Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, December 8, 2020

CHUYỆN DÒNG SÔNG QUÊ TÔI – Thơ Nguyên Lạc


                      Nhà thơ Nguyên Lạc



CHUYỆN DÒNG SÔNG QUÊ TÔI

 
Quê hương đoài đó chiều nghiêng bóng
Khói sóng sầu vương mắt đoạn lòng
 
1. Chuyện Thứ Nhất
 
Quê mình có gì lạ không em?
Mai anh về thăm lại bến xưa
Anh về lại dòng sông thương mến
Hai bờ bần đom đóm rực sao
 
Anh tìm lại dòng đời xa vắng
Sông lụa vàng xuồng thả mái xuôi dòng
 
Hò ơ ớ ơ ơ
Đâu đây cá đớp bông bần
Nhặt thưa câu hò đối ơ ơ...
Nhặt thưa câu hò đối... Bạn nỡ đành xa tôi!
 
Hò ơ ớ ơ ơ
Bạn ơi hãy nhớ quay về
Trời trong trăng tỏ... ớ ơ ơ
Trời trong trăng tỏ... lời thề chớ quên!... ơ ơ
 
2. Chuyện Thứ Hai
 
1.
Ta sẽ về thăm lại dòng sông
Của thời xuân mộng cũ!
Em đứng đó môi cười hết nụ
Mây sẽ rồi... gió cuốn bay đi
Em của tôi dáng nhỏ xuân thì
Dòng của đời
Trôi...  trôi... trôi mãi!
 
2.
Ta có nên về thăm lại dòng sông
của thời hồn nhiên cũ?
Mây đã bay... có bao giờ trở lại?
Nước xuôi dòng... có quay lại bến xưa?
 
3.
Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
của thời tan tác cũ!
Em đứng đó bóng rầu dáng mỏng
Thuyền ra khơi...
đâu hứa quay về!
Người ra đi... rồi...
chắc mãi không về!
 
4.
Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
của thời hung bạo cũ!
Xác em nổi trôi theo dòng bão lũ
Được tin người… tim nhé cố an!
Và đêm dài… đêm nhé hãy ngoan!
Ai rồi cũng về miền miên viễn!
 
5.
Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
của thời quá vãng!
Quên đi nhé... quên đi 
quên đi nhé!
Đã xa rồi... quên nhé...
Xa lắm xa!
Nhớ làm gì?
Thời gian sẽ phôi pha
 
6.
Đã biết thế
Nhưng cách nào quên hở?
Khi đông về làm sao không trăn trở?
Tuyết rơi đầy giá lạnh luồn tâm
Nhức nhối vết thương mưng mủ trong lòng
 
Chỉ tôi cách để quên đi nỗi nhớ
Chỉ tôi cách để quên đi một thuở...
Và dòng sông... chảy mãi trong hồn
Thiên thu. Nghìn trùng... Người ơi có biết không?!
 
                                                          Nguyên Lạc

READ MORE - CHUYỆN DÒNG SÔNG QUÊ TÔI – Thơ Nguyên Lạc

NĂM NGÓN TÌNH LONG ĐONG – Thơ Lê Văn Trung

 


NĂM NGÓN
TÌNH LONG ĐONG
 
Em có về đêm nay
Mà hồn tôi khuya quá
Chờ suốt một mùa thu
Lòng đã vào đông giá
 
Em có về đêm nay
Mà hồn tôi sương muộn
Chờ suốt một mùa trăng
Chờ đau mùa nguyệt lặn
 
Xòe bàn tay tôi đếm
Năm ngón tình lao đao
Năm mươi năm lỗi hẹn
Tình úa vàng xanh xao
 
Xòe bàn tay tôi ngắm
Ngón chỉ về phương em
Chỉ hoài vào xa vắng
Lạc mối tình trăm năm
 
Chỉ phương người quên lãng
Chỉ phương mình long đong
Chỉ hoài mà không thấy
Năm ngón tình hư không.
 
                   Lê Văn Trung
 

READ MORE - NĂM NGÓN TÌNH LONG ĐONG – Thơ Lê Văn Trung

Monday, December 7, 2020

BẾN VẮNG – Thơ Lê Phước Sinh


 


BẾN VẮNG
 
Tình cờ, xuống rửa chân
vướng nhánh rong phiêu dạt 
nghe âm ấm nhồn nhột
như vướng sợi tơ hồng.
 
Ngày xưa, Em nhớ không ...
 
               Lê Phước Sinh

READ MORE - BẾN VẮNG – Thơ Lê Phước Sinh

MÙA TRĂNG KHUYẾT - Thơ Đoàn Vũ

 


ĐOÀN VŨ                                                                     

Mùa trăng khuyết

 

Anh chắt mót từ phía nụ cười của em.
Và cũng không quên những chiều buồn
em khóc. Vườn nhà em ngọc lan hương
vấn vương dáng ngọc...

 

Em
anh biết cả sự mòn mỏi của con tim
em cứ đắn đo như con sâu đo miệt mài
năm tháng...không như những định lý
của toán hình mà đi ngược ở góc chờ - góc đợi
chờ đến bao giờ em ơi!

 

Đêm nay rằm em lại đi giữa mùa trăng
nén hương đêm anh thắp trong lòng
cầu nguyện cuộc chờ tròn trịa như trăng.

 

Mùa trăng này em lại ra đi
em nỡ bỏ cả
góc chờ
góc đợi
nỗi chờ dằn vặt
đêm đêm...

 

Vườn nhà em anh vẫn đến ngày ngày
hương ngọc lan đâu còn thơm nữa
ổ khóa buồn
trố mắt nhìn anh
như nói hộ
cửa nhà này
đã khép!
 

 

Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận
Email: vudoan0102@gmail.com.

READ MORE - MÙA TRĂNG KHUYẾT - Thơ Đoàn Vũ

CHIẾC ÁO LỤA BÀ BA - Thơ Đoàn Vũ

 


ĐOÀN VŨ 

Chiếc áo lụa bà ba 

 

Chiếc áo lụa bà ba
em có nhớ
em gửi tặng tôi
trước buổi theo chồng
màu áo hồng mãi hồng cùng năm tháng
vui bên chồng
em còn nhớ tôi không?

 

Thời gian khác chi con nước
xuôi dòng
thế mà áo cứ ửng hồng
trong giấc mộng
lâu đã lâu
mà hương của em còn
đọng
làn hương xưa
đằm thắm - dịu dàng

 

Em theo chồng hẹn ước
bẽ bàng
ngày em đi ngập hồn tôi
giông bão.

 

Chiếc áo lụa bà ba em có nhớ?
nó còn đây như cái xác ẩn hồn
lắm lúc buồn tôi nhè nhẹ môi hôn
biết nơi đó…em ửng hồng đôi má?

 

Chiếc áo lụa bà ba dáng em
chẳng khác
lâu rất lâu
tôi luôn giữ bên mình.
 

 

Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận.

Email: vudoan0102@gmail.com.

