Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, September 7, 2010

XUÂN ĐỨC - Giới thiệu tập thơ CHIÊM BÁI QUÊ NHÀ của TRẦN BÌNH



TRẦN BÌNH - THAO THIẾT MỘT HỒN QUÊ


Hẳn nhiều người còn nhớ câu hát trong một ca khúc nổi tiếng thời chống Mỹ trên đất Quảng Trị "Tiếng trống trận từ Gio An vọng tới.." Gio An, một mảnh làng nhỏ âm thầm của miền tây Gio Linh-Quảng Trị, nơi có hệ thống giếng cổ là di tích văn hoá rất đặc sắc ghi dấu một thời phồn thịnh của người Chăm ở đất này. Trong lòng đồi đất đỏ ba-zan, những mạch nước ngầm trong ngần và trường cửu cứ lặng lẽ chảy ra, người dân địa phương gọi là nước mội. Nhiều thế kỷ trước, người Chăm đã biết xếp đá khoanh lại thành giếng quanh mội để lấy nước sinh hoạt và cấy lúa. Các nhà khảo cổ học gọi đó là những công trình thuỷ lợi "dẫn thuỷ nhập điền". Ở những mội nước đó có một loại rau cũng rất đặc biệt, nó chỉ sống được với khe nước trong veo chảy ra, chỉ cần vẩy chút bùn lên là rau sẽ chết. Đúng là rau sạch tuyệt đối. Rau ấy có tên là rau Liệt, hay còn gọi là xa-lách-xông...Trần Bình, tác giả tập thơ nhỏ này sinh ra, lớn lên và hiện vẫn đang sống lặng lẽ trong lòng mảnh làng ấy.


Sở dĩ tôi nói lan man về giếng nước mội và giống cây rau Liệt trước khi bàn đến tập thơ bạn có trong tay, bởi nếu ai đó quen biết Trần Bình rồi. đọc thơ anh hẳn sẽ có cùng nhận xét với tôi, anh là hiện thân của cọng rau thuần khiết đó, tâm hồn anh được nuôi dưỡng bằng chính dòng nước trong veo và cũng rất thuần khiết của đất Gio An. Con người sống trên đời và sống trong thơ, ai cũng có nỗi buồn, niềm vui, ai cũng không thể thoát ra khỏi vòng thế tục, cũng nhớ nhung, dằn vật, trở trăn, thậm chí cả giận hờn uất ức...Nhưng tất cả các cung bậc cảm xúc đó đối vơí Trần Bình đều rất tinh khiết và chân chất.


Nơi chốn người đi qua nhớ nhung

Ta đau tình ấy những mùa trăng

Ngọt trong nguồn cội dòng tinh khiết

Ta tắm lời yêu nguyện đá vàng..

(Ta về giếng cổ thăm người cũ)


Bình làm thơ cũng đã lâu nhưng rất ít khi gửi thơ đăng báo nên ít người biết được anh đã có đến hàng trăm bài thơ. Cũng như hầu hết những người làm thơ khác, cảm xúc đầu tiên, cảm xúc sâu nặng nhất là tình yếu ngỡ như vô hạn đối với mảnh đất đã nuôi dưỡng nên mình. Vùng đất đỏ Gio An của Trần Bình không chỉ âm thầm trong vắt mạch nước hàng trăm năm chắt ra các giếng cổ, mà đã từng có một thời đất rung, cây đổ, vòm trời mù mịt khói bom, và máu đổ đầm đìa nhuộm sẫm thêm màu đất đỏ. Tuổi thơ Trần Bình lớn lên giữa những năm tháng bi hùng đó. Bởi vậy mà bạn đọc sẽ chẳng hề ngạc nhiên khi những dòng thơ viết về quê hương, không có nhiều cái chất hương đồng cỏ nội, cây đa bến nước nên thơ như rất nhiều trang viết ban đầu của các thi nhân khác. Đổi lại, quê hương trên trang thơ anh thật da diết, thật nặng sâu, nhiều lúc còn thao thiết đến nghẹn lòng.Mẹ sinh tôi ra giữa làng.


Năm bom đạn

Quê tôi thành làng trắng

Ngày khói lửa theo mẹ đi sơ tán

Tuổi thơ lưu lạc, xa nhà..

(Làng ơi )


Cũng có cánh cò trên rẻo làng quê, nhưng cánh cò trong thơ Trần Bình nhoi nhói một nỗi đau của tấm lòng đứa con đất nghèo tự thấy nặng tội với mẹ vì chưa làm nên được gì để tròn đạo hiếu.


Để rồi khi con bĩu môi thả một ánh nhìn lạ lẫm

Vào cái mặt trăng nhăn nheo đồng quê

Vào câu hát ru, mẹ à ơi bến bãi

Cánh cò, cánh vạc chao chiều

Buốt lòng trái đắng cò ơi..

(Cò ơi thao thiết)


Cũng có cây đa, nhưng cây đa trên quê của Bình là chứng nhân của máu và hương hồn người liệt sĩ bị kẻ thù găm đạn đến nát thịt xương. Người liệt sĩ ấy đã trở thành Thành Hoàng của làng Gio Bình. Cây đa ấy cũng là liệt sĩ, cũng vảng vất hồn vía nơi đây để chứng tích cho một thời bom lửa:


Hết chiến tranh chúng tôi tìm về

Cây đa chứng tích giờ thành thiên cổ

Trồng lại một cây đa lá đỏ

Đồng đội ơi, thương nhớ tháng năm dài..

(Cây đa và đồng đội)


Cũng có giếng nước, có mái đình, có cả ánh nắng chiều, đêm trăng thanh và bãi cỏ mịn...Tóm lại, trong thơ Trần Bình có tất thảy những gì được gọi là hồn quê. Nhưng tất cả đều day dứt, nặng trĩu và thao thiết. Ngay cả những bài thơ chỉ mang tính thù tạc, chạm chén rượu với bạn bè nơi đất khách quê người thì cái men nồng vẫn không đủ nguôi ngoai nỗi trở trăn hồn quê, đôi lúc còn xen cả sự mặc cảm, hay chút giỗi hờn của một tâm hồn đầy mặc cảm:


Vô tư đi. Cứ vào nam mà sống...

Chả nhẽ rời quê- muôn kiếp mặn mòi

Chả nhẽ vì mẹ cha nghèo cực

Mà ta mơ thành kẻ mồ côi?

( Đồng hương)


Là nói vậy, nhưng cũng không hoàn toàn chỉ có vậy. Hồn quê trong thơ Trần Bình không phải chỉ có sự dằn vật, ưu tư. Cuộc sống của chàng thi sĩ chân quê này không chỉ có những đêm thao thức.Vẫn còn đó những mùa trăng rời rợi sắc tình, vẫn có đêm đi hội Sim ngất ngây khúc hát ghẹo, vẫn có nhịp trống rộn ràng lễ hội Khe Me và tiếng đàn Ta-Lư réo rắt len lỏi vào trong từng giấc ngủ. Bởi lẽ giản đơn là, dài hơn những năm tháng máu lửa quặn đau là những mạch nước ngọt ngào trường cửu, sâu hơn nỗi ưu tư trăn trở vì cuộc sống mưu sinh và sự thiệt thòi bản thân một con người cụ thể là lòng đất đỏ quê hương ấm áp nghĩa tình. Và trên tất cả cõi riêng của một đời người cụ thể là khí chất của con người Quảng Trị gan góc,lạc quan. Vì vậy mọi cay đắng rồi sẽ qua, men đời cứ say trong từng câu hát. Cái chất ấy làm nên màu xanh của khung trời Quảng Trị, màu xanh thuần khiết của cọng rau liệt quê anh. Tôi thích bài lục bát này bởi nó rất Trần Bình, rất là trai Quảng Trị:


KHÚC TƠ TÌNH HỘI SIM

Rủ nhau lên bản mà chơi

Mà nghiêng câu hát lý lơi đêm tình

Sơn nữ ơi! Ta đi tìm

Đằm trong mắt suối cái nhìn lúng la

Bập bùng ngọn lửa kiêu sa

Ngực trần phô với núng na nói cười

Từng đôi,bên suối từng đôi...

chén yêu say khướt nghiêng trời tình nhân

Phập phồng đồi núi trăng ngân

Chung chiêng trắng một đêm xanh

hội tàn


Cuộc sống đang từng ngày đổi thay trên đất Gio An cũng như trên tất cả những mảnh làng khác của đất nước. Thơ Trần Bình cũng vậy. Tập thơ mỏng đầu tay này chỉ mới như là những lô đất vừa vỡ hoang. Chúng ta rất tin và có đầy đủ cơ sở để tin vào một hồn thơ đang lặng lẽ làm mùa trên vùng đất âm thầm mà sâu nặng, bên những mạch nước ngàn đời trong vắt đã nuôi những cánh rau thuần khiết nên xanh


Trúc Sơn Trang, Đông Hà, 9/12/2009

Xuân Đức

Nguồn: tiengdantalu.vnweblogs.com

READ MORE - XUÂN ĐỨC - Giới thiệu tập thơ CHIÊM BÁI QUÊ NHÀ của TRẦN BÌNH

MINH TỨ - MÂY TRẮNG BAY TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN



Ảnh từ trang www.varchi.com


Bút ký


"Trường Sơn đông nắng tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa rõ mình."

