Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 15, 2011

Đóng góp của L. Cadière vào phương ngữ học tiếng Việt qua tác phẩm Ngữ âm tiếng Việt

Léopold Cadière (14/2/1869 - 6/7/1955)


Hội thảo Cadière - Đề tài “Đóng góp của L. Cadière vào phương ngữ học tiếng Việt qua tác phẩm Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ Trung)”

Vương Hữu Lễ - Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngữ học Hoàng Dũng



0. Để nói về bà Suzane Karplès, Giám đốc viện Phật học Phnom-Penh, người đã sưu tập và xuất bản những sáng tác của Kram Ngoy – nhà thơ nổi tiếng nhất khắp đất nước Campuchia vào đầu thế kỉ này, Khing Hoc Dy và Jacqueline Khing có cho rằng: “Không phải tất cả người Pháp toàn là bọn thực dân, mà trong số họ có những nhà bác học biết bảo vệ nền văn hóa dân tộc Khmer”. (1)

Câu nói đó cũng có thể áp dụng cho Léopold Cadière, người đã dành cả đời mình – cho đến hơi thở cuối cùng – để nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực của văn hóa Việt Nam và đã để lại một sự nghiệp khoa học đồ sộ (2) mà ngày nay những nhà Việt Nam học không thể nào không tham khảo.

Riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ học, ông cũng lưu lại nhiều công trình đặc sắc khiến những kẻ hậu sinh chúng tôi sinh lòng ngưỡng mộ và nảy ra tham vọng muốn đánh giá toàn bộ những đóng góp của ông cho ngôn ngữ học nước nhà. Bài này được coi là bước khởi đầu cho tâm trạng đó.

1. Cuốn Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ Trung) (3) được Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp xuất bản năm 1902. Ngoài ba mục phụ là Lệ ngôn, Dẫn nhập và Phụ lục, sách gồm ba phần chính: Phần I. Chuyển hóa nguyên âm, Phần II. Chuyển hóa phụ âm, Phần III. Chuyển hóa thanh điệu.

Mỗi phần chính được chia ra từng mục nhỏ để trước hết, trình bày từng nhóm tương ứng ngữ âm giữa phương ngữ Trung và tiếng phổ thông với những ví dụ minh họa phong phú, và sau đó đưa ra những nhận xét liên quan, hoặc thuyết minh thêm về những đặc điểm của phương ngữ Trung hoặc chỉ rõ địa bàn xuất hiện của chúng, hoặc so sánh chúng với các hình thức tương ứng ở các phương ngữ khác (kể cả các phương ngữ Trung Quốc)... Ở cuối Phụ lục, để kết thúc cuốn sách, tác giả còn cố gắng rút ra một nhận định tổng quát về phương ngữ Trung.

Như vậy, sớm sủa nhất và là tiên phong về phương ngữ học tiếng Việt, công trình của L. Cadière đã cho ta một hình ảnh rõ nét về phương ngữ Trung ở đầu thế kỉ XX.

2. Ngày nay, hơn một trăm năm trôi qua, đọc lại tác phẩm của ông, chúng tôi có mấy suy nghĩ sau đây.

2.1. Trước hết, phương pháp xuyên suốt của L. Cadière để xác định phương ngữ Trung là đối lập tiếng nói vùng này với tiếng phổ thông, tuy ông không quên so sánh với tiếng nói của phương ngữ Bắc hay phương ngữ Nam.

Cách làm này có thể bị phản đối, nhất là đối với những người không chuyên môn. Rất thông thường là những phản bác kiểu: “Đấy không phải là tiếng miền Trung vì ở làng X thuộc miền Bắc (hay miền Nam) cũng thấy có cách nói ấy.” Lập luận này thoạt nghe hữu lý, nhưng trên thực tế sẽ khiến cho ngành phương ngữ học không thể tiến thêm dù là một bước. Vì nếu thế, thì bất cứ một sự miêu tả phương ngữ học nào cũng đứng trước nguy cơ đổ sụp chừng nào chưa tiến hành điều tra tỉ mỉ tất cả các địa phương trên cả nước, một việc gần như không thể thực hiện được.

Cho nên, phương ngữ học không thể đi theo con đường nào khác với cách làm của L. Cadière. Chính ở góc độ này, mà ta hiểu cả những chỗ chưa thoả đáng của L. Cadière khi ông nhất loạt cho rằng tiếng phổ thông là gốc, còn hình thức phương ngữ là biến thể chuyển hóa (modifications). Ở đây hợp lí hơn, là dùng từ tương ứng (correspondences). Tuy vậy, đặt trong cái thế đối lập tiếng phổ thông / phương ngữ, thuật ngữ biến thể chuyển hóa của L. Cadière, không nên hiểu như một sự biến đổi trong khoa Ngôn ngữ học so sánh lịch sử, mà chỉ có nghĩa là biến thể địa phương so với cái được cho là chuẩn mực.

2.2. Theo L. Cadière, tiếng Việt gồm có ba phương ngữ Bắc, Trung và Nam với những ranh giới sau:

Phương ngữ Bắc (Tonkin): ở Bắc bộ và Thanh Hóa;

Phương ngữ Trung (Haut – Annam): từ Vinh đến Đà Nẵng;

Phương ngữ Nam (Bas – Annam): từ phía Nam Đà Nẵng đến hết Nam bộ.

Điểm chưa thoả đáng duy nhất trong quan niệm của ông là ranh giới giữa phương ngữ Trung và phương ngữ Nam: nó không phải ở phía Nam Đà Nẵng mà là ở đèo Hải Vân. Nhưng điều này thì về sau (năm 1931), ông cũng đã điều chỉnh rồi. (4) Dầu sao, quan niệm đó – của một người không chuyên môn – vẫn còn đúng hơn nhiều so với những quan niệm khác của một số nhà chuyên môn đi sau.

2.3. Trong nội bộ phương ngữ Trung, ông phân biệt những hình thức phương ngữ (formes dialectales) và những hình thức thổ ngữ (formes patoises). Ví dụ, các hình thức như mi đi mô rứa? Tui vô kinh, tui đi trong rú làm củi được coi là thuộc phương ngữ, còn những cách nói như uống riệu (rượu), nác lút tlốc cúi (nước lút đầu gối), sợ đi cắt ló (thợ đi cắt lúa) được coi là thuộc thổ ngữ.

