Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, October 30, 2019

GÓP VẦN THƠ XẢ STRESS CUỘC TÌNH - Tuệ Thiền Lê Bá Bôn



Tuệ Thiền Lê Bá Bôn
GÓP VẦN THƠ XẢ STRESS CUỘC TÌNH
(Đường Về Minh Triết; nxb Văn Nghệ, 2007)


1.
KỂ TỪ CÓ ĐÔI TA
Ađam gặp Êva
Cuộc đời thành oan nghiệt!
Kể từ có đôi ta
Xin… như là hiền triết…
Cứ như là hiền triết
Để anh còn tiếng thơ
Cứ như là hiền triết
Để em còn ước mơ
Cứ như là hiền triết
Để con không bơ vơ.
-- 
(Ađam, Êva: 2 nhân vật
nam & nữ trong Kinh Thánh).
--- 
2.
KHÔNG ĐỀ
Chất chứa những cằn nhằn
Hồn lô nhô sỏi đá!...
Chút lặng thầm hỉ xả
Sỏi đá dậy hồn thơ…
--- 
3.
CỨU RỖI
Nhận ở cửa Thiền ước mơ Phật tính
Đem lí sắc-không cứu rỗi uyên ương
Thêm hỉ xả cho cõi trần bớt tục
Cho Thị Mầu thành Bồ tát Tình Thương.
-- 
(Phật tính: Tâm Viên Giác, Tâm Xuân vĩnh hằng).
--- 
4.
ĐAU BUỒN CỦA CHỊ
Hồn phong kiến vấn vương
Chị thâm quầng ánh mắt
Cái thằng-cu-tông-đường
Vào giấc mơ nát ruột!
--- 
5. 
TÌNH YÊU
Quá oi nồng danh lợi
Trái tim sẽ cằn khô
Vì tình yêu cũng như hoa cỏ
Chỉ đọng sắc màu trong minh triết hồn thơ.
--- 
6.
BÀI TOÁN CUỘC ĐỜI
Đáp số là Hạnh Phúc, ai cũng biết
Nhưng bài toán cuộc đời nát óc những tài hoa!
(Bao Nguyễn Du sợ hồng trần oan nghiệt
Khuyên tình yêu về nương bóng cà sa)...
Anh may mắn giải được bài toán khó
Đã biết đem hữu hạn chứa Vô Cùng
Lóng vị Thiền từ sắc màu trần tục
Giữa vô thường, lấp lánh Tâm Xuân.
--- 
7.
TÌNH YÊU CÚC VÀNG
Ánh mắt em mang mùa xuân đến sớm
Trái tim tôi Thượng Đế cấy tình yêu
Tôi trân trọng - thôi gian tham trái cấm
Để sắc hương đọng mãi giữa vô cùng…
Đã si dại tìm tình trong dục lạc
Bao ghét ghen đóng bít cửa thiên đường!
(Thượng-Đế-trong-ta muôn đời có mặt
Khi cõi lòng biết tỉnh thức-yêu thương)
Những cay đắng giờ hoá thân minh triết
Tôi yêu em như yêu nét cúc vàng
Quên rét mướt, gọi mùa xuân đến sớm
Sắc dịu hiền cứu rỗi trái đất đau.
--- 
8.
SAY ĐẮM
Thuở đắm say nhau
Nặng ánh mắt tình nên quá tải
Chiếc thuyền đời chao đảo
Bến hạnh phúc xa tít cõi sương mù
Thời đắm say danh lợi
Gai lửa đầy lối đi
Hồn rát bỏng quẩn quanh ngõ cụt
Bãi chiến trường giữa trái tim si…
Chân phúc đến: vui trong Chánh Đạo
Tâm Xuân Bất Diệt gọi tôi về
Lòng-say-đắm neo thuyền bến giác
Vỡ chén phong trần - tỉnh cơn mê.
--- 
9.
CHỦ NHẬT NHIỆM MẦU
Tạm quên máy móc chen nhau
Khoanh chân thiền định - nhiệm mầu cõi xuân
Ngày mai trở lại công trường
Đem hồn xuân mới góp thương cho đời. 
-----  
Mời đọc thêm:
HƠI THỞ MINH TRIẾT
(Bài thực hành)