READ MORE - CHIẾC ÁO LỤA BÀ BA - Thơ Đoàn Vũ

BÓNG CẢ RỪNG XƯA - Thơ Mặc Phương Tử

 

Hình từ trang Tintaynguyen.com

  

BÓNG CẢ RỪNG XƯA

 

Có cánh rừng xưa mùa rợp bóng

Mây ngàn về trắng nẽo trời xa.

Thâm sơn hun hút hồn u tịch,

Tiếng vọng vang cùng khắp cỏ hoa.

 

Muôn cây sừng sửng dưới trời xanh

Và tiếng muông chim rộn khắp cành.

Có những đàn voi thong thả bước,

Bạt màu sương khói, nắng mong manh.

 

Có những êm đềm những sớm trưa

Hồn xuân về tận đỉnh giao mùa.

Trăng lên bóng cả nghiêng đầu núi,

Sáng cả đường trăng hương gió lùa.

 

Thế rồi năm tháng có hay đâu

Theo dấu đường hoang, bóng dãi dầu !

Rêu nhạt mờ sương hồn cổ thụ...

Phai tàn bóng cả nẽo hoang vu !

  

Cây đã trơ cành, ngõ lạnh suông

Chim ngàn bạt cánh, gió mưa tuôn.

Đàn voi năm cũ giờ đâu nhỉ !?

Hay đã tàn theo bao nỗi buồn...!

 

Đã mấy mùa xa, đời viễn xứ

Theo từng bước nhỏ bụi đường xa.

Vẫn nghe bóng cả rừng năm cũ,

Và cả hương rừng, hương cỏ hoa.

 

                                                       South Dakota (USA), 12/2020.

                                                      MẶC PHƯƠNG TỬ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - BÓNG CẢ RỪNG XƯA - Thơ Mặc Phương Tử

PHIÊN KHÚC MÙA ĐÔNG - Thơ Trần Mai Ngân

 


PHIÊN KHÚC MÙA ĐÔNG 


Có mùa đông đi qua đi qua
Có tình yêu bay xa bay xa 
Có con chim thật thà thôi hót
Trời chẳng xanh mây xám một màu vương...

Và em dường như dường như
Không còn tha thiết nữa...không còn...
Chẳng hiểu vì sao tất cả không còn!

Bây giờ, bây giờ và ngày mai
Em mang hư vô thả về trời
Lời xưa, lời xưa không còn thanh âm nữa
Đã im rồi...cung bậc của tình yêu! 

Trần Mai Ngân
tranmaingan.2015@gmail.com
READ MORE - PHIÊN KHÚC MÙA ĐÔNG - Thơ Trần Mai Ngân

LẠI THÊM MỘT GIẢ THUYẾT MỚI TÌM MỘ QUANG TRUNG – Hoàng Hương Trang

 

Tượng vua Quang Trung
 
Từ giữa thế kỷ XX đến giờ đã có nhiều giả thuyết về mộ vua Quang Trung, do những nhà nghiên cứu sử, do những nhà nghiên cứu Huế, do câu hỏi: Mộ vua Quang Trung ở đâu? Tất cả cuộc tìm kiếm hơn nửa thế kỷ qua đều hướng về địa thế Thừa Thiên Huế và cũng chỉ hạn hẹp có chừng ấy thôi. Thật may mắn cho tôi, tuy không phải nhà nghiên cứu sử, cũng không phải nhà Huế học, nhưng tôi tự nhận mình là một người ngưỡng mộ vị Anh hùng dân tộc áo vải cờ đào.
 
Do đấy nhiều năm nay tôi đã âm thầm tìm kiếm tài liệu từ trong sử sách, từ những giai thoại trong dân gian, trong những dòng họ có liên quan đến vua Quang Trung để mong tìm ra chút ánh sáng. Nay tôi đã có tương đối một số tài liệu đáng tin cậy để hình thành bài viết này, qua những tiêu đề tạm có sau đây:

1/ Về đám tang thật và giả: 
Khi vua Quang Trung đau nặng, biết mình sẽ không qua khỏi, và tự biết Quang Toản không xuất sắc, không có tài thao lược, sợ rằng không giữ vững được nhà Tây Sơn. Tình trạng gia đình lại tranh quyền đoạt vị, mất đoàn kết nội bộ giữa Nguyễn Nhạc (Thái Đức Hoàng Đế) Nguyễn Lữ và Quang Trung. Vua đã thấy rõ đó là điều bất lợi. Trong khi đó Ngọc Hân Công Chúa vừa mang thai, chưa biết sẽ sinh trai hay gái. Bên giường bệnh thập tử nhất sinh, vua đã bí mật di ngôn cho Ngọc Hân và một vài cận thần thân tín nhất rằng sau khi vua băng hà, một mặt tổ chức đám tang giả ở Kinh Thành, một mặt bí mật ướp xác, đưa quan tài xuống thuyền, đi đường thủy, vào Phương Nam chứ không chôn cất ở Huế.

Do đấy, dân chúng, triều đình và cả quân Nguyễn Ánh đều lầm tưởng vua Quang Trung an táng ở đất Thừa Thiên Huế đâu đó, để sau này có những cuộc trả thù dã man, như đào mộ, lấy hài cốt nhốt vào cũi (bài Kiến Quang Trung linh quỹ: nhìn thấy cũi nhốt hài cốt vua Quang Trung của cụ Lê Ôn Phủ. Bài đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 10/2013 và đã đăng báo Xưa và Nay năm 2005).
Dù có thêm bài đính chính cho rõ nghĩa bài thơ, của tác giả Đinh Văn Tuấn, thì “Linh quỹ” ấy vẫn chỉ là “Linh quỹ giả” mà vua Gia Long đã nhầm lẫn. Linh cữu thật đã bí mật ướp xác (dòng họ anh em vua Quang Trung ở vùng Tây Sơn, Bình Định biết ướp xác, vợ Nguyễn Nhạc cũng đã từng được ướp xác, một phương pháp ướp xác, giữ thi thể lâu phân hủy, học được của những sắc dân thiểu số vùng rừng núi Tây Sơn cộng với cách ướp xác của người Chiêm Thành Cổ) xuống thuyền ra biển đi về phương Nam, vào sông Cửu Long, ngược sông Tiền Giang, đến tận cùng, nơi chỉ có một cụm núi to lớn hùng vĩ nhô lên giữa đất bằng hoang vu, chưa có dân chúng ở, lại gần sát biên giới Cao Miên, nếu có biến động gì xảy ra có thể dời sang đất Cao Miên cho an toàn. Đoàn thuyền dừng chân, cắm sào, quan tài được chuyển lên an táng trên đỉnh một ngọn núi to nhất, cao nhất, hoang vu nhất chưa có dấu chân người tới đó. Đấy chính là núi Cấm thuộc tỉnh An Giang ngày nay.

