. Như
cơn mưa bay đi (S. Krutilin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.
4. Dưới
ánh trăng (Guy de Maupassant), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.
5. Truyện
phiêu lưu của Pick Wick (Charles Dickens), Nxb Thuận Hóa - Huế, 1994.
6. Con
đường tuổi trẻ (Daisaku Ikeda), Nxb Trẻ, 2005.
7. Cuộc
đời của luận sư Rajneesh Chandra (tự truyện Osho), Nxb Trẻ, 2007.
8. Tự
thú ( Lev Tolstoy), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2007.
9. Tìm
lại nụ cười (Philip Martin), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.
10. Kahlil
Gibran - ngọn lửa vĩnh cửu (Barbara Young), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.
11. Suy
niệm mỗi ngày (Lev Tolstoy), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016.
12. Nghệ
thuật sống (Epictetus), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016
13. Đời
Tolstoy (Romain Rolland), Nxb Hồng Đức & Khai Tâm, 2017
14. Chuyện
tình của các triết gia (Andrew Shaffer), Nhã Nam, 2018.
15. Chuyện
tình của các nhạc sĩ thiên tài (Gustav Kobe), Nhã Nam, 2018.
16. Phiếm
thần luận (Paul Harrison), Nxb Tri thức, 2018.
17. Đời
Beethoven (Ramain Rolland), Khai tâm, 2021.
Ngoài ra
còn gần 20 tác phẩm trong bản thảo, đăng trên mạng, chưa xuất bản.
ĐỖ TƯ NHƠN
Nguồn: Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 338, Đỗ Tư Nhơn gởi bản PDF qua Zalo.
Saturday, November 26, 2022
MẤT QUẦN - Truyện ngắn Vũ Hùng
![]() |
| Nhà văn Vũ Hùng |
Truyện ngắn
MẤT QUẦN
Chuyện cưới hỏi thời nay nhẹ nhàng, khỏe re không có gì phải bàn cãi. Thời đại 4.0 mà. Mọi việc gần xa, ngon dở, sang hèn gì gì đi nữa, chỉ cần nhấc máy lên một lát là xong ngay! Miễn có tiền là OK!
Đấy, năm rồi tui đi họ cho thằng Rịch, con anh cả Rục lấy vợ ở thành phố Thủ Đức sáng đi chiều về sân bay Quy Nhơn, rồi còn lai rai ít ly Bầu Đá với mấy cụ nhà thơ Đường Bình Định chờ sẵn nữa. Đến lượt thằng Nhích lấy vợ ở Hà Nội tui cũng đi về chỉ hai ngày thôi.
Chợt nhớ lại chuyện thời trước, cái thời mà ông vua Bảo Đại còn đang chễm chệ tại kinh đô Huế mà tội nghiệp cho cậu Hai Bảnh của tui nay đã ngót nghét 109 tuổi, thời đó đi hỏi vợ ở Phước Thắng tính theo đường chim bay chừng 7 km phải mất gần 6 tiếng đồng hồ, sao mà cực khổ, dở khóc, dở cười đến vậy?
Nửa đêm bà ngoại tui phải thức dậy lọ mọ nấu ấm nước pha trà cho ông ngoại. Còn Dì Ba Bao bắt nồi nước sôi làm thịt con gà trống thiến nặng chừng ba ký để nấu cháo cho mấy ông chú, ông cậu trong đoàn họ lót dạ.
Sau khi ăn uống xong, chỉnh sửa khăn đóng, vuốt lại vạt áo dài phẳng phiu, đúng hai giờ sáng họ nhà trai lên đường.
Tiết tháng Chạp trời lạnh ngắt. Tối mù.
Đường làng Đông Trạch vắng tanh.
Tiếng chó sủa vu vơ.
Qua khỏi Định Thiện đến địa phận làng Luật Bình đường vừa hẹp vừa quanh co, vừa trơn trợt, lầy lội, có nhiều đoạn nước ngập tới gối. Ông ngoại liền ra hiệu mọi người dừng lại nghỉ ngơi một lát rồi bảo tất cả cởi hết quần ra vắt lên vai, còn hai vạt áo dài cột chéo ngang hông cho khỏi lấm và ướt.
