Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 12, 2024

MỞ MẮT CHIÊM BAO, QUÊ NHÀ THÁNG CHẠP – Thơ Tịnh Bình



            Nhà thơ Tịnh Bình

 
MỞ MẮT CHIÊM BAO
 
Mây trưa vờn lối mộng
Mưa khuya vỗ về lòng
Không thương và chẳng ghét
Chuyện đời mặc đục trong
 
Về đâu giọt nước nhỏ
Mưa ngân ngấn thành dòng
Tìm chi mây hôm trước
Đã tan vào trăm sông
 
Bình minh ta đâu hẹn
Giấc mơ đêm sắp tàn
Người mê hay kẻ tỉnh
Khách phong trần lang thang
 
Từng bước chân nhẫn nại
Cơn sóng đời lao xao
Bao giờ buông ảo vọng
Mở mắt nhìn chiêm bao...
 
 
QUÊ NHÀ THÁNG CHẠP
 
Chưa xuân đã đến tháng Chạp rồi
Vòng xoay năm mới lại bâng khuâng
Đông còn mê mải vùi sương trắng
Vàng chưa hoa cải bến sông giăng
 
Bãi bờ lau sậy run trong gió
Đò quê quang gánh mẹ chợ đông
Bờ tre thức sớm lời chim gọi
Nắng non lấp lóa tỏa ánh hồng
 
Cánh đồng thiêm thiếp xanh giấc mạ
Bên đường màu hoa dại đơm bông
Cuối năm khúc gió dường hoang hoải
Góc quê nhà thầm lặng thương mong
 
Gửi mây trắng lời chi hò hẹn
Cội mai già thay áo đôi mươi
Con chim khách ríu ran đầu ngõ
Tết đến thật gần tháng Chạp ơi!
 
                                 Tịnh Bình
                                (Tây Ninh)

READ MORE - MỞ MẮT CHIÊM BAO, QUÊ NHÀ THÁNG CHẠP – Thơ Tịnh Bình

Thursday, January 11, 2024

PHẠM CẢNH THƯỢNG, MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC - Khê Giang




PHẠM CẢNH THƯỢNG

MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC

Khê Giang 


Những năm gần đây trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết phân tích cảm nhận về âm nhạc của tác giả Phạm Cảnh Thượng, đây là những bài viết đã để lại dấu ấn trong lòng công chúng và đang có sức lan tỏa  trên mạng xã hội. 

Rất nhiều người muốn tìm hiểu về nhân vật này, không biết Phạm Cảnh Thượng là ai: nhạc sỹ, nhà văn hay nhà phê bình lý luận âm nhạc?

Xin thưa, ông là một người “ngoại đạo” về âm nhạc lẫn văn chương, ông không theo học hay có một bằng cấp gì liên quan đến hai lĩnh vực này và tất nhiên cũng không tham gia công tác gì liên quan về mảng văn học nghệ thuật. Ông chỉ là một bác sỹ y khoa.

Phạm cảnh Thượng sinh ra và lớn lên tại làng An Thơ thuộc xã Hải Hòa cũ nay là xã Hải Phong, huyện Hải Lăng , tỉnh Quảng Trị, một ngôi làng nhỏ bên bờ bắc của con sông Ô Lâu thơ mộng, gần làng Phú Kinh của ca sỹ Lê Thu Uyên và đối diện quê hương nhà thơ Thanh Hải (bờ Nam sông Ô Lâu – thuộc Thừa Thiên - Huế).

Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, Phạm Cảnh Thượng học giỏi cả hai nhóm bộ môn tự nhiên và xã hội. Ông tốt nghiêp trường Đại học Y khoa Huế năm 1990. Sau khi ra trường Phạm Cảnh Thượng vào làm việc tại Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ông có niềm đam mê âm nhạc một cách kỳ lạ, ông mê mẫn nó như một tín đồ ngoan đạo chiêm nghiệm thánh kinh, nói về nghề nghiệp hay ngôn ngữ dân gian thì ông là một con nghiện ở cấp độ “ không có thuốc chữa”. Ngoài công việc chuyên môn, hầu như ông không có thú tiêu khiển hay giải trí nào ngoài âm nhạc. Từ những năm chín mươi đầy khốn khó của thế kỷ trước, cái gia tài quý giá và đồ sộ nhất của ông cũng chỉ là những sản phẩm liên quan về âm nhạc, trong một ngôi nhà cấp bốn khiêm tốn của một vị bác sỹ mới ra trường  ai cũng phải ngạc nhiên trước khối lượng sách báo tài liệu khủng về âm nhạc. Các thiết bị, khí cụ, máy móc băng đĩa chiếm dụng gần như toàn bộ không gian phòng khách, chúng được sắp xếp bày biện như một viện bảo tàng nhỏ về bộ môn nghệ thuật này.

Ông sẵn sàng ngồi hàng giờ hàng buổi để chìm đắm trong từng ca khúc mà mình yêu thích và thi thoảng vẫn buông lời tiếc rẻ cho một số ca từ, ngữ điệu chưa được thăng hoa cho dù đó là sản phẩm của một nhạc sỹ trứ danh.

Phạm Cảnh Thượng cảm nhận về ca khúc không chỉ bằng cái thính lực trời cho mà  bằng nhiều giác quan trộn lại, ông bị lôi cuốn như kẻ nhập thiền khi giải phẩu từng ca từ, giai điệu cấu trúc bản nhạc, ông bềnh bồng say khướt khi gặp phải chất giọng, nội lực, tính truyền cảm của ca sỹ thể hiện. Ông lần sờ, cầm nắm, giải phẫu được sự đồng điệu  của nhạc sỹ và nhà thơ trong các sản phẩm phối tác… để rồi ông viết lên sự cảm nhận sâu sắc các ca khúc mà ông yêu thích bằng chất văn thiên bẫm của mình.