Theo ông, một hình thức được coi là phương ngữ tuy rất phổ biến như mi, ni, vô, nhưng không bắt buộc phải được dùng khắp địa bàn, còn thổ ngữ thì thay đổi từ làng này đến làng khác, từ thôn này đến thôn khác, từ cá nhân này đến cá nhân khác sống trong cùng một làng.

Ông còn lưu ý rằng ranh giới giữa phương ngữ và thổ ngữ không phải khi nào cũng rõ rệt và do đó rất khó xác định, bởi vì do ảnh hưởng của các nguyên nhân khác nhau, một từ hay một cách nói nào đó là thổ ngữ ở một nơi nào đó lại được dùng thường xuyên và phổ biến ở một nơi khác.

Như vậy, quan niệm về phương ngữ và thổ ngữ của ông chưa được rành mạch, thậm chí hình như ông còn lẫn lộn thổ ngữ với cá ngữ (idiolecte); lí do dễ thấy là do ông không nhận thức những tiêu chí phân biệt phương ngữ và thổ ngữ, mặc dù qua các ví dụ và lập luận của ông, “tính phổ biến” đã được sử dụng như một tiêu chí.

Dầu sao, sự phân biệt các hình thức phương ngữ và thổ ngữ của ông cũng đã giúp ta hiểu thêm bức tranh phương ngữ Trung vốn rất phức tạp với nhiểu thổ ngữ và cả đảo ngữ nữa.

2.4. Để miêu tả phương ngữ Trung, L. Cadière nói rõ là ông dựa chủ yếu vào tiếng Quảng Bình và có liên hệ so sánh với các tiếng địa phương Quảng Trị và Thừa Thiên. Ông cho biết sự khác biệt giữa hai bên không lớn lắm như người ta tưởng: một hình thức nào đó được dùng ở Quảng Bình sẽ chắc chắn được bắt gặp ở một làng nào đó của Quảng Trị hay Thừa Thiên.

Vô hình trung, ông đã coi tiếng Quảng Bình là tiêu biểu cho phương ngữ Trung. Quan điểm này không phải là vô lí, bởi vì tiếng Quảng Bình không chỉ nằm giữa một bên là hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và một bên là hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên trong địa bàn phương ngữ Trung, mà còn mang những đặc trưng ngôn ngữ nối liền cả hai bên.

Mặt khác, một thủ pháp đáng lưu ý của L. Cadière trong việc nghiên cứu phương ngữ là ông không chỉ so sánh phương ngữ Trung với hai phương ngữ Bắc và Nam mà còn so sánh nó với cách đọc Hán Việt cũng như các đọc của các phương ngữ Trung Quốc, và ông chỉ ra rằng những khác biệt phương ngữ của tiếng Việt có liên hệ với những hiện tượng mà người ta nhận thấy trong chính tiếng Trung Quốc. Ý thức được rằng phần nghiên cứu đó của ông chưa đầy đủ và chưa cho phép rút ra những kết luận chắc chắn, nhưng ông nhấn mạnh nếu một khi nó được tiến hành một cách đúng phương pháp và triệt để thì nó sẽ đem lại những kết quả rất quan trọng để hiểu biết về nguồn gốc và các đơn vị ngữ âm của tiếng Việt.

Rõ ràng đó là một hướng nghiên cứu mới mẻ; nếu ta không quên rằng mãi mười năm sau (1912) Henri Maspéro mới vận dụng được nó trong công trình nghiên cứu quan trọng của mình về lịch sử tiếng Việt (5). Một điều cần nói thêm là tiếc thay hướng nghiên cứu thú vị đó rất ít được chú ý trong giới phương ngữ học Việt Nam kể từ đó đến nay.

2.5. Một điểm đáng học tập nữa trong quan điểm của L. Cadière là ông phân biệt chuyển hóa tự nhiên (modifications naturelles) và chuyển hóa cố ý (modifications volontaires ou conventionnelles).

Chuyển hóa tự nhiên, theo ông, diễn ra một cách vô ý thức theo những quy luật tự nhiên chi phối sự cấu tạo và phát triển của tiếng Việt. Ông nhấn mạnh đây là những hiện tượng quan trọng nhất cần được nghiên cứu trước tiên và nhờ chúng người ta có thể hiểu biết bản chất đích thực của các âm thanh tiếng Việt cũng như sự chuyểnhóa của chúng

Chuyển hóa cố ý là do sự tránh né cách phát âm tên của một nhân vật quan trọng nào đó hay của các bậc ông bà đã quá cố. Những hiện tượng này kém quan trọng hơn, nhưng không thể bỏ qua được vì chúng cho ta biết theo quan niệm thông thường của người bản ngữ thì những âm nào là tương đồng với nhau; và nếu so sánh những chuyển hóa cố ý với những chuyển hóa tự nhiên, người ta sẽ có thể có những mối liên hệ đáng chú ý và sẽ nhận thấy rằng đôi khi hai loại quy tắc đó củng cố cho nhau.

Rõ ràng là sự phân biệt tự nhiên/cố ý một cách hiển ngôn và sự nhận thức mối quan hệ qua lại như thế thật là sớm và rất có ý nghĩa về mặt lí luận trước con mắt ngạc nhiên của những người đi sau một thế kỉ. Một điều lí thú khác là theo ông, những chuyển hóa cố ý chỉ có ở những nguyên âm mà không xuất hiện ở phụ âm và thanh điệu. Đây là một nhận định đáng suy nghĩ thêm và chắc chắn nó sẽ đưa ra những hệ quả liên quan đến đặc điểm riêng của âm tiết tiếng Việt...