Như đã nói ở trên, trước khi vua băng hà, vua đã bí mật di ngôn 2 điều: Một là làm đám ma giả ở Kinh Thành thật long trọng, đúng nghi lễ, còn quan tài thật thì lặng lẽ xuống thuyền vào phương Nam. Hai là nếu công chúa Ngọc Hân sinh con trai (khi đó bà đã có thai chừng vài ba tháng) phải đổi lại họ Hồ là họ gốc (Hồ Thơm, Nguyễn Huệ, Quang Trung) vì vậy khi an táng mộ vua trên núi Cấm xong, mấy tháng sau bà Ngọc Hân sinh con trai, đặt tên là Hồ Quang Thụy, những tùy tùng trung nghĩa theo vua đều đổi họ Hồ, là cụm cư dân đầu tiên ở vùng núi Cấm, An Giang, họ đều ở xúm xít thành một xóm họ Hồ, cho đến ngày nay vẫn còn dòng tộc họ Hồ ấy ở An Giang.

Kể từ Hồ Quang Thụy, con trai của vua Quang Trung và Ngọc Hân công chúa đến nay (2013) đã truyền được 7, 8 đời, sống rải rác ở Việt Nam và nhiều nước như Pháp, Thụy Sĩ, Mỹ… (Theo phả hệ đồ của dòng Hồ Tộc Kế Thế) vua Quang Trung dặn khi đổi họ Hồ phải thêm chữ “Kế Thế”. Vì vậy từ đó ở vùng núi Cấm, An Giang có dòng họ “Hồ Tộc Kế Thế”.

Cũng theo phả hệ đồ của dòng họ Hồ thì vua Quang Trung băng hà vào giờ Tý, ngày 30 tháng 7 năm Quý Sửu (17/9/1792) Hồ Quang Thụy sinh vào khoảng tháng 3 hoặc tháng 4 năm 1793, ngày vua băng hà thì bà Ngọc Hân mới có thai khoảng vài ba tháng, tính theo âm lịch thì khoảng tháng 4 hoặc tháng 5 năm Giáp Dần 1793. Nếu đúng theo gia phả của Hồ Tộc Kế Thế ở An Giang thì mộ vua Quang Trung được chôn trên ngọn núi Cấm ở An Giang, lúc đó chưa có dấu chân người lui tới, con cháu và cận thần thân tín ở chung quanh đó giữ mộ, không muốn cho người ta biết sợ vua quan triều Nguyễn đánh hơi truy tìm ra, nên họ tìm cách phao tin trên núi có nhiều thú dữ, để không ai lên đó, nên dần dần hình thành tên núi Cấm.

Đặc biệt vua Quang Trung căn dặn khi chôn chỉ khỏa mộ bằng phẳng, không đắp nấm mồ cao lên như bình thường vẫn làm. Mộ vua khỏa bằng phẳng như mặt đất, điều đó sau này con trai của vua Quang Trung là Hồ Quang Thụy chết cũng chôn khỏa bằng mặt đất như vậy.

2/ Về vua Quang Toản: 
Vua Quang Trung băng hà, Quang Toản lên nối ngôi, lấy vợ là công chúa Lê Ngọc Bình con vua Lê Hiển Tông, em cùng cha khác mẹ với công chúa Ngọc Hân. Như vậy công chúa Lê Ngọc Bình vừa là em vợ vừa là con dâu của vua Quang Trung. Nguyễn Ánh đánh thắng Quang Toản lên ngôi vua Gia Long, đã lấy vợ Quang Toản đem vào cung làm phi, phong là Đức Phi, có với Gia Long 4 người con, 2 hoàng tử, 2 công chúa. 

Ngọc Bình sinh ngày 12 tháng 12 năm Giáp Thìn (22/1/1785). Năm Nhâm Tuất 1802 bà vào hầu Gia Long chẳng bao lâu được phong Tả Cung Tần, bà mất ngày 12 tháng 9 năm Canh Ngọ (10/10/1810) được vua Gia Long tặng là Đức Phi, Thụy là Cung Thận, an táng ở làng Trúc Lâm (Thừa Thiên Huế), nhà thờ ở làng Kim Long sau dời qua làng Phú Xuân. Hiện nay bà được thờ tại nhà thờ phòng Thường Tín. Bà cùng vua Gia Long sinh được 4 người con, 2 hoàng tử, 2 công chúa, trưởng nam là Quảng Uy Công Nguyễn Phúc Quân, thứ nam là Thường Tín Công Nguyễn Phúc Cự, trưởng nữ là An Nghĩa công chúa Ngọc Ngôn, thứ nữ là Mỹ Khê công chúa Ngọc Khuê (theo tài liệu Nguyễn Phúc tộc thế phả, chương đời thứ mười một, Nguyễn Phúc Anh (Ánh) Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế, trang 222, bộ thế phả này do Tôn Nhơn Phủ in ấn, sắp xếp từ đời Nguyễn Bặc đến đời Bảo Đại).

Cũng vì việc vua Gia Long lấy vợ vua Quang Toản nên trong dân gian có câu hát” “Sự đâu có sự lạ lùng Con vua lại lấy 2 chồng làm vua” (bà là con gái vua Lê Hiển Tông, lấy chồng trước là vua Quang Toản, chồng sau là vua Gia Long). Ngay cả việc này cũng có nhiều người đời sau sai lầm, tưởng bà Ngọc Hân công chúa bị vua Gia Long ép vào làm vợ, thật sự bà Ngọc Hân đã chết trước năm 1802 là năm Nguyễn Ánh lên ngôi vua Gia Long. Bà chết ở An Giang.
Gia Long trả thù Tây Sơn cũng đã thỏa lòng thù hận với bao nhiêu cách dã man, nào lăng trì, nào tứ mã phanh thây, nào voi dày (với nữ tướng Bùi Thị Xuân) nào đào mộ lấy xương cốt đóng vào cũi đem về Kinh Thành, cho vào cối giã nát, trộn thuốc súng cho vào nòng đại bác bắn ra biển v.v… Cuối đời vua Gia Long tự thấy đã trừ khử hết Tây Sơn, cũng đã thỏa mãn, mới thôi không trả thù nữa, tiếp theo là đời vua Minh Mạng thôi không tiếp tục truy tìm và trả thù Tây Sơn nữa.

Thật ra khi quân lính đào mả Quang Trung giả, lấy xương cốt đóng cũi đem về Kinh, cũng đã có dư luận râm ran là “giả”, nhưng Gia Long không thể tìm đâu ra nữa, vua đành chấp nhận, cứ hạ nhục, trả thù để răn đe dân chúng không còn ai dám vọng Tây Sơn, nhớ Tây Sơn nữa.

3/ Mộ bà Ngọc Hân công chúa: 
Mộ bà Ngọc Hân công chúa được an táng ở xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà được dân chúng ngưỡng mộ trọng vọng vì bà là mẹ của Phật Thầy Tây An. Mộ bà được dân chúng gọi là Đền Phật Mẫu (xem ảnh ở cuối bài). Trước đây có dư luận cho là người nhà của bà đã bí mật cải táng đem về chôn bên cạnh mộ bà mẹ ở quê hương Bắc Ninh. Nhưng xét theo sự trả thù khủng khiếp và triệt để của vua Gia Long làm sao còn sót mộ Ngọc Hân để cải táng đem về Bắc Ninh, qua mặt vua quan triều đình Nguyễn dễ dàng thế được. 