Thở vào, cảm nhận hơi vào
Thở ra, cảm nhận hơi ra
Chú tâm lắng nghe hơi thở
Vọng tâm vọng tưởng dần xa
*
Toạ thiền hoặc không toạ thiền
Miễn sao ngồi thật an nhiên
Thở đều, hơi dài và nhẹ
Vơi bao nghiệp chướng ưu phiền
*
An định: dễ thấy cái “tôi”
Cái khuôn tâm não tháo lơi
Tự tri là gốc minh triết
Tỉnh thức vô ngã chiếu soi
*
Thở vào, cảm nhận hơi vào
Thở ra, cảm nhận hơi ra
Chú tâm lắng nghe hơi thở
Trí tuệ tâm linh thăng hoa
*
Y học có nhiều chứng minh
Công năng của hơi-thở-thiền
Nhân điện điều hoà cơ thể
Năng lượng vũ trụ diệu huyền
*
Vật lí có nhiều chứng minh
Tâm năng của hơi-thở-thiền
Lan toả duyên lành vô tận
Thiện ích khắp nẻo chúng sinh
*
Thở vào, lắng nghe hơi vào
Thở ra, lắng nghe hơi ra
Dần dần biết nghe vọng tưởng
Chân Tâm cực lạc khai hoa… (*)
--
(*): “Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả.
“Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là minh sư vĩ đại nhất của chính mình. (ĐVMT).
------------ 

READ MORE - GÓP VẦN THƠ XẢ STRESS CUỘC TÌNH - Tuệ Thiền Lê Bá Bôn

UỐNG RƯỢU VỚI ANH HÙNG? - Nguyên Lạc



                Nhà thơ Nguyên Lạc




UỐNG RƯỢU VỚI ANH HÙNG?
                                                                Nguyên Lạc

Sáng hôm nay tình cờ đọc được bài thơ “hết ý” UỐNG RƯỢU VỚI KINH KHA của nhà thơ có tiếng Kha Tiệm Ly, tôi “hứng khởi” quá, vội vàng chúc mừng thi sĩ những lời sau, không biết thi sĩ có hài lòng và giữ lại những lời này trên FB của ngài không?

Đây là những lời “khen ngợi” của tôi:

Chúc mừng bạn “được” uống rượu với Kinh Kha - Chinese, riêng tôi thích uống rượu với Đặng Dung - Vietnamese hơn.
Xin mạn phép ghi ra đây trích đoạn bài viết của tôi: Hai Chữ Anh Hùng - Nguyên Lạc:

[ ...Nguyễn Du chê Kinh Kha không bằng Dự Nhượng. Dự Nhượng hy sinh thân mình báo thù cho chủ, còn Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ vì có người biết đến mình, và vì sự đối đãi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối, hành động không vì tấm lòng trung dũng (diệt kẻ tàn bạo, phò người đức độ) đâu có hy sinh vì dân tộc, mà hành động chỉ vì sự mua chuộc và kích động của Điền Quang, của Thái tử Đan. Hành động của Kinh Kha không có Trí, mà chỉ vì Danh. Không có lòng Nhân, mà chỉ có Bạo lực đối với Bạo lực. Cái Dũng của Kinh Kha chỉ là cái dũng của kẻ bị mồi ngon thừa mứa, cám dỗ mà hành động.

Đây là trích đoạn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, phần chê bai Kinh Kha.

Thần dũng nghị nhiên duy độc quân.
Đồ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn.
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ,
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ,
Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy.
(KINH KHA CỐ LÝ - Thơ chữ Hán Nguyễn Du)

Liều thân chỉ vì kẻ biết mình,
Huống được Điền Quang tự đâm cổ.
Khá thương Phàn Kỳ chẳng tội chi.
Đem đầu cho mượn chẳng hoàn gì.
Một sớm chết oan ba liệt sĩ.
Hàm Dương, Thiên tử vẫn uy nghi.
                            (Nhất Uyên dịch)

Suy gẫm chuyện KINH KHA, ta thấy ông ta đâu phải là người anh hùng. Như Nguyễn Du đã chê bai: Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ vì có người biết đến mình và vì sự đối đãi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối, hành động không vì tấm lòng trung dũng (diệt kẻ tàn bạo, phò người đức độ), đâu có hy sinh vì dân tộc, mà hành động chỉ vì sự mua chuộc và kích động của người khác.
Tại sao ông ta lại được nhiều người làm thơ, hát ca để ca tụng, vinh danh?!
Anh hùng là như Đặng Dung của VIỆT NAM ta đây:

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.[*]
                                 (Đặng Dung)
.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày... ]

Trân trọng và chúc bạn hiền Kha Tiệm Ly sức khỏe để uống rượu với Kinh Kha - Chinese

                                                                          Nguyên Lạc
..........

[*] Đây là bài thơ Cảm Hoài của anh hùng Đặng Dung:

CẢM HOÀI

Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
                                 Đặng Dung

Tạm dịch nghĩa

NỖI NIỀM HOÀI BÃO

Thế sự mang mang lại tuổi già
Thiên hạ thì vô cùng hãy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết lòng vì chúa có hoài bão xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược dòng sông ngân hà
Thù nước chưa báo thì đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền.


