Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, October 21, 2011

CHÙM THƠ LỤC BÁT TẶNG BẠN - CHÂU THẠCH , VÕ LÀNG TRÂM, THANH TRƯƠNG




MƯA NGĂN LỐI BƯỚM
      Tặng Hoài Hương người về từ USA
                                  

    Bên kia bờ biển em về
Trời sao mưa cứ tràn trề ngày đêm
    Chỉ là mới gặp được em
Mà tình thi hữu nặng thêm rất nhiều
    Thơ từng đọc rất mỹ miều
Mà người nay gặp yêu kiều hơn thơ
     Trách trời sao lại hững hờ
Để cho mưa khắp bến bờ quê hương
      Để cho nước lút con đường
Để ngăn lối bướm về vườn hoa xưa
       Để em đợi sáng đợi trưa
Bên song mắt dõi màng mưa nặng lòng
       Ta từng số kiếp long đong
Đời ta một mớ bòng bong rối bời
       Cầm phone muốn gọi em ơi
Sợ mưa chia cắt những lời thân thương
        Sợ em nhầm lỗi văn chương
Trách ai sao nhả lụa vương tơ tằm
         Trời nầy mưa rả mưa ròng
Thơ vì em để cầu mong nắng về
          Thôi em chớ mặt ủ ê
Phố Đà  hưởng trận mưa quê mát lòng
        Đất người khô ráo quanh năm
Dễ chi được đắp chăn nằm nghe mưa ./.

                         Đà Nẳng, ngày mưa lũ 16-10-2011
                                       Châu Thạch



DẶM TRƯỜNG ĐÂU NGÁN MƯA SA
                 Gửi chị HH về thăm quê Đà Nẵng

Từ lâu nghe tiếng chị về
Nước ơi sao nở tràn trề ngày đêm
Mưa hoài ngăn bước chị - em
Nói qua điện thoại càng thêm nhớ nhiều
Chị hai chắc quá mỹ miều
Mưa ganh nét đẹp diễm kiều « bạn thơ »
Người người đâu có hững hờ
Mà mưa với lụt ngăn bờ quê hương
Còn đâu dạo mấy cung đường
Để cùng thăm lại mãnh vườn  thuở xưa
Một thời chẳng kể sớm trưa
Hạ vàng nắng trải , đông mưa mặc lòng
Phải chăng cái số long đong ?
Xui chị gặp lắm bòng bong tơi bời
Tiếng sao nói dễ thương ơi !
Bao năm tiếng mẹ vẫn lời thân thương
Trước đây mới đọc văn chương
Xướng lên họa lại mãi vương tấm lòng
Bây giờ chắc nước đã ròng ?
Năm trăm cây số không mong cùng về
Thôi thì chị chớ ủ ê
Bạn thơ đất Quảng chân quê thực lòng
Xứ người biền biệt mấy năm
Về đây là quý dẫu nằm trông mưa !
                             
                     Nha Trang, chiều mưa 17-10-2011
                                        Võ Làng Trâm



VỀ QUÊ NGÀY LŨ LỤT    
 Trao về HH ỏ Đà Nẵng trong những ngày về thăm quê

Nhớ quê em phải quay về
Dù cho mưa gió bốn bề ngày đêm
Đây là tình cảm quê em
Mưa càng rỉ rả, lòng thêm thương nhiều
Quê em sông núi mỹ miều
Trai thanh gái lịch diễm kiều văn thơ
Hàn giang đâu có hững hờ
Nước dâng đầy phố đón chờ người thương
Dù cho mưa lụt lút đường
Áo mưa lội nước như dường năm xưa
Cùng chàng đâu quản sáng trưa
Có chàng bên cạnh, gió mưa mặc lòng
Nay dù số phận long đong
Về đến quê mẹ nỗi lòng đầy vơi
Nhà thơ Châu Thạch ta ơi
Sợ chi mưa gió, mấy lời thêm thương
Đã là trong nghiệp văn chương
Mấy ai tránh khỏi vấn vương tơ tằm
Mưa thời mưa rả mưa ròng
Mưa cho ướt áo, em không ngày về
Ai ơi! xin chớ ủ ê
Cảnh xưa bạn cũ, tình quê mát lòng
Sá chi một chút gió đông
Thăm quê là cả hoài mong bao ngày . . .


                 TP Hồ Chí Minh, 18-10-2011
                       Thanh Trương
READ MORE - CHÙM THƠ LỤC BÁT TẶNG BẠN - CHÂU THẠCH , VÕ LÀNG TRÂM, THANH TRƯƠNG

Wednesday, October 19, 2011

HOÀNG VĂN CHẪM - XUÔI THEO DÒNG NƯỚC MẮT

          

                                       
  
Thương tiếc Lê Quang Trung
                                                                  (  nhạc sĩ Lê ưu Điềm )
                       
                       Những dòng nước mắt
                       Rơi xuống
                       Trần gian không còn bóng dáng em
                       Như đứa em tôi vừa ra đi
                       Đi mãi không về
                       Không còn em
                       ''như chim bỏ đường bay...''
                       Nốt nhạc cho đời không còn trên từng dòng kẻ
                       Âm vang ngân dài không vơi......

                       Em ra đi bỏ lại cõi đời
                       Tiếc-thương-nhớ...
                       Có mẹ có cha có anh em bằng hữu
                       Không nguôi không nguôi
                       Nỗi đau xé lòng bên hình hài thương nhớ
                       Hương khói hòa theo.

                       Đục trong cõi đời em cởi bỏ
                       Nhẹ bước thênh thang một chốn vô thường
                       Nơi này lắm nỗi tiếc tiếc thương thương
                       Vần vũ bốn mùa người người bên lòng nỗi nhớ.

                       Em có biết chăng phố núi cao
                       Cây sầu riêng chằng chịt nỗi đau
                       Lặng thầm '' sầu riêng tôi''...*
                       '' Đá cũng tự tình''*
                       Vượt thời gian đi cùng năm tháng

                       Nơi quê nhà còn đó một dòng sông
                       Buổi em về tương phùng bên con nước
                       Từ đây vắng mãi bóng em
                       Nơi quê quán xưa
                       Nơi cất giấu tuổi thơ
                       Cuống rốn mẹ cha vùi lấp giữa tiếng khóc chào đời
                       Và em còn đó bao lời ru tuổi nhỏ
                       Con sông Ô Lâu vẫn mãi lặng thầm

                       Em ra đi bên làn khói màu lam
                       Bên nốt nhạc trầm buồn đưa tiễn

                       Em đi có về lại nữa không?
                       Dấu chấm cuộc đời là nỗi đau?
                       Là số phận?
                       Em đi rồi!!!
                       Mãi là dòng nước mắt vô tận
                       Một ngút ngàn em tôi!

                   * tên các ca khúc của Lê ưu Điềm.