Câu thơ của nhà thơ Tố Hữu viết thời chiến tranh mà bây giờ đọc lại vẫn thấy xốn xang kỳ lạ. Với Trường Sơn, chúng tôi cứ đi đi, về về với các bản làng đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, và mỗi lần như thế luôn thắp lên ước vọng về một cuộc đổi đời cho miền tây gian lao nhưng anh dũng kiên cường.

Chắc có lẽ nhiều người chưa quên chuyện ông Kbo, nhà dân tộc học người Hunggari hồi những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi đã đến với vùng đồng bào dân tộc miền tây Quảng Trị. Quá say mê với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô Hướng Hóa nên ông quyết định làm nhà sàn ở lại nghiên cứu dân tộc học, để rồi vợ ông phải thân chinh qua Việt Nam nhờ Đại sứ quán tìm tung tích.

Ngày trở về, chia tay với bản làng và những người dân miền tây hào hiệp, mến khách, khi được các lãnh đạo huyện hỏi: "Qua thời gian thâm nhập thực tế dài như thế, theo ông làm thế nào để miền núi tiến kịp miền xuôi?", ông Kbo nói rằng: "Tôi không phải là kinh tế gia, cũng không phải là chính trị gia mà chỉ là một nhà dân tộc học, nhưng nếu được phép nói thì theo tôi phải có một con đường". Con đường mà ông đề cập ở đây là yếu tố để chuyển tải nền văn minh, có con đường là có tất cả.

Lời ông Kbo nói vậy ai cũng thấy được bởi có sống với miền tây hồi ấy mới thấy việc dịch chuyển đi lại ở miền núi khó khăn đến mức nào. Chuyện cũ có thật, có lần huyện gửi công văn mời cán bộ xã ra huyện họp, công văn gửi đi mười ngày sau mới đến đến được xã thì cuộc họp đã diễn ra cách đó lâu lắm rồi. Mà có nhận được sớm hơn thì ở vùng sâu Hướng Hóa, Đakrông phải cơm đùm, cơm vắt lội bộ bao nhiêu dặm đường rừng ra đến huyện mất hơn ba ngày đường, cả đi lẫn về mất một tuần chỉ để họp có một ngày.

Còn sản phẩm hàng hóa của dân làm ra thì khỏi phải nói, một quả dứa nặng một ký ở Abung, Ango, Đakrông bán 500 đồng cũng chẳng ai mua bởi không ai có thể gánh gồng trèo đèo, lội suối ra được đến chợ thị trấn để bán. Có khi đến mùa thu hoạch bà con phải bỏ đi sản phẩm mà biết bao công sức của mình đã đổ ra.

Nhắc lại một vài chuyện cũ như thế để thấy rằng đầu thế kỷ hai mươi mốt khi nhà nước mở con đường Trường Sơn thời công nghiệp hóa đã mở ra "con đường tương lai giàu có của Tổ quốc ta". Một thuận lợi là đường Trường Sơn từ miền tây Quảng Bình qua Quảng Trị có hai nhánh đi song song theo Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây với điểm gặp gỡ là cầu Đakrông theo đường 14 chạy dài vào Thừa Thiên- Huế có tổng chiều dài 180 km. Và, như thế những vùng núi đồi hàng ngàn năm u tịch ở miền tây của các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Đakrông và Hướng Hóa được đánh thức.

Cách đây mươi năm về trước, để đến được Sen Bụt, Cù Bai, chúng tôi phải đi xe ba cầu băng qua hàng chục cây số đường rừng hiểm trở, quanh năm vắng bóng con người, còn bây giờ dọc đường vào đã thấy thấp thoáng những điểm dịch vụ của dân từ Khe Sanh, Lao Bảo vào bán hàng nhan nhản khắp bản làng. Con đường khai mở đến đâu là có sự giao thương đến đó. Dọc đường lên Cù Bai chúng tôi phóng xe chạy băng băng trên con đường thảm nhựa, tha hồ ngắm nhìn những cánh rừng nguyên sinh miên man với đủ loại cây đẹp đến mê hồn.

Đã nhiều lần lên với Trường Sơn nhưng lần này tôi mới có dịp cảm nhận đầy đủ hơn vẻ đẹp của những cánh rừng. Khi nắng xuân lan tỏa xua tan màn sương mỏng buổi sớm mai, cũng là lúc tiếng chim hót líu lo chào buổi sáng vang động tạo nên một bản đại hợp xướng của rừng. Thi thoảng trên đường bắt gặp những chú sóc nhảy ngang qua đường. Thú vị hơn cả là khi đoàn chúng tôi bắt gặp đôi gà lôi lam mào trắng trên đường đi Cù Bai với bộ lông thật sặc sỡ, loài gà được ghi trong sách đỏ và còn rất ít ở Việt Nam.

Một thành viên đi trong đoàn chúng tôi tỏ ý lo ngại cho những cánh rừng nguyên sinh quý giá này liệu có được gìn giữ, bảo tồn nếu không có kế hoạch bảo vệ ngay từ bây giờ. Đường Trường Sơn đâu chỉ là con đường chiến lược phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng mà còn là con đường của du lịch sinh thái rất hấp dẫn.

Anh bạn ở Văn phòng Huyện ủy Hướng Hóa cùng đi nói với tôi rằng hãy chờ đêm xuống ở nơi này mới thấy hết cảnh đẹp của miền tây. Quả thật ở tây Trường Sơn đêm xuống trời se lạnh, sương giăng giăng cả triền núi. Mùa này cà phê bắt đầu nở hoa trắng cả những quả đồi bạt ngàn. Có thể nói nếu như đất Hướng Hóa rất phù hợp cho việc phát triển trồng cà phê thì Hướng Phùng là nơi có tập trung với diện tích cà phê khá lớn với hơn 1500 ha. Nguồn lợi từ trang trại, nương rẫy cà phê mang lại không chỉ cuốn hút người dân miền xuôi lên đây lập nghiệp mà còn làm cho bà con dân tộc Vân Kiều bấy lâu nay chỉ quen với tập quán canh tác lạc hậu: phát, đốt, cốt, trỉa cũng chuyển sang làm cà phê với kỹ thuật canh tác mới. Đã có 80% hộ đồng bào dân tộc Vân Kiều ở Hướng Phùng có vườn cà phê chè từ 2-3 ha.

Trong khi nhiều người trồng cà phê trong cả nước phải lao đao thì cà phê chè ở Hướng Hóa vẫn được giá. Sản phẩm chế biến của Công ty cà phê- dịch vụ đường 9, Công ty hồ tiêu Tân Lâm, Công ty chế biến cà phê Thái Hoà vẫn có thị trường tiêu thụ tốt không chỉ ở Tây Âu mà còn xuất sang cả Mỹ. Chỉ có điều còn phân vân của bà con nông dân hôm chúng tôi dừng lại ở Hướng Phùng là cách tổ chức thu mua của các công ty chế biến chưa tốt, nên gây ra cảnh nông dân bị ép giá. Giá sụt một tí là người trồng cà phê chết đứng bởi công chí phí đầu tư chăm sóc cho cây cà phê rất lớn.