3. Tác phẩm của L. Cadière còn đáng quý ở chỗ nó cung cấp cho ta những chi tiết về hình ảnh phương ngữ Trung với những cứ liệu khá đầy đủ. Sau đây, chúng tôi liệt kê tất cả những tương ứng ngữ âm chính giữa tiếng phổ thông và phương ngữ Trung mà ông đã trích xuất được. (6)

NGUYÊN ÂM

Chuyển hóa tự nhiên

Tương ứng Bối cảnh Ví dụ

a (e ngắn): e - nh, -ch anh: eng; lạch: lẹc

a: ê - n ban: bên

a: ô - n, -t bản: bổn; hạt: hột

a: â - i, -o cái: cấy; gạo: cấu

â: ă - y đây: đay

â: ơ - ng, -c trấng (7): trớng, bậc: bợc

â: ơ/i - n chân: chơn/chin

e: a - 0 mẹ: mạ

e: ê - 0 mẹ: mệ

e: en - 0 mè: mèn; nhẹ: nhén

ê: ên - 0 rễ: rẹn; nghệ: nghẹn

i: in - 0 bí: bín; chỉ: chỉn

i: uy - 0 thi: thuy; thị: thụy

i: ê - nh bình: bềnh; mình: mềng

ô: u - 0, -l, -n, -t cố: cú; tôi: tui; hôn: hun; đốt: đút

ô: uô - ng công: cuông

u: ô - 0 củ: cổ; cũ: cỗ/cộ

ư: i - 0, -t ừ: ì; bứt: bít

iê: e - ng miệng: mẹng; miếng: méng

uô: o - 0, -it, -ng, -t lúa: ló; muối: mói; ruộng: roọng; ruột: roọt

ươ: a - 0, -ih, -c lửa: lả; lưới: lái; nước: nác

ươ: iê - u hươu: hiêu; rượu: riệu

uâ: u - n, -t huấn: hún; luật: lụt

ao: ô vào: vô

âu: ô đậu: độ

âu: u bâu: bu; nâu: nu

eo: e/ê kẻo: kẻ/kệ

Chuyển hóa cố ý

ă: ươ - c mặc: mược; mắc: mước

ă: iê - m, -u năm: niêm; sáu: siếc

ă: ươ/ơ - y bảy: bưởi/bởi

a: ơ - 0, -m, -i ba: bơ; tám: tớm; hai: hơi; thái: thới

a: iê - o cao: kiêu; đạo: điệu; hậu: hựu; lâu: lưu

i: ơ - 0, -n khỉ: khởi; chín: chớn

i: ươ - ng bình: bường

o: uô/ươ - ng lòng: luồng/lường; phong: phuông/phương

o: ươ - c học: hược

iê: ơ - n tiền: tờn; thiện: thợn

ươ: ơ - i mười: mời

ươ: a - n, -c mượn: mạn, trước: trác

PHỤ ÂM

v: b ve: be; vui: bui

v: ph vỡ: phỡ; vỗ: phỗ

th: s thạp: sạp; thèm: sèm

h: s (8) họ: sọ; hắn: sắn

nh: gi nhà: già; nhọc: giọc

tr: tl trâu: tlâu; tre: tle

tr: l trỗ: lỗ; trồng: lông

ch: l trợt: tợt; trọn: tọn

ch:tr chài: trài; chữ: trự

ch: gi cha: gia; chồng: giồng

gi: ch giận: chận; giữ: chữ

gi: tr già: tra; giữa: trữa

s: th sai: thai; sau: thau

s: tr sào: trào; sàng: tràng

s: t sóc: tóc

d: gi /j/ dao: giao; dác: giác

d: đ dao: đao; dầm: đầm

d: r diều: riều; dác: rác

d: th dột: thốt; dỗ dành: thỗ thành

g: c gà: ca; gáy: cáy

g: kh gải: khải; gàu: khau

g: c gà: ca; gáy: cáy

g: gi (9) gặp: giặp; gọi: giọi

g: ng gần: ngân

kh: x khiêm: xiêm

r: t rít: tít

PHỤ ÂM CUỐI

n: m cắn: cắm

n: nh/ng nhện/ nhệng/nhệnh

nh: ng anh: eng; bánh: béng

ch: c ếch: ếc; lạch: lẹc

THANH ĐIỆU

sắc: nặng báng: bạng; đốm: độm

nặng: sắc gạo: cấu; vụng: bống

huyển: ngang gà: ca; vò: bo

ngã: nặng cũi: cụi; giữ: chự

(L. Cadière còn cho biết ở Quảng Trị và Thừa Thiên, thanh ngã lẫn lộn với dấu hỏi, còn ở Quảng Bình, thanh ngã lại lẫn lộn với thanh nặng.)

4. Cần lưu ý là bảng kê những tương ứng trên đây chỉ là những trường hợp L. Cadière cho là chính yếu. Trong phần nhận xét về các tương ứng này, ông cung cấp thêm một số tương ứng khác, không được đưa vào bản kê vì sự lựa chọn hình thức này hay hình thức kia chưa dứt khoát (ví dụ đàng – đường đều được sử dụng trong cả ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, “khó nói chính xác là hình thức nào chiếm ưu thế” (tr. 10), hoặc vì chỉ được sử dụng ở cấp thổ ngữ. Sau đây là những cứ liệu bổ sung đáng ghi nhận:

a: o (10) (tìm thấy ở Kẻ Hạc, Phú Kinh (Quảng Bình) và một số làng ở Quảng Trị, Thừa Thiên, chủ yếu là vùng cận sơn)

o ngắn: o dài (bối cảnh –ng, –c), ví dụ: cong, trong.

ô ngắn: ô dài (bối cảnh –ng) (11), ví dụ: không, trông.

uâ: i (bối cảnh –n, –t), ví dụ: quần: quỳn; tuất: tuýt (L. Cadière cho biết trường hợp này rất hiếm và chỉ bắt gặp ở một vài nơi).

ch–: x– ví dụ: chuối: xuối; chín: xín (một số làng ở Bắc Quảng Bình như Hòa Ninh, Vĩnh Phước)

d–: đz/đj/đi ví dụ: đao: đzao/đjao/điao (Quảng Bình và một số vùng ở Quảng Trị; tùy theo từng làng mà ta có một trong các biến thái đó).