4/ Về người con của vua Quang Trung: 
Vua Quang Trung mất, bí mật đưa linh cữu về núi Cấm ở An Giang, sau đó bà Ngọc Hân sinh con trai đặt tên Hồ Quang Thụy. Lớn lên Thụy lấy vợ là Nguyễn Thị Thuyên, sinh con là Hồ Quang Điểu, nối dòng kế thế đến nay là 7, 8 đời con cháu.

Sau đó ông đi tu lấy tên là Phật Thầy Tây An, Tây An được đảo chữ An Tây để tránh sự truy lùng của triều Nguyễn. Khi Gia Long đánh thắng Tây Sơn liền cho xóa tên Tây Sơn để người dân khỏi nhớ đến Tây Sơn, ông đổi tên Tây Sơn thành An Tây, có nghĩa đã an định được nhà Tây Sơn. Do đó Phật Thầy lấy tên là Tây An. Đạo của Phật Thầy Tây An truyền khắp vùng Tây Nam Bộ. Ông đi truyền đạo, giả khùng, chèo thuyền chở khoai, nên dân chúng gọi là Ông Đạo Khùng, Ông Đạo Khoai. Giáo lý của ông cốt yếu thờ Tứ Ân (Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân tam bảo, Ân đồng bào nhân loại) ông cũng làm thuốc chữa bệnh cho dân nghèo, ông còn tránh né họ gốc là họ Hồ, đặt thêm tên giả là Đoàn Minh Huyên – Ông lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có ẩn ý: Bửu Sơn là Núi Quý nghĩa là Tây Sơn. Kỳ Hương là Hương Lạ nghĩa là Hồ Thơm. Như vậy Bửu Sơn Kỳ Hương là ẩn ngữ của 4 chữ “Tây Sơn Hồ Thơm”

Về sau đạo này kết hợp với đạo Hòa Hảo truyền dạy đạo lý khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ – Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không thờ Phật, Thánh, không thờ hình tượng gì cả, chỉ thờ duy nhất một tấm vải đỏ đó chính là cờ đào của vua Quang Trung. Người dân theo đạo chỉ mặc áo vải thô sơ lam lũ, chứng tỏ thầy làm cho gợi nhớ “Áo vải cờ đào”, chính là đời sống của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Thầy chú tâm dạy dân khai hoang làm ruộng, đã lập ra nhiều khu dinh điền ở vùng Đồng Tháp Mười, vùng An Giang, Châu Đốc, Long Xuyên. Khi chết ông dặn con cháu chôn trên núi Cấm và cũng không cho đắp nấm mồ, chỉ khỏa đất bằng. 

Trên núi Cấm có chùa của Phật Thầy Tây An, có giả thuyết cho rằng chính mộ vua Quang Trung chôn ở dưới nền chính điện, xây chùa lên trên để đánh lạc hướng truy tìm của triều Nguyễn. Trên hành trình đi ra truyền đạo trong dân chúng, ông đã bị chính quyền nghi ngờ “Gian đạo sĩ” làm “chính sự” bị bắt nhốt, sau xét không có chứng cớ phải thả ông ra. Đạo của ông không cần ăn chay, không cạo râu cắt tóc, không gõ mõ tụng kinh, mặc dầu ông cũng thờ Tam Bảo, không thờ tượng, chỉ thờ một tấm vải trần điều màu đỏ, không cúng bái tốn kém, chỉ cúng nước lã và vài bông hoa đơn giản. Do đấy đạo Bửu Sơn Kỳ Hương thích hợp với đời sống dân nghèo, tên tuổi Phật Thầy Tây An rất được dân chúng miền Tây Nam Bộ tôn sùng. Ông viên tịch ngày 10 tháng 9 năm 1856, thọ 63 tuổi. Ông cũng di ngôn cho con cháu chôn sau chùa Tây An gần mộ vua cha, cũng không đắp nấm mồ cao, chỉ khỏa bằng mặt đất.

Ông để lại nhiều quyển Kinh Kệ và để lại nhiều đệ tử giỏi nối đạo cho tới bây giờ. 

5/ Dòng Hồ Tộc Kế Thế ở An Giang: 
Bốn chữ Hồ Tộc Kế Thế là do di ngôn của vua Quang Trung dặn trước khi băng hà. Đời thứ nhất đổi ra họ Hồ là Hồ Quang Thụy tức Phật Thầy Tây An. Quang Thụy sinh ra Hồ Quang Điểu là đời thứ 2. Hồ Quang Điểu sinh ra 5 trai 1 gái là Hồ Văn Đức, Hồ Văn Ngưu, Hồ Văn Nhu, Hồ Văn Sây, Hồ Văn Chánh và Hồ Thị Suốt đó là đời thứ 3. Đời thứ 3 này tuy con cháu đông nhưng chủ yếu chỉ làm ruộng, chài lưới, chỉ duy nhất phát triển về học hành nhờ nhánh Hồ Văn Sây. Đời thứ 4 từ Hồ Văn Sây sinh ra con đàn cháu đống khá đông đúc trong đó có 2 chi nổi trội hơn cả đó là chi của Học giả, nhà văn Hồ Hữu Tường và chi của kiến trúc sư, kỹ sư, thể tháo gia Hồ Văn Hoài.

Ông Hồ Hữu Tường ở miền Nam trước 1975 rất nổi tiếng, ông tốt nghiệp cử nhân ở Pháp, về Sài Gòn vừa dạy học vừa viết báo, viết sách. Ông đã trước tác một bộ sách gồm 3 cuốn dưới dạng văn trào phúng pha lịch sử đó là: Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc náo Huê Kỳ, Phi Lạc bỡn Nga. Cuốn Phi Lạc sang Tàu đã xuất bản trước 1975 ở Sài Gòn rất nổi tiếng, gây chú ý cho độc giả, 2 cuốn còn lại chưa in, không biết hiện nay con cháu ông còn lưu giữ không? Trước 1975 ông có ứng cử dân biểu hạ viện, vì vậy sau 30 tháng 4 năm 1975 ông đi cải tạo học tập chính trị một thời gian, vì tuổi cao sức yếu, nhà nước cho về nhà, nhưng ông đã chết trên đường về (trên xa lộ Sài Gòn Biên Hòa, nay là xa lộ Hà Nội). Ông có 2 vợ, một ở Sài Gòn, một ở Pháp, cả 2 bà đã sinh ra thêm 3 đời con cháu và chắt.

Ông Hồ Văn Hoài là em ông Hồ Hữu Tường, lúc nhỏ cha chết sớm, ông sống cùng mẹ làm ruộng ở An Giang, sau đó học ở Collège Cần Thơ, rồi lên học ở Sài Gòn, học kiến trúc với một kiến trúc sư người Pháp, ngoài nghề kiến trúc, ông có năng khiếu nghiên cứu nhiều đề tài ngành nghề công nghệ thuở ấy còn ít người biết, ông lại có năng khiếu thể thao, nổi tiếng bộ môn bơi lội, đã đạt nhiều huy chương, đã thi đấu cùng các vận động viên Đông Dương và người Pháp. Ông Hoài ở cùng cha mẹ tại quê nhà, còn ông Tường ở Sài Gòn xa cha mẹ, vì vậy trước khi cha chết đã kể lại cho ông về dòng họ Hồ Tộc Kế Thế, và sau này ông là người viết lại cuốn hồi ký “Thăng trầm giữa dòng đời” đây là một cuốn hồi ký viết về cuộc đời ông và gốc gác dòng họ Hồ ở An Giang, trong đó có nhiều tài liệu về vua Quang Trung, Ngọc Hân công chúa, về núi Cấm ở An Giang, về đám ma giả của vua ở Huế, và ngôi mộ thật trên núi Cấm ở An Giang, về ngôi mộ Ngọc Hân công chúa, về cuộc đời Phật Thầy Tây An Hồ Quang Thụy và về đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Kể từ đứa con của vua Quang Trung và Ngọc Hân công chúa sinh tại An Giang đến nay đã nối dõi 7, 8 đời.