Bài viết của ông cảm giác như một bộ phim lần đến từng hơi thở tửng ngóc ngách của không gian và thời gian làm cuốn hút người đọc.  Không bị rập khuôn theo cấu trúc của một bài phê bình, mỗi bài viết của ông là một sự sáng tạo, những đường dẫn mới những gam màu mới, đẹp nhưng thuần khiết, phóng khoáng nhưng chắt lọc,  các mệnh đề mở nhưng dữ kiện số liệu được truy xuất tra cứu nguồn gốc một cách thuyết phục.

Nhìn cách phân tích sâu các bài hát về sự phát triển chủ điệu (motif), kiến trúc câu nhạc (phrase), đoạn nhạc (periode) và sự chuyển âm (modulation), mọi người nhầm tưởng ông là một nhạc sỹ kỳ cựu, hay khi ông  nhận định các yếu tố làm nên một ca khúc thăng hoa như giai điệu đẹp, ca từ thu hút, cấu trúc hài hòa hợp lý, sự tương thích ca từ và nhạc…người đọc cứ ngỡ ông là nhà phê bình lý luận âm nhạc chuyên nghiệp. Thì ra tất cả cái uyên thâm kia ông chỉ dày công mày mò nghiên cứu mà không hề qua trường lớp.

Ông nghiên cứu và viết cảm nhận với nhiều thể loại âm nhạc, nhưng nhạc Tiền chiến, trữ tình lãng mạn vẫn là những dòng nhạc mà ông ưa thích. Các tác giả như Lê Thương, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Từ Công Phụng, Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn…và sau này là Thanh Tùng, Phú Quang  là những nhạc sỹ được ông nghe và viết cảm nhận nhiều nhất…

Người nghe trong những năm qua vẫn thích thú khi bắt gặp những bài viết cảm nhận về âm nhạc của bác sỹ Phạm Cảnh Thượng như: Bản sonat Ánh trăng (Beethoven); Chuyện tình buồn- “Mắt nhạt nhòa mưa qua” (Phạm Duy); Còn đây một “Nụ cười sơn cước” (Tô Vũ); Nhớ ngày xưa Hoàng Thị (Phạm Duy); Con Thuyền không bến (Đặng Thế Phong); Ai lên xứ hoa đào với nhạc sĩ Hoàng Nguyên; Mưa Hồng-một khúc phiếm du (Trịnh Công Sơn); “Vĩnh biệt mùa hè”- từ tiểu thuyết, phim đến âm nhạc (Thanh Tùng) và mới đây là Se sắt “nỗi nhớ mùa đông” (Phú Quang)…

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sản phẩm âm nhạc đang chạy theo thị hiếu dễ dãi của đám đông, sự thẩm định chuyên môn lại được đo đếm bằng view bằng like trên thị trường âm nhạc trực tuyến, trong khi đó công việc đánh giá và phê bình âm nhạc đang đìu hiu như những phiên chợ chiều. Thì những bài viết cảm nhận về âm nhạc của Bác sỹ Phạm Cảnh Thượng là điều đáng trân trọng, nó như cơn gió – cho dù là một cơn gió nhẹ nhưng biết đâu nó sẽ góp phần đánh thức sự trì trệ của ngành lý luận phê bình âm nhạc mấy thập niên qua vẫn đang loay hoay trong dòng chảy nghệ thuật.

DALK LAK ngày 11/01/2024.

Khê Giang


READ MORE - PHẠM CẢNH THƯỢNG, MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC - Khê Giang

MẸ ƠI, CON ĐÃ VỀ! - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

 

Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân


MẸ ƠI, CON ĐÃ VỀ!

Truyện ngắn LÊ HỨA HUYỀN TRÂN

 

        Cứ mỗi khi Tết về là lòng cô lại chợn vợn gì đó không rõ, nó như một nỗi buồn giấu kín, ẩn sâu bên trong vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười hăm hở. Cô luôn tự khen chính mình là giấu cảm xúc giỏi  đến độ cô ngờ vực cả chính bản thân liệu có phải là một diễn viên không, sao có “năng khiếu” như vậy mà lại đi chôn chặt cuộc đời ở một công ty kế toán đầy lạnh lẽo như nơi này.

 

        Ngày cô còn bé, cô ngóng Tết như bao đứa trẻ khác. Tết ở quê  vốn không xô bồ và lạnh nhạt tình người như chốn phố thị đông đúc. Nhà cô chỉ có ba người, nhưng trong căn nhà nhỏ, Tết lúc nào cũng ngập tràn tiếng cười, tưởng như ai đi qua đều có thể nghe thấy tiếng cười trong trẻo của cô gái nhỏ bên cạnh ba mẹ của mình và cứ thế thốt lên: “Ôi, gia đình ấy hạnh phúc quá!”  