Người nào người nấy đều ở truồng tô hô, cóm róm vì lạnh đến nỗi cái của quý như ông tướng dữ dằn trên trận mạc kia cũng rụt đầu sâu trong háng.
Cứ thế họ dò dẫm, loạng choạng đi trong bóng đêm.
Qua khỏi Lạc Điền, Tư Cung đến Phổ Đồng thì cũng trời vừa tang tảng sáng.Dừng lại Đập Bổi cao ráo, đoàn họ mặc lại quần, mang lại guốc, vuốt lại chiếc dù, chỉnh sửa lại khăn áo chỉnh tề chuẩn bị nhập gia nhà gái cho đúng giờ.
Bỗng Cậu Hai Bảnh hốt hoảng, khóc rống lên:
- Cha ơi! Cái quần của con....
Ông ngoại tui ngạc nhiên:
- Cái quần của con làm sao?
- Dạ, rớt mất rồi!
Vừa lúc đó một đám toàn đàn bà, con gái gồng gánh rau quả đi chợ phiên Gò Bồi sớm ngang qua, Cậu Hai Bảnh nhanh trí, vội phóng xuống Đập Bổi. Nước ngập tới bụng. Lạnh thấu xương nhưng Cậu vẫn bấm bụng chịu trận chứ biết làm sao?
Có một cô gái trẻ xinh nhất trong đám hỏi vọng xuống:
- Sáng lạnh gần chết mà anh trai xuống đập mò cái gì vậy?
Cậu Hai Bảnh đáp lại:
- Mò chiếc guốc bị rớt đó cô em!
- Coi chừng đỉa đeo đó nghen?
Quả thiệt, khi đám người kia đi một đoạn xa, Cậu Hai Bảnh leo lên bờ thì ôi thôi là đỉa hơn hai mươi mấy con tổ chảng bằng ngón chân cái bám lủng lẳng đầy chân, đầy háng trông phát khiếp.
Mọi người xúm lại gỡ đỉa ra.
Máu chảy đầm đìa!
Rồi một tốp đàn bà con gái nữa lại đến.
Và Cậu Hai Bảnh lại phải vội vàng lội xuống Đập...
Rồi leo lên bờ.
Và lại gỡ đỉa.
Cứ thế..
Và cứ thế...
Đã quá tám giờ rồi mà không thấy họ nhà trai nhập gia, Ông giáo Bảy ruột gan như lửa đốt hết ra lại vào. Lẽ nào nhà trai họ bội ước? Lẽ nào con gái rượu của ông bị lỡ duyên vô cớ? Ông hối đám gia nhân chạy ra đầu làng nghe ngóng xem sao?
Đám gia nhân từ Đập Bổi ba chân bốn cẳng chạy về báo rõ sự tình. Khuôn mặt âu lo, căng thẳng của ông giáo Bảy bỗng giãn ra, tươi tỉnh hẳn.
- Mất quần à? Thì ra là vậy!
Sài Gòn, 25.1222022.
Vũ Hùng
Thursday, November 24, 2022
“TRAU GIỒI” HAY “TRAU DỒI” ? – La Thụy
Tra Google để tìm kiếm, kết quả cho thấy:
"trau giồi" có 895 kết quả
Chỉ có trang face “Tiếng Việt giàu đẹp” và một số không nhiều trang mạng khác cho rằng TRAU GIỒI mới đúng
Tôi thử tra từ điển Hán Nôm về GIỒI và DỒI. Kết quả cho thấy:
GIỒI 𢬗
Chữ Nôm có bộ thủ 手 (+6 nét) có trong từ TRAU GIỒI
Chữ Nôm có bộ mễ 米 (+9 nét) có trong từ MIẾNG DỒI
Thử tra các tự điển xem GIỒI, DỒI, TRAU, TRAU GIỒI (TRAU DỒI) được giải thích như thế nào?
Trau tria cho đẹp, cho bóngGiồi mài, trau giồi, giồi phấn
GIỒI: (đt)
1.Giùi, tô trét vô rồi chà mạnh cho láng, cho bóng. Giồi bộ ván. Giồi phấn,Má ơi con má hư rồi, má còn trang điểm phấn giồi làm chi.