                                                                               18-10-2011
                                                                          Hoàng văn Chẫm
READ MORE - HOÀNG VĂN CHẪM - XUÔI THEO DÒNG NƯỚC MẮT

VÕ VĂN LUYẾN - CHÙM LỤC BÁT


Khúc trầm
gửi miền sương ngọt

Mấy mùa sim hẹn tôi về

Nắng day dưa nhớ, mưa mê mải tìm

Chong đèn đếm nhịp sầu tim

Núi hờn trổ ngọn, dỗi tình đơm bông



Mấy mùa sương lụa còn không

Chiêm bao trốn gặp gió thông thênh gầy

Đường quen lá vẫn đan tay

Yêu thương mật đọng, nồng say thuở nào



Mấy mùa trăng lạc ca dao

Cỏ hoa chúm chím môi đào dạ thưa

Mây ngoan buông sóng mặt hồ

Tơ chùng thả sợi ngẩn ngơ xuống lòng



Mấy mùa bướm trắng thong dong

Chợ Phiên hút bóng người không thấy về

Nẻo vui phố cưới cơn mê

Chiều xa ngồi vớt câu thề trôi sông...




Lỗi của đêm

Xa nhà ngủ ít thức nhiều

chẳng như cái thuở dám liều đi đêm

ra đường xinh đẹp các em

một câu cợt gió sợ thêm nhầm người

người nhầm mình - giống ma trơi

vai anh giáo thành chuyện cười dân gian



thôi thì xin được bằng an

buồn vui mình lại miên man với mình

chữ đến như rùa mới kinh

thế là dang dở đêm tình tự qua

có đâu lấy một tiếng gà

còi xe giục kẻ đi xa lên đường



rồi ra như mình nhớ thương

ngổn ngang trăm nỗi, ngại đường giữa đêm!




Phiên khúc bazan


lần theo câu hát tìm lên

­a dừng nắng ửng môi mềm cà phê

tóc hong nồng ấm lời thề

suối nguồn soi bóng tôi về tìm tôi

đồi sim mọng chín bên trời

ngày xưa ơi, ngày xư­a ơi có còn

phải đâu “ như­ con chuồn chuồn

khi vui chuồn đậu, khi buồn chuồn bay”

phải đâu con n­ước vơi đầy

trầm mê bến hẹn dây dây dỗi hờn

tơ hồng vấn vít tay thon

vô t­ư gieo nặng giọt sư­ơng mắt ngư­ời

mây lần xuống ngủ vai côi

tiếng chim đồng vọng từ nơi phiêu bồng

tìm về câu hát chờ mong

đất trời tan loãng giữa dòng yêu th­ương...

VVL
READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - CHÙM LỤC BÁT

Tuesday, October 18, 2011

LÊ ƯU ĐIỀM - NGHE ĐÁ TỰ TÌNH


Nhạc sĩ LỂ ƯU ĐIỀM 
Tên thật : LÊ QUANG TRUNG
Sinh ngày 11 tháng 8 năm 1960
Quê quán: Phong hoà, Phong điền,Thừa thiên-Huế
Cựu học sinh trường Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị khóa cuối cùng (1972)
Nghề nghiệp: Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng 
Công tác tại Bệnh viện Chợ Rẫy, TP.HCM
Làm quen với âm nhạc qua bộ môn Guitare Classic
Bắt đầu sáng tác ca khúc từ năm 1976 .
Hội viên Hội âm nhạc TP.HCM năm 1995.
Đã viết gần một trăm ca khúc với nhiều thể loại khác nhau.
Đã phát hành Tuyển tập ca khúc LÊ ƯU ĐIỀM với 50 nhạc phẩm chọn lọc, NXB Thanh Niên và Hội Nhạc sĩ Việt nam-Chi nhánh phía Nam, 2007.
Ðã từ trần vào lúc 2g25 ngày 17-10-2011 (nhằm ngày 21-09-Âm Lịch). Hưởng dương 52 tuổi.