 

        Cô lớn lên trong một xóm lao động nghèo ở miền quê, suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, dẫu có thế, chưa bao giờ ba mẹ để cho cô một mùa Tết thiếu thốn. Dẫu cái thiếu thốn theo định nghĩa của người nghèo khác hẳn chúng ta vẫn nghĩ. Có đầy đủ chăng trong mắt họ là những ngày Tết có thể kho được một nồi thịt kho tàu, khi múc ra chỉ vừa một chén, chẳng phải là những quả trứng gà trứng vịt to lớn mà chỉ là ba bốn quả trứng cút gọi là, và vài ba cục thịt mà có lẽ ai đó bán rẻ vì đã vãn phiên chợ chiều. Hoặc tạm gọi là đầy đủ khi chỉ cần có chậu mai chưng trước cửa. Những nhà giàu ở trên phố luôn để một chậu to tướng, độ bề thế của mai càng chứng tỏ độ chịu chơi của họ, thì nhà của cô bé chỉ có một chậu nhỏ thôi nhưng ít ra nó cũng mang đến mùa xuân trên cánh hoa vàng rực mỗi khi ánh nắng chiếu vào.

        Ba cô đi cộ, ngày vất vả đến tối mịt mới về, còn mẹ cô bán buôn ngoài chợ. Phiên chợ Tết đông người nên cũng thường hay về trễ. Những ngày thường nhật, mẹ cô về sớm hơn, kịp nấu bữa cơm chiều, còn không thì cô thay mẹ nấu rồi trông khi ba mẹ sắp về sẽ hâm nóng lại cơm để cả nhà ăn ngon miệng. Cô vốn không có thói quen đòi hỏi, với cô Tết nghĩa là “gia đình quây quần bên nhau”, thế là đủ lắm rồi. Ba cô cưng cô lắm. Dù bận rộn sau một ngày vất vả mà khi nghe cô bé bị mắng mỗi khi cô làm sai, thể nào cũng bênh vực:

         -Bà lại mắng con gái tôi đấy à? Thấy nó nhè, tội chưa?

         Và những lúc ấy mẹ cô sẽ lại thở dài:

         -Ông tướng lại bênh vực con gái rượu ổng rồi đấy!

         Và hai ba con cô sẽ bật cười.

        Nhớ Tết năm nào, ba cô ráng cày tới tận khuya ba mươi mới về, mẹ giận lắm, vì mẹ luôn muốn cả gia đình đón giao thừa cùng nhau. Vì đối với bà, người phụ nữ mồ côi, thì những phút giây sum họp này luôn là những tháng ngày thiêng liêng nhất. Ba cô phải xin lỗi mãi, để rồi khi tranh thủ mẹ cô không để ý, vội kéo cô ra một góc, đưa cho cô một chiếc quần mới, to nhỏ:

         -Ba chạy chuyến cuối, kiếm được thêm một ít, mua cho con chiếc quần mới đi chơi tết này. Khẽ thôi, chứ mẹ biết, mẹ mắng đấy! Lại bảo ba cưng con gái.

        Cô nhớ về những ngày tháng ấy mà nước mắt rơi lã chã. Ba luôn dành dụm từng chút một cho cô, và cô luôn hạnh phúc. Chỉ cần có ba trên đời, cô tin chắc mình sẽ không bao giờ cô đơn nữa. Bờ vai ấy có thể cõng cô đi cả thế giới này. Khi lớn lên một chút, ngoài thời gian học, cô vẫn thường theo ba đi cộ. Những ngày gần Tết, nhà người ta thường có nhiều đồ bỏ đi và cô thường theo ba đi nhặt về. Khoảnh khắc khi hai cha con cùng nhau lao động là những tháng ngày tuyệt vời nhất. Cô còn nhớ như in lúc ba mang về cho cô một chậu tắc con đựng trong một cái chậu nhỏ. Cây tắc non không quá đùi cô mà cô dành để trên bàn chưng Tết. Cũng vì ba nhớ cô kể đám bạn năm nay chơi tết toàn tắc, và dù không thể mua cho con gái một chậu tắc bề thế như nhà người ta, ba cô cũng để dành tiền mua được một chậu tắc nhỏ cho con gái vui lòng.

          Cô cũng thích những ngày cùng ba canh nồi bánh tét. Thường để lại một hai cây ở nhà ăn Tết, còn lại đem bán. Cô thường ngủ quên trên vai ba dẫu trước đó tự tin tuyên bố:

         -Con sẽ thức cả đêm canh nồi bánh cho ba, năm nay con lớn rồi, đỡ đần ba được.

        Thế nhưng sáng hôm sau, khi những đòn bánh thành hình, thể nào ba cũng khoe với mẹ:

         -Con gái tôi giỏi lắm đấy nhé, nay đã biết thức đêm canh bánh cho ba rồi.

        Những ngày Tết là những ngày gia đình ba người quây quần bên nhau, cùng trang hoàng quét dọn nhà cửa, cùng nhau ăn miếng gừng cay và chúc nhau một năm mới tươi đẹp lúc giao thừa. “Nhà” là nơi làm cô hạnh phúc nhất mỗi khi Tết về, thậm chí lên cấp ba, khi trẻ con trong xóm phải đi học xa và ở lại trường, cô vẫn nhất quyết đạp xe hàng cây số chỉ để về nhà, ngủ với ba mẹ.

        Thế rồi, biến cố xảy ra, ba cô không may mất trong một tai nạn. Những ngày gần Tết, xe cộ đông, một bác tài lỡ lạc tay.  Cô thành đứa bé mồ côi cha. Những ngày Tết xưa kia càng vui bao nhiêu, nay đối với cô chỉ như cực hình. Nhìn nơi đâu, cô cũng thấy hình bóng ba mình, kí ức hạnh phúc trở thành ác mộng đeo bám cô mỗi đêm khiến cô khóc hoài. Và Tết năm ấy cũng trở thành năm buồn nhất của cô.