Như vậy, nếu đây là một giả thuyết đáng tin cậy, sau này các nhà nghiên cứu Sử sẽ tìm ra mộ vua Quang Trung, thì thật đáng vui mừng, có thể ở đâu đó, dưới nền chùa, xung quanh đỉnh núi… người anh hùng của dân tộc vẫn còn con cháu nối dõi tới bây giờ, chứ không phải đã bị tuyệt diệt dưới sự trả thù tàn bạo của vua Gia Long. Ước mong điều này sẽ thành hiện thực.

Xin được gom góp tài liệu viết thành bài công bố trên báo chí để rộng đường dư luận, nhất là đáp ứng được phần nào những trăn trở lâu nay của những người ngưỡng mộ vị anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung Nguyễn Huệ, đã lừng lẫy chiến công tốc chiến tốc thắng đánh tan 30 vạn quân Thanh ở Hà Nội và đánh tan quân Xiêm La cùng quân Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà ở Rạch Gầm Xoài Mút, người đã xóa được biên giới sông Gianh phân chia Trịnh Nguyễn, cho Đàng Ngoài và Đàng Trong nối liền một dải. Người xưa đã nói: “Anh Hùng Đoản Mệnh” đó là điều đáng tiếc, như “một vì sao sáng không ở lâu trên bầu trời”. (Hiện nay vùng núi Cấm ở An Giang đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng, ngoài núi non hùng vĩ có các loại cây gỗ quý, các loại cây thuốc quý, có đất Cao Lanh, đá xây dựng, nhất là gần đây có tượng Phật Di Lặc của điêu khắc gia Thụy Lam được sách kỷ lục VN công nhận cao 33,6m bằng chiều cao của tòa nhà 12 tầng ngự trên đỉnh núi, lại có tượng Phật Bà Quan Âm cao 26,5m cùng nhiều chùa chiền thanh tịnh, đã thu hút khách thập phương đến chiêm bái. Núi Cấm có chiều cao 50 trượng (705m) chu vi hơn 20 dặm (khoảng 28.600m) (Theo Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Đại Nam nhất thống chí biên soạn vào thế kỷ XIX).

Riêng đời cháu thứ 3 là Hồ Hữu Tường, với giọng văn trào phúng đặc biệt của ông làm ta liên tưởng đến năng khiếu trào lộng của Nguyễn Huệ từ lúc nhỏ đã rất thích đóng vai hề trên sân khấu hát bội Bình Định. Đến lúc đã lên ngôi Hoàng Đế Quang Trung cũng vẫn còn cái năng khiếu bẩm sinh ấy, ông đã diễu cợt tặng cho vua nhà Thanh một con voi cắt cụt vòi khi vua nhà Thanh khâm phục đội chiến tượng của vua Quang Trung và xin ông một con voi. Ông cũng đã cho một Quang Trung giả đi sứ sang nhà Thanh, vậy mà nhà Thanh sợ ông sẽ tiến đánh đòi đất Lưỡng Quảng bèn hứa gả công chúa cho vua Quang Trung để cầu lấy hòa bình. Công chúa nhà Thanh đã dâng tín vật là một con gà mái ấp bằng vàng ròng chạm trổ tinh vi.

Theo tài liệu cuốn “Thăng trầm giữa dòng đời” của Hồ Văn Hoài, tín vật ấy vua Quang Trung giao cho Ngọc Hân giữ, Ngọc Hân lúc cuối đời đã trao lại cho con trai là Hồ Quang Thụy, sau này Quang Thụy trao lại cho con cháu để đi tu, đến đời Hồ Quang Điểu còn thấy tín vật ấy xuất hiện trong gia đình ông, sau đó đến đời con cháu sau đã không còn, không biết đến nay con cháu nào của Hồ Tộc Kế Thế đã giữ tín vật của công chúa nhà Thanh, hay đã lưu lạc phương nào, sau quãng thời gian dài 3 thế kỷ với bao nhiêu biến động và chiến tranh xảy ra trên đất nước ta. Mong một ngày nào đó sẽ được làm sáng tỏ.
 
                                           Hoàng Hương Trang
                                      Sài Gòn tháng 10 năm 2013

Tài liệu tham khảo:

1/ Mạng Bách khoa toàn thư
2/ Phả hệ đồ dòng họ Hồ ở An Giang
3/ Lịch sử và địa lý tỉnh An Giang
4/ Sách “Thăng trầm giữa dòng đời” hồi ký của Hồ Văn Hoài
5/ Cùng những giai thoại dân gian từ Thừa Thiên Huế và An Giang 

READ MORE - LẠI THÊM MỘT GIẢ THUYẾT MỚI TÌM MỘ QUANG TRUNG – Hoàng Hương Trang

CẢM NHẬN NGẮN VỀ BÀI THƠ “NÓI VỚI MẸ, MÙA XUÂN” – Đặng Xuân Xuyến

 

   


NÓI VỚI MẸ - MÙA XUÂN
 
Chiều nay về con cùng ngồi với Mẹ
Con nói nhiều mà Mẹ chỉ lặng im
Khói hương bay qua năm tháng nỗi niề
Con không khóc cho Mẹ vui trọn vẹn
 
Trong di ảnh mắt Mẹ nhìn xa lắm
Như mông mênh... con ở lại thế nào
Dẫu đắng cay xin vẫn lấy ngọt ngào
Trên mây trắng Mẹ yên tâm siêu thoát
 
Chiều nắng tắt chẳng muốn rời xa Mẹ
Đôi mắt con, đôi mắt Mẹ vẫn nhìn
Sao dưng không con lại khóc một mình
Năm sắp hết... chín Xuân liền vắng Mẹ!
 
Con về nhà đây - đường buồn quạnh quẽ
Dáng đơn côi con bước nốt cuộc đời
Năm sắp hết nhà mình sẽ đón Tết
Hoa đầy nhà hương tỏa mãi ngày xưa!
 