TRANG NHÀ CỦA NS LÊ ƯU ĐIỀM Ở ĐÂY
READ MORE - LÊ ƯU ĐIỀM - NGHE ĐÁ TỰ TÌNH

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - XANH XANH ĐỒNG CỎ




Nó đến vào buổi chiều, cuối mùa hè, khi tôi chơi thả diều trên cánh đồng gần sông với Hà và mấy đứa bạn. Tôi và Hà cùng mười tuổi, sắp vào lớp năm. Nó đến bất thần. Ngang thắt lưng.
Cánh diều lượn trên không. Suốt ngày nóng hầm hập, không gian đặc lại, lá rơi không chạm đất, nhưng về chiều mát dần; trên cao dọc bờ sông gió đổi chiều, con diều bay lên, đứng im. Bỗng nó liệng dữ dội, giãn ra, lao xuống, vọt lên. Cuối cùng lao xuống nữa nhưng không lên được, như một đứa trẻ ngoài khơi, mặt trời lặn, đuối sức, chìm dần.
Tôi nhớ cánh diều khi đang ngồi trong phòng làm việc, nhìn qua cửa sổ cỏ xanh mới cắt, lúc đến thực tập với giáo sư Upton, một chuyên gia thần kinh, sau khi tiếp một bệnh nhân đặc biệt. Laura không có gì giống Hà. Phụ nữ da trắng, bốn mươi bốn tuổi, được đẩy trên xe lăn vào phòng khám, dịu dàng, mắt xanh lơ, tóc vàng, nhìn mặt không biết người bị tật, liệt không đều, chân phải yếu hơn chân trái. Tôi không để ý lắm đến người đẩy xe, một người đàn ông trạc tuổi chị; những người thiện nguyện có nhiều trong bệnh viện. Mới đầu, tôi nghĩ anh là một người như thế, về sau mới biết đó là chồng của Laura.
Kết thúc buổi khám, tôi đưa họ ra; và vì cũng hết giờ làm việc nên ngồi nán lại chỗ gần cửa, trong khi hai vợ chồng chờ làm các thủ tục. Trong những tiếp xúc thân mật ngoài lề, tôi học thêm nhiều từ bệnh nhân. Chờ vợ, người chồng trò chuyện với tôi; anh có giọng của người Ăng-lê. Tôi chăm chú nghe. Có những ngày trí nhớ của bạn tươi như cánh cửa thêm dầu mỡ, như đám mây tích điện sắp tụ thành mưa; khi mưa, bạn đứng bên đường nhìn lá sen ngửa lên hứng nước, cúi xuống rót vào mặt hồ, hết, lại ngửng lên, tiếp tục như thế, chảy mãi vào kho tàng ký ức.
Những ngày như thế của một người dựng nên lịch sử tình yêu của một người khác. Chị lấy chồng, bạn cũ thời tiểu học, năm chị hai mươi hai tuổi. Anh hai mươi bốn, vừa ra trường kỹ sư điện, nhận việc làm phía bắc tỉnh Alberta, nơi tình cờ chị đi ngang qua trong buổi cắm trại hè của trường cao đẳng. Cưới nhau; chị nghỉ học về với anh. Dự định, sau đó sẽ theo học ở một trường gần chỗ anh làm. Tuần trăng mật kéo dài, sôi nổi.
Hai năm sau, chị mắc bệnh. Một năm hai tháng sau nữa, anh mất việc. Hai người dọn về cơ ngơi mà ông nội của anh để lại khi qua đời, một căn nhà gỗ lớn giữa khu vườn rộng, bỏ không, ngoại ô Edmonton. Có những ngày không có việc làm, họ không đủ tiền để mua cả bánh mì, nửa đồng một chiếc loại bánh mì Pháp, mười lăm cents một chiếc loại bánh tròn.
Trong khi anh lái chiếc xe pick-up đỏ đi nơi này qua nơi khác kiếm việc làm trong thời kỳ suy thoái kinh tế, chị ở nhà chất đầy bụng bởi những trái dâu đen blackberries, mọc đầy trong vườn, gần hàng rào, chỗ tiếp giáp cánh đồng, phía đêm đêm tiếng chó sói sủa trăng ngoài xa vẳng lại, mỗi mùa hè vẫn cứ đâm chồi trổ hoa kết trái, ngọt lịm. Đói quá, da xanh mét, chị xuống cân, rụng tóc, tắt kinh, không thể có con.
Rồi họ chuyển nhà về Edmonton, anh trở thành người dọn vệ sinh và bảo vệ cho tòa nhà nơi họ ở. Tiền lương trừ vào tiền thuê nhà. Từ đó trong hơn hai mươi năm, anh đẩy xe đưa chị đi nơi này nơi khác. Laura xong việc giấy tờ, lăn xe đến gần bàn cà phê nhỏ, chờ chúng tôi. Chị ngồi quay nửa mặt ra ánh sáng, mái tóc thả vai; có một điều gì ở chị khiến tôi bần thần như gặp lại người bạn cũ, như khi trong đám đông bạn đang im lặng nhìn lên sân khấu chuẩn bị đón một ngôi sao bỗng nhác thấy ở góc phòng, trong chiếc bàn cuối cùng nơi ánh sáng mờ ảo của nhà hát, hay quán cà phê, không đủ sức rọi tới, một khuôn mặt nghiêm nghị, thanh thản, chăm chú nhưng hững hờ, của một người phụ nữ không quen biết, anh quay mặt đi rồi quay lại, chỉ những người quen thưởng thức tác phẩm nghệ thuật mới biết rằng mình đang ngồi trước một bức tranh đẹp. Có cái gì hơn thế nữa, hơn cả cái đẹp, một thứ phong cách tâm hồn mà không phải đám đông nào cũng có, nhưng khi xuất hiện thì nó lập tức tiêu biểu cho một dân tộc, như trong đáy giếng, thời gian làm rơi chiếc nhẫn ngọc sáng ngời.
Nó đến cuối mùa hè, tháng tám, xế chiều. Thoạt tiên tôi nhận ra Hà nhăn mặt, nó đau đến nỗi nước mắt chảy ra. Ho từng tiếng khan, mặt đỏ, đầy nước mũi, mới đầu cúi người xuống rồi sau cong gập lại. Trước đó vài ngày Hà cũng đã ho húng hắng nhưng tôi nghĩ là nó bị cảm sổ mũi thường. Tôi tiến lại gần, luống cuống. Hà chỉ tay vào thắt lưng. Tôi quỳ xuống, lo lắng nhìn vào mắt, thấy một bóng chim bay vụt qua. Hai cánh mũi phập phồng. Tôi buông dây để mặc con diều lăn trên không, quay lại với bạn. Hà ráng sức gượng dậy, mồ hôi lấm tấm trên trán. Những đứa khác đều dừng cả lại vây quanh. Mày bị cái gì vậy, tôi hỏi. Không có chi, nó trả lời, giọng khản đặc.
Thuở ấy Hà mới lớn, mười tuổi nhưng đã trổ mã xinh đẹp, lông tơ lún phún trên mặt, tóc mai dài, bím tóc thắt đuôi gà lộ ra cái gáy có một chỗ lõm ngộ nghĩnh. Hà không có răng khểnh, nhưng có răng sún, vì vậy nó thường hay ngượng mỗi khi cười, thỉnh thoảng quay mặt đi. Hà nghịch như con trai, không sợ đánh lộn với chúng, nhưng không hiểu sao đối với tôi dịu dàng. Nói chuyện, hạ giọng xuống.
Giữa những ngày chúng tôi chạy trên đồng cỏ xanh, nơi chim chìa vôi trắng đậu xuống lưng trâu phảng phất mùi bùn khô, bệnh sốt bại liệt tới. Nó lan đi nhanh, như trận dịch suốt vùng quê oi ả, đe dọa mùa tựu trường, như mụ phù thủy mặc áo choàng đen bay ngang qua trời vần vũ, khát linh hồn con trẻ.
Bởi vì trẻ con là nạn nhân. Chưa có thuốc tiêm ngừa vào thời ấy ở quê tôi. Những đứa đáng thương nhất chết ngay sau trận sốt đầu tiên vì ngạt thở, những đứa khác sau khi lành bệnh để lại di chứng liệt một chân hay một tay, đôi khi cả hai bên, không đều.
Nhà nhà đóng kín cửa, những đứa trẻ hung hắng ho, lên ban đỏ, liền bị cấm ló mặt ra đường, người lớn trùm khăn kín đầu, tránh chợ búa, nơi đông đúc ồn ào. Người y tá duy nhất trong làng, ông chú họ của tôi, gầy đét, có mái tóc bạc như cước, đạp chiếc xe đạp bấm chuông leng keng suốt ngày đi chích thuốc từ đầu làng đến cuối xóm. Chúng tôi ngủ trong bóng tối, sợ hãi. Có lần tôi bị ốm nhẹ, cũng bị mẹ tôi bắt đắp mềm trùm kín đầu suốt mấy ngày. Nỗi sợ hãi cũng đến từ trong lòng tôi, như tia nắng le lói qua những sợi vải bông thưa của chiếc chăn cũ của ba tôi, có mùi sốt rét rừng. Nhưng những đứa trẻ nghịch như quỷ sứ dù bị cha mẹ cấm cách nào cũng tìm cách chạy ra ngoài đường. Trẻ con càng lớn, bệnh càng nặng. Vài ngày sau khi tiếp xúc là bệnh đã phát ngay. Đau họng, nhức đầu, nôn ói, cứng cổ.
Hà ngồi bệt xuống cỏ. Tôi sờ lên trán, nóng rang. Những đứa khác đã tản đi đâu cả.Tôi chạy xuống sông cởi áo nhúng nước rồi chạy lên đắp mặt cho Hà. Dễ chịu một chút. Từ chỗ ấy đến bờ sông khá xa. Tôi xốc nó lên vai nửa cõng nửa dìu đi từng bước, chậm chạp lê qua đám cỏ lau. Những bụi cỏ lau dại có nơi cao khuất đầu. Hà hỏi nhỏ sau vai tôi: mày có mệt lắm không. Tôi lắc đầu, an ủi. Đặt nó nằm gần bờ nước, hơi mát dịu phả lên người. Dòng sông bao quanh chợ Sãi một vòng xanh biếc. Bên bờ kia, thị xã đã lác đác lên đèn.
Buồn nôn, ho nhiều, buổi sáng khạc ra có đờm lẫn chút máu tươi như những mành chỉ đỏ, nhưng máu không lẫn vào đờm. Các dây tế bào thần kinh phồng lên, các tổn thương rộp bỏng ở vùng liên kết dưới kính hiển vi. Chúng cuộn lại vì đau, về sau teo nhỏ hóa thành những sợi xơ vô tích sự. Là những tế bào quý phái, thần kinh không tái sinh trở lại. Chúng chỉ sống một lần. Tôi dùng áo sơ mi làm khăn, thấm nước mát đắp lên trán và lau mặt cho Hà. Chiều xuống nhanh.
Tim tôi thắt lại vì cảm giác có thể mất bạn một lúc nào đó. Trong làng có sáu đứa mắc bệnh liệt phải chở lên bệnh viện tỉnh, một đứa chết trong bệnh viện, những đứa khác đều bị xuội chân khi trở về nhà. Tôi muốn mang Hà về nhà ngay nhưng nó không muốn. Nó ở với mẹ và người cha kế, nghiện rượu, suốt ngày trong quán, năm thì mười họa mới về nhà. Mẹ của Hà, một người đàn bà lam lũ, là bà con xa của tôi bên ngoại.