        Năm sau, cô bước vào đại học. Không như suy nghĩ lúc trước sẽ chọn học một trường gần nhà, cô đăng kí học đại học ở thật xa. Đó như một cách để cô tự nhủ không thể về nhà thường xuyên và để làm lòng mình bớt ăn năn. Ngày cô đi, mẹ cô thêm một lần khóc nữa, nhưng ngay cả mẹ cũng hiểu nỗi đau của cô nên không cản. Và dù cô cảm thấy rất dày vò khi cuối cùng sẽ chỉ còn mẹ vò võ trong nhà, cô cũng nhất quyết không về nữa. Những ngày gần Tết, cô luôn kiếm cớ không về. Năm thì cô bảo xa quá, tiền xe về quê đắt đỏ, cô lại là sinh viên nghèo. Có năm lại bảo bận việc làm thêm, có khi lại bảo hết vé. Khi nhớ cô quá, mẹ cô lại tất tả lên thăm và chưa một lần oán trách. Bà hiểu được chỉ cần cô bước chân vào ngôi nhà đầy hạnh phúc xưa kia thì cô sẽ khóc òa. Huống hồ, những ngày giáp Tết lại là ngày giỗ bố cô.

          Khi ra trường với tấm bằng giỏi, cô được nhận ngay vào một công ty tài chính khá tiếng tăm, tiền lương khấm khá nên cô cũng muốn đón mẹ về ở chung, nhưng đáp lại mẹ cô chỉ nhẹ nhàng:

          -Mẹ ở quê quen rồi, không quen phố xá lạ. Hơn nữa ở đây có mộ phần của ba con, mẹ ở gần, tiện đường cúng bái.

         Rồi bà trầm ngâm lưỡng lự: -Mẹ không ép con về nhưng chưa năm nào con về giỗ ba…

        Cô vội cúp điện thoại như không muốn nghe tiếp về một nỗi đau. Đi làm ở phố ba năm, chưa bao giờ cô để mẹ thiếu thốn. Khoản tiền cô gửi về đủ cho mẹ  sống một cuộc sống đầy đủ ở quê. Dẫu thế, chưa bao giờ bà vơi bớt đi nỗi cô đơn, cô biết. Cô lại lấy việc chu cấp đầy đủ đó thành lí do để mình bớt ăn năn khi để người mẹ già một mình ở quê và cho rằng từ chối không dọn lên phố ở chung là bà đã khước từ lòng hiếu thảo của cô. Đến năm thứ mười sau khi ba cô mất, mẹ cô lại một lần nữa nhắc lại:

         -Năm nay con có thể về được không? Đã mười năm rồi, ba nhớ con lắm…

         Không hiểu sao, từ nỗi đau cô chuyển sang tức giận:

         -Không phải con nói với mẹ là con không muốn về nhà rồi sao? Con đã muốn mẹ dọn lên đây ở chung, tiện đường cúng giỗ. Mẹ lên phố ở cũng được, sao nhất thiết cứ ở quê?

         -Mẹ đã nói với con nhiều lần rồi, thôi con không muốn về, mẹ không ép.,,

         -Con đã gửi tiền cho mẹ rất nhiều rồi, mẹ thay con cúng ba, xin mẹ đừng ép con về nữa.

        Mẹ cô đột nhiên đứt quãng:

         -Tiền con gửi về suốt mấy năm qua mẹ vẫn để đó dành con sau này, mẹ chỉ muốn con về nhà một lần, nhà là nơi để con quay về mà…

        Những ngày gần Tết, trời trở nên lạnh thêm. Người người tất bật đón tàu xe về quê cho kịp Tết, nơi gia đình ấm cúng. Năm nào vào những ngày Tết, cô cũng nhận thêm công việc về nhà làm để xua bớt nỗi cô đơn. Cô lại chuẩn bị ra ngân hàng gửi tiền về cho mẹ thì nhớ lại những câu mẹ  nói ngày hôm qua, vậy không lẽ tiền mình gửi về mẹ không hề dùng? Những năm qua mẹ đã sống ra sao? Tất cả chuyện ấy cô đều không biết. Cô luôn viện đủ lí do chứ thực ra chẳng hề biết gì. Cô có nhiều tiền nhưng điều đó mẹ cô không hề cần, điều bà ấy cần lúc này chỉ là cô thôi. Từ khi ba cô ra đi, chẳng phải người đau đớn nhất vẫn là bà sao? Nhưng bà vẫn ở nhà, cho dù buồn đau nhưng vẫn muốn ở lại chỉ để gìn giữ ngôi nhà mà khi còn bé cô luôn muốn quay về, nơi ngập tràn hạnh phúc.

          Ba mươi tết, cô tất bật đón chuyến xe cuối về quê, về ngôi làng mười năm cô chưa một lần quay lại. Người người đang tất bật đón Tết. Có vài người nhận ra cô, họ mừng rơi nước mắt. Cô tìm đường về nhà. Mẹ cô đang lau chùi bàn thờ ba cô và đặt lên mâm cơm cúng, không để ý cô đang bước vào. Cô nhẹ nhàng đỡ mẹ:

         -Mẹ à, con về rồi, để con!