Mà thôi, chuyện cây cà phê thì nói bao nhiêu cho hết, trong khi chuyện đồng bào các dân tộc miền tây sống trên đất đai màu mở, bạt ngàn mà phải chịu cảnh đói nghèo là chuyện đáng bàn. Cũng cần phải nói rằng Nhà nước đã đầu tư nhiều cơ sở vất chất hạ tầng để cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc, nhưng nhìn chung cuộc sống của bà con vẫn chưa khá lên được. Những năm trước đây hầu như năm nào cũng vậy, cứ vào cử này lên miền tây là nghe chuyện đồng bào dân tộc thiếu đói. Cái đói của đồng bào dân tộc được hiểu là thiếu gạo ăn, phải ăn ngô, ăn sắn thay cơm. Đó là cái đói triền miên chưa dứt được bởi tập tục canh tác lạc hậu: phát, đốt, cốt, trỉa; là diện tích lúa rẫy, ruộng nước còn quá ít, chưa được tích cực khai hoang để canh tác; là cái sự thiếu căn cơ tự thân của đồng bào khi làm được chừng nào lương thực đều dốc vào ghè rượu uống suốt mùa ăn mừng lúa mới.

May mà mấy năm trở lại đây có nhà máy chế biến tinh bột sắn ra đời, người dân trồng sắn bán được giá nên đời sống có nhiều cải thiện. Tôi đã gặp trên dọc hành trình Trường Sơn những nhân tố điển hình. Đó là những ông chủ trang trại đã làm chủ được cái nương, cái rẫy của mình, như Hồ Cài ở bản Trằm, xã Hướng Tân, Hướng Hóa có trang trại cà phê với diện tích 5 ha, mỗi năm thu hơn 70 tấn cà phê, cùng với cơ sở chế biến và các nghề phụ khác mỗi năm thu nhập lên đến hàng trăm triệu đồng. Tôi đã gặp Pảtahơn ở xã Thanh, người du kích gan dạ năm xưa trở thành ông chủ giàu có nhờ rẫy sắn, vườn ươm cà phê thu nhập hàng năm lên đến hàng chục triệu đồng, là hình mẫu cho nhiều người làm theo...

Nhưng với miền tây hiện nay, trước hết dân trí là một nhân tố hết sức quan trọng. Đã qua rồi cái thời nhận thức lạc hậu của bà con dân bản rằng con cái chỉ cần biết cái nương, cái rẫy. Hôm chúng tôi rẻ lại Abung, Ango, hai xã biên giới vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đakrông, kiến nghị đầu tiên của Hồ Liên, chủ tịch xã Ango và Ađeng Thiếu, chủ tịch xã Abung là mong muốn tỉnh, huyện quan tâm mở thêm trường lớp cho con em học lên bậc học cao hơn tại cụm Tà Rụt, vì hiện nay ở địa phương mới chỉ có mới có lớp nhô. Còn Hồ Thị Lý, Chủ tịch Hội phụ nữ xã Hướng Phùng, Hướng Hóa thì nói với tôi rằng chị muốn được học lên thêm nữa mặc dù chị đã từng được đào tạo để làm cô giáo, bởi theo chị không có tri thức thì không làm được cán bộ tốt.

Khát vọng đó càng được nhân lên khi Hồ Thị Ân, ở bản Saly, Hướng Lập thổ lộ cùng tôi: "Mình lấy chồng sớm nên thấy tiếc cái thời trẻ không chịu học, bây giờ muốn học lên thì không có điều kiện". Tôi chia sẻ với suy nghĩ của Ân, bởi mới 28 tuổi đầu Ân đã có ba con nhỏ. Ân cho biết đã kiên quyết kế hoạch hóa để có điều kiện chăm sóc con cái và sắp tới có điều kiện đi học thêm cho có tri thức để về xã làm việc tốt hơn.

Khi con đường nối hai phía Trường Sơn, dự phóng về miền tây phát triển đang hiển hiện từng ngày. Và hôm nay dọc theo con đường Trường Sơn huyền thoại, khi lên thăm cột mốc biên giới R16 ở cửa khẩu quốc gia La Lay trong một buổi trưa mây trắng bay lãng đãng qua dọc triền núi, đứng ở cột mốc, nơi có độ cao hơn 500 m so với mặt biển, cảm giác sóng mũi cứ cay cay. Bất chợt tôi lại nghĩ đến lòng dân miền tây, nghĩ đến những người lính biên phòng, những thầy cô giáo đang cắm bản dọc khắp nẻo Trường Sơn mà tôi từng gặp. Có các anh các chị, có lòng dân miền tây, biên giới luôn trường tồn, cho những áng mây trắng như buổi trưa này cứ mãi bình thản bay qua trên đỉnh Trường Sơn hùng vĩ nắng lắm mưa nhiều.

Minh Tứ

Nguồn: vn.360plus.yahoo.com/minhtuqtri

READ MORE - MINH TỨ - MÂY TRẮNG BAY TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN

Monday, September 6, 2010

HOÀNG CÔNG DANH - NẮNG QUÊ

Ảnh : Lưu Quang Minh ( từ Flickr)




Trong những thứ không cầm nắm được của quê hương, có lẽ nắng là một cuộc chập chờn nào đó. Nắng có khi đáng yêu, có khi đáng ghét, nhưng người ta đi xa không ai quên được. Dường như những thứ không cầm nắm được thì luôn khắc sâu trong cõi nhớ của con người ta hơn cả, như tình yêu cũng vậy.


Tuỳ bút

Sang hạ, một ngày mới làng đều thức dậy trong màn sương bồng bềnh. Sương như ai đó đã khóc suốt đêm và tràn ra, kéo từ trong xóm ra đến ngoài cánh đồng. Hôm nào sương sớm càng dày đặc thì hôm đó nắng càng to. Nhưng sương hạ tan rất nhanh, chỉ những ai thức dậy thật sớm mới được tận hưởng được cuộc phối khí của đất trời. Tất cả chân cỏ đẫm sương bóng lên. Mỗi đầu cỏ ngậm một hạt nước ngọc vừa như muốn giữ, vừa như muốn lả lơi. Lát sau, mặt trời vén sương cười một cái và thả nắng lên phía làng. Ấy là lúc bắt đầu một ngày. Bắt đầu một huyền thoại... Chuyện kể rằng, cứ mỗi bình minh thì các nàng con gái thần mặt trời đều níu buồm vào bờ để tắm tiên. Trong một lần, người con gái út đã mê mẩn tiếng hát của một chàng trai hiền như đất, thế là nàng ở lại với nhân gian. Sau đó nàng thương nhớ cõi trời nên mỗi sớm ra ngóng về phía hừng đông và hoá thành bông hoa Hướng Dương. Chẳng biết có phải người quê là con của nàng út ấy không mà bất cứ ai sáng thức giấc cũng đều nhìn về phía đông.

Mặt trời rưới một vết dầu và châm lửa cho nắng bén lên chầm chậm. Tôi không sao quên được trò chơi đuổi nắng dễ thương của tuổi dại. Sớm mai, ra đứng đầu đường và đi dần về phía tây theo cái vệt nắng. Cứ thế cho đến khi mỏi chân thì dừng. Lúc ấy, nắng bất ngờ lướt nhanh rồi uốn vòng lên trời theo cách đánh nan quạt, xoè tung điệu đà. Con đường buổi sang hạ hoa dại ngây ngô cũng lanh lẹ hẳn, chỉ một chút nắng hôn vào là hoa bật cánh gửi sắc lên không. Những ngày ấy trẻ con chúng tôi đều rủ nhau đi học thật sớm, phần vì sợ lát nữa nắng lên chích rát, phần vì muốn giỡn cùng nắng. Thế nên đến lớp muộn là chuyện thường ngày ở... trường. Chúng tôi men theo những lối cỏ phủ tràn lên hai bên mép đường, có khi lột dép ra để chân trần giẫm lên cỏ cho mát. Buổi trưa đi học về thì nắng to và trong veo, mỗi đứa xé một mảnh lá chuối che đầu thay nón. Nắng rang mảnh chuối mỏng mảnh khiến phấn lá bong ra rắc vài hạt xuống. Suốt thời đi học, duy nhất một lần tôi được gặp tơ trời vào đúng cái hôm nắng "mất màu". Đoạn đi qua cồn Bạt, tự dưng đứng gió, nắng trắng bạch ra và tơ trời ở đâu không biết cứ bay lơ lửng trước mắt rất nhiều. Tơ trời ấy chính là một thứ hoa nắng dịu dàng của tôi; bởi vì nó không có cành mà "nở" ra ngay trong nắng.