5. Công trình của L. Cadière không chỉ cung cấp danh sách các tương ứng ngữ âm, mà qua các ví dụ ông dẫn ra, ta còn hưởng được một điều thú vị là bắt gặp khá nhiều từ địa phương hiếm quý với số lượng gần 300 từ. Xin ghi lại một số trường hợp đáng chú ý:

oẹ: oạ, thi (xác chết): thuy; bối rối: búi rúi; liệm: lượm; trước: trác; sữa: sã/trã; làng: lường; bảy: bưởi; hai: hơi; ba: bơ; cả: cở; mười: mời; mắc: mước; sáu: siếu; sau: siêu; tiền: tờn; thiện: thợn; chín (9): chớn; mỹ (đẹp): mỡi; học: hược; lòng: luồng/lường; nhất: nhắt; (con) bét: vét; vu (khống): bu; vùi: bùi; vữa: bữa; gió: chó; tóc: sóc; (buổi) sáng: tráng; dạy: rạy; guốc: cuốc; gươm: cươm; gương: cương; khác: xác; (con) dũ dĩ: rụ rị/tụ tị/tụ rị.

6. Dưới con mắt của ngữ âm học hiện đại, dĩ nhiên, người ta dễ dàng thấy một số chỗ nhận định và trình bày của tác giả cuốn Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ Trung) chưa được chính xác và thỏa đáng, và còn thiếu tính hệ thống. Chẳng hạn, tác giả nhiều khi không phân biệt ngữ âm học với âm vị học, không phân biệt sự biến đổi âm vị thực sự trong hệ thống với sự biến đổi tạm thời trong ngữ lưu (ví dụ các từ không có trọng âm cái, mới, với có thể biến đổi lần lượt thành kế, mí, ví hay v); hoặc không tách biệt những tương ứng tác động đến tất cả các từ có liên với những tương ứng chỉ tác độn đến một số từ nào đó mà thôi...

Nhưng, nếu lấy đó làm lời phê phán L. Cadière thì, thiết nghĩ, hơi bất công, bởi vì ta không nên quên rằng ở đầu thế kỉ này, không chỉ ở riêng nước ta mà là cả trên thế giới, ngữ âm học vẫn còn nằm trong giai đoạn non yếu. Cần phải nhớ rằng cuốn Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ Trung) của L. Cadière xuất bản ngay từ năm 1902, mà mãi đến năm 1939, tức gần 40 năm sau, tác phẩm Các nguyên lý âm vị học của N. Trubetzkoy khai sinh khoa âm vị học hiện đại mới ra mắt bạn đọc. Trong tình hình như vậy mà ông đã có thể phân tích được hầu hết các đặc trưng của phương ngữ Trung thì đó đã là điều đáng khâm phục rồi. Và chắc chắn không ai phủ nhận rằng công trình này, cùng với tác phầm Le dialecte du Bas-Annam, Esquisse de phonétique, (12) đã đưa L. Cadière lên địa vị nhà phương ngữ học tiếng Việt đầu tiên.

V H L – H D

CHÚ THÍCH

1. Khing Hoc Dy et Jacqueline Khing – ‘Les recommandations de Kram Ngoy’, Mon – Khmer Studies VII, tr.145.

2. Theo Louis Malleret (trong L. Cadière, Croyances et pratiques religieuses des vietnamiens. Paris: BEFEO, 1957), L. Cadière có đến 248 công trình lớn nhỏ đã công bố. Trong đó, chúng tôi thấy có hơn 20 công trình về ngôn ngữ học. Ngoài ra, ông còn có nhiều bản thảo của những công trình khác mà nay đã thất lạc.

3. Nguyên bản là Phonétique annamite (dialecte du Haut – Annam). Paris: Imprimerie Nationale, 1902.

4. Cadière, L. 1931. ‘Ethnographie (Populations – Langues – Religions)’ trong L’ Annam. Hà Nội: Imprimerie d’ Extrême – Orient, , tr.69.

5. Mapéro, H. 1912. ‘Études sur la phonétique historique de la langue annamite, les initiales’, BEFEO XII, pp. 1-126.

6. Bảng kê này có sửa đổi và phụ chú về bối cảnh để dễ so sánh với các tác giả khác; có một trường hợp không thích đáng bị loại bỏ là h: f (hôn phối: phôn phối) vì thật ra đây chỉ là một hiện tượng đồng hóa.

7. Tiếng phổ thông hiện nay là trứng.

8. Mối quan hệ giữa th và s làm nảy sinh hiện tượng h>s khi ngay trước h là âm cuối –t: một họ > một sọ; bắt hắn > bắt sắn... Cadière cho đây là trường hợp chắp dính hay ít ra cũng là bắt đầu chắp dính, một hiện tượng kì lạ và rất hiếm trong tiếng Việt.

9. Cadière miêu tả gi ở đây là một âm ngạc (dịu): gặp được phát âm là giiặp ‘như thể là có hai i trước ă’ (tr.73). Vậy, gi ở đây không phải là /j/ bình thường mà là /j/ có tính ngạc rất mạnh.

10. L. Cadière miêu tả đỏ lả một âm nghe như ô hay o hoặc ao (tr.6), nhưng ông nói thêm rằng đó là ‘một âm a bị biến chất, rất hẹp và rất điếc’ (tr.7). Những chỉ dẫn ấy đủ cho chúng ta hình dung đó là một âm a sau tròn môi.

11. L. Cadière cho cách đọc ong, oc, ông trong các thổ ngữ của phương ngữ Trung là một âm o, ô rộng trước một âm mũi hay âm gốc lưỡi (tr.20, 23). Ông còn cho rằng nói chung, ô trong ông phát âm như ô hay au tiếng Pháp. Như vậy, có thể tin chắc rằng ông đã đề cập đến cách phát âm o, ô dài với –ng, –c không ngậm môi. Đáng ngạc nhiên là ông không nói gì về trường hợp óc.

12. BEFEO, XI (1911), số 1 – 2, tr.67 – 110.

Vương Hữu Lễ - Hoàng Dũng

Nguồn: http://tonggiaophanhue.net

READ MORE - Đóng góp của L. Cadière vào phương ngữ học tiếng Việt qua tác phẩm Ngữ âm tiếng Việt

TRẦN XUÂN AN - TỰ TÔN TIẾNG NÓI DÂN TỘC, GIỌNG NÓI QUÊ HƯƠNG

Tặng bạn học cũ: Ngô Vưu, Nguyễn Giỏ và Dương Quang Gạt… Nguyễn Tấn Sĩ, Nguyễn Chiến, Nguyễn Đăng Chín và Võ Nguyên…



Nếu một người Việt không có lòng tự tôn, tự hào về dân tộc, về quê hương của mình, đó là điều đáng ngạc nhiên. Tuy vậy, ở những người Bắc Trung bộ, từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên – Huế, và cả một phần Quảng Nam, đôi khi họ vẫn tự cho mình là dân “trọ trẹ”, dân “Nôm”. Lắm lần, trong các cuộc chuyện trò, khi họ tự nhận như vậy, tôi nghĩ, hình như họ hơi tự ti về giọng nói mang âm sắc địa phương của mình, hay thực ra, đó chỉ là sự thể hiện tâm lí nhún nhường, khiêm tốn bởi quê hương, bản quán mình đã có quá nhiều điều đáng tự hào rồi.