Tôi loay hoay một lát, cuối cùng cõng nó về. Tôi đặt Hà xuống chiếc giường gần cửa, nhìn quanh, không một bóng người, mẹ nó chưa về nhà. Tôi chạy xuống bếp, tro than lạnh, con mèo ngồi trên cửa sổ giương cặp mắt tròn xoe chực nhảy xuống. Tôi rót cho Hà ly nước lạnh, chạy về nhà liếc nhìn nồi cơm, nhặt mấy củ khoai còn nóng bỏ vào vạt áo lén ra cửa sau. Mẹ tôi chưa kịp hỏi, đã vù đi.
Trời tối dần, tôi ngồi lặng lẽ nhìn Hà nóng hầm hập nằm trên phản gỗ. Tối quá chẳng thấy gì. Trên chiếc bàn nhỏ xiêu vẹo một chiếc đèn dầu Hoa Kỳ, cái bóng thủy tinh tuy mờ đục, chỉ còn cái tim bấc trơ trọi. Hà thiêm thiếp nhưng thỉnh thoảng tỉnh lại, mở mắt ra, thở mệt nhọc.
Chiếc giường tre tựa vào một cái cột nhà bằng gỗ đen bóng, phía trên gắn một chiếc sừng trâu làm chỗ mắc áo, treo lủng lẳng một cái sơ mi đàn ông màu cháo lòng, tôi tò mò cầm lên, mùi lạ vẫn còn thoảng bay, như người chủ vừa mới đi xa, mồ hôi còn để lại. Không khí hòa bình sau chín năm kháng chiến bàng bạc trong không trung, tạo cảm giác lười biếng rã rời hân hoan, nửa ngọt nửa đắng. Hà lớn lên nhanh, người nảy nở, tóc tỏa hương. Một con ruồi lớn bay rù rì ngoài cửa sổ. Buổi chiều mỗi lúc một dịu dàng, tôi ngồi trước mặt Hà, cúi xuống lau mặt cho nó bằng chiếc khăn tay nhỏ tôi vừa lục trong rương, ít khi dùng tới. Từ chỗ chúng tôi ra đến cổng, một dàn bầu sai trái buông xuống đất nặng trĩu làm oằn những thanh tre. Hà sốt cao một chập nữa rồi trán nó mát trở lại, tôi ra về.
Hà mảnh khảnh, cao, má lúm đồng tiền bên trái, mặt có vài chút tàn nhang, lúc nào cũng cười, nhẹ nhàng, đi học về là làm lụng suốt ngày, quét nhà, quét sân, đi nhặt củi dọc lũy tre quanh làng, bắc nồi cơm lên bếp khi chờ mẹ nó về nhà. Hai mẹ con ở bên nhau như hai cái bóng. Tuy e lệ nhưng vẻ tự tin ngấm ngầm của nó không phải của một đứa bé mười tuổi mà của một người phụ nữ đang đi trên đường bỗng bị một kẻ lạ mặt đẩy ngã xuống đường, lăn đi nhiều vòng, gượng lại được, đứng lên. Gã đàn ông lạ ấy là cái chết. Căn nhà của Hà trống trải, thật ra chỉ là một túp lều với khu vườn rộng. Dọc hàng rào có những cây ổi ra trái bằng đầu ngón tay, những trái dâu dại vàng óng lúc nào cũng nhiều vì không ai hái. Ngày nào tôi cũng ghé qua, xong, về nhà tắm rửa chuẩn bị cho bữa ăn gia đình đúng giờ. Tôi không hề biết rằng có nhiều ngày, những bữa ăn trên cỏ với những trái dâu vàng hay những trái mít non là bữa ăn tối của Hà, vì nhà không có gạo nấu cơm, mẹ đi đâu chưa về. Gia đình ly biệt, mỗi người tản mát một nơi, cha ruột của Hà cũng như những người đàn ông lớn lên làm lụng cày bừa, một hôm nghe tiếng gọi mơ hồ, bỏ ruộng vườn ra đi, để lại con trâu đen đứng với cái cày trên lớp đất nâu mới lật bốc hơi ấm, thở phì phò, chờ người chủ cũ không trở lại.
Nhiều lần nó run lên trong chăn. Lúc ấy mặt tái đi, xanh mét, hai gò má nhô cao, người rút lại như bộ xương. Có lúc nó mở mắt lớn, mặt bừng đỏ, môi tươi như thoa son.
Vài bữa sau Hà từ từ bình phục. Mẹ nó cũng hay vắng nhà như thường lệ, nhưng nấu sẵn một nồi cháo gạo đỏ để ở đầu giường. Những ngày này tôi trốn lớp học hè mà không báo cho ba mẹ tôi biết. Tôi dẫn Hà ra bờ sông. Buổi chiều rười rượi gió từ bên hữu ngạn thổi gợn sóng li ti. Một con cò bay vút qua chập chờn trên nước, vòng đi vòng lại rồi sà xuống bãi cát. Nó đứng im hồi lâu, bãi cát vàng, không vết bùn, hạt cát sạch mịn, lấm tấm mỗi khi tắm lên tôi chỉ cần rũ chân là sạch. Con cò đứng im phăng phắc giấu một chân vào trong cánh, đứng trên một chân. Hà bảo em cũng giống như nó, khi nào bay thì mới duỗi hai chân ra.
Mùa tựu trường tới, chúng tôi vào lớp năm. Cuối buổi học tôi vội vã chạy đi tìm, chẳng thấy Hà đâu. Hỏi không đứa nào biết. Về nhà tôi bỏ cặp chạy qua nhà Hà nhưng không có ai. Mấy ngày liên tiếp không tin tức gì. Sau mới biết mẹ dẫn nó đến chữa bệnh ở nhà một thầy pháp bên kia sông, vì người ta đồn bệnh sốt bại liệt là do ma nhập. Lên lớp mới việc học bận rộn, bệnh sốt vẫn hoành hành nhiều nơi, cha mẹ tôi cấm tôi ra khỏi nhà trừ những lúc đến trường. Trong xóm thêm ba đứa trẻ khác nữa mắc bệnh. Một tuần sau tựu trường, sinh viên Huế xuống đường biểu tình, họ chia nhau về các trường tiểu học hẻo lánh để hô hào phản đối chính phủ, kêu gọi làm cuộc cách mạng xã hội, đòi hòa bình. Tôi được nghỉ học sớm, thơ thới ra về, chẳng hề quan tâm việc chính phủ nào sắp đổ, đất nước rồi có hòa bình, thống nhất hay không, lẻn xuống bếp lục nồi cơm nguội chén đầy bụng, vội chạy qua nhà cô bé. Tôi đi khấp khởi trên đường làng, ráng chiều đỏ rực, tôi vừa đi vừa ngoái đầu lại, thỉnh thoảng vấp những bụi cỏ cú vướng chân suýt ngã.
Tôi dừng lại trước sân nhà Hà, đứng hồi lâu dưới giàn bầu. Hà đứng trong khung cửa dáng mềm mại, tựa người lên thành cửa, Hà nói: mẹ em không cho đi học nữa, mẹ chữa chạy cho em nên hết tiền, vả lại em cũng không đi lại được bình thường. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi biết thế nào là sự buồn rầu, thất vọng. Trước mặt nhà, thửa ruộng vừa qua mùa bắp mùa đậu, rác và cỏ có ai đang dồn thành đống lớn, châm lửa đốt. Những ngày thơ ấu của tôi, cô bạn gái má lúm đồng tiền một bên, con diều, đồng cỏ xanh của tôi, thế là hết, đã cháy lên thành khói bay đi.
Thỉnh thoảng sau đó tôi vẫn gặp lại Hà nhưng nó trở nên buồn rầu tư lự, ít nói. Năm học qua đi, tôi thi đậu vào lớp Đệ thất trường trung học của tỉnh, đổi trường đổi lớp đổi bạn bè, xa dần cô bạn ngày xưa, bờ sông, con cò đứng một chân trên bãi cát, quên hẳn đi cho đến ngày gặp Laura. Người phụ nữ tóc vàng mắt xanh bị căn bệnh ác liệt đánh gục chỉ một năm sau tuần trăng mật, nửa chừng xuân thoắt gẫy nhưng còn phúc phận, có một người đàn ông đi theo bên mình suốt đời. Hà của tôi, đứng một mình trong khung cửa chiều hôm chập choạng, khập khiễng không thể đi cùng tôi trên con đường dằng dặc, nhưng có lần đã cất tiếng gọi tôi mà ngày ấy vừa quay mặt đi không nghe được, mãi đến bây giờ mới nhận ra, nghe ra, cái miệng xinh cười rực rỡ, mắt long lanh buồn rầu, lúm đồng tiền bên trái. Mỗi khi ngoái lại xa hút cuối đường tôi đều nhìn thấy hàng chè tàu, những trái bầu buông xuống đất, khung cửa, cái bóng của kí ức cắt lên ráng chiều, cánh đồng dọc bờ sông liễu rũ, đầu thu cỏ úa, lửa đốt cây bắp khô khói bay mờ tím. Tôi mơ thấy tôi và Hà đi dọc bờ sông, mùi hơi nước mát lạnh làm dịu đi hai tâm hồn bối rối, mang chúng xuống tận các chiều sâu mới.
Đôi khi Hà dừng lại ngửng đầu hất mái tóc ra sau, bất ngờ nhảy cẫng lên, quên bẵng mình đang bị bệnh, té xuống như một con hươu bị trúng tên vào bắp chân sau. Nó đau đến phát khóc, tôi dắt tay nó đứng lên, một giọt nước mắt làm tôi chững lại. Tôi còn nhỏ quá để biết đó là tình yêu, tình bạn hay một thứ tình nào khác. Đôi dép mỏng của tôi mòn vẹt đi một bên khi bước trên những hòn đá lởm chởm gần mép nước, lòng bàn chân đau nhói. Buổi chiều xuống nặng nề hơn như có ai vặn xiết cổ chân. Hà đưa dép của nó cho tôi đi. Gió vàng loang loáng trên mặt sông, muốn thổi Hà bay đi nhưng nó chẳng sợ hãi gì, dựa hẳn người vào tôi, đi bằng chân phải; chân trái kéo lê như một người bạn thân, cũ, thiệt thòi, ngập ngừng bên đường chờ hẹn.
Tôi ra tỉnh, rồi di chuyển nhiều lần theo công việc của ba tôi nay đây mai đó. Không còn gặp lại người bạn thơ ấu. Có lúc thất vọng về mình, tôi mong được như chồng của Laura có can đảm đẩy cô đi trên chiếc xe lăn, nơi này nơi khác, qua lần cửa nọ tới lần cửa kia, như một người mà kẻ khác có thể tin tưởng vào, một người mà cô bạn của tôi có thể mỉm cười nhắm mắt lại, thu nhỏ người như con chim chiền chiện đến giờ đi ngủ, thôi hót, nằm yên trong lòng tay, an tâm giao số phận của nó cho tình yêu, tình bạn, hay một thứ gì đó cao hơn các thứ khác; và bằng cách ấy mang lại sự bình an cho chính người săn sóc mình.