                                    Trần Mai Ngân
 
 

   


CẢM NHẬN NGẮN 
VỀ BÀI THƠ “NÓI VỚI MẸ - MÙA XUÂN”       
                                              Đặng Xuân Xuyến
 
Tôi gặp lại tiếng thơ nỗi lòng của Trần Mai Ngân khi đọc “Nói Với Mẹ - Mùa Xuân”. Vẫn là cách viết đơn giản, không có gì đặc biệt, chỉ là những câu tự sự bình thường, những câu thơ chị thủ thỉ chuyện trò với di ảnh của Mẹ:
 
“Chiều nay về con cùng ngồi với Mẹ
Con nói nhiều mà Mẹ chỉ lặng im”

Vâng, chỉ thủ thỉ vậy thôi mà nghe những xót xa, những chất chứa hờn tủi. Lạ thế. Đọc những câu thơ mộc mạc, chân chất, không hề sử dụng chữ nào diễn tả sự hờn tủi, xót xa mà lòng lại trĩu nặng nỗi buồn, lại thấy xót xa cảnh cút côi vì vắng Mẹ? Đó là sự khéo léo dùng thi ảnh để lấy xúc động nơi người đọc của Trần Mai Ngân hay đấy là tiếng đích thực chân thành của con tim mà câu thơ chị viết mới dễ dàng chạm được vào trái tim người đọc?! Có lẽ thơ của chị được viết bằng những cảm xúc thật nên những câu thơ mộc mạc tự nhiên, không uốn éo làm dáng mới gây được xúc động nơi bạn đọc.
 
Thì đây, vẫn là những câu chị thủ thỉ với di ảnh Mẹ mà sao cứ nhoi nhói tâm can người đọc:
 
“Sao dưng không con lại khóc một mình
Năm sắp hết... chín Xuân liền vắng Mẹ!”
 
Trần Mai Ngân lấy nước mắt bạn đọc ở những câu thơ “nỗi lòng” như thế. Tôi yêu thơ chị có lẽ cũng bởi cái duyên thầm từ những câu thơ như vậy.
 
                           Hà Nội, ngày 03 tháng 12-2020
                                      Đặng Xuân Xuyến

READ MORE - CẢM NHẬN NGẮN VỀ BÀI THƠ “NÓI VỚI MẸ, MÙA XUÂN” – Đặng Xuân Xuyến

Sunday, December 6, 2020

ĐI TÌM KHÚC ĐỒNG DAO – Thơ Tịnh Bình

 


ĐI TÌM KHÚC ĐỒNG DAO
 
Nắng và gió...
Cánh đồng xưa hoang hoải
Cánh chuồn bay vệt ký ức xa mờ
Chân đất đầu trần tuổi thơ mê mải
Chấp chới bên trời con diều giấy ngây thơ
 
Lạc về đâu sợi khói vu vơ ?
Chái bếp quê mùi cơm sôi thầm lặng
Lá tre khô rơi xoay phiến nắng
Bà lom khom gom lá đốt sau vườn
 
Trôi về đâu tản mác mấy dòng thương
Sông quê mẹ phận phù sa bồi đắp
Chợt ngơ ngác giữa dòng đời tấp nập
Khúc đồng dao con mãi đi tìm...
 
Mùa gió cũ lang thang trong hoài niệm
Bờ ao xưa hoa khế rụng khẽ khàng
Xa lắc mãi một thời tuổi dại
Trắng vườn chiều mưa ướt tiếng chim loang...
 
                                                     Tịnh Bình
                                                    (Tây Ninh)

READ MORE - ĐI TÌM KHÚC ĐỒNG DAO – Thơ Tịnh Bình

NỖI NHỚ DÃ QUỲ – Thơ Nguyên Lạc



NỖI NHỚ DÃ QUỲ
 
Sợi khói lam bay vướng hồn cô lữ
Đã bao năm rồi không thấy hoa xưa
Cali phố người đèn xanh đèn đỏ
Tôi nhớ Quỳ vàng Đà Lạt mộng mơ
 
Bao năm lưu đày chiều nay muốn khóc
Mà khóc làm sao nước mắt đã khô?
Góc vắng cà-phê khói cay đôi mắt
Tôi nhớ người ơi Đà Lạt sương mù!
 
Tôi nhớ người ơi vàng rực Dã Quỳ
Màu hoa tôi yêu màu áo tình si
Mùa đã đến rồi em ơi có nhớ?
Đà Lạt biệt li, nụ hôn Cam Ly *
 
                           Nguyên Lạc
………

* Thác Cam Ly, Đà Lạt

READ MORE - NỖI NHỚ DÃ QUỲ – Thơ Nguyên Lạc

THÁNG MƯỜI - Thơ Louise Glück, Nguyễn Đức Tùng dịch


                     Nhà thơ Louise Glück


Louis Glück sinh ở thành phố New York năm 1943, lớn lên ở Long Island, theo học tại Sarah Lawrence College và Columbia University. Bà được xem là một trong những nhà thơ Mỹ lớn nhất hiện nay, với một bút pháp điêu luyện, khắc khổ, nhạy cảm. Thơ nói về tình yêu gia đình, về nỗi cô đơn, các bi kịch hôn nhân, ly dị, cái chết. Bà là tác giả của mười ba tập thơ, từ First born, Sinh đầu lòng, tập thơ đầu, đến The Garden, Khu vườn, 1976, từ Ararat 1990 đến The wild iris, Diên vĩ hoang dại, 1992, tác phẩm được giải thưởng Pulitzer. Năm 2003, bà trở thành thi sĩ công huân của Hoa Kỳ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thơ của bà đen tối, cô đọng, nối tiếp truyền thống từ Emily Dickinson đến Elizabeth Bishop. Tập thơ A village life, Đời sống làng quê, là một sự chuyển đổi từ khuynh hướng tối thiểu đến những câu thơ dài, theo lối kể chuyện, tươi tắn hơn, được xem là một thành công nổi bật. Ngoài sáng tác, bà cũng là một nhà phê bình, như hầu hết các nhà thơ đương đại tài năng ở Hoa Kỳ. Tập tiểu luận Proofs and Theories, Bằng chứng và lý thuyết, 1994, theo tôi là một tác phẩm đặc sắc. Tập thơ mới nhất của bà, Faithful and virtuous night, Đêm trung thành và cao quý, đầu năm 2020, được độc giả nồng nhiệt đón nhận. Tháng Mười, 2020, bà nhận giải thưởng Nobel văn học, về điều mà Hàn Lâm Viện Thụy Điển gọi là "một tiếng nói thơ ca không thể nhầm lẫn về cái đẹp khắc khổ khiến cho những kinh nghiệm tồn tại cá nhân trở thành phổ cập ".

Bài thơ October, Tháng Mười, dài như một trường ca, gồm sáu phân khúc, được viết vài năm sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, là phản ứng và suy tư của nhà thơ về sự kiện bi thảm này của nước Mỹ và của nhân loại.
Glück đứng ở trung tâm của thời gian không phải với một xúc cảm thô ráp hay với sự bỏ rơi ngôn ngữ, mà với một câu hỏi khẩn cấp không bao giờ tàn lụi về tâm hồn.