Dân “trọ trẹ” hay “trọ trại”? Dân “Quảng Nôm” hay dân “Quảng Nam”?

Đúng là dân tộc ta luôn tự hào đã có một văn tự riêng, đó là chữ Nôm. Nhưng tại sao ta không nói là chữ Nam vì nó là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam, mà gọi là chữ Nôm? Vậy “Nôm” là âm trại của “Nam” hay “Nam” là âm Hán hóa của “Nôm”? Mặc dù có thành ngữ “nôm na là cha mách qué” từ miệng nói, trang viết của những kẻ ngày xưa vốn quá trọng vọng ngoại ngữ Hán, nhưng ngẫm cho kĩ, phải chăng từ “nôm na” lại có nghĩa là dân dã, quê kiểng, là từ ngữ, âm điệu Việt của người bình dân Việt, ở các làng thôn thuần Việt, không pha tạp, và họ thường “mách qué”, chơi khăm đối với những kẻ vong bản, ít ra là vong bản ngữ. Dẫu sao, từ xưa đến nay, hầu hết người Việt chúng ta vẫn sử dụng hai từ “chữ Nôm” với tất cả niềm trân trọng, tự hào, không hề mang sắc thái tự mỉa mai, giễu cợt chút nào.

Còn “trọ trại” hay “trọ trẹ”? Trong lịch sử, vùng Nghệ – Tĩnh và về sau, cả Bình – Trị – Thiên, thường bị gọi là dân kẻ trại? Trại là nói tránh bằng cách phát âm không chuẩn hay trại là quê mùa? Và phải chăng, trại còn là nơi quan quân kinh đô Hoa Lư, Thăng Long thường xem là biên châu ác địa, cần đóng trại canh phòng, chứ không phải là nơi sinh cơ lập nghiệp đời đời? Thì đúng rồi, người Bắc bộ, châu thổ sông Hồng phì nhiêu, chính là tác giả của từ “trọ trại”, “trọ trẹ” đó, cũng như những ai thường dùng thành ngữ “nôm na là cha mách qué” khá vong bản ngữ, như đã viết ở đoạn trên.

Vùng nào “chuẩn” hơn, Việt hơn vùng nào?

Dẫu là vậy, nhưng thú thật, thuở còn nhỏ, trong tôi có đôi chút vừa tự ái, vừa tự giễu cợt, như thắc mắc sao không phiên âm và dịch từ English thành Eng văn, nước England thành nước Eng mà lại chấp nhận không chuẩn “cho nó sang”, thành Anh văn và nước Anh? English, England, phải phát âm cho chuẩn là Eng-lis, Eng-lân(đ) chứ có ai lại phát âm thành Anh-lis, Anh-lân(đ) bao giờ đâu!

Âm địa phương Bắc Trung bộ, khi gọi những người cha mẹ sinh trước mình là eng, là ả hay eng, chị, những người được sinh sau mình là tam. Trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, có từ tam (em), trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có từ ả (cô con gái, chị gái), khoan hẵng bàn. Nhưng rõ là từ “anh” chắc hẳn là âm Hán rồi. Âm thuần Việt, là “eng”.

Mãi đến cuối tháng 6 năm HB6 (2006), tôi tình cờ mua được cuốn “Từ điển Mường – Việt”, của ba tác giả Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành, do Viện Ngôn ngữ học chịu trách nhiệm bản thảo và Nxb. Văn hóa dân tộc ấn hành. Tôi ngạc nhiên đến kì thú. Và tự hỏi, không biết người Bắc bộ “chuẩn” hay người Bắc Trung bộ “chuẩn”? Không biết người Kinh miền xuôi chúng ta “chuẩn” hay nhân tộc sinh đôi một trứng của chúng ta là nhân tộc Mường “chuẩn”?

Xem “Từ điển Mường – Việt”, tôi thấy rõ là cách phát âm của nhân tộc Mường (lấy âm chuẩn là ở Mường Bi), rất gần với cách phát âm hiện nay của người Thanh – Nghệ – Tĩnh, Bình – Trị – Thiên và phần nào đó của Quảng Nam.

Thử trích dẫn bất kì trang nào, chương mục theo phụ âm đầu nào, chúng ta đều thấy rõ như vậy. Xin trích dăm bảy mục từ:

Trang 162, sđd.: “Enh = anh // Enh hảo hói chi è? = Anh cần hỏi gì ạ? // Enh Khỏi, enh Wa = Anh Khói, anh Hoa”.

Trang 215, sđd.: “Khau nì = sau này // Khau nì há hay = Sau này hẵng hay”.

“Khau nựa = sau nữa // Khau nựa, tàn tôi hảo pỗ rằng… = Sau nữa, chúng tôi muốn nói rằng…” (Chắc hẳn “hảo” là “háu”, “pỗ” là “bảo” – TXA. chua thêm).

Trang 340, sđd.: “Nhà tlõ = nhà trọ // Cải nhà tlõ ớ pển xe từ ria lẳm = Nhà trọ ở bến xe nhiều rệp lắm”.

“Nhà tlong = nhà trong // Nhà tlong nả cỏ hal puồng táy = Nhà trong [của] nó có hai phòng (buồng – TXA. ct.) ngủ”.

Trang 404, sđd.: “Pừa – bừa // Da pừa cõn nà đỉ xong chua? = Anh bừa miếng ruộng đó xong chưa? // Tách tlu ti pừa = Dắt trâu đi bừa”.

“Pữa = bữa // Môch ngày da ăn mẩy pữa? = Một ngày anh ăn mấy bữa?”.