Người Quảng Trị coi nắng như một thứ tín ngưỡng, nên chi mặt trời được gọi là "ôông". Chẳng hạn đến mùa hè nắng to quá thì bà con đều quở một câu: "Ôông mần chi mà nẻ óc rứa ôông?". Hoặc ai thức dậy muộn đều bị mắng: "Ôông lên trợt trôốc rồi răng không chịu dậy?". Tín ngưỡng nắng thể hiện rõ trong các lễ lược, tức là kỵ giỗ đều phải làm vào buổi trưa, lúc nắng to nhất. Riêng trong đám ma, nắng trưa tương ứng với thần trời và màn đêm tương ứng với thần đất, vì thế có hai lễ quan trọng bắt buộc phải có đó là: cúng ngọ vào đúng giữa trưa và cáo đạo lộ thì vào đêm trước khi di quan.

Đến mùa gặt, người quê rất chú trọng đến nắng. Nắng để ra đồng gặt, gặt về có nắng mới phơi phóng được. Muốn biết hôm sau nắng to hay nhỏ thì buổi tối coi sao trời, càng nhiều sao sáng thì nắng càng to. Có một cái hay là nếu trời dim thì gió dừng, trời nắng mới có gió, càng nắng to gió càng mạnh và mát. Cho nên độ này ai cũng muốn được ra đồng hơn là ở nhà. Lúa vụ đông xuân xuôi nhẹ theo chiều giót phớt, gặt rất đã! Bà con hay nói vui: "Chà, nắng mát ri thèm gặt quá hè!".

Yêu nhất là những buổi chiều, nắng vàng khờ khạo như một gã say luống cuống vấp phải mây, ngã một phát là có bóng râm, ngã phát nữa có ngay mưa, gọi là mưa bóng mây. Mưa bóng mây chỉ thoáng qua một chút rồi trời lại nắng, hườm hơn trước. Sau mưa thường có chuồn chuồn lướt cánh dạo nắng mơ màng theo kiểu Canon của Beethoven. Trời khi ấy phảng phất chút buồn, buồn như con chuồn chuồn. Tôi đến quỳ rạp xuống vạt cỏ, rình tay chộp một cánh chuồn đang say nắng. Lần ấy tôi tạ ơn nắng đã đem cánh chuồn đến với tuổi thơ tôi, hơn thế, cánh chuồn ấy còn mang một thông điệp dí dỏm: Buồn bắt chuồn chuồn mà chơi! Sau này có khi buồn, tôi lại lặng lẽ đi trong nắng và tìm cho mình một cánh chuồn u hoài đồng cảm như tìm lại một người tình muội sầu dĩ vãng.

Chiều nay đi giữa Minsk, tìm mãi vẫn không có một cánh chuồn nào. Hình như thứ tặng vật ấy nắng chỉ dành cho tuổi thơ, và nắng đã cất giữ cho tôi một cánh chuồn thương nhớ ở phía quê nhà mà thôi!

Hoàng Công Danh
Nguồn: hkzanh.vnweblogs.com
READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - NẮNG QUÊ

Sunday, September 5, 2010

NGUYỄN HỮU QUÝ - VÙNG CÙA MẤY NẺO VUI BUỒN

Đường vào Cùa ngày nay đẹp như một dải lụa vắt qua núi.

Bút ký


Từ đường Chín vào đến chợ Cùa chỉ xa chừng bảy cây số nhưng phải vượt qua một con đèo quanh co dài năm cây số. Bây giờ người ta gọi nó là đèo Cùa nhưng nghe đâu thời xa xưa nó có tên là đèo Vắt. Bố vợ tôi bảo: Quãng đường này thời đánh Pháp rừng rú còn rậm rạp, trên những lối mòn thỉnh thoảng lại bắt gặp dấu chân hổ beo và vắt thì nhiều vô kể. Trời mưa mà cuốc bộ qua đèo thì cực lắm, vắt bám lầy nhầy bắp chân, gạt đi không kịp.

Hai mươi lăm năm về trước, vào cái thời tôi yêu mê mệt cô gái vùng Cùa là vợ tôi bây giờ, đèo Cùa đã quang quẻ lắm. Miên man năm cây số đường đèo uốn khúc, gập ghềnh, chỉ rặt những bụi cây lúp xúp, sim móc mọc chen nhau nhiều vô kể. Bom đạn tàn phá, chất độc màu da cam hủy diệt suốt mấy chục năm chiến tranh ác liệt lại thêm cái khắc bạc của thiên nhiên Quảng Trị làm cho những cánh rừng ở đây sớm bị lụi tàn, trơ trụi. Thời ấy tôi còn trai trẻ, dù đang hừng hực ngọn lửa tình yêu nhưng mỗi bận đạp xe vượt đèo Cùa cũng mệt bở hơi tai. Đường dốc, có cả cua tay áo, một bên là vách núi, một bên là vực sâu, non tay lái hoặc đứt phanh là “hy sinh” như chơi.

Con đường vào Cùa hôm nay đẹp như một dải lụa vắt qua núi. Đường miền núi nhưng rộng rãi, mặt rải nhựa phẳng lì, những đoạn dốc cao đã được bạt xuống, không còn cua tay áo nữa. Từ chợ về các thôn một số đoạn đã được nhựa hóa, bê tông hóa và kém lắm cũng rải cấp phối. Chương trình đường nông thôn theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” thực sự hiệu quả cao ở Cùa. Vùng Cùa heo hút ngày nào bây giờ quá gần với huyện lỵ là thị trấn Cam Lộ và thị xã Đông Hà. Cùa gần hơn với cả nước và cả thế giới nhờ mạng điện thoại di động Viettel và Mobi đã phủ sóng tại đây. Quả là một bước ngoặt về thông tin ở vùng đất chiến khu xưa này. Cuối năm ngoái tôi về thăm bố mẹ vợ có mang theo máy di động nhưng nó bị biến thành cái cục sắt vì Cùa nằm ngoài vùng phủ sóng của tất cả các hãng viễn thông. Giờ thì nói như em vợ tôi là “gọi vô tư” rồi và sóng lại rất mạnh.

Người dân không ngần ngại rút hầu bao để mua sắm phương tiện hiện đại phục vụ cho mình theo tôi cũng là một dấu hiệu tốt đẹp của nền kinh tế đang phát triển và chất lượng cuộc sống được cải thiện.

Dù chưa giàu nhưng bộ mặt cuộc sống ở vùng đất lịch sử có căn cứ Tân Sở của vua Hàm Nghi và từng là chiến khu chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ này đã sáng sủa hơn rất nhiều. Chương trình điện- đường- trường-trạm, cơ bản đã được thực hiện ở Cùa. Điện lưới quốc gia thắp sáng mọi nhà, không ai còn phải chịu cảnh sống trong ánh đèn dầu tù mù nữa. 100% gia đình có ti vi và trên 80% gia đình có xe máy. Các trường tiểu học, trung học phổ thông mang tên nhà cách mạng Lê Thế Hiếu đã được xây dựng cơ bản, khá khang trang và bề thế. Con em nông dân đến trường không ai phải mặc áo vá, ăn cơm độn sắn khoai như trước đây. Trạm xá khu vực xây cách đây mười lăm năm, chưa được tân trang mở rộng thêm nhưng vẫn là nơi khám chữa bệnh có uy tín của nhân dân trong vùng.