        Bà vội quay lại, thấy con gái mừng rơi nước mắt. Cô nhìn quanh căn nhà, mọi thứ vẫn thế, một tay mẹ giữ gìn. Cô sợ kí ức sẽ làm cô đau đớn, thế nhưng cô cảm thấy  hạnh phúc đến nỗi mắt cô đột nhiên đổ màu hoàng hôn. Cô nhìn lên di ảnh của ba, ba vẫn đang mỉm cười, cô bật khóc:

         -Ba à, con xin lỗi ba, con ích kỉ quá.

         Đột nhiên có ngọn gió xuân đâu đây thổi qua, như vỗ về cô, như cách ba cô vẫn thường nói với cô:

       -Tết này hơi lạnh, con nhớ mang bao tay vào cho ấm nghe con!

 

 

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

READ MORE - MẸ ƠI, CON ĐÃ VỀ! - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Chùm ảnh TRÁI HẠNH ĐÀO - Chu Vương Miện

Bấm chuột vào hình để phóng to.






 

READ MORE - Chùm ảnh TRÁI HẠNH ĐÀO - Chu Vương Miện

GIÓ BẤC VỀ - Nhạc: Giang Thiên Tường - Thơ: Hằng Ngô - Hòa âm: Đỗ Hải - Tiếng hát: Hà Thanh -(YouTube)






GIANG THIÊN TƯỜNG 
giangthientuong@gmail.com
READ MORE - GIÓ BẤC VỀ - Nhạc: Giang Thiên Tường - Thơ: Hằng Ngô - Hòa âm: Đỗ Hải - Tiếng hát: Hà Thanh -(YouTube)

EM VỀ THĂM QUẢNG TRỊ - Thơ Nguyễn Thị Hương, nhạc Phan Ni Tấn, hòa âm Đỗ Hải, tiếng hát Hà Thanh

 
Nhạc sĩ Phan Ni Tấn

            

                Thơ: Nguyễn Thị Hương.
                Nhạc: Phan Ni Tấn.
                Hòa âm: Đỗ Hải.
                Tiếng hát: Hà Thanh.

READ MORE - EM VỀ THĂM QUẢNG TRỊ - Thơ Nguyễn Thị Hương, nhạc Phan Ni Tấn, hòa âm Đỗ Hải, tiếng hát Hà Thanh

Wednesday, January 10, 2024

ĐỌC “VỀ MIỀN AN TRÚ” THƠ VẠN LỘC, BÀI THƠ AN TRÚ TRONG HƯƠNG THIỀN - Châu Thạch


   


VỀ MIỀN AN TRÚ
 
Mai mốt em về làm cánh hạc
Ta có muôn phương bay cùng nhau
Rừng tùng xanh sắc hương miền Linh Thứu
Tây phương ánh vàng vằng vặc trăng sao
 
Mình sẽ ngàn năm an nhiên anh nhỉ
Chốn huyền không xanh cội bồ đề
Những sơn thạch gương mặt hồ phỉ thúy
Nước thơm thơm từng giọt giọt suối khe
 
Dựng am cỏ bên đồi tre trúc
Thiền viện đơn sơ tràng hạt chiên đàn
Mỗi chiếc lá cũng mang hồn Phật tính
Mỗi hạt sương ngọt vị bình an
 
Em về cùng anh vui miền an trú
Thắp ánh nhiên đăng soi rọi tâm lành
Khắp cõi thiêng nắng mưa luân vũ
Gió ngàn phương gieo hạt thiện lành.
                               
                                            Vạn Lộc
*
ĐỌC “VỀ MIỀN AN TRÚ” THƠ VẠN LỘC, BÀI THƠ AN TRÚ TRONG HƯƠNG THIỀN 
                                                      Châu Thạch
 
Nhà thơ Vạn Lộc còn vài năm nữa thì vào tuổi bát thập. Cách đây không lâu chị đã tiển đưa phu quân của mình về chốn an tịnh. Tôi nhớ trong bài thơ “Vắng Anh” đăng trong tập “Hái Mùa Động Vạt Nắng” chị đã khóc bằng lời không bi quan, rất thơ và rất gây cảm xúc:
 
Ta xin hái mùa đông vạt nắng
Cài lên câu thơ tóc xỏa bềnh bồng
Và quàng vào tim mình chút ấm
Tựa tay người ve vuốt những niềm đông.
 
Trời mùa đông Đà Nẵng u ám mấy tuần qua, sáng nay bắt đầu có chút nắng. Nhìn qua cửa sổ tôi thấy có những vạt nắng mùa đông. Rồi tình cờ lại đọc bài thơ “Về Miền An Trú” của Vạn Lộc, tôi thấy như chính mình cũng được an trú trong hương thiền như bài thơ của Vạn Lộc. Nhu cầu viết nhờ đó lại trổi dậy trong tôi, tôi viết cho tôi, không phải viết cho Vạn Lộc.
 
Đọc khổ thơ đầu, ta thấy nhà thơ Vạn Lộc dự phóng một tương lai tốt đẹp của mình ở thế giới bên kia, hứa hẹn với anh của mình đoàn tụ ở cõi tây phương cực lạc:
 
Mai mốt em về làm cánh hạc
Ta có muôn phương bay cùng nhau
Rừng tùng xanh sắc hương miền Linh Thứu
Tây phương ánh vàng vằng vặc trăng sao
 
Hình tượng loài chim hạc ảnh hưởng sâu sắc trong văn hóa phương Đông và mang nhiều biểu tượng thanh cao. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý, thanh tịnh, thần tiên thoát tục còn gọi là Tiên hạc. Chim hạc là loài chim của vũ trụ, của tầng cao, có tính cách của người quân tử. Hạc còn được cho là linh vật, là loài chim có phẩm chất cao quý.
 