Đặc biệt là câu 3 và câu 4:

Thời lai đồ điếu* thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa

...........

* đồ điếu: đồ là người đồ tể, chỉ Phàn Khoái, chiến hữu của Hán Lưu Bang; điếu là người đi câu, chỉ Hàn Tín, đại tướng của Lưu Bang. Cả hai giúp Lưu Bang xây dựng nhà Hán (dưới mắt Đặng Dung cả hai đều là bọn bần tiện, đồ tiểu tốt)

...........

- “Thời lai đồ điếu thành công dị”: Trương Phụ thoát chết là nhờ may mắn khi Đặng Dung nhảy lên thuyền cùng toán người nhái, vì nhìn không ra ai là Trương Phụ nên hắn đã thoát.
- “Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”: Người Đại tư mã, Tổng tư lệnh mà chịu dẫn quân đi thích khách kẻ chỉ huy địch, xưa nay trên chiến trường chưa hề có, đó là hành động anh hùng .
Đặng Dung cũng cho Trương Phụ, người đã thắng ông, và cả đất nước của Trương Phụ cùng là xứ sở bần tiện cực kỳ.”
Vị anh hùng của Việt Nam ta tài đức vẹn toàn như thế sao chúng ta không hát ca để vinh danh, mà lại đi ca tụng một ông “nước lạ” tầm thường!

READ MORE - UỐNG RƯỢU VỚI ANH HÙNG? - Nguyên Lạc

ĐỌC HAI BÀI THƠ HAY VỀ “CANH MẠNH BÀ” CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY - Châu Thạch


 

             Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC HAI BÀI THƠ HAY VỀ “CANH MẠNH BÀ” CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY
                                                                   Châu Thạch

 “Mạnh Bà là một nhân vật của nhiều truyền thuyết Á Đông gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam... Mạnh Bà là người chế tạo Chén Canh Mạnh Bà ở dưới Địa Phủ giúp các vong hồn quên hết mọi chuyện kiếp trước, trước khi đầu thai kiếp sau.
Người ta nói rằng, sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ phải đi qua một con đường gọi là Hoàng Tuyền lộ. Cuối đường có dòng sông Vong Xuyên, nước chảy không ngừng. Bắc ngang qua sông là cầu Nại Hà, đi hết cây cầu này sẽ đến Vọng Hương Đài. Những linh hồn được đầu thai làm người đều phải qua Vọng Hương Đài này, rồi uống bát canh quên lãng của một bà lão tên là Mạnh Bà.
Bất cứ ai uống bát canh Mạnh Bà ấy thì mọi chuyện trong quá khứ đều trôi theo dòng nước Vong Xuyên mà chìm vào quên lãng. Những hỷ nộ ai lạc, những ân oán tình thù, hết thảy đều tan đi như làn khói, chỉ còn lại ký ức trống rỗng cùng một gương mặt yên bình.
Tuy nhiên, trên thế giới có rất nhiều trường hợp, có lẽ vì không uống bát canh Mạnh Bà này, nên đã nhớ được hết thảy những chuyện của đời trước, và những câu chuyện được kể lại hết sức chân thực, khiến người ta không thể không hoài nghi rằng, luân hồi chuyển thế phải chăng là chuyện chân thực.”

Câu chuyện Canh Mạnh Bà chắc chắn chỉ là chuyện huyễn hoặc do người xưa hư cấu. Thế nhưng nhờ nó, nhiều nhà thơ dùng làm đề tài sáng tác ra thơ hay. Hai trong những bài thơ như thế mà tôi đọc được là của nhà thơ Lang Trương và cúa nhà thơ Vúa Ăn Mày. Trước hết mời quý vị hãy xem bài thơ của Lang Trương:


         
                   Nhà thơ Lang Trương


CANH MẠNH BÀ
(Tặng Đức Thanh)

Tưởng rất gần mà thật xa xăm
Trong gang tấc, một đời không với tới
Em và ta, chung đường ngược lối
Đã bao lần ngắm thiên hạ thành đôi.

Ta đã tìm em khắp sáu nẻo luân hồi
Chợt gặp nhau khi ráng chiều vừa tắt
Áo nâu sồng nhuốm lời kinh dìu dặt
Em trợ duyên người, sao chẳng trợ duyên ta ?

Sợ quên em ta không uống chén Mạnh Bà
Giữ cho em qua Nại Hà không lạc lối
Từng bước chân son, em qua cầu rất vội
Chẳng đoái hoài ta nơi bể khổ trầm luân.