Trang 483, sđd.: “Ti du = cưới (đón dâu, lễ cuối cùng của một cuộc hôn nhân) // May nì ti du ủn Háo = Hôm nay cưới cô Hảo” (Mai ni [:nay] đi [rước] dâu cô Hảo – TXA. ct.).

“Ti đác = 1. đi dưới nước. 2. đi lấy một blic nước // Ha tều ti đác = Ta cùng [đều – TXA. ct] đi lấy nước”.

Trang 520, sđd.: “Tửa = 1. người đàn ông // Pay cỏ mẩy tửa = Bọn bay có mấy người (đàn ông)? = 2. đứa // Tửa nò ăn hết cỏi thôm khô ớ đây rồi? = Đứa nào ăn hết gói tôm khô ớ ni rồi?”.

Người Bắc Trung bộ và Quảng Nam hẳn có thể cảm thấy thú vị khi đọc những mục từ ngẫu nhiên tôi trích dẫn bên trên, và hẳn rất đồng ý với các tác giả của cuốn “Từ điển Mường – Việt”: Tiếng Mường “là một ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ về mặt cội nguồn với tiếng Việt, tiếng Mường còn lưu giữ nhiều dấu vết của tiếng Việt cổ ở tất cả các bình diện, nhất là ở bình diện ngữ âm và từ vựng. Vì thế, qua tiếng Mường có thể giúp cho việc làm sáng tỏ một số vấn đề không chỉ là tiếng Việt mà cả các vấn đề về dân tộc, văn hóa Việt” (sđd., tr. 7).

Với những kiến thức về dân tộc học, đặc biệt là Mường học và Việt (Kinh) học, cùng với nhận thức trên, qua đó, chúng ta có thể thêm quả quyết: Giọng địa phương phần nào ở Thanh Hóa, đặc biệt là ở Nghệ – Tĩnh, Bình – Trị – Thiên và phần nào ở Quảng Nam, gần với những âm sắc và từ vựng cổ hơn, so với các vùng miền khác.

Tất nhiên, chúng ta cũng đủ tinh tế về thẩm âm cũng như từ ngữ Hán – Việt để phân biệt đâu là người Mường nói tiếng Việt và đâu là người Việt gốc Hoa hay người Hoa học nói tiếng Việt, với ý thức rằng như bất kì ngôn ngữ nào, sự du nhập, vay mượn một số từ vựng tiếng nước ngoài vào tiếng Mường, tiếng Việt và ngược lại, từ tiếng Mường, tiếng Việt vào tiếng Hán – Hoa, là không phải ngoại lệ.

Phát âm nhất thống trên cơ sở nào?

Mặc dù lòng yêu quê hương, bản quán, cụ thể là yêu thấm thía ruột gan giọng nói quê quán mình, nhưng người Việt Nam, gồm cả 53 dân tộc, từ lâu vẫn xem tiếng Việt là ngôn ngữ toàn quốc, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, và cách phát âm mỗi vùng, thậm chí mỗi làng, mỗi xóm cũng có nét khác nhau, nhưng chung quy vẫn là một. Về mặt từ vựng, cũng thế, tuy có tiếng địa phương, nhưng không phải là không thể hiểu nhau. Hiện nay, với sự phát triển về các phương tiện truyền thông đại chúng, với ý thức đưa tiếng địa phương vào văn chương trong chừng mức nhất định một cách tinh tế, tài hoa, cũng là một cách làm giàu thêm tiếng Việt phổ thông. Về mặt chữ viết, chúng ta có chữ quốc ngữ abc, loại chữ kí âm phổ biến trên thế giới. Mặc dù đó là chỉ là cách phiên âm để tập nói tiếng Việt của các cố đạo ngoại quốc, nhằm mục đích truyền đạo của họ, rồi người Pháp dùng nó để xóa bỏ chữ Hán, chữ Nôm, dân tộc Việt Nam chúng ta vẫn biết chớp lấy, hoàn thiện thêm đến mức chuẩn mẫu, từ những năm 20, 30 của thế kỉ XX. Chữ quốc ngữ abc kí âm (tôi nhấn mạnh: kí âm) là cơ sở để từ nhất thống vốn có lại càng nhất thống hơn.

Đó là những gì không phải mới lạ, nhưng cũng là một cách tự nhắc nhở. Đúng hơn, đó là cảm nghĩ của tôi từ rất lâu, lâu lắm rồi, về giọng nói quê nhà Quảng Trị – Huế, về giọng nói Quảng Nam thân yêu, và gần hơn, đó là kỉ niệm riêng, giữa tôi và người bạn cũ Ngô Vưu, một chiều hôm ngồi lai rai bên bờ sông Hương, sau ngày tôi mua được “Từ điển Mường – Việt”, cách đây cũng gần 8 năm…


Trần Xuân An

Tối 20, gặp lại bạn cũ quê nhà,

và chiều 21-7 HB10,

chợt nhớ sông Bến Hải, 56 năm Hiệp định Genève (1954-2010)


Nguồn: http://www.tranxuanan-writer.net

READ MORE - TRẦN XUÂN AN - TỰ TÔN TIẾNG NÓI DÂN TỘC, GIỌNG NÓI QUÊ HƯƠNG

Thursday, January 13, 2011

LÊ THỊ HIỀN MINH - DỰ CẢM CHIỀU CUỐI NĂM



Tặng Anh và các con yêu quý



Thoắt trôi

Con tàu thời gian đang lao mình về ga cuối

Những bước chân hối hả trở về nhà trong buổi chiều đông.

Anh có nghe?

Vó ngựa dồn, tiếng hí

Vọng về từ phía trời xa

Xuân

Hạ

Thu

Đi qua

Còn lại ta sau chặng đường nắng, bụi

Với chiều đông cùng bản tin thời tiết.

Hôm nay trời nhiều mưa

Nhiệt độ 9 đến 12 độ.

Ngày mai trời tiếp tục mưa

Đợt rét còn kéo dài nhiều ngày nữa...

Chiều đông.

Anh tìm khép lại những ô cửa

Em nhen bếp lửa nấu bữa cơm chiều

Các con vô tư ngồi hát

Những bài tình ca.

Mùa xuân về trước ngõ.