NĐT 
Tạp chí Da Màu
 
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - XANH XANH ĐỒNG CỎ

Monday, October 17, 2011

Nguyễn Đặng Mừng - TUỔI NHÂM THÌN - Truyện ngắn

Truyện ngắn


Chị Hà cùng tuổi với tôi, tuổi Thìn. Chị bảo nam Thìn nữ Tỵ nên đời chị sẽ lận đận long đong, đời tôi sẽ hanh thông. Mới mười hai tuổi mà chị như người lớn, lúc nào cũng gọi tôi bằng cậu, cậu em. Bên ngoại chị không còn ai, chỉ bà con xa. Bác Ca, cậu ruột chị là người cuối cùng trong chi, bị Tây bắn lúc mới mười tám tuổi. Mỗi lần ai nhắc đến Bác Ca là O (1) Hát mẹ chị Hà khóc tấm tức, bảo sao trời không cho O chết thay cậu ấy. Tuyệt tự! Điều đó khiến O Hát càng quý bên ngoại hơn. Mỗi năm đến ngày chạp mả O Hát dắt cả ba đứa con về. Anh Thổ là lực điền đúng nghĩa, cao to như Tây, da ngăm, mặt chữ điền. O Hát bảo giống dượng(2) như đúc. Dượng cũng bị Tây bắt đi rồi chết đâu mất xác năm sinh chị Hà. Anh Điền thư sinh hơn, da trắng như con gái. Chị Hà gầy nhom, vác cái cuốc chét chạy lăng quăng theo hai anh. O Hát chỉ cho các con đây là mộ ông ngoại bà ngoại, đây là ông bà cố…Biết bao nhiêu người đã khuất, từ ông nội O Hát trở xuống. Đến trước mộ Bác Ca o Hát khóc òa lên, quỳ xuống lạy. Cậu ơi răng (3) chết đi. Răng không nối dõi tông đường. Tuyệt tự rồi cậu ơi. Chị Hà quỳ bên cũng khóc. Hai anh trai vẫn thản nhiên dùng cuốc xẻng vun lại nấm mộ. Một lát ngôi mộ như được mặc áo mới, trắng toát cát rờn rợn bên tiếng khóc O Hát. 