Thuận duyên lành, em nhẹ gót đưa chân
Tâm hướng thiện nương cửa thiền sớm tối
Bỏ mặc ta giữa dòng đời trôi nổi
Mang nặng trong tim mình, một tảng đá ba sinh.

Muôn vạn lần say cũng không thể quên mình
Bởi kiếp trước, chén Mạnh Bà ta không uống
Mãn cuộc rong chơi, thêm một lần đi xuống
Chén Mạnh Bà, thêm một lần,
ta cũng sẽ không uống,
vì em !
                                                Lang Trương

Phải nói rằng bài thơ bày tỏ một tình yêu chung thủy đến ngàn năm. Câu chuyện được kể lại như một trường thiên tiểu thuyết đi qua trăm ngàn kiếp làm người.

Ở khổ thơ đầu ta thây nhà thơ nói “Em và ta, chung đường ngược lối”. Vậy thì, hoặc là nhà thơ chỉ yêu đơn phương, hoặc là có một sự ngăn trở mà nhà thơ không vượt qua được, nên dầu hai người đi chung một con đường mà ông tơ bà nguyệt cứ rẽ lối chia đôi.

Qua khổ thơ thứ hai nhà thơ nói “Ta đã tìm em sáu nẻo luân hồi”. Sáu nẻo hay sáu cõi luân hồi là gì?  Sáu cõi luân hồi là thuật ngữ trong Phật giáo dùng để chỉ về những con đường mà chúng sinh sẽ tái sinh vào sau khi chết. 6 cõi luân hồi bao gồm:

Cõi trời
Cõi thần
Cõi người
Cõi súc sinh
Cõi ngạ quỷ
Cõi địa ngục.

Ai cũng biết rằng, đời người sống 70. 80 hay 100 năm rồi chết thì xem như qua một kiếp, hay một vòng, hay một nẻo luân hồi. Thế nhưng một kiếp của ta đỗi với sự trường tồn của vũ trụ thì nó chỉ như một cái chớp của ánh sáng hay bóng tối mà thôi. Vậy thì Lang Trương lang thang sáu nẻo luân hồi, tức là nhà thơ đã đi qua nhiều kiếp đầu thai vào nước trời, nước người, cho đến nước địa ngục để tìm em.

Rồi thì trong một kiếp cuối cùng nhà thơ cũng gặp được em, nhưng gặp được em trong hoàn cảnh éo le. Gặp em ở buổi “ráng chiều vừa tắt” là ở gần cuối cuộc đời. Trớ trêu hơn nữa, nhà thơ gặp em thì em đã đi tu, đã mặc áo cà sa, còn nhà thơ là người thế tục. Ví đó, nhà thơ phải ai oán trách nàng: “Áo nâu sồng nhuộm lời kinh dìu dặt/Em trợ duyên người, sao chẳng trợ duyên ta?”

Bây giờ Lang Trương mới kể lể khóc lóc đây:

Sợ quên em ta không uống chén Mạnh Bà
Giữ cho em qua Nại Hà không lạc lối
Từng bước chân son, em qua cầu rất vội
Chẳng đoái hoài ta nơi bể khổ trầm luân.

Truyền thuyết kể rằng; “Vong Xuyên hà (dòng nước Vong Xuyên) còn được gọi “Tam Đồ hà”, chắn ngang giữa đường Hoàng Tuyền và âm phủ. Nước sông có màu đỏ như máu, bên trong đều là cô hồn dã quỷ không được đầu thai, những trận gió tanh hôi tạt thẳng vào mặt. Vì để kiếp sau có thể gặp lại người mình yêu thương nhất trong kiếp này nên có người không uống canh Mạnh Bà mà chấp nhận nhảy vào Vong Xuyên hà bao đau đớn, đợi nghìn năm mới có thể đầu thai.
Trong nghìn năm đó, họ sẽ nhìn thấy người mà mình yêu thương nhất trong kiếp này đi trên đầu, nhưng không thể nói chuyện với nhau, vì mình thấy họ, nhưng họ lại không thấy mình. Sau nghìn năm, nếu như lòng nhớ nhung không hề giảm đi, còn có thể nhớ được chuyện của đời trước, vậy thì mới có thể đầu thai trở lại, tìm kiếm người mà mình yêu nhất trong đời trước.
Ta biết rằng, tác gỉả bài thơ đã “Ta tìm em sáu nẻo luân hồi”. Như vậy, cứ mỗi lần để còn nhớ em, để có thể tìm em qua một nẻo luân hồi, thì phải chịu đau đớn thêm 1000 năm trầm mình dưới Vong Xuyên Hà, nhìn em đi qua trong nhiều kiếp, mình thấy em mà em chẳng thấy mình. Nếu tính đời người là 100 năm thì Lang Trương phải thấy em qua cầu Nại Hà 100 lần mới được đầu thai lại, để đi tìm em lại. Thế nhưng nhà thơ đã “Ta tìm em sáu nẽo luân hồi” tính ra cũng bằng triệu năm có lẽ!
Vậy nhưng, với lòng chung thủy vô biên, với quyết tâm phải được chung sống với em, nhà thơ lại thêm một lần từ chối uống bát Canh Mạnh Bà:

Muôn vạn lần say cũng không thể quên mình
Bởi kiếp trước, chén Mạnh Bà ta không uống
Mãn cuộc rong chơi, thêm một lần đi xuống
Chén Mạnh Bà, thêm một lần,
ta cũng sẽ không uống,
vì em !

Bây giờ xin mời đọc bài thơ “Mấy Nẻo luân Hồi” của Vua Ăn Mày cũng đề cập đến bát Canh Mạnh Bà


   
                         Nhà thơ Vua Ăn Mày


MẤY NẺO LUÂN HỒI

Từ bữa chia tay ngoài nhãn giới
Luân hồi mỗi đứa một đường đi
Ta men theo gió qua sông Nại
Quán Mạnh Bà uống mấy lon bia

Say bí tỉ, ăn nhầm cháo lú
Thiên duyên xưa lỡ mất, đâu ngờ
Mây tiền kiếp trắng trời thương nhớ
Chợt thấy lòng buồn hơn gió thu

Ta kiếm tìm em mờ đất tục
Lạc loài trôi cả tuổi thanh niên
Thu về mấy độ tàn hoa cúc
Ta đọa đày ta giữa xứ phiền

Đêm nay chợt thấy trăng mùa cũ
Phơi sắc vàng phai giữa lối xưa
Ta nhớ em nhiều, ta nhớ quá
Nơi nào em có nhớ thương ta

                         Vua Ăn Mày

Nhà thơ Vua Ăn Mày khác với Lang Trương, anh ta vì say mà uống nhầm bát Canh Mạnh Bà.  Bát Canh Mạnh Bà đã làm mất “thiên duyên” để có thể gặp lại em chớ không làm chàng quên em được. Nói một cách khác, Vưa Ăn mày đã thay đổi truyền thuyết Canh Mạnh Bà theo một hướng khác. Chàng trai trong thơ vì ham chơi, nói trắng ra là ham uống nên phải chịu đắng cay vì tội lỗi của mình. Bài thơ nói lên một thực tê nhan nhản xảy ra giữa đời nầy. Bao nhiêu cuộc tình chia ly chỉ vì một phút sai lầm, một phút yêu đuối, đế sầu phải nhận lảnh trăm năm.
Vì bát Canh Mạnh bà là chuyện không có thật, nên nhà thơ có thể sửa đổi, có thể hư cấu theo tưởng tượng của mình để gởi vào đó vần thơ, bày tỏ lòng thương nhớ một người hiện hữu hay một người trong mộng mà ta chưa gặp bao giờ. Vua Ăn Mày có lẽ còn đau khổ hơn Lang Trương, vì phải mang mặc cảm tội lỗi mà đi tìm em. Nếu tìm được em rồi biết nói sao đây? Biết đâu em không tha thứ mà ngoảnh mặt làm ngơ!

Đọc hai bài thơ nói về Canh Mạnh Bà của hai nhà thơ, tất nhiên tiếng thơ, ý thơ, vần điệu thơ khác nhau, thế nhưng ta thấy họ có một dáng thơ giống nhau. Đó là một dáng thơ mang tâm hồn lãng mạn. Câu chuyện của hai nhà thơ đều là hư cấu, ta biết không có nhưng ta vẫn yêu mối tình của họ, vì mối tình của họ nói lên những gì ấp ủ trong lòng ta, những nhớ thương, tìm kiếm một giai nhân không có trong đời ta, hay có chẳng cũng chỉ trong giấc huyễn mộng một đêm nào!

                                                                     Châu Thạch 

READ MORE - ĐỌC HAI BÀI THƠ HAY VỀ “CANH MẠNH BÀ” CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY - Châu Thạch

Tuesday, October 29, 2019

HALLOWEEN VÀ EM... - Thơ Trần Mai Ngân





HALLOWEEN VÀ EM...

Em giấu sau chiếc mặt nạ qủy lạnh lùng
Là đôi mắt buồn đẫm lệ
Bởi tình yêu và cuộc đời đâu phải thế
Không như em nghĩ và mơ...