Theo từ điển đã nêu, ta thấy “giồi mài kinh sử”, trong thực tế đã biến âm thành “giùi mài kinh sử” hoặc “dùi mài kinh sử”
1. Dồn nhét, thêm vào cho đầy. “Dồi vô”…
2. Thức ăn luộc hoặc nướng bằng thịt heo và gia vị dồn vô ruột heo.
3. Thêm lời nói: khen dồi, cãi dồi vô.
4. Nhồi, thẩy nhẹ lên: Dồi lên, dồi tiền, dồi banh, sóng dồi.
Trong từ điển Cồ Việt:
- GIỒI: nghĩa là đánh phấn trang điểm.
tratu.coviet.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lac-viet/V-V/giồi.html
- DỒI:
Danh từ là món ăn làm với lòng heo, bên trong nhồi tiết và gia vị như dồi heo, dồi chó
Động từ là tung lên liên tiếp nhiều lần như dồi bóng, sóng dồi, dồi quả banh. Nhận vào, dồn cho đầy
http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lac-viet/V-V/dồi.html
Như thế theo tự điển đã trích thì cách viết đúng của món ăn quen thuộc trong giới bạn nhậu phải là “dồi chó” chứ không phải “giồi chó”. Tương tự, “dồi heo” chứ không phải “giồi heo”.
Ngoài ra, ta cũng thấy được nghĩa “nhồi, nổi lên” trong “sóng dồi” liên hệ với “dồi dào”, và cũng là lý do khiến nhiều người công nhận từ “trau dồi”.
Nhưng có thật sự “trau dồi” là đúng, và “trau dồi kiến thức” tức “nhồi thêm kiến thức”?
*
Để hiểu rõ từ ngữ TRAU GIỒI, trước hết hãy xét nghĩa của từ “trau”. Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức trình bày:
TRAU:
1. Giồi mài, đánh bóng. Trau ngọc, trau đôi hoa tai.
* NHỮNG TỪ ĐIỂN GIẢI THÍCH VỀ “TRAU GIỒI”
trau giồi đt. Bào, đánh giấy nhám, đánh bóng bằng chất nhờn cho láng, cho bóng: Trau-giồi bộ ván. // (B) Bồi bổ, tô-đắp cho đầy-đủ, cho tốt đẹp thêm: Trau-giồi tiếng mẹ đẻ.
Nguồn tham khảo: Từ điển - Lê Văn Đức
*
trau giồi - Bồi bổ cho hay, cho tốt, cho giỏi hơn: Trau giồi tư tưởng.
Nguồn tham khảo: Từ điển mở - Hồ Ngọc Đức
*
trau giồi đgt Bồi bổ cho tốt hơn, hay hơn: Trau giồi tư tưởng; Anh mong em gắng trau giồi nhiều hơn (Lê Anh Xuân).
Nguồn tham khảo: Từ điển - Nguyễn Lân
*
trau giồi đt. Nht. Trau chuốt || Trau-giồi đức hạnh.
Nguồn tham khảo: Từ điển - Thanh Nghị
*
trau giồi - Bồi bổ cho hay, cho tốt, cho giỏi hơn: Trau giồi tư tưởng.
Nguồn tham khảo: Từ điển - Việt Tân
*
trau giồi Cũng nghĩa như “trau-chuốt”: Trau giồi thân-thể.
Nguồn tham chiếu: Từ điển - Khai Trí
https://chunom.net/Tu-dien/Y-nghia-cua-tu-trau-gioi-74685.html
“Trau” ở đây cũng chính là “trau” trong “trau chuốt”, mà “chuốt” vốn có nghĩa đen là “vót, gọt xuôi theo thớ cây” (chuốt đũa, chuốt viết chì) cho trơn bén, cho suôn sẻ. Rõ ràng “trau giồi” và “trau chuốt” có sự tương quan rất gần về nghĩa.
Chữ “giồi” có người thường viết ra thành “dồi”, vì cách phát âm địa phương.