                                                   Nguyễn Đức Tùng
 
THÁNG MƯỜI

1.
Mùa đông tới, chẳng phải trời sắp lạnh,
Chẳng phải Frank vừa ngã trượt trên băng,
Chân anh ấy lành chưa, chẳng phải hạt giống mùa xuân
Đã có người gieo xuống
 
Đêm chẳng hết rồi sao
Băng giá tan kia mà
Chảy tràn qua đường máng hẹp
 
Xác thân em
Được giải thoát rồi sao, chẳng phải nó đã an toàn
 
Chẳng phải vết thương lành sẹo, nhìn không thấy nữa
Trên những chấn thương kia
 
Kinh hoàng lạnh lẽo,
Chẳng phải chúng kết thúc, và khu vườn sau
Đất đã cày bừa, trồng tỉa
 
Em nhớ cảm giác chạm tay vào đất, đỏ và đặc quánh
Những luống đất cứng, hạt nẩy mầm
Chẳng phải dây nho đã leo quanh tường phía nam
 
Em không nghe được tiếng nói của anh
Trong tiếng gào của gió, gió thổi qua mặt đất trống
 
Em cũng không quan tâm nữa
Tiếng của nó bây giờ ra sao
 
Khi em đã buộc phải im lặng, thật vô nghĩa
Ngồi mà tả âm thanh ấy
 
Một thứ tiếng không thể nào thay đổi được
Chẳng phải đêm đã tàn, chẳng phải đất
An toàn hơn khi mùa màng gieo xuống
 
Chẳng phải chúng ta đã rắc
Những hạt cần thiết cho đất đó sao
Những giàn nho, chúng được thu hoạch rồi, không phải thế sao?
 
2.
Mùa hè này đến mùa hè khác
Đã kết thúc, sau bạo lực:
Không cần thiết cho em
Bây giờ hóa ra tốt đẹp
Khi bạo lực thay đổi em
 
Ngày rạng. Ngọn đồi tỏa sáng
Ngay cả cánh đồng chói chang, em biết điều em thấy; mặt trời này
Có thể là mặt trời tháng Tám, đem trả lại
Những thứ nó mang đi-
 
Anh có nghe giọng nói này không?
Đó là giọng của tâm trí em
Anh không thể chạm vào thân xác em được nữa
Nó thay đổi một lần rồi, nó đã cứng lại
Đừng tìm cách khêu gợi mãi
 
Một ngày như một ngày mùa hạ xưa.
Đứng im sững. Hàng cây phong đổ bóng dài
Tựa như hoa trên đường lát sỏi.
Vào buổi tối, ấm áp. Đêm như đêm mùa hạ
 
Không có gì tốt cho em cả;
Bạo lực làm em thay đổi
Thân xác em trở nên lạnh giá như cánh đồng bị xâm phạm; giờ đây
Chỉ còn tâm trí, cảnh giác và thận trọng,
Với giác quan đã thử nghiệm xong.
 
 
Một lần nữa, mặt trời mọc hừng đông như từng mọc mùa hè
Tưởng tượng, nuôi nấng sau bạo lực
Thơm ngát mùi dược thảo, khi những chiếc lá đổi màu sau khi cánh đồng
Thu hoạch xong, quay vòng.
 
Hãy nói đây là tương lai
Em không tin được anh.
Hãy nói em đang sống,
Em không tin được anh.
 
3.
Tuyết rơi. Em nhớ lại
Âm nhạc trong cửa sổ mở rộng.
 
Hãy đến với tôi, bạn ơi, thế giới bảo.
Không chính xác như thế
Nhưng em nhận ra vẻ đẹp trong lời nói ấy
 
Rạng đông. Lớp màng ẩm mong manh
Của cơ thể sống. Ánh sáng lạnh lung linh
Hình thành trong máng xối.
 
Em đứng đó
Trong ngưỡng cửa, có vẻ kỳ khôi.
Điều gì người khác tìm ra trong nghệ thuật
Em chỉ thấy có thật trong thiên nhiên.
Những gì người khác tìm ra
Trong tình người, em chỉ nhìn ra trong cây cỏ.
Giản đơn có vậy. Nhưng không có tiếng người ở đó.
Mùa đông qua. Trong bùn đất tan băng
Một ít màu xanh đang đâm chồi.
 
Hãy đến đây bạn ơi, thế giới nói. Em đứng lên
Áo choàng len, trên cánh cổng -
Cuối cùng em có thể nói
Lâu lắm rồi; nó mang lại niềm vui. Cái đẹp
Người chữa bệnh, người thầy giáo - cái chết không làm em thương tổn
Nhiều hơn anh đã làm em thương tổn, cuộc sống dấu yêu ơi
 
4.
Ánh sáng đổi thay;
Nốt nhạc đô C đã chuyển màu đen
Và bài hát ban mai hát lại nhiều lần-
 
Đây là ánh sáng mùa thu, không phải mùa xuân.
Ánh sáng mùa thu: không ai thoát
Bài hát đổi thay; điều không thể nói
Đã nhập vào chúng
 
Đâu là ánh sáng mùa thu, nay không còn sáng, đã từng nói
Tôi vừa được tái sinh
Không phải bình minh xuân: em căng thẳng, đớn đau, em được sinh ra
Đây là hiện tại, ngụ ngôn về lãng phí
Nhiều thứ đổi thay. Và rồi bạn còn may mắn
Vết bỏng dịu dàng kia như cơn sốt
Hay chẳng hề giống cơn sốt,
Mà giống một trái tim thứ hai.
 
Những bài hát đổi thay nhưng thực ra vẫn còn đẹp lắm.
Chúng được nén lại trong không gian bé nhỏ, không gian tâm trí.
Chúng tối đi, giờ đây hoang tàn, đau khổ
Và những nốt nhạc kia trở lại. Chúng lơ lửng lạ kỳ
Đoán rằng sự im lặng sẽ tới
Tai quen với chúng. Mắt quen với biến ảo khôn cùng
 
Bạn sẽ không thoát đâu, điều gì bạn yêu thương cũng thế
Ngọn gió đã tới và sẽ ra đi làm tâm trí ta tan rã
Và để lại đốm sáng lạ kỳ ở đó.
 
Anh đã được ưu tiên biết bao, được phép bám chặt vào
Điều anh yêu mến
Sự thất vọng không phá hủy được anh.
 
Người nhạc trưởng, điệu buồn
Đây là ánh sáng mùa thu; chiếu rọi chúng ta
Quả là đặc ân khi bạn đã đi tới cuối đường
Tấc lòng vẫn đinh ninh những niềm tin thuở trước.
 
5.
Chúng ta thiếu cái đẹp cho thế gian này.
Đúng là em không thể nào khôi phục lại.
Cũng không đủ sự trung thực, ở đây em trở nên hữu dụng.
 
Em làm việc, mặc dù im lặng
Sự khốn cùng nhạt nhẽo của thế giới
Bao bọc chúng ta, trong ngõ hẻm
Giữa những hàng cây; chúng ta là
Bè bạn ở đây, không ai nói ra
 
Những suy nghĩ của mình
Phía sau hàng cây, sau những cánh cửa sắt
Của những căn nhà kín đáo ẩn mật, căn phòng đóng cửa
Đôi khi bị bỏ lại, hoang tàn như thể bổn phận người nghệ sỹ
Là tạo ra hy vọng, nhưng tạo ra từ đâu chứ, mà từ cái gì?
 