Em giấu sau đôi môi cười gian ác
Là tiếng gọi anh - dấu yêu...anh biết không
Halloween đêm hoá trang - đêm mênh mông
Em nhập vai... Tay nanh vuốt cấu cào tình rướm máu...

Em giấu cõi lòng đau đáu
Trong vai chú hề Joker
Nghìn năm thù oán một Battman hoàn mĩ
Nụ cười hoen rỉ... có được chi!

Sau chiếc mặt nạ, lệ ướt mi
Em vẫn thế là em đắm đuối
Chạy theo người - trò chơi rượt đuổi
Trượt chân dài quỵ ngã trăm năm

Vướng sợi tóc rơi vực sâu... vết lăn trầm
Ôi! Ma quỷ linh hồn sao đau đớn...
Em giấu em, giấu một tình yêu lớn
Vụt vỡ tan khi lộng lẫy xuân tình

Halloween thần thánh cũng một mình
Và ma quỷ hiện nguyên hình hung tợn
Giết con tim... máu tràn ghê rợn
Một tình yêu cũng chết theo cùng...

Lễ hội Halloween trời lạnh buốt, đêm mịt mùng
Em giấu em, giấu mình sâu thăm thẳm
Chiếc mặt nạ qủy hiện thân loài hung ác
Mà tim em là của thiên thần

Gọi người xa bằng cả ân cần
Mắt đẫm lệ phía sau đôi mắt quỷ...

                                             Halloween 2019
                                             Trần Mai Ngân

READ MORE - HALLOWEEN VÀ EM... - Thơ Trần Mai Ngân

ĐỌC “TÌNH TỰ” THƠ CỦA TIM TÍM: TÂM HỒN NHẬP VÀO CÕI THU VÔ BIÊN - Châu Thạch


  
               Nhà bình thơ Châu Thạch



ĐỌC “TÌNH TỰ THƠ CỦA TIM TÍM: TÂM HỒN NHẬP VÀO CÕI THU VÔ BIÊN
                                                                       Châu Thạch

Một hôm ngồi uống cà phê với nhà văn Nguyễn Khắc Phước, Phước nói với tôi: Thơ của Tim Tím, một nữ tác giả trên facebook thật hay. Tôi liền mở facebook đọc thử vài bài, thấy hay tôi xin kết bạn. Về nhà đọc lại nhiều lần thơ của tác giả nầy, bài thơ “Tình Tự” của Tím Tím đã đã gây cho “con ma” trong lòng tôi cảm xúc, và nó bắt tôi phải viết.
Trước hết ta hãy đọc khổ thơ đầu của bài thơ ‘Tình Tự”

Mùa thu ướp hương hoa nồng lên tóc
Tóc thơm tho vừa đắm giấc say mê
Dòng tóc chảy như dòng thơ tình tự
Vừa cho ai vùi cơn mộng, quên về

Một cách tả mùa thu rất mới, không có gió heo may, không có trời se lạnh, không có lá vàng rơi mà có những thứ xưa nay ít nhà thơ nói đến, chưa dám viết là không có nhà thơ nào đề cập đến.
Chỉ đọc bốn câu thơ đầu ta đã thấy mùa thu tràn hương trên người thiếu nữ và người thiếu nữ chính như là bức tranh mang chủ đề “muà thu và em”.  Một bức tranh như thế chỉ có thể thi nhân mới vẽ được bằng lời, họa sĩ cũng khó mà vẽ được.

Ta bước vào khổ thơ thứ hai của bài thơ:

Mùa thu đọng trên môi trầm ngực biếc
Giọt tương tư ngan ngát đóa hoa yêu
Ta chìm xuống trên sương trời áo lụa
Màu trăng trong và ta cũng tan theo

Bây giờ muà thu đã hòa nhập vào cả thân thể và tinh thần người thiếu nữ. Muà thu nhập vào thân thể trong câu thơ “Mùa thu đọng trên môi trầm ngực biếc”. Mùa thu thẩm thấu vào linh hồn người con gái trong câu thơ “Giọt tương tư ngan ngát đóa hoa yêu”. Rồi thì mùa thu và người biến thành một trong hai câu thơ “Ta chìm xuống trên sương trời áo lụa/ Màu trăng trong và ta cũng tan theo”.
Ta thấy thơ Hàn Mạc Tử nói về trăng rất nhiều. Hàn Mạc Tử nói “Cả miệng ta là trăng”, “Ha ha, ta đuổi theo trăng”. “Trăng vàng ngọc trăng ân tình ta mến”, “Ta gặp nàng trăng ở suối trăng” nghĩa là trăng và nhà thơ vẫn luôn luôn là hai chủ thể khác nhau. Tác giả Tím Tím thì khác, “Ta chìm xuống trên sương trời áo lụa/Màu trăng trong và ta cũng tan theo” là một sự hòa nhập vô vi giữa người và trăng trong vũ trụ