Với 56 ha diện tích trồng lúa, xã Cam Chính tập trung gieo cấy các loại giống có năng suất cao, gạo ngon và chống chịu sâu bệnh tốt như XI 23, Khang Dân. Mạnh dạn đưa cây lạc vào trồng tại các vùng đất phẳng và đủ độ ẩm như ở thôn Mai Lộc 1, Mai Lộc 3, Mai Đàn, Sơn Nam, Thiết Xá. Nhưng cây mũi nhọn của xã là cao su, hồ tiêu và trồng rừng. Xã tập trung chăm sóc tốt 402 ha cao su đang kiến thiết cơ bản, chủ động đề nghị với dự án và ngân hàng giải ngân vốn sớm cho bà con mua vật tư chăm sóc cây. Cây hồ tiêu vẫn là cây chủ lực trên vùng đất Cùa; ngoài việc tiếp tục chăm sóc tốt 137,5 ha đã có, tiếp tục trồng mới, trồng dặm thêm 10 ha ở các vùng dân cư mới. Trồng rừng hiện nay thu được hiệu quả kinh tế rất cao đối với người dân nên Cam Chính tập trung chăm sóc tốt 1.000 ha rừng đã có và tiếp tục trồng thêm 50 ha rừng ở vùng đồi núi trọc...
Đối với tôi, Cùa đã trở thành quê hương thứ hai thân thiết. Tôi thực sự mừng vui trước những đổi thay của mảnh đất trước đấy vô cùng nghèo khó này. Đã có lần tôi nghe mẹ đọc câu ca buồn bã:
Ai ơi chớ lấy trai Cùa
Quanh năm quần cụt, bốn mùa áo nâu.
Cùa đất đỏ bazan, tơi xốp mỡ màu, rất hợp với cây hồ tiêu. Hạt tiêu vùng Cùa bé những chắc và cay nồng nàn. Cái vị cay ấm nức mà không gay gắt. Nói đến Cùa là phải nói đến hạt tiêu. Thế mà trước đây chẳng hiểu sao dân Cùa vẫn chịu cảnh đói nghèo từ đời này qua đời khác. Chẳng nói đâu xa, những năm tám mốt, tám hai khi tôi đã trở thành rể Cùa, lên nhà bố, mẹ vợ phải còn ăn sắn củ thay cơm. Thời chưa đổi mới, xóm làng hầu hết là nhà tranh, cứ bốn, năm năm phải lợp lại một lần. Vợ tôi ra trường, về quê dạy học, được xã cấp cho mấy sào làm nhà, lập vườn. Một ngôi nhà gỗ, vách đất, mái tranh bé nhỏ được dựng lên trên đất đỏ bazan. Vợ chồng tôi tranh thủ ngày nghỉ cuốc đất trồng mít, trồng chuối, trồng sắn. Nhà chúng tôi ở trên đồi, ngay đầu xóm, gió thổi lồng lộng. Tôi làm việc ở Đông Hà, cuối giờ chiều thứ bảy mới được lên nhà. Mùa nắng, đạp xe theo đường Chín ngược chiều với gió Lào thổi như bão khan, mệt tưởng đứt hơi. Mùa mưa, qua đèo Cùa đất đỏ dính bết vào bánh xe, chốc chốc lại phải xuống xoi. Sau xe bao giờ cũng thủ sẵn một que xoi bùn. Ai đến Cùa vào mùa mưa cũng bảo “Đất chi mà mến khách dữ rứa”. Ba đứa con tôi, hai gái một trai đều sinh ra ở Cùa. Cuống rốn của các con tôi đã vùi vào đất đỏ dưới những gốc cau do tôi trồng. Mười năm gia đình tôi sống ở Cùa, cực khổ nhưng bình an, thanh thản lắm. Bà con láng giềng ai cũng thương yêu, đùm bọc. Chẳng mảy may có sự khác biệt đối xử giữa dân chính gốc và dân nơi khác đến. Nhiều anh bộ đội đánh Pháp, đánh Mỹ, quê Bắc sau chiến tranh tự nguyện ở lại Cùa, lấy vợ sinh con, lập nghiệp ở đây. Người dân miền Cùa rất mộc mạc, chân thực và ngay thẳng. Ta sai, họ nói liền, nói xong là thôi, không để bụng, không thù oán dài lâu. Sau này sống ở nơi khác gặp phải người hẹp bụng, thù dai, tôi lại tơ tưởng đến những ngày sống ở Cùa. Gia đình tôi chuyển ra thị trấn Cam Lộ xa Cùa một ít và bây giờ như định mệnh ra sống ở Thủ đô Hà Nội, càng xa Cùa, miền đất đỏ ấy hơn. Bây giờ, mỗi khi vợ chồng tôi trở về thăm Cùa thì bà con vẫn đối xử ấm áp như thuở hàn vi nào.

Cùa còn là vùng đất lịch sử mà theo tôi hiện nay ít nhiều đang bị bỏ quên. Chắc nhiều người đã biết đây là nơi có căn cứ Tân Sở của thời vua Hàm Nghi- một vị vua yêu nước của triều đình nhà Nguyễn. Lịch sử đã ghi rõ: Vào năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã từng bước nhượng bộ và đầu hàng giặc. Trước nguy cơ mất nước, Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết và quan phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường cùng phái chủ chiến của triều đình đã tiến hành xây dựng khẩn trương khu căn cứ Tân Sở ở vùng Cùa núi non hiểm trở (thuộc làng Mai Đàn, xã Cam Chính hiện nay). Căn cứ được bắt đầu xây dựng từ năm 1883 và hoàn thành vào năm 1886. Thành được xây dựng theo cấu trúc hình chữ nhật dài 548 mét, rộng 418 mét với tổng diện tích là 22,9 ha. Thành ngoại có đủ bốn cửa: tiền, hậu, tả, hữu, đắp bằng đất, phía ngoài có hàng rào cọc nhọn và hệ thống hào sâu bao quanh. Xung quanh thành, mỗi phía trồng bốn hàng tre ken dày đan kín, gai góc um tùm. Bờ tre ngoài cùng cách bờ tre thứ hai 21 mét, bờ tre thứ hai cách bờ tre thứ ba 13 mét, bờ tre thứ ba cách bờ tre thứ tư 5 mét. Giữa các bờ tre là tường thành đắp bằng đất nện chặt. Bên trong thành ngoại có nhà cửa, trại lính, kho tàng, bãi tập trận của voi ngựa. Tiếp đó là thành nội được xây dựng vững chắc và ở giữa là nơi làm việc của vua quan. Sau vụ binh biến đêm 23/5/1885 tại kinh thành Huế, phái chủ chiến tiến hành đánh úp giặc Pháp nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi cùng các quan đại thần của phái chủ chiến và đoàn tùy tùng phụ xa giá ra Tân Sở. Tại đây, giữa núi non vùng Cùa hiểm trở, ngày 13/7/1885, thay mặt vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết đã ban hịch Cần Vương kêu gọi nhân dân phụng sự vua đánh giặc Pháp.
Hiện nay, khu di tích lịch sử đã được xếp hạng Tân Sở đã trở thành phế tích. Chẳng còn gì cả ngoài mấy bụi tre gai sót lại. Cả một vùng đất được gọi là di tích trống trơn hoang vắng. Tôi thầm mong có một bảo tàng Cần Vương được dựng lên ở đây, trong đó người ta phục dựng lại một góc căn cứ Tân Sở cũ, ví như một đoạn thành, mấy khúc hào, vài bờ tre, trại lính, bãi tập... Đến lúc đó, một hướng kinh tế mới sẽ được mở ra với Cùa là du lịch. Khách thập phương đến Cùa tham quan di tích Tân Sở và những khu vườn, cánh rừng sinh thái...
Giờ đây, việc cần làm ngay là dựng cho Tân Sở một tấm bia di tích đàng hoàng và xác định, kiểm tra lại diện tích đất có lấn chiếm không. Nơi khu vực này đang hình thành một làng tái định cư Cồn Trung và đã mọc lên một ngôi trường trung học cơ sở.
Tân Sở là một di tích lịch sử quan trọng, ghi dấu ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta lẽ nào phải chịu cảnh phế tàn bỏ quên như thế.
Thời chống Pháp, chống Mỹ gian nan, Cùa là chiến khu vững chãi của cách mạng ở Quảng Trị. Thời chín năm kháng chiến chống Pháp ở đây đã có trường cấp hai mang tên Lê Thế Hiếu, một trong ba đại biểu đầu tiên của tỉnh Quảng Trị tại Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa một. Ông Lê Thế Hiếu sinh năm 1892, là con đầu của cụ Lê Thế Vỹ, một sĩ phu yêu nước của phong trào Cần Vương và là anh ruột của đồng chí Lê Thế Tiết, Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Quảng Trị.
Cùa là xứ sở của núi non hữu tình, in đậm những dấu tích lịch sử đáng trân trọng và con người ngay thật, cởi mở. Con gái Cùa nổi tiếng về dáng vóc đẹp, lam làm, khéo tay và chiều chồng. Đến chợ Cùa vào những dịp tết, không hiếm dịp khách phương xa phải ngẩn ngơ bởi cái dáng thắt đáy lưng ong và những khuôn mặt trái xoan hiền thục của những cô gái vùng bán sơn địa ở chốn này. Và, chao ôi, má lúm đồng tiền, hình như tôi chưa hề thấy ở đâu con gái lại nhiều má lúm đồng tiền như ở Cùa.