* NHỮNG TỪ ĐIỂN CÓ CẢ “TRAU GIỒI” VÀ “TRAU DỒI”
- Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học xuất bản năm 1992 dùng cả 2 từ TRAU GIỒI và TRAU DỒI
- Từ điển chính tả nhóm Hoàng Phê chủ biên xác định hai hình thức chính tả TRAU GIỒI và TRAU DỒI đều là hình thức chữ viết đúng
NHỮNG TỪ ĐIỂN GIẢI THÍCH VỀ “TRAU DỒI”:
trau dồi kiến thức, trau dồi đạo đức, trau dồi tư tưởng
* Tra từ Soha:
http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Trau_d%E1%BB%93i
TRAU DỒI
Động từ
làm cho ngày càng trở thành tốt đẹp hơn, có chất lượng cao hơn
trau dồi kiến thứctrau dồi đạo đức
* Wikitionary Tiếng Việt:
TRAU DỒI
Động từ
Rèn luyện, bồi dưỡng, làm cho ngày càng tốt hơn.
Trau dồi kiến thức.
Trau dồi đạo đức.
Trau dồi tư tưởng.
https://vi.wiktionary.org/wiki/trau_d%E1%BB%93i#Ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB%87t
* Từ điển số Tiếng Việt:
trau dồi có nghĩa là: - đgt. Rèn luyện, bồi dưỡng, làm cho ngày càng tốt hơn: trau dồi kiến thức trau dồi đạo đức trau dồi tư tưởng.
https://tudienso.com/tu-dien/tu-dien-tieng-viet.php?q=trau+d%E1%BB%93i
*
LẠM BÀN CỦA LA THỤY
* Căn cứ từ vựng, ta thấy “Trau” trong “trau chuốt” có sự tương quan rất gần về nghĩa với “giồi” với ý nghĩa “giồi” là “làm cho láng bóng” (trong “giồi mài”), là “ôn nhuần” (trong “ôn nhuần kinh sử”); chứ không thích hợp với “dồi” là nhồi nhét, thẩy nhẹ lên (trong “dồi bóng, sóng dồi”).“Trau dồi kiến thức” khó nói là “nhồi thêm kiến thức”
* Căn cứ chữ Nôm
GIỒI 𢬗
Chữ Nôm có bộ thủ 手 (+6 nét) có trong từ TRAU GIỒI
Chữ Nôm có bộ mễ 米 (+9 nét) có trong từ MIẾNG DỒI
* Căn cứ các bộ từ điển in như Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, Từ điển mở Hồ Ngọc Đức, Từ điển Thanh Nghị, Từ điển Việt Tân, Từ điển Nguyễn Lân, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức …
Thì phần nhiều từ điển in đều ghi nhận từ ngữ TRAU GIỒI
* Trường hợp ngoại lệ có:
- Từ điển Tiếng Việt Của Viện Ngôn Ngữ Học xuất bản năm VIỆN NGÔN NGỮ HỌC xuất bản năm 1992 ghi nhận cả TRAU GIỒI và TRAU DỒI.
- Từ điển chính tả nhóm Hoàng Phê chủ biên xác định hai hình thức chính tả TRAU GIỒI và TRAU DỒI đều là hình thức chữ viết đúng.
* Các từ điển trên mạng như Soha, Wikitionary Tiếng Việt, từ điển số Tiếng Việt thì ghi nhận từ ngữ TRAU DỒI
Từ điển trên mạng thời hiện đại và giới trẻ bây giờ sính dùng từ ngữ TRAU DỒI.
Chữ “giồi” có người thường viết ra thành “dồi”, vì cách phát âm địa phương.
Tra Google để tìm kiếm, kết quả cho thấy:
"trau giồi" có 895 kết quả
"trau dồi" 12400 kết quả
Kết quả trên cho thấy một thói quen diễn đạt dù không chính xác nhưng vẫn được đông đảo mọi người chấp nhận. Theo thời gian cái “tập quán ngôn ngữ” này mặc nhiên thay thế từ ngữ chính danh trong các từ điển một thời.












.jpg)


.png)