Tương truyền, núi Linh Thứu không chỉ là một nơi nghỉ ngơi mà còn là một nơi tu hành của Đức Phật cũng như các đệ tử của ngài. Địa điểm này thường xuyên được nhắc đến trong các cuốn kinh Pali của Phật giáo Nam tông như là địa điểm thuyết giảng của Phật. Núi Linh Thứu sau này cũng xuất hiện trong Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh, Liên Hoa kinh hay Thủ Lăng Nghiêm kinh.
 
Như vậy qua khổ thơ đầu tiên, nhà thơ Vạn Lộc đã hứa hẹn với anh cùng hóa hình thành cánh hạc, cùng ngao du nơi chốn trần gian Phật từng ngự, cùng bay về cõi Niết Bàn ở “Tây phương ánh vàng vằng vặc trăng sao”.
 
Tôi nghĩ nhà thơ Vạn Lộc có quyền ước vọng như thế vì tác giả là một cư sĩ Phật Giáo, ăn chay trường và tu tại gia nhiều năm qua. Tất nhiên nhà thơ Vạn Lộc dư biết muốn được như thế phải qua ngàn vạn kiếp tu hành nhưng quyết tâm thì sẽ thành hiện thực, vì Đức Phật đã nói “Ta đã thành Phật và các ngươi cũng sẽ thành Phật”.
 
Đọc khổ thơ một, không ai không thấy lòng thanh thản bởi cảnh sắc được mô tả trong thơ thoát tục, bởi cái tâm được thể hiện trong thơ an bình, thanh thản, thấy trước thế giới bên kia của mình bình tịnh an vui. Khác với người đạo Thiên Chúa có niềm tin chắc chắn vào cõi Vĩnh Hằng khi qua đời nầy, người theo đạo Phật không thể có niềm tin chắc chắn là mình sẽ đến đâu. Thế nhưng qua thơ ta thấy Vạn Lộc như khẳng định nơi mình đến sau kiếp nầy bằng chữ “Mai mốt em về” có nghĩa là sẽ gần đây thôi. Tôi rất thích có niềm tin như Vạn Lộc, vì nó sẽ làm ta nhìn qua thế giới bên kia không sợ hải, không lo âu, không đau khổ.
 
Qua khổ thơ thứ hai Vạn Lộc giới thiệu chổ ở trong tương lai mà hai người sẽ sống ngàn năm cùng nhau, nơi đây không là Niết Bàn cũng là tiên giới:
 
Mình sẽ ngàn năm an nhiên anh nhỉ
Chốn huyền không xanh cội bồ đề
Những sơn thạch gương mặt hồ phỉ thúy
Nước thơm thơm từng giọt giọt suối khe
 
“Chốn huyền không” là chốn nào?. Chương Trọng Sơn nói: “Vô định, vô cứ, không phương hướng, không góc cạnh, không khởi đầu, không kết thúc, không hình thể, không dấu vết, tồn tại khắp nơi, không lúc nào không có. Đấy gọi là Huyền Không”. Vậy huyền không ở đây là nơi “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc”. Cái cảm nhận và suy nghĩ ấy nằm trong “Bát nhã ba la tâm kinh” tức là nơi trú ngụ của các bậc giác ngộ.
 
“Hồ phỉ thúy” ở đâu? Hồ Thanh Hải hay hồ phỉ thúy nước xanh như ngọc phỉ thúy, núi đá bảy màu ở Cam Túc, Thanh Hải, Trung Quốc giáp với Tây Tạng.
 
Đọc khổ thơ thứ hai ta thấy Vạn Lộc tưởng tượng một cảnh sống xuất thế, họ sống có lẽ như A-Dam Và E-Va thuở xưa trong vườn Địa Đàng mà Thiên Chúa dựng nên. Khổ thơ cho ta cảm nhận ước vọng sống đơn sơ, không mang linh hồn thần thánh, chỉ mang linh hồn con người thiên nhiên chưa ăn trái cấm, chưa biết tội lỗi là gì, còn trong như tuyết, còn trắng như lông chiên.
 
Quả thật vậy, qua khổ thơ thứ ba, nhà thơ Vạn Lộc nói rõ hơn ước vọng sống bình dị của mình, sống như người vừa dựng nên từ tay Thiên Chúa, tâm hướng về Phật, hòa nhập cùng vô vi Lão Tử:
 
Dựng am cỏ bên đồi tre trúc
Thiền viện đơn sơ tràng hạt chiên đàn
Mỗi chiếc lá cũng mang hồn Phật tính
Mỗi hạt sương ngọt vị bình an
 
“Chiên đàn” đứng đầu trong 5 loại tuyệt đỉnh danh hương, chiên đàn được dùng để làm tràng hạt trì niệm bởi mùi thơm trang nhã và giá trị tâm linh cao tại các quốc gia Phật giáo như Nepal, Ấn Độ, Tây Tạng...Từ xưa đến nay, thế gian lưu truyền ngũ danh hương – 5 loại hương thơm quý nhất từ thiên nhiên: chiên đàn hương, trầm hương, đâu lâu ba hương, tất lực ca hương và tử đinh hương. Trong đó, chiên đàn đứng đầu vì tương truyền có thể diệt trừ ô trược (tà khí).
 