Nguyễn Hữu Quý
READ MORE - NGUYỄN HỮU QUÝ - VÙNG CÙA MẤY NẺO VUI BUỒN

Friday, September 3, 2010

LINH ĐÀN - HỒI HƯƠNG KÝ SỰ

Nhà thơ Linh Đàn và phu nhân, 2002. Ảnh do tác giả gởi tặng VNQT


Kỷ niệm chuyến về thăm quê hương

Sau 26 năm xa cách
Khởi hành ngày 15-10 Nhâm Thân (9-11-1992)


Kể từ Bà Rịa soạn lên xe
Hôn đứa con thơ vợ dặn dò
Đường sá bạc tiền nên cẩn thận
Cửa nhà công chuyện hoãn âu lo
Làm xong bổn phận vô mau nhé
Thăm hỏi họ hàng nhớ kỹ cho
Lên đến Quảng Thành trời bóng xế
Khuya lơ rong ruổi chuyến xe đò

Xe đò lăn bánh đến Tân Phong
Gà gáy chân trời mới rạng đông
Kìa núi Ông Đồn cao chót vót
Nọ đồng Bảo Chánh rộng mênh mông
Hàm Tân Núi Nhọn chim tung cánh
Rừng Lá Sông Dinh nước cuộn dòng
Trực chỉ Miền Trung xe thẳng tới
Xuôi đường Quốc lộ chạy băng băng

Băng qua Hàm Thuận gió hiu hiu
Phan Thiết gần trưa nắng nóng nhiều
Nước mắm mùi xông nồng phố chợ
Thanh long trái lợp rợp cành điểu
Bắc Bình liếc mặt nhìn sơn nữ
Cà Ná duỗi chân đạp thủy triều
Vĩnh Hảo mát lành dòng suối khoáng
Xứ nho Ninh Thuận ngập nương chiều

Nửa chiều xe chạy đến Phan Rang
Xoài tượng xanh xanh tận Tháp Chàm
Qua phố Ba Ngòi nhìn bán đảo
Xuôi đường Bãi Giếng thẳng Nha Trang
Đêm chìm Đèo Cả trời heo hắt
Điện sáng Tuy Hòa phố ngổn ngang
Ngủ gật ngủ gà trời tảng sáng
Mưa đèo nặng hạt đỉnh Cù Mông

Cù Mông heo hút núi rừng hoang
Qua mấy sơn khê mấy xóm làng
Non nước mến yêu hồn Nước Việt
Dư đồ tô đậm dấu Đồ Bàn
Diêu Trì phố cũng tươi màu ngói
Phù Cát động không lộng gió ngàn
Câu chuyện trên xe đầy thú vị
Hàng dừa rợp bóng đất Tam Quan

Quan sơn ngàn dặm mắt nhìn xa
Đức Phổ là đây biển mặn mà
Giữa chợ vẫn xanh cây Núi Bút
Dưới cầu còn lớn nước sông Trà
Xe đi qua phố thơm đường phổi
Bãi đậu đắt hàng những mạch nha
Gói gói trên tay quà kỷ niệm
Lâu ngày nay có chuyến đi ra

Đi ra Châu Ổ lại Chu Lai
Đây xứ Tam Kỳ phố trải dài
Trước cũng đã quen trời Lý Tín
Nay nhìn chẳng thấy quán Sương Mai
Hà Lam vẫn thấy vườn xanh tốt
Réng hãy còn nước láng lai
Vĩnh Điện đầu mùa cơn gió mạnh
Phước Tường thay đổi những lâu nay

Nay về Đà Nẵng cháu thăm cô
Mừng tủi theo nhau lệ ngấn bờ
Trong dạ bồn chồn về xứ sở
Dưới trời lạnh lẽo buốt cơn mưa
Anh em xa cách nhiều thương nhớ
Cậu cháu gặp nhau mãi chuyện trò
Câu chuyện thâu đêm trời rạng sáng
Điểm tâm vội vã đón xe đò

Xe đò chạy thẳng đến Nam Ô
Đây ngọn Hải Vân đứng sững sờ
Mặt nước mù che ghe ẩn hiện
Lưng đèo mây phủ cảnh tiêu sơ
Vệ đường rờn rợn nhang um miễu
Sườn núi chênh vênh sóng trắng bờ
Tàu lửa dưới đèo như rắn lượn
Bên ngòi heo hút xóm Lăng Cô

Lăng Cô Doi Cát thẳng đường ra
Một lát lên đèo núi Phú Gia
Cảnh vật Thừa Lưu chìm núi biếc
Đỉnh đèo Phước Tượng ngóng đầm xa
Làng Truồi còn biết dâu chua ngọt
Hương Thủy nào hay trái đậm đà
An Cựu vẫn trong - dòng nước lớn
Đây rồi đất Huế dưới mưa sa

Mưa sa rả rích dưới sông Hương
Chớ trách chi nhau lạc bước đường
Thương Bạc dấu in hồn cảm cựu
Văn Lâu lầu nhạt nét Nghinh Lương
Trường Tiền tuổi tác chơ vơ đứng
Đại Nội tháng ngày lặng lẽ thương
Nước mắt theo mưa lời cũng nghẹn
Nào ngờ rong ruổi bước ngàn phương

Phương trời nay trở lại nhà anh
Anh đã theo mây ngó tấm hình
Nét mặt vẫn tươi người tuế nguyệt
Bàn thờ còn rạng khói hương linh
Đôi hàng liễn cổ còn phong thái
Mấy đứa cháu nay bước viễn trình
Chị vẫn ân cần han hỏi mãi
Vì đời lặn lội bước mưu sinh

Mưu sinh nay lại bước chân về
Trong dạ bồn chồn khấp khởi đi
Đón bến An Hòa chờ mấy phút
Lên xe Hà Nội tuốt về quê
Phong Điền chợ búa còn đông đúc
Mỹ Chánh gió mùa lạnh tái tê
Đại Lộ Kinh Hoàng xanh nội cỏ
Cầu Dài Bến Đá rợp bờ tre

Tre làng cao vút tận ngàn xa
Quảng Trị là đây lặng phố nhà
Thạch Hãn sông buồn lơ lững chảy
Nhan Biều cát trắng ngẫn ngơ qua
Trà Liên đằm thắm khoai ngon củ
Ái Tử não nề tiếng gọi cha
Lai Phước dấu in lòng thuở ấy
Mừng nay sầm uất phố Đông Hà

Đông Hà nao nức ngó Gio Linh
Mấy dặm đường quê mấy dặm tình
Đó xóm Nghĩa An nhà lụp xụp
Đây cồn Mã Đỏ lúa rung rinh
Hà Trung Rú Cấm chừ thay dạng
Quán Phượng Lạc Tân đã chuyển mình
Dốc Miếu lù lù cao trước mặt
Gọi xe dừng lại xuống Lan Đình


( Vào làng )

Lan Đình yêu dấu của tôi ơi !
Bao lớp tang thương mấy đổi dời
Lạc bước những ngày binh lửa loạn
Xa làng từ thuở đất dầu sôi
Về làng nao nức trông về xóm
Thấy cảnh mơ mau được thấy người
Khấp khễnh đôi chân dồn dập bước
Nghẹn ngào đẫm khóe giọt đầy vơi

Vơi đầy kể lại nỗi hoài mơ
Chú bác anh em thỏa bụng chờ
Kẻ lại vui mừng choàng lấy cổ
Người thì trách móc mãi trông thư
Xóm trên xóm dưới cùng nhau tới
Người lạ người quen cũng giả vờ
Đứng đó cho nhìn mau đoán thử
Nói tên nói họ nói thân sơ

Sơ qua đứng đoán một đôi hồi
Già nhận mau ra trẻ lạ rồi
Có kẻ quên tên mà nhớ mặt
Nhìn nhau quen dáng lại quên người
Lớp già thấy cũng già theo tuổi
Lớp trẻ thêm vui trẻ với đời
Kẻ mất người còn nong nỗi ấy
Chạnh niềm xa xót bấy trong tôi

Tôi với họ hàng đêm cố hương
Nói làm sao hết nỗi thân thương
Hàn huyên mấy cũng dài tâm sự
Kể lể thêm nhiều nỗi vấn vương
Quê cũ hằng đêm in gối mộng
Thân gầy rải bước dưới trời sương
Bâng khuâng chợt nhớ hồi thơ ấu
Đất mẹ quê cha dấu đoạn trường