Qua khổ thơ thứ ba:

Tan, tan mãi, tan về nơi vô tận
Bao đam mê trôi trên mắt môi đầy
Ôi như thể ta không còn nhịp thở
Trăng vàng thu đang lóng lánh tan bay

Khổ thơ nầy chứng minh thêm tác giả Tím Tím không là người đi trong nguồn trong trẻo của thu, được vây phủ bởi trăm dây quyến luyến của thu mà đã “Tan, tan mãi, tan về” trong thu, có nghĩa là đã trở thành bản thể của thu rồi. Bây giờ cả thân thể và tâm hồn tác giả mong manh, loang xa, bay cao  như sương như  khói ở cùng sự lóng lánh của ánh trăng. Bốn câu thơ cho ta nghĩ về một sự hôn mê, vì hôn mê mới cho ta tan, bay vào không gian như thế. Bốn câu thơ cũng cho ta nghĩ về một cơn mơ, vì một cơn mơ mới cho thân thể ta nhẹ đến” không còn nhịp thở” và linh hồn ta bay trong trăng vàng lóng lánh được.

Dầu hôn mê hay cơn mơ thì Tím Tím cũng gởi đến ta một cảm xúc thăng hoa, bay bổng để tan vào trong mùa thu, cho ta hưởng thi vị của một linh hồn siêu thoát vào mùa thu của đất trời.

Bây giờ hãy vào thăm khổ bốn và khổ năm của bài thơ:

Ta nghe thấy trên da mùi hương cỏ
Mùi tường vi ngây ngất cánh nghiêng rơi
Ta trôi mãi cuốn sâu vào thăm thẳm
Bùa tình thiêng huyền hoặc giữa tay người

Ta sẽ trải trên da mềm óng ả
Màu sương trăng thành áo lụa thênh thang
Muôn tinh tú reo trên bờ môi ngọt
Mi mềm run hồn níu gọi thiên đàng

Đây là những cảm xúc thực tế mà nhà thơ đã tận hưởng khi hòa nhập vào thu, đồng điệu với thu và biến mình thành mùa thu của vạn vật. Những cảm xúc ấy được nhà thơ diễn tả bằng bút pháp điêu luyện, nghe như tiếng nước chảy, nghe như tiếng sương tan trong trăng, nghe như tiếng thầm thì của tinh tú.
Đọc thơ ta thấy hình ảnh thiếu nữ nằm dưới trăng tuyệt đẹp: “Ta sẽ trãi trên da mềm óng ả/ Màu sương trăng thành áo lụa thênh thang”. Đọc thơ ta cũng nghe được mùi hương thơm hoa lá trên da thịt người con gái bay ra: “Ta nghe thấy trên da mùi hương cỏ/Mùi tường vi ngây ngất cánh nghiêng rơi”

Ở khổ cuối bài thơ, tác giả đã nhập trong trăng, kéo sợi dây thời gian quay lại để nhà thơ được ở cả trong miền ký ức tiền kiếp của mình:

Trăng trong trẻo, trăng nghe lời tình tự
Đất run run đất xao xuyến chuyển mình
Từ tiền kiếp xa xăm quay về lại
Giấc tình mơ thương cảm đến rưng rưng

Nhà thơ đã đang ở trong phút giao hoan của đất trời.
“Trăng trong trẻo, trăng nghe lời tình tự/ Đất run run đất xao xuyến chuyển mình”: Đất và trăng trong hai câu thơ nầy mang đầy đủ hình ảnh người nam đang tỏ tình với người nữ.
“Từ tiền kiếp xa xăm quay trở lại/ Giấc tình mơ thương cảm đến rửng rưng”: Ý nghĩa trong hai câu thơ này cũng chẳng khác chi cuộc tái ngộ của một mối tình xa cách ngàn năm.
Bốn câu thơ ở khổ cuối đã đưa vũ trụ vào cảm xúc thế nhân, đã đặt thế nhân trong sự giao hoan của trời đất, đã biến cái tôi thành bao la và thu cái bao la vào hồ lô tâm hồn bé nhỏ của thi nhân. Đó là bốn câu thơ tuyệt vời để chấm dứt bài thơ.