Trong khổ thơ thư ba, nhà thơ Vạn Lộc dựng nên cho mình một khung trời thiền tịnh trong sạch, thơm tho, chẳng khác chi vùng trời của Hàn Mạc Tử cho nhà thơ đi: “Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. Trên đầu Người là cao cả, vô biên và vô lượng: xung quanh Người là mơn trớn với yêu đương vây phủ bởi trăm dây quyến luyến làm bằng êm dịu, làm bằng thành bại....Gió phương mô đẩy đưa Người đến bờ xa lạ, đầy trinh tiết và đầy thinh sắc. Người dừng lại để hái những lá tinh hoa. Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lỡ. À ra Người cũng dại dột, hốt vàng rơi bọc trong vạt áo”. Khác Hàn Mạc Tử chăng là nhà thơ Vạn Lộc đi trong vạn vật mang hồn Phật tính.
 
Khổ thơ thứ tư là khổ thơ kết thúc trong miên viễn, trong vĩnh hằng hạnh phúc, trong ánh sáng thiện lành: 
 
Em về cùng anh vui miền an trú
Thắp ánh nhiên đăng soi rọi tâm lành
Khắp cõi thiêng nắng mưa luân vũ
Gió ngàn phương gieo hạt thiện lành.
 
Nhiên đăng” là gì? Chữ nhiên đăng được giải thích bằng thơ như sau:
 
“ÁNH sáng từ bi bủa khắp trời
NHIÊN quang đèn huệ rọi cùng nơi
ĐĂNG minh soi thấu trong ba cõi
TỎ RẠNG lý chân chỗ tuyệt vời.”
 
“Nhiên Ðăng được xem là vị Phật quan trọng trong các vị trước Thích-Ca. Ngài là vị đại diện cho Phật quá khứ tương tự như trường hợp Di-Lặc được xem là đại diện cho Phật vị lai.
Danh hiệu Phật theo Phạn văn là Dipamkara, dịch âm là “Đề hòa yết la”. Cũng còn dịch tên là Đính quang Phật. Tên Nhiên Đăng là dịch theo ý. Trong Phật giáo đây là một trong những vị cổ Phật đời quá khứ. Tương truyền rằng: lúc sinh thời, thân thể ngài tỏa rực sáng như đèn nên mới gọi tên là Nhiên Đăng. Sau khi Ngài thành Phật cũng lấy tên gọi ấy làm hiệu.”
 
Vạn Lộc chấm dứt bài thơ trong ánh sáng quá khứ của Phật, trong mưa luân vũ hiện tại, trong gió gieo hạt thiện lành bây giờ. Như thế nhà thơ Vạn lộc và anh của bà đã đi và về được trong thời gian, không dám nói là đã thành Phật nhưng có thể nói là đã vào chốn thiên thần ngự trị. Tất nhiên hiện tại bà đã đi bằng thơ, cởi trên những tư duy thiện lành để bay bằng con chữ sắc màu viên mãn “Đại dương minh vân” mà Đức Phật phóng quang trên 2500 năm trước.
                                         
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “VỀ MIỀN AN TRÚ” THƠ VẠN LỘC, BÀI THƠ AN TRÚ TRONG HƯƠNG THIỀN - Châu Thạch

MAN MÁC CỎ MAY – Thơ Tịnh Bình


         Nhà thơ Tịnh Bình 
 

MAN MÁC CỎ MAY
 
Chân trời góc bể xa xôi
Thèm quê theo áng mây trôi tìm về
Hương đồng gió nội bùa mê
Triền sông thầm hẹn lời thề cỏ may
 
Trăng xưa nhớ buổi cầm tay
Rối bời tóc gió hây hây má hồng
Câu hò tím nỗi hoài mong
Sâu trong ánh mắt rưng dòng luyến vương
 
Ngày về bến nhớ sông thương
Trầm tư lau lách sao dường xa xăm
Hoàng hôn khói mỏng buồn thầm
Nghe cay sóng mắt giọt chầm chậm rơi
 
Phù sa bồi lở đầy vơi
Cỏ may man mác nhói lời buốt đau
Ngó sông... Sông chảy chi mau
Đôi bờ hoa bắp chợt sầu gió lay...
 
                                 Tịnh Bình
                         (Tây Ninh)

READ MORE - MAN MÁC CỎ MAY – Thơ Tịnh Bình

TÌNH KHÚC MÙA ĐÔNG - Nhạc và lời: Phạm Anh Dũng - Y Phương hát - Sĩ Đan hòa âm -(YouTube)

READ MORE - TÌNH KHÚC MÙA ĐÔNG - Nhạc và lời: Phạm Anh Dũng - Y Phương hát - Sĩ Đan hòa âm -(YouTube)

CHÙM THƠ VỀ MÙA XUÂN - Đặng Xuân Xuyến

 



THÁNG GIÊNG

(tặng V yêu)

 

Chạm ngõ đầu xuân đón nắng mai

Lộc biếc run run hứng rét đài

Ngón thon lùa nắng e thẹn ngại

Lúng liếng mắt cười: Đã Giêng Hai.

*.

Làng Đá, 17 tháng 2-2022

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

LỠ XUÂN

- với NTT -

 

Lại tiếng em cười rộn nắng xuân

Lại ngẩn ngơ xuân mấy mươi tuần...

Ờ, ngày năm ấy, xuân chớm nhuận

Ta nỡ vụng về để lỡ xuân.

*.

Hà Nội, 19 tháng 02-2021

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

ĐÊM XUÂN

 

Một đêm. Một đêm. Lại một đêm

Mưa xuân rỉ rắc rớt đẫm thềm

Nỉ non tiếng dế hòa nhịp đệm

Khua lạnh gió dồn buốt cóng đêm!