O Hát thương tôi như cháu ruột, quý ba tôi như em ruột. O bảo phụ nữ chỉ một đời, vài đời sau con cháu sẽ kể nghe nói đời thứ mấy, thứ mấy có mệ(4) ni mệ tê lấy chồng đâu bên làng Đông làng Tây mô đó. . . 

Nhà tôi ở làng Tây gần quận lỵ, cách làng Đông khoảng năm cây số. Thường hàng năm O Hát nói với ba tôi nghỉ hè cho cháu về ở với O, cho có bạn với chị Hà. Tôi cũng thích rong chơi ở vùng quê, nhất là được cởi trâu ra đồng cùng chị Hà. Tôi ngồi sau lưng chị, ôm eo chị trên lưng con trâu to béo đi qua những cánh đồng sau mùa gặt thích lắm. Lúc trâu lội qua sông chị Hà cười sang sảng, bảo tụi mình đi xe lội nước. Chị còn giải thích: “ Cậu biết Hà là chi không, là sông đó. Anh Thổ là đất, anh Điền là ruộng”. Tôi bảo: “Ruộng đất không có nước thì không có khoai lúa, chị Hà là quan trọng nhất”. Chị cười thích thú. Suốt mùa hè chúng tôi ở ngoài đồng, bên dòng sông nhỏ. Ăn cơm trưa trong cái mo cau với cá kho ngon tuyệt. Ăn rồi tắm, tắm rồi ăn. 

Lũ trẻ nhà quê tinh nghịch cặp đôi tôi với chị, tôi bảo bà con, đừng nói bậy O Hát đánh chết. Tụi trẻ nhảy tưng tưng hát vè tục tằn, “bà con hai họ, lọ mọ cả đêm, chị trống em kèn, tùng xèng tùng xèng…” Chị Hà cầm roi tre rượt đuổi đám trẻ. Áo chị bị gai tre móc rách tơi tả chị vẫn rượt. Ngã lăn xuống ruộng lại bò đứng lên rượt đuổi đến cùng. Tụi nhỏ sợ chị chạy tán loạn. Chị ngồi bệt bên giường ruộng khóc rống riết. Tôi run rẩy đến gần, cầm tay kéo chị đứng lên, chị dằn tay lại trừng mắt kêu: “Đồ hèn, con trai mà hèn”. Tôi ngồi trên giường ruộng nhìn mặt trời lặn. Gió Nam (5) giật từng cơn, rặng tre lào xào lao xao. Tôi cúi mặt trên hai đầu gối khóc thút thít. Ngửng lên thấy bóng chị xấp xãi trên đường bạn, tôi vội vã chạy lúc thúc theo về. O Hát hỏi chuyện chi rứa, chị bảo tụi nhỏ cặp đôi con với cậu Thìn. O Hát cười, “ Cặp đôi có chết ai mô (6). Bên ngoại bốn đời là lấy chắc (7) được. O sẽ gả con Hà về bên ngoại để lo hương khói mả mồ”. Chị Hà đấm thùm thụp vào lưng mẹ, kêu lên “ Bà con mà, bà con mà…, con không chịu mô”. 

Suốt buổi sáng hôm sau chị Hà không thèm nói chuyện với tôi. Buồn. Buổi chiều tôi theo anh Điền đi bừa ruộng. Anh Điền hiền như ruộng, cho tôi đứng lên chiếc bừa gỗ thích lắm. Dù vậy tôi cứ mong trời chiều để về gặp chị Hà. Chị đứng chờ tôi trước ngõ, bảo vô tắm rồi ăn cơm học bài. Chị cầm tay tôi dắt ra giếng, cởi áo cho tôi rồi bảo ngồi xuống. Chị dội nước lên đầu tôi kỳ cọ. Lúc chị toan đụng phía dưới tôi hất tay chị ra. Chị cười khúc khích bảo thôi tự tắm đi, không sạch là ăn roi nghe chưa. 

Một tối Chị Hà kêu Thìn ơi ra đây chơi. Chị ngồi dưới bụi tre trước sân nhà, dưới am thờ, bên cạnh cái cối đá. Cái cối để dưới am thờ nhỏ, chị đã thắp lên đó ba cây nhang. Tôi toan ngồi lên cối thì chị kéo tay bảo không nên. Cái cối này là kỷ vật của ông ngoại, linh lắm. Cái cối đá sứt tai đen thủi nằm dưới am thờ thì linh nỗi gì, tôi thắc mắc trong lòng. Chị kéo tay tôi ngồi gần, thì thào: “ Cậu có tin không, cối đá cũng có linh hồn. Cái chi cũng có linh hồn hết, mụ Thà nói rứa (8)”. Mụ Thà là cô đồng bóng, mỗi lần vong nhập vào mụ nói giọng lơ lớ kiểu người âm phủ. Bọn trẻ chúng tôi thường tụm lại xem mỗi lần mụ lên đồng. Tôi hỏi mụ Thà nói chi. Chị Hà giọng nghiêm trọng kể: “ Cái cối này là hồi môn của ngoại. Mạ (9) kể Tây đốt nhà cả thảy mười ba lần, cái chi cũng cháy, chỉ còn cái cối này, nó bị bom phạt sứt tai”. Chị đưa tay xoa rờ lên chỗ sứt rồi tiếp: “ Mạ kể Mệ ngoại mất lúc sinh cậu Ca.

Ông ngoại mất mạ mười sáu tuổi, cậu Ca mười bốn. Ông ngoại trối lại rằng, con trâu và hai sào ruộng để lại cho cậu Ca sinh sống và lập gia đình nối dõi tông đường. Nhà cửa chẳng còn chi để hồi môn cho con gái. Chỉ còn chiếc cối đá cha tặng con làm kỷ niệm. Nó không đáng giá nhưng có linh hồn của cha mạ trong đó. Rồi ông nhắm mắt ra đi. Mạ còn kể cái cối là chứng tích ghi lại mối tình của ngoại. Hai người tỏ tình với nhau bên chiếc cối này sau khi giả gạo và hò đối đáp. Một lần đến làng mệ ngoại hò giả gạo, ông hò:
Hơ hơ…Anh ngồi bên ni tai cối/Em ngồi bên tê tai cối/ Tôi thấy em mặc áo nối vải đà tóc búi vải bao. Tôi không phải là phường vô phương tắc đạo mà băng hói lội rào tới đây”
. Mệ “ bí” không “đối đặng” bèn hò: hơ hơ…Đến đây thì ở lại đây, khi mô tốt rể xanh cây thì về”. Ông ở lại “mần (10) rể” ba năm thì cưới. Mệ ngoại theo chồng mang theo chiếc cối đá này làm kỷ niệm, lại đặt tên con là Ca Hát”. 