LTHM

READ MORE - LÊ THỊ HIỀN MINH - DỰ CẢM CHIỀU CUỐI NĂM

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - XUÂN NHỚ BẠN


Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên

(ThếLữ)



Xuân về đâu mấy hôm nay

Mà lòng còn lạnh những ngày tàn đông

Bài thơ rắm rối trăm vần

Hồn thơ đã vỡ trăm lần xót xa

Bạn bè ơi nhớ gì ta?

Những năm lưu lạc đã xa quá rồi

Thằng “Lưu Linh”một góc trời

Thằng như “Lý Bạch” một thời say trăng

Thằng như “Mặc Tử” say tình

Thằng như ta những say mình say em

Lâu rồi chuyện cũ nghe thèm

Con đường thành Cổ về bên Cổ Thành

Khách về như lạ như quen

Tiếng ai ríu rít ai tìm tìm ai

Để cho tiếng khóc tiếng cười

Lan trong xuân lộng một thời yêu nhau

Trường xưa bạn cũ về đâu

Đông qua xuân lại tìm đâu thấy người

Góc trời chuyện cũ mờ thôi

Ta đây hồ dễ quên người xưa đâu.


N.Đ.M


READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - XUÂN NHỚ BẠN

Wednesday, January 12, 2011

TỪ KẾ TƯỜNG - PHẠM BÁ NHƠN: NGƯỜI HƯỚNG VỀ NGUỒN CỘI


VỀ HUẾ
THƠ PHẠM BÁ NHƠN
NHẠC VÕ CÔNG DIÊN

TIẾNG HÁT BẢO YẾN
beta.nhaccuatui.com




Tôi nhận được bản thảo tập thơ “Nguồn Cội” của Phạm Bá Nhơn vào những ngày cơn bão số 9 đã càn quét qua một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Lũ đang rút, bão đã tan, nhưng áp thấp nhiệt đới thì vẫn còn khiến thời tiết thành phố nơi tôi ở lúc nào cũng ẩm ướt với màu trời xám xịt và bất chợt có những cơn mưa vắt ngang qua những hàng cây u buồn trút lá xuống mặt đường xao xác gió.

Trong thời tiết ngậm ngùi ấy tôi đã ngồi đọc suốt tập thơ dày hơn 200 trang trên khổ giấy A4 của Phạm Bá Nhơn trong tâm trạng của một người nhìn những thảm lá bay về cội và chợt thương những đời lá cứ chờ đến lúc mưa dông gió giật để lìa cành. Và thật bất ngờ làm sao trong tập thơ khá đầy đặn của Phạm Bá Nhơn lần này, tôi cũng nhặt ra được những bài thơ nói về những chiếc lá rơi về nguồn cội trong những ngày cuối thu, trong hồi ức về cha, về mẹ, về quê hương thơ ấu và trong cả kỷ niệm tình yêu với những mối tình đã đi qua trong đời anh, để hình thành những thảm lá vàng đầy ám ảnh, tuyệt vời trong mỗi hoài niệm, vô cùng lãng mạn và hạnh phúc. Trong đó tất nhiên có những đời lá không theo chu kỳ, thời tiết, quy luật để rơi về cội mà đã bị gió cuốn tơi bời, bay tan tác trong bão lũ nơi quê anh.

So với tập thơ trước, tập thơ “Nguồn Cội” lần này của Phạm Bá Nhơn có cái nhìn trầm tĩnh, sâu lắng hơn ở mọi góc cạnh mà anh đề cập. Nhiều bài thơ đầy tâm trạng của một người luôn khắc khoải về quê hương, nguồn cội, về một thời thơ ấu cơ cực, cái tuổi thơ đối với những người khác thì rất lãng mạn, đẹp một cách bềnh bồng nhưng sao đối với Phạm Bá Nhơn luôn mang nặng và ám ảnh của một thời gian khó, cay nghiệt. Nhưng Phạm Bá Nhơn không oán trách, mà chỉ nhắc nhở như một kỷ niệm khó quên để rồi cũng chính trong những vần thơ ấy cho thấy một con người đã đứng lên, vượt qua số phận và đĩnh đạc bước vào đời để trưởng thành.

Xuyên suốt trong tập thơ, cái ý tưởng “về với nguồn cội” vẫn đậm nét qua những bài thơ khi Phạm Bá Nhơn nói về hình ảnh người cha, người mẹ và một thời gian khó rất đời thường như bao người cha, người mẹ khác của chúng ta, trên quê hương đất nước trải qua chiến tranh, bom đạn đầy tai ương, gian khổ nhưng vẫn hiên ngang đứng lên, không chỉ có thế mà còn nuôi dưỡng, dạy dỗ những người con thành đạt và không quên cội nguồn. Hình ảnh người cha, người mẹ ấy vừa rất riêng biệt của Phạm Bá Nhơn, nhưng đồng thời cũng rất chung, giống như hình ảnh người cha, người mẹ của chúng ta luôn bắt gặp ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Phải chăng Phạm Bá Nhơn đã nhận rõ đó là bóng mát và đó cũng chính là “nguồn cội” của mình?

Tôi xin hẹn một mai về Quảng Trị
Thăm dòng sông bãi cát với làng quê
Thương mảnh đất một thời nuôi tôi lớn
Thủa ấu thơ hôm sớm vẫn đi về
Quảng Trị ơi quê hương và nguồn cội
Mới vừa xa mà lòng nhớ khôn vơi
Làm sao quên những chiều nơi xóm nhỏ
Ngày ra đi xao xuyến mãi trong đời…
(Hẹn về Quảng Trị)

Trong cuộc sống của chúng ta và hình như đó là quy luật- có không ít người sinh ra rồi gắn bó với nơi “chôn nhau cắt rốn” suốt đời mà cũng có người vì mưu sinh, vì công việc đã bỏ quê ra đi biền biệt, chân vướng vào bụi trần cho đến khi một ngày nhìn lại thì hình ảnh quê hương đổ ập về, xôn xao theo những chiếc lá và chắc chắn Phạm Bá Nhơn đã từng đi nhặt những chiếc lá rơi về cội ấy để đỡ nhớ quê hương.