*.

Hà Nội, 22G45 ngày 20-02-2021

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

CHỢ XUÂN

- tặng V -

 

Náo nức chợ xuân. Náo nức em

Chợ xuân ngày Tết lắm kẻ xem

Tíu tít em cười. Em thật lém!

Bứng cả trời Xuân tới chợ Chèm.

*.

Chợ Chèm, 20 tháng 02-2021

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

XUÂN 


Áo trắng em cười với gió đông

Run rẩy đào phai đón xuân nồng

La đà trong gió đôi vạt nắng

Ngơ ngẩn trai làng, ngơ ngẩn xuân 

*.

Làng Đá, Rằm tháng Giêng 2016

(Ngày 22 tháng 02 năm 2016)

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

SẮC XUÂN

- Cảm tác khi thăm vườn hoa 

     nhà thơ Chử Văn Long -

 

Hoa bưởi thơm lừng cả không gian

Gió xuân hây hấy ngực căng tràn

Mấy giỏ lan rừng khoe lộc biếc

E lệ mai vàng nhuộm thắm xuân.

*.

Hà Nội, ngày 23 tháng 02.2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN


 

THÁNG HAI


Tháng Hai rét còn ngái ngủ
Lộc non hơn hớn nhú cành
Thẹn thùng hoa xoan tím cánh
Buông chiều xòa nắng lao xao
.
Ồ kìa nụ hồng kín đáo
Vươn cành đón giọt nắng xuân
Tần ngần đóa đào nở muộn
Tháng Hai phơn phớt nắng gài.

*.

Hà Nội, Mồng 9 tháng 02 Canh Tý

(Ngày 02 tháng 03 năm 2020)

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

READ MORE - CHÙM THƠ VỀ MÙA XUÂN - Đặng Xuân Xuyến

Chùm ảnh CÂY TRƯỜNG SANH - Chu Vương Miện






 

READ MORE - Chùm ảnh CÂY TRƯỜNG SANH - Chu Vương Miện

Monday, January 8, 2024

SAIGON MÙA ĐÔNG - Thơ Nhã My, nhạc Thanh Chương, ca sĩ Quốc Duy trình bày.


  
                    Nhà thơ Nhã My.
    

SAIGON MÙA ĐÔNG
 
Saigon mùa đông xuống phố
Từng bước chân thật thân quen
Ghé vào café buổi sáng
Nhìn từng giọt nhỏ trong phin
 
Café thơm mùi phố thị
Người qua kẻ lại rộn rang
Mùa đông nghe lòng chợt ấm
Nắng vàng cuối nẻo thênh thang
 
Saigon chợt mưa chợt nắng
Người về chợt nhớ chợt mong
Xa xôi gởi lời thăm hỏi
Saigon chốn ấy mùa đông
 
Có còn hương thơm tóc rối
Có còn âu yếm mộng lòng
Saigon xa –gần mong nhớ
Saigon dậy trễ mùa đông
 
Em còn bâng khuâng áo khoác
Se se cơn gió lạnh lòng
Em còn nhìn mây xam xám
Bao trùm nỗi nhớ mênh mông
 
Saigon thân thương tha thiết
Đông về chỉ để gần hơn
Bàn tay trong nhau thân ái
Cũng vừa hơi ấm mùa đông
 
                              Nhã My

 
      

               Thơ Nhã My.
               Nhạc Thanh Chương.
               Hòa âm Trần Nhàn.
               Trình bày Quốc Duy.
               Video clip Huỳnh Tâm Hoài.

READ MORE - SAIGON MÙA ĐÔNG - Thơ Nhã My, nhạc Thanh Chương, ca sĩ Quốc Duy trình bày.

BẦN, CÔ ĐƠN, DƯỢNG ĐƠN – Thơ Chu Vương Miện

 
  

 
BẦN
 
Thằng chủ nhai khoai mì
ị ra toan khoai mì
con chó ăn vào
thải ra y như vậy?
con dòi vừa ị ra
rồi lại nhai trở vào
không được và mất cái gì?
người cuồng tín ngày ngày cầu nguyện
Chúa tha nợ cho con
Cũng như chúng con tha nợ cho
Những kẻ có nợ chúng con
Thực tế chả tha nợ cho ai cả?
Chỉ khấn mồm
Ngày Sa bát chỉ có trong kinh thánh
Trên thực tế không có ngày Sa Bát nào?
Kẻ nào thiếu nợ không trả
Bèn bị thưa ra toà
Hết chính trị mồm
Chuyển qua chính chó mồm
Im ru bà rù
Ngậm miệng ăn tiền
Thua cả chó
Chó còn sủa
Đạo mồm chỉ nói
Cha truyền con nối
Không con truyền cháu
 
 
CÔ ĐƠN
 
Y như hai bản nhạc
Của nhạc sĩ Đài Phương Trang
Đời tôi cô đơn
Không phải bà đơn
Nên rất thơ
Rất duyên
Nhìn chung chung thì thiếu tiền

 
DƯỢNG ĐƠN
 
Quanh đi quẩn lại bao năm?
Giữa hội người
Một mình
Một chó
Một chủ
Một tớ
Ăn cùng ăn
Chơi cùng chơi
Ngủ cùng ngủ
Chó không sủa
Người không cười
Lặng lẽ giữa hội người
 
Chu Vương Miện

READ MORE - BẦN, CÔ ĐƠN, DƯỢNG ĐƠN – Thơ Chu Vương Miện