Trăng hạ tuần. Dập dờn gió Nam từng đợt. Tre pheo cúi xuống vờn lên, chiếu bóng những hình thù ma quái vật vã trên am thờ, lên cối đá. Nhang cháy nhòe lay động. Nhìn chiếc cối đá đen đủi chỉa ba cái tai nhọn hoắt như nhúc nhích, tôi lạnh toát người. O Hát ngủ sớm. Anh Điền đi đâu từ sẩm tối chưa về.Trong nhà còn ngọn đèn dầu lấp loáng trên bàn thờ chực tắt. Xóm làng im ắng, chỉ còn tiếng lào rào trên ngọn tre. Chị Hà cầm tay , níu đầu tôi nói nhỏ: “ Anh Thổ gửi thư về nói mạ nên cho anh Điền ra tỉnh làm chi cũng được, đừng ở nhà, bất trắc lắm. Anh nói anh đi lính Cộng Hòa trong Nam sình lầy cực khổ lắm. Sang năm anh mới có phép về thăm. Chị đọc thư cho mạ nghe, xong mạ bảo đốt đi. Hôm qua chị nghe anh Điền nói với mạ là đừng để cậu ở đây nữa, không hay”. Chị ghé sát tai tôi thì thào, “Anh Điền theo du kích, có súng. Cậu đừng nói với ai nghe chưa. Mai chắc chị em mình không còn gần nhau nữa, Thìn buồn không”. Chị quàng vai tôi thút thít, bập bệu, “ Cậu về trên đó đừng nói chi với ai về chuyện anh Điền nghe. Khi nào chị đi chợ Huyện sẽ ghé thăm cậu”. 

Tôi và chị vào nhà sửa soạn đồ đạc để mai cùng chị về nhà. Cả đêm đó tôi không ngủ được. Nằm trên tấm phản nghe gió xào xạc trên mái tranh. Anh Điền vẫn chưa về. Gà gáy canh ba chị Hà đã dậy nấu cơm. Ánh lửa rơm chập chờn bóng chị trên vách, lòng tôi đau thắt, nằm khóc thầm. 

Chị Hà lại bới cơm vào mo cau như thường lệ, nói với O Hát: “Con đưa cậu Thìn về nghe mạ, chiều con mới về. Hôm qua con đã cắt cỏ đủ trâu ăn rồi”. Tôi chào O Hát. O xoa đầu tôi khuyên ngoan và học giỏi, xứng đáng với dòng họ nhà mình. 

Chúng tôi men theo đường trâu đi hàng ngày. Những ô ruộng vừa vào nước phở (10) sủi bọt. Mùi đất thơm vấn vương trong gió Nam lào thổi nhẹ. Chị Hà bảo, “ Ngày ni mình chơi đến xế chiều rồi chia tay”. Tôi không trả lời, tha thủi đi theo chị. Dừng ở bến sông vắng, nơi có bụi la ngà vươn ra giữa dòng, chị Hà soạn cơm ra cùng tôi ăn. Cơm còn nóng trong mo cau ăn với muối sả. 

Mặt trời đỏ lựng cao dần phía lũy tre nhà O Hát. Ở đó tôi tin là O đang nhìn với theo, hướng về phía ngoại, nơi có mồ mả mười mấy đời, và gửi vào chúng tôi một niềm tin xót xa mơ hồ nào đó.

Chị Hà rủ tôi tắm. Chúng tôi ngập lặn thỏa thích. Thường ngày đi chăn trâu chị mặc áo nâu hoặc đen. Hôm nay chị lại mặc áo quần mỏng màu sáng. Áo quần dính sát vào da thịt. Lần đầu tôi thấy rõ hai núm cau trên ngực chị, lòng bứt rứt một cảm giác khó tả. Chị quay mặt đi, hai tay ôm ngực, giọng như lạc đi: “ Cậu Thìn sinh tháng giêng, chị tháng tư. Hai chị em mình mười hai tuổi rồi đó. Mới đó...”. Bất chợt chị Hà ôm riết tôi, hai núm cau ép vào ngực trần tôi nóng hổi. Chị thì thào: “ Khi mô hết chiến tranh cậu lại về đi chăn trâu với chị nghe”. 

Chiều xế bên kia sông. Chúng tôi ngồi nhìn xuống những bóng tre in lên dòng nước trong xanh. Không ai nói chi. Chị Hà cúi đầu bứt những cọng cỏ đưa lên nhìn chăm chú, nhăn trán ưu tư, rồi nhìn về hướng mặt trời lặn chớp mắt buồn bạn (buồn bã) , hai giọt nước mắt run rẩy lăn xuống hai gò má gầy sạm nắng . Chị không nhìn tôi, bảo: “ Chiều rồi, cậu về đi”. “Chị về trước đi”. Chúng tôi cứ nài nhau. Cuối cùng chị Hà xử: “Oăn tù tì, ai thua về trước” . Chị Hà thua. Chị nhìn sững tôi, cũng lại lần đầu tôi thấy má chị ửng hồng. Đi một đoạn chị lại ngoái nhìn lui. Bóng chị nhỏ dần, nhỏ dần thành một cánh cò lẻ loi giữa cánh đồng mông quạnh.




Mấy đứa bạn kháo nhau sắp có đụng trận ở làng Đông. Thằng Chinh Quắn rủ tôi đi coi đánh trận. Qua cánh đồng, làng Đông khói lửa ngút trời. Mỗi lần đụn lửa cuộn lên, sau đó là tiếng nổ lớn, thằng Chinh nhảy cẩng lên, múa tay la: “chết bây nì, chết bây nì…”, tim tôi lại thót đau, lòng ran như lửa cháy. Nhà chị Hà có cháy không. Hầm trú ẩn có chịu nỗi những quả bom không. 

Cách năm cây số mà làng Đông với làng Tây là hai thế giới đối nghịch. Suốt mấy tháng tôi không nghe tin gì về gia đình O Hát. 


Một năm rồi hai năm. Một sáng tháng giêng tôi gặp chị Hà. Chị quấn khăn tang đi theo chiếc xe kéo, trên đó là quan tài có phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ. Chị Hà gục vào vai tôi khóc òa lên. “ Thìn ơi, O Hát của Thìn mất rồi, Anh Thổ cũng chết rồi đây nì. Thìn về làng với chị đi, để thắp nhang cho O, để an táng cho anh Thổ, Thìn nghe. Đừng sợ ai cả, không sợ ai nữa cả. Cái tuổi chi chị mà khổ ri hè (11), Thìn ơi là Thìn, hu hu…”. Sau một tiếng khóc là chị vổ lên vai tôi, vừa đi vừa kể lể. Tôi bước theo chị trong mưa bấc. Đến bến sông hồi mùa hè tôi và chị tắm. Trước khi đưa quan tài qua sông, hai người kéo xe lột lá cờ vàng trên quan tài dấu vào bụi la ngà, lấm lét nhìn quanh. 