Chuông đổ trên chùa vang ngõ vắng
Vọng về lay động tấm lòng tôi
Khuya nay phố cũ say trong mộng
Tiễn bóng trăng đêm lặn cuối đồi
Ai trên những chuyến xe qua vội
Có chở theo về những sớm mơ
Thương người nhặt lá bên hè vắng
Khuất dưới làn sương bóng mập mờ…
(Đêm thu thị trấn)

Phạm Bá Nhơn cũng có những lúc rất lãng mạn và hào sảng khi mượn hình ảnh những người uống rượu bên hồ để nói lên tâm trạng của mình. Đó là tâm trạng của người “xa xứ” trong một lúc nào đó bỗng bàng hoàng nhớ lại hình bóng quê nhà rất xa mà cũng rất gần gũi trong tâm trạng và hình ảnh của người “say” men rượu bên hồ và “say” cả một bóng hình lồng lộng của quê hương khi phảng phất cơn gió heo may.

Cũng có kẻ đang ngồi bên chum rượu
Giữa trời quê phảng phất gió heo may
Phút tĩnh lặng lòng, gửi người xa xứ
Sợi tơ trời tháng tám lửng lơ bay
Để ta nhớ và mảnh hồn bốc cháy
Theo hơi men rớt xuống ở bên hồ
Trưa dưới quán cạn dần chum rượu cũ
Ngất ngây say thương nhớ cánh đồng khô…
(Gởi người uống rượu bên hồ)

Với quê hương là như thế, còn với tình yêu? Phạm Bá Nhơn cũng không thể thoát khỏi cái lưới tình đã chụp xuống đời anh và để lại một dấu ấn sâu đậm giống như vết dao khắc trên những thân cây. Theo thời gian mọi thứ có thể thay đổi, cây có thể rụng hết lá rồi chết đi, trơ cành nhưng trên thân gỗ mục vẫn con in đậm vết khắc ấy và anh đã có một chút triết lý về thời gian và khoảng cách, tất nhiên ở giữa là một mối tình nào đó đã mất mà còn rất sâu nặng trong từng câu chữ mênh mang.

Em có biết thời gian và khoảng cách
Đã làm ta xơ xác héo hon gầy
Thời gian ơi sao không là một thoáng?
Khoảng cách đời đo đủ những gang tay
Em đã đến ru hồn ta ngây ngất
Cho ta say thiếp lặng với bao ngày
Hãy quay lại lay tấm lòng động đậy
Dù một lần rồi vội vã đi ngay…
(Thời gian và khoảng cách)

Qua tập thơ “Khung trời mây trắng” lần trước và “Nguồn Cội” lần này tôi bắt gặp lại một Phạm Bá Nhơn vẫn sâu nặng trong cõi lòng mình hình bóng người mẹ, người cha. Hình như trong sâu thẳm đáy lòng anh luôn có hình bóng của bóng mát một quê hương yêu dấu, có một tình yêu lãng đãng hoài niệm đằm thắm và rõ nhất là hình bóng người mẹ, người cha đi theo anh từ những bước chân từ thuở thơ ấu cho đến lúc trưởng thành. Dù đường đời luôn gập ghềnh, khúc khuỷu, chông gai và đến khi đã thành đạt, hình ảnh ấy vẫn luôn hiện diện, như là chỗ dựa tinh thần để anh vươn lên. Còn khi đã trưởng thành, được sự nghiệp thì là nơi để anh nhớ về, đó là “nguồn cội”. Phạm Bá Nhơn làm thơ không phải chỉ để làm thơ, hay chỉ là một nhà thơ, mà anh còn là một người con có hiếu, anh mượn thơ và qua thơ để nói về mẹ, về cha bằng những hình ảnh thật phong phú trong thơ và đáng trân trọng.

Đôi bàn tay của mẹ
Nâng nhẹ cả đời con
Mười ngón tròn xinh xắn
Theo năm tháng héo mòn
Ôi bàn tay mầu nhiệm
Thương bao nét dịu hiền
Giữa lòng con hiển hiện
Những ngón vẫn còn nguyên.
(Đôi bàn tay mẹ)

Hoặc

Người về biền biệt nơi đâu
Đường kim múi chỉ từ lâu bạc màu
Khăn xưa cha đội trên đầu
Thương bàn tay mẹ ngồi khâu bên chồng
Đã qua một thuở mặn nồng
Nay khăn đóng cũ vẫn cùng với ta…
(Chiếc khăn đóng của cha)

Trên bước đường doanh nghiệp của anh, qua những trang thơ “Nguồn Cội”, Phạm Bá Nhơn như đang trút hết những nỗi niềm sâu thẳm và được toát ra từ trái tim mình. Thỉnh thoảng người đọc cũng vẫn bắt gặp những ý tứ trùng lắp hay những ngôn từ mộc mạc đơn sơ, có lẽ đã xuất phát từ những mạch nguồn tích tụ đến độ tuôn trào.

TỪ KẾ TƯỜNG
READ MORE - TỪ KẾ TƯỜNG - PHẠM BÁ NHƠN: NGƯỜI HƯỚNG VỀ NGUỒN CỘI

Tuesday, January 11, 2011

ĐỨC TIÊN - THÁNG GIÊNG




Tháng giêng sao trời bỏng nắng

Cứ ngỡ hạ về xôn xao

Con đường giờ còn hoang vắng

Cho ai nhớ những ngày nào...


Hoa tím nở trên đồi vắng

Màu hoa nhắc chuyện xưa xa

Bây giờ còn quên còn nhớ

Ai đã lạnh lùng đi qua


Tháng giêng không còn rét ngọt

Áo em mặc gió buông hờ

Những chiều ngồi không ngóng đợi

Vô tình mong một cơn mưa


Có những lúc buồn không nói

Ngắm nhìn rồi cũng chán chê

Thời gian sao mà ngốc nghếch

Vô tư không biết xuân về


Nắng nung cho đời cáu gắt

Tháng giêng giờ đã xa rồi

Cây xanh giờ không ra lộc

Em chờ chờ mãi không thôi


Ai hay trời cũng biết giận

Mùa xuân đánh tráo mất rồi

Mưa xuân cũng thôi biền biệt

Hạ về từ tạ lên môi


Tháng giêng nắng nung như lửa

Bầu trời không gợn màu mây

Biết ai có còn mong đợi

Tháng giêng nỗi nhớ vơi đầy.


Đ.T

Tháng Giêng, 2010

READ MORE - ĐỨC TIÊN - THÁNG GIÊNG