Đoạn trường ngẫm nghĩ xiết bao phen
Nhà cửa vườn xưa thấy chẳng còn
Nhớ tấm ghế trên cha tiếp khách
Nhớ đường ngõ trước mẹ chờ con
Nhớ bài em học anh bày vẽ
Nhớ buổi em đau chị mỏi mòn
Dưới mái gia đình êm ấm ấy
Dẫu rằng thiếu thốn cũng vàng son

Son sắt một niềm chạnh tưởng quê
Từ xa lưu lạc bước chân về
Trước mồ tiên tổ lòng se sắt
Đốt nén nhang trầm ruột tái tê
Giỗ chạp trông vào người ở lại
Quảy đơm chẳng thiết kẻ ra đi
Lư hương bát nước cùng dâu bể
Đứng trước vong hồn biết khấn chi

Biết khấn chi cho xứng được lời
Dựng dòng chữ để dấu ghi thôi
Nhắc cho con cháu mồ ông cố
Để lại mai sau dấu đất trời
Ông cháu bốn ngày bia khắc nốt
Hội trường mấy buổi hạt mưa rơi
Bà con nội ngoại về đông đủ
Xúm xít bên nhau kể chuyện đời

Chuyện đời đem nhắc có nhau vui
Cơm nước bà con cứ đón mời
Ăn cá đồng Đeng lầm thuở trẻ
Uống chè đất đỏ nhớ xuân thời
Nhà anh nhà chị thêm vui tiếng
Của cháu của con cứ nhận lời
Rồi cứ gần ngày lo giỗ chạp
Anh em bố trí xếp xong người

Người thì việc nọ kẻ phần kia
Hâm Sáu tháng Mười giỗ dựng bia
Giọng tế câu văn lời dõng dạc
Chiêng làng trống họ tiếng uy nghi
Khói hương tỏa quyện niềm tôn kính
Kèn nhạc hòa theo xướng lạy quỳ
Trong buổi cử hành long trọng ấy
Nghẹn ngào dòng lệ cứ lâm ly

Ly rượu nghĩa tình đã rót ra
Bây giờ ta lại có cùng ta
Cỗ bàn thanh đạm nhưng đầm ấm
Làng nước đông vui quá mặn mà
Chú bác anh em tình rộng mở
Cháu con nội ngoại nghĩa bao la
Lấy chi nói hết niềm vui sướng
Đoàn tụ ngày nầy mai cách xa

Mai ngày xa cách có hôm nay
Hát khúc tâm tình tay nắm tay
Trong rạp vẫn vang lời hội ngộ
Ngoài trời cũng lặng gió heo may
Tình quê lai láng niềm chung thủy
Cảnh vật chan hòa cuộc đổi thay
Hẹn với quê hương mà tái ngộ
Chén nồng thì mới một lần đây

Mới một lần đây chửa trọn tình
Đêm nay thức suốt với Lan Đình
Câu cười câu nói càng vui đám
Tay rót tay đưa khó cạn bình
Giữa tiệc còn cao lời chúc tụng
Ngoài trời đã hé ánh bình minh
Vẫy tay tạm biệt chào lưu luyến
Hành lý lên vai cuộc thượng trình

Linh Đàn 21-11-1992
READ MORE - LINH ĐÀN - HỒI HƯƠNG KÝ SỰ

Monday, August 30, 2010

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - THƠ


TRANG THƠ

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG


Dù năm dù tháng


Anh hái cành phù dung trắng

Cho em niềm vui cầm tay

Màu hoa như màu ánh nắng

Buổi chiều chợt tím không hay

Nhìn hoa bâng khuâng anh nói

Mới thôi mà đã một ngày.

Ruộng cấy ta mong cơn mưa

Ruộng gặt ta mong ngọn nắng

Chăm lo cánh đồng tình yêu

Anh đếm từng vầng trăng sáng

Thiết tha anh nói cùng trăng

Mới thôi đã tròn một tháng.

Mùa xuân lên đồi cỏ thơm

Mùa hạ nhìn trời mây khói

Mây tím chân cầu tím núi

Đông xa ngày trắng mưa dầm

Nhìn trời ngẩn ngơ anh nói

Mới thôi mà đã một năm.

Sẽ đến một ngày trắng tóc

Nhưng lòng anh vẫn không nguôi

Thời gian sao mà xuẩn ngốc

Mới thôi đã một đời người.

Dù năm dù tháng em ơi

Tim anh chỉ đập một đời

Nhưng trái tim mang vĩnh cửu

Trong từng giọt máu đỏ tươi.



Về chơi với cỏ


Thưa rằng người đã quên tôi

Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may

Một đường hang một dấu giày

Một người ngồi một tháng ngày bóng nghiêng

Cảm ơn người trái đào tiên

Tôi về lãng đãng nơi miền cỏ gai

Cỏ gai hoa thắm mặt người

Trinh nữ ơi trinh nữ ơi - tôi buồn

Thôi người ở lại soi gương

Tôi đi về phía con đường cỏ lau

Nợ người một khối u sầu

Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi

Mai kia rồi cũng xa người

Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa

Có nàng xõa tóc tiên nga

Quỳ hôn cát bụi, khóc òa trong mưa.



Gửi cho người


Thôi xem em là bông hoa

Một ngày qua một ngày qua một ngày

Thôi xem anh là đám mây

Một đường bay một đường bay một đời

Tài hoa cũng chuyện đùa chơi

Làm sao thưa hết một lời yêu thương

Anh đi tìm khắp thiên đường

Chỉ còn một đoá vô thường gởi em

Gửi em một nét sông mềm

Con đò áo trắng đã chìm trong mưa,

Rằng sông buồn tự thuở xưa

Vầng trăng mộng mị bây giờ là anh.



Nhớ một người


Có đôi khi tôi ghé thăm vườn cũ

Hỏi người đi dạo ấy có quay về

Cỏ bảo rằng nàng về thăm một độ

Đốt khói trầm nghi ngút lại bay đi

Tôi bồi hồi hỏi sang cây cổ thụ

Đường xưa còn vàng nắng áo mơ phai?

Nắng bảo rằng nàng nhớ mùa thu cũ

Tận bên trời vẫn ngóng gió heo may.

Có một lần qua sông tôi hỏi gió

Rằng tháng năm như nước chảy qua cầu

Gió mách rằng nàng chờ người bạn cũ

Dẫu thời gian như nước chảy về đâu

Có nhiều ngày tôi nhớ em tha thiết

Nhớ bồn chồn như ngọn lửa trong tim

Đời lãng tử có một lần ly biệt

Để yêu nhau, để quay quắt đi tìm

Có nhiều đêm tôi trở về gặp tôi,

Người là ai? Là đóm lửa ven đời

Ôi đóm lửa vẫn từng đêm hiu hắt

Nhớ một người. Và mãi mãi không nguôi



Địa chỉ buồn


Nhà tôi ở phố Đạm Tiên

Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu

Có mùi hương cỏ đêm sâu

Có loài hoa biết nuôi sầu tháng năm

Tôi về ngủ dưới vầng trăng

Có em từ chỗ vĩnh hằng nhìn tôi

Tình xa, xa mãi trong đời

Tóc xanh tiên nữ rối bời trên tay

Tôi còn ngọn nến hao gầy

Chảy như nước mắt từ ngày sơ sinh

Tôi xin em chút lòng thành

Cài lên một phiến u tình làm hoa

Những chiều Bến Ngự giăng mưa

Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi

Tôi ra mở cửa đón người

Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang

Nhà tôi ở phố Đạm Tiên

Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu

Cây sầu đông, cây sầu đau

Thương tôi cây cũng nở màu hoa râm.

Huế 1989



DẠ KHÚC


Có một buổi chiều nào như chiều xưa

Anh về trên cát nóng

Đường dài vành môi khát bỏng

Em đến dịu dàng như một cơn mưa.

Có một buổi chiều nào như chiều qua

Lòng tràn đầy thương mến

Mang cả xuân thì em đến

Thắm nồng như một bông hoa.

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi

Cho tôi chiếc hôn nồng cháy

Nỗi đau bắt đầu từ đấy

Ngọt ngào như trái nho tươi.

Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh

Nửa vành mi cong hờn dỗi

Em xõa muộn sầu trên gối

Rối bời như mớ tơ xanh.