Chữ, chính nó đấy
Là giả dối, một thiết bị loại trừ
Cảm nhận ư- chỗ ngã tư
Ánh sáng trang hoàng của mùa màng
 
Ở đây em còn trẻ. Đi xe
Điện ngầm, cuốn sách nhỏ trên tay
Như để tự vệ, để chống lại
Cùng một thế giới ấy:
 
Bạn không đơn độc
Bài thơ nói,
Trong đường hầm tối đen như mực.
 
6.
Độ sáng của ngày trở thành
Độ sáng của đêm; lửa trở thành tấm gương
Bạn tôi ơi trái đất trở thành cay đắng mất rồi; tôi nghĩ
Mặt trời đánh bại thế giới
Cay đắng hay mệt mỏi, thật khó mà học hỏi.
 
Ở giữa trái đất và mặt trời
Một điều gì đã kết thúc.
Bây giờ trái đất muốn đi một mình; tôi nghĩ chúng ta nên dừng lại
Không nên tìm cách trở về với nó để tìm lời an ủi.
 
Trên những cánh đồng,
Trên những mái nhà làng quê
Ánh sáng từng làm nên sự sống
Đã trở thành những ngôi sao lạnh lẽo.
 
Hãy nằm im và nhìn:
Chúng không trao tặng điều gì, không hỏi han chi
 
Từ bên trong trái đất
Nỗi căm giận đắng cay
Lạnh lẽo và cằn cỗi
 
Vầng trăng, bạn tôi, đang tỏa sáng:
Cô nàng xinh đẹp quá đêm nay, ai biết khi nào không xinh đẹp nữa?
 
                                     Nguyễn Đức Tùng dịch    
                        

OCTOBER

1.
Is it winter again, is it cold again,
didn’t Frank just slip on the ice,
didn’t he heal, weren’t the spring seeds planted
didn’t the night end,
didn’t the melting ice
flood the narrow gutters
wasn’t my body
rescued, wasn’t it safe
didn’t the scar form, invisible
above the injury
terror and cold,
didn’t they just end, wasn’t the back garden
harrowed and planted–
I remember how the earth felt, red and dense,
in stiff rows, weren’t the seeds planted,
didn’t vines climb the south wall
I can’t hear your voice
for the wind’s cries, whistling over the bare ground
I no longer care
what sound it makes
when I was silenced, when did it first seem
pointless to describe that sound
what it sounds like can’t change what it is–
didn’t the night end, wasn’t the earth
safe when it was planted
didn’t we plant the seeds,
weren’t we necessary to the earth,
the vines, were they harvested?
.
2.
Summer after summer has ended,
balm after violence:
it does me no good
to be good to me now;
violence has changed me.
Daybreak. The low hills shine
ochre and fire, even the fields shine.
I know what I see; sun that could be
the August sun, returning
everything that was taken away —
You hear this voice? This is my mind’s voice;
you can’t touch my body now.
It has changed once, it has hardened,
don’t ask it to respond again.
A day like a day in summer.
Exceptionally still. The long shadows of the maples
nearly mauve on the gravel paths.
And in the evening, warmth. Night like a night in summer.
It does me no good; violence has changed me.
My body has grown cold like the stripped fields;
now there is only my mind, cautious and wary,
with the sense it is being tested.
Once more, the sun rises as it rose in summer;
bounty, balm after violence.
Balm after the leaves have changed, after the fields
have been harvested and turned.
Tell me this is the future,
I won’t believe you.
Tell me I’m living,
I won’t believe you.
.
3.
Snow had fallen. I remember
music from an open window.
Come to me, said the world.
This is not to say
it spoke in exact sentences
but that I perceived beauty in this manner.
This is not to say
it spoke in exact sentences
but that I perceived beauty in this manner.
This is not to say
it spoke in exact sentences
but that I perceived beauty in this manner.
Sunrise. A film of moisture
on each living thing. Pools of cold light
formed in the gutters.
I stood
at the doorway,
ridiculous as it now seems.
What others found in art,
I found in nature. What others found
in human love, I found in nature.
Very simple. But there was no voice there.
Winter was over. In the thawed dirt,
bits of green were showing.
Come to me, said the world. I was standing
in my wool coat at a kind of bright portal —
I can finally say
long ago; it gives me considerable pleasure. Beauty
the healer, the teacher —
in my wool coat at a kind of bright portal —
I can finally say
long ago; it gives me considerable pleasure. Beauty
the healer, the teacher —
in my wool coat at a kind of bright portal —
I can finally say
long ago; it gives me considerable pleasure. Beauty
the healer, the teacher —
death cannot harm me
more than you have harmed me,
my beloved life.
.
4.
The light has changed;
middle C is tuned darker now.
And the songs of morning sound over-rehearsed. —
This is the light of autumn, not the light of spring.
The light of autumn: you will not be spared.
The songs have changed; the unspeakable
has entered them.
This is the light of autumn, not the light that says
I am reborn.
Not the spring dawn: I strained, I suffered, I was delivered.
This is the present, an allegory of waste.
So much has changed. And still, you are fortunate:
the ideal burns in you like a fever.
Or not like a fever, like a second heart.
The songs have changed, but really they are still quite beautiful.
They have been concentrated in a smaller space, the space of the mind.
They are dark, now, with desolation and anguish.
And yet the notes recur. They hover oddly
in anticipation of silence.
The ear gets used to them.
The eye gets used to disappearances.
You will not be spared, nor will what you love be spared.
A wind has come and gone, taking apart the mind;
it has left in its wake a strange lucidity.
How priviledged you are, to be passionately
clinging to what you love;
the forfeit of hope has not destroyed you.
Maestro, doloroso:
This is the light of autumn; it has turned on us.
Surely it is a privilege to approach the end
still believing in something.
.
5.
It is true that there is not enough beauty in the world.
It is also true that I am not competent to restore it.
Neither is there candor, and here I may be of some use.
I am
at work, though I am silent.
The bland
misery of the world
bounds us on either side, an alley
lined with trees; we are
companions here, not speaking,
each with his own thoughts;
behind the trees, iron
gates of the private houses,
the shuttered rooms
somehow deserted, abandoned,
as though it were the artist’s
duty to create
hope, but out of what? what?
the word itself
false, a device to refute
perception — At the intersection,
ornamental lights of the season.
I was young here. Riding
the subway with my small book
as though to defend myself against
the same world:
you are not alone,
the poem said,
in the dark tunnel.
the poem said,
in the dark tunnel.
the poem said,
in the dark tunnel.
.
6.
The brightness of the day becomes
the brightness of the night;
the fire becomes the mirror.
My friend the earth is bitter; I think
sunlight has failed her.
Bitter or weary, it is hard to say.
Between herself and the sun,
something has ended.
She wants, now, to be left alone;
I think we must give up
turning to her for affirmation.
Above the fields,
above the roofs of the village houses,
the brilliance that made all life possible
becomes the cold stars.
Lie still and watch:
they give nothing but ask nothing.
From within the earth’s
bitter disgrace, coldness and barrenness
my friend the moon rises:
she is beautiful tonight, but when is she not beautiful

                                             Louise Glück

READ MORE - THÁNG MƯỜI - Thơ Louise Glück, Nguyễn Đức Tùng dịch