Bài thơ “Tình Tự” của Tím Tím quả là một bài thơ tình, đó là thứ tình thu, không có “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” không có “tiếng thu rơi xào xạc” của lá vàng nhưng lại có một thứ tiếng thu tình tự của “tinh tú reo trên bờ môi”, của “tiền kiếp xa xăm quay lại” trong không gian và trong cả thời gian, để tác giả và chúng ta, người đọc thơ, tan ra, hòa nhập vào cõi thu vô biên, vây phủ bởi tơ trăng, tơ sương, hương trầm, và hương hoa lá.
Thật ra trong bài thơ nầy tác giả cho biết: “Bài thơ nầy là bài duy nhất em viết về đề tài nhạy cảm : đó là tình dục trong tình yêu . Một cuộc gặp gỡ giữa cô gái và người yêu trong tiền kiếp xa xưa . Họ tình tự trong một giấc tình mơ mà trời đất cũng phải xao xuyến thương cảm rưng rưng.”

Tất nhiên người viết bài bình không ở trong lòng tác giả, nên chỉ suy diễn theo cảm nhận của mình, thế nhưng sự suy diễn đó không đối lập với điều tác giả trình bày. Được sự thổ lộ của tác giả người bình thấy thêm sự thâm thúy của bài thơ, khi tác giả đem giờ phút ân ái cúa đôi tình nhân tan vào trong trời đất, làm cho trời đất cũng “xao xuyến thương cảm rưng rưng”. Tác giả nói về sự “tình tự” của  của hai người yêu nhau từ tiền kiếp, để từ đó người viết liên đới đến một thứ “tình thu” trời đất giao hòa trong cùng thời điểm mà con người tương hợp. Đây là một bài thơ  càng suy rộng càng hay!!

                                                                          Châu Thạch


                             Nhà thơ Tim Tím

TÌNH TỰ
   
Mùa thu ướp hương hoa nồng lên tóc
Tóc thơm tho vừa đắm giấc say mê
Dòng tóc chảy như dòng thơ tình tự
Vừa cho ai vùi cơn mộng , quên về

Mùa thu đọng trên môi trầm ngực biếc
Giọt tương tư ngan ngát đóa hoa yêu
Ta chìm xuống trên sương trời áo lụa
Màu trăng trong và ta cũng tan theo

Tan , tan mãi, tan về nơi vô tận
Bao đam mê trôi trên mắt môi đầy
Ôi như thể ta không còn nhịp thở
Trăng vàng thu đang lóng lánh tan bay

Ta nghe thấy trên da mùi hương cỏ
Mùi tường vi ngây ngất cánh nghiêng rơi
Ta trôi mãi cuốn sâu vào thăm thẳm
Bùa tình thiêng huyền hoặc giữa tay người

Ta sẽ trải trên da mềm óng ả
Màu sương trăng thành áo lụa thênh thang
Muôn tinh tú reo trên bờ môi ngọt
Mi mềm run hồn níu gọi thiên đàng

Trăng trong trẻo, trăng nghe lời tình tự
Đất run run đất xao xuyến chuyển mình
Từ tiền kiếp xa xăm quay về lại
Giấc tình mơ thương cảm đến rưng rưng

                                                Tim Tím
                                               31/8/2019

READ MORE - ĐỌC “TÌNH TỰ” THƠ CỦA TIM TÍM: TÂM HỒN NHẬP VÀO CÕI THU VÔ BIÊN - Châu Thạch

Monday, October 28, 2019

LỜI BIỂN, Thơ Hồng Thúy, nhạc Phan Ni Tấn, biểu diễn Ngọc Mỹ,

READ MORE - LỜI BIỂN, Thơ Hồng Thúy, nhạc Phan Ni Tấn, biểu diễn Ngọc Mỹ,

VỀ THÔI - Thơ Lê Văn Trung





VỀ THÔI

Thôi về gặp lại nhau lần cuối
Những bến sông buồn buổi tiễn đưa
Những ga tàu quạnh mùa sương cũ
Những quán đêm vàng hiu hắt khuya

Về để mà thương những dặm buồn
Con đường gió xõa tóc hoàng hôn
Con đường có lá rơi không hết
Trăng khuyết từ khi lá rụng vàng

Về để mà nghe từng nhịp gõ
Xưa người rao bán những cơn mơ
Về để mà nghe lời dang dở
Ta ngồi chắp vá từng câu thơ

Về đi
Tô lại màu son cũ
Dù áo tình xưa có nhạt nhàu
Về đi
Thắp lại mùa trăng vỡ
Cho ái ân chìm trong nỗi đau.

                       Lê Văn Trung

READ MORE - VỀ THÔI - Thơ Lê Văn Trung