Quan tài đưa thẳng lên huyệt. Anh Điền mang súng đứng lặng, mắt đỏ hoe nhưng không khóc. Những nhát cuốc cuối cùng vun cát thành một ụ trắng toát, trong tiếng kêu gào của mỗi mình chị Hà. Chị lại níu vai tôi ngất đi.

Chị Hà bưng di ảnh anh Thổ cùng tôi về nhà. Chị đặt lên bàn thờ bên bài vị O Dượng, thắp nhang và cùng tôi lạy. Xong chị giục: “Về đi kẻo tối, cậu Thìn. Máu loảng hơn nước lạnh. Tôi nhớ ơn cậu suốt đời”. Tôi ôm chầm chị run rẩy: “Chị Hà ơi, răng đời chị khổ rứa…” . Tôi không biết nói gì thêm, buông chị quay đi như chạy. Tôi tha thủi theo đường bạn. Tôi chạy trong gió bấc. Tôi bơi qua sông. Lại chạy. Vấp té xuống ruộng. Lại chạy… 


Càng ngày tôi càng đi xa quê mình. Mỗi lần ngang cánh đồng, có dòng sông tôi lại nhớ thương chị Hà da diết. Chị Hà có sống nổi không trong bom đạn quê tôi. 






Mười mấy năm sau tôi mới có dịp về quê, ngang cánh đồng xưa tìm về nhà chị Hà. Đến bên bến sông, gặp người làng Đông tôi hỏi thăm về chị. Họ bảo chị Hà lấy chồng bên làng Tây, làng ngoại của chị ấy rồi. Tội nghiệp, cả hai vợ chồng đều tật nguyền.

Tôi không kịp hỏi thêm, nhắm hướng làng Tây mà chạy. Chị Hà ngồi ru con bằng một tay, tay còn lại cụt tới nách. Chị nhìn sửng tôi rồi khóc òa: “Cậu Thìn còn sống đó à. Tưởng cậu đi luôn không thèm về quê. Cháu cậu đây nì, kêu bằng cậu hay ông trẻ cũng được”. Đôi mắt đẩm nước của chị ngời hạnh phúc khi nựng thằng con trai kháu khỉnh của mình. Tôi hỏi tới: “Răng kêu cậu và ông”. Sau khi rót nước mời , chị bình thản: “ Cậu không vui à. Ngồi xuống đây tôi sẽ kể cậu nghe: Chồng tôi là cháu gọi cậu bằng chú họ. Anh ấy đi lính Cộng Hòa cùng lứa cậu. Số phận khắc nghiệt thiệt. Đến ngày cuối cùng của cuộc chiến anh ấy lại bị thương, cụt cả hai chân. Mà cũng may, rứa mới gặp tôi. Còn tôi từ ngày nhà cửa cháy hết anh Điền đem tôi theo lên rừng. Năm sáu chín anh Điền cũng mất sau một trận sốt rét rừng. Tôi lại vào bộ đội rồi bị thương mùa hè năm 1972. Về làng tôi đi học sư phạm mẫu giáo. Năm nào tôi cũng về ngoại chạp mả. Bà con bên ngoại cứ cặp đôi tôi với “anh thương binh Ngụy”, anh Chinh, chồng tôi hiện chừ đó. Ban đầu tổ chức cũng can ngăn, sau vì chúng tôi quyết tâm nên họ cũng chịu. Vậy là chúng tôi làm đám cưới. Vui nhất là ngày thương binh liệt sĩ nào tôi cũng đẩy xe chồng tôi theo, vì sợ anh ấy buồn. Phái đoàn nào tặng quà anh ấy cũng có một phần. Ai cũng tưởng vợ chồng tôi là đồng đội. Ông bà linh lắm, cột hai đứa lại với nhau”. 

Thằng Chinh tóc quắn, tôi nhớ ra rồi, thằng Chinh tóc quắn, cháu họ tôi. 


Chị cùng tôi ra sân, dưới am thờ, chiếc cối đá sứt tai được đặt lên cái bệ ốp gạch trang trọng. Chị thắp nhang vái rồi quay sang tôi: “Trễ tràng hết rồi cậu ơi. Số phận ông bà sắp đặt rồi. Chiếc cối đá dù sứt tai lại được trở về với họ ngoại đây nì.Từ nay tôi sẽ gọi cậu bằng chú, Chú Thìn”.


_________________________________________

(1) O: Cô. Ở Trị thiên, em hoặc anh của cha đều được gọi bằng O.
(2) Dượng: chồng của O hoặc dì. Chị của mẹ cũng được gọi bằng
(3) Răng: sao. Ra răng: thế nào.
(4) Mệ: Bà nội, ngoại. Những bà ngang hàng với ông lại gọi bằng Mụ.
(5) Gió Nam: Gió Nam Lào, thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân. Gió từ biển vào gọi là gió Nồm.
(6) Mô: đâu.
(7) Chắc: Nhau, với nhau. Ví dụ hôn nhau người Quảng Trị gọi là hun chắc . Nhưng một mình (alone) lại gọi một chắc.
(8) Rứa: thế.
(9) Mạ: mẹ.
(10) Nước phở: Đất cày ải, phơi cho khén rồi vào nước.
(11) Ri hè: Thế này.
Nguyễn Đặng Mừng
mungrathue@gmail.com
  Nguồn: newvietart.com
READ MORE - Nguyễn Đặng Mừng - TUỔI NHÂM THÌN - Truyện ngắn

Chùm thơ tặng thầy cô giáo cũ - Võ Văn Hoa


MINH TRIẾT VÕ THỊ HỒNG

Xa rồi ! Bốn thập kỷ
Một vòng xoáy mênh mông
Thi ca từ dạo ấy
Minh triết Võ Thị Hồng


Cô nhen từng câu chữ
Phản biện giờ thuyết trình
Hàn lâm văn học sử
Yêu thương đất nước mình...


Học trò bao thế hệ
Tung cánh đi muôn nơi !
Nhớ lời cô truyền giảng
Trang văn mãi để đời!


Qua rồi bốn thập kỷ
Trải nghiệm cùng núi sông
Vẫn còn trong tâm thức
Minh triết  Võ Thị Hồng !

          Khuya 18/10/2011



KÍNH TẶNG THẦY TRẦN NGỌC CƯ

 Rũ bỏ phù du bụi bặm
Thoáng trông một chút bất cần
Tiếng Anh không còn xa lắm
Thầy gieo từng hạt trong tôi !


Trò xưa bao người kế nghiệp
Sáng trong đạo lý cội nguồn !
Nhớ thầy nghe, đọc, nói, viết
Tung hoành trong cõi càn khôn...


                  Khuya 18/10/2011
                   VÕ VĂN HOA
READ MORE - Chùm thơ tặng thầy cô giáo cũ - Võ Văn Hoa