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi

Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn

Em có lời thề dâng hiến

Cho anh trọn một đời người.

Có buổi chiều nào như chiều nay

Căn phòng anh bóng tối dâng đầy

Anh lặng thầm như là cái bóng

Hoa tàn một mình em không hay.



Bồng bềnh cho tới mai sau


Có con thuyền trong sương trắng
Bồng bềnh như một cánh chim
Có em chèo thuyền áo trắng
Xôn xao như trốn, như tìm
Có vầng mặt trời rực sáng
Bồi hồi như một trái tim

Em chèo thuyền về phía hướng đông
Hứng chút phấn mặt trời trên má
Bụi mặt trời vương đầy gót chân
In những dấu hoa hài trên sóng
Anh mãi nghe từ đáy màu sương mỏng
Bài hát tình yêu dậy một phương hồng

Từ thuở nào vũ trụ đã sinh ra
Mà sao mặt trời mỗi ngày vẫn trẻ
Mà sao anh như đã từ vạn kỷ
Bên sông này đứng hát mặt trời lên
Vẫn đi hoài trong cõi vô biên
Mặt trăng là mảnh gương riêng soi trái đất
Trái đất trôi như một cánh bèo dâu
Mặt trời nhiều khi phập phồng hơi thở
Mê man nhớ những tinh cầu

Những hành tinh ngẫm rồi thấy lạ
Bềnh bồng mà vẫn theo nhau
Anh với em, ừ thì cũng lạ
Bềnh bồng cho tới mai sau



Cỏ, chim sẻ và châu chấu


1.
Có nhiều khi tôi quá buồn
Tôi ước mong về ngồi dưới cội cây xưa
Em có nhắn điều gì theo lá rụng
Ký ức nào khẽ động vai tôi

Dáng ai như tôi đi qua cánh đồng
Thu nhặt lại mình trên ngọn gió
Giống như con chim sẻ nọ
Thu về từng cọng vàng khô

2.
Có nhiều khi tôi quá buồn
Tôi ước mong chung quanh chỗ tôi ngồi
Mọc lên thật nhiều cây cỏ
Cây xấu hổ đau gì mà rủ lá
Tôi gập người trên bóng tôi

Không nghe tiếng ai nói cười
Tôi còn ngồi chi đây một mình
Cắn móng tay từng ký ức mong manh
Giống như con châu chấu nọ
Gặm hoài lá cỏ xanh.

READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - THƠ

Tuesday, August 24, 2010

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - ẨM THỰC QUẢNG TRỊ

Chủ quán cháo bột Thu Thủy ở Hải Lăng. Ảnh NKP



ẨM THỰC QUẢNG TRỊ

Với cách nhìn từ xa, nhiều người thường nghĩ rằng Quảng Trị không có gì đáng nói về văn hoá ẩm thực. Sự ăn uống hàng ngày thì mang tính kiệm ước, không đáng để gọi là một "nền văn hóa". Theo tôi nghĩ, người Quảng Trị nào cũng có một cách ăn uống thường nhật, cần thiết đãi một số bạn bè trong quan hệ giao lưu của mình.

Nói tóm lại, người Quảng Trị cũng như ai, có một "tâm hồn ăn uống" gắn bó với những nét đặc trưng của quê hương mình. Vậy nên không thể nói rằng Quảng Trị không có văn hóa ẩm thực.

Hồi tôi còn bé, thường theo ông nội tôi về thăm quê tại Quảng Trị. Ở đó, ông tôi thường ghé thăm một người chú họ của tôi, vốn ít thuộc nòi thi lễ của gia đình tôi. Thím tôi lúc ấy liền mang rổ đến chợ quê trong làng mua vài con cá tràu và một ít môn ngọt về nấu canh theo khẩu vị của ông tôi. Thím tôi om thịt cá tràu cho vào nồi canh môn đang sôi, đồng thời gọt mấy trái dưa quả băm thành những mẩu nhỏ, đem trộn với món dưa cải đắng dùng làm rau sống ăn với món canh môn rất mát miệng.


Những thanh bột hình vạt giường quyết định độ ngon của cháo

Thím tôi vốn học được nhiều cách kho nấu của người Huế, nhưng ở món ăn này, phải thừa nhận rằng đây là nét bổ sung của văn hoá ẩm thực Quảng Trị: trước khi trộn lẫn cải với dưa quả, thím tôi xắt nhỏ những lá cải xanh theo lối thái chỉ, ăn với canh môn xem ra vừa thấm tháp hơn, lại nữa dĩa rau sống trông càng lịch sự, đẹp mắt hơn. Chính người Huế khi dùng món canh môn này cũng chỉ xắt lá cải xanh thành từng đoạn nhỏ chứ không thái chỉ như vậy. Những món ăn xứ Huế qua bàn tay chế biến của người phụ nữ Quảng Trị đã hoàn thiện một cách tỉ mỉ hơn, lịch sự và đẹp mắt hơn.

Vẫn tiếp tục câu chuyện văn hoá ẩm thực của miền đất Quảng Trị. Trong khói lửa mịt mù của cuộc chiến tranh chống Pháp, tại một vùng sơn cước quê tôi, đã thịnh hành một món ăn dùng để chống đói, gọi là bánh tu huýt. Người ta lấy sắn (khoai mì) xắt lát phơi khô đem trộn với nước giếng cho thành bột thật nhuyễn.

Nhiều khi vội quá, người ta dùng cả bột sắn tươi, nghĩa là lấy củ sắn tươi bóc vỏ đem mài vào một tấm nhôm chi chít những lỗ đinh, cho ra một thứ bột ướt. Bột được vắt chung quanh thành một chiếc đũa, thành một nắm cỡ mắm xôi; trong ruột nắm bột có một lỗ hình ống khi rút chiếc đũa ra. Thả nắm bột vào nồi nước sôi, khi chín vớt ra, để nguội và đem chấm với nước mắm hoặc ruốc ăn thay cơm. Thứ bánh được gọi là bánh tu huýt này làm thuần bằng bột sắn thô nên rất khó ăn, những cũng giúp dân quê tôi đỡ đói lòng qua những năm đánh giặc.


Tôi nhớ có đọc một cuốn sách về âm nhạc thời Hùng Vương; trong đó nhà nghiên cứu có nói đến một thứ nhạc cụ mang hình con chim tu huýt (là hình tượng vật tổ của dân tộc Việt Nam, thường xuất hiện trên mặt những chiếc trống đồng). Nhà nghiên cứu nói rằng chính làng quê Việt Nam vẫn tìm cách nuôi dưỡng chút hồn nước dưới hình thức con chim tu huýt.

Còn tôi thì nghĩ rằng cái tên "bánh tu huýt" chắc chắn có liên hệ với cái hình ảnh con chim tu huýt trong câu chuyện về âm nhạc nói trên. Mỗi lần nhắc đến bánh tu huýt, để cho cái món ăn đắng họng ấy trở nên có màu sắc "sử thi" hơn một chút, tôi gọi tên là " bánh tu huýt thời kỳ Hùng Vương".

Hàng trăm loại thức ăn mang tinh thần "bánh tu huýt thời kỳ Hùng Vương" của người Quảng Trị đều ít nhiều phản ánh tinh thần chịu đựng khó khăn để giành được thắng lợi của vùng đất anh hùng. Không phải nói quá đáng nhưng "tính liều chết" để nhảy ra khỏi tình hình khó khăn là một kinh nghiệm hàng đầu của văn hoá ẩm thực người Quảng Trị.

Xông thẳng vào nơi khó khăn để tìm cách "vượt khó", đó không những là bài học về cách sống mà còn là " tâm hồn ăn uống" của người Quảng Trị hay nói "dễ như ớt" (dễ ợt). Nghĩa là, nếu không có cái để làm món ăn, người ta hái luôn một nắm ớt chìa vôi (rất cay) sắp vào đĩa, đem hấp cơm rồi chấm với nước ruốc làm thức ăn. Nói "dễ như ớt" là thế!

Hành động tiêu biểu cho toàn bộ nghệ thuật ẩm thực Quảng Trị là nấu cháo vạt giường. Món cháo này tuy đơn giản nhưng rốt cuộc cũng tuỳ thuộc vào bàn tay chế biến của mỗi người. Người ta nói "bà Phan là một tay sát cháo vạt giường cự phách" nhất Đông Hà có nghĩa rằng "bà Phan là người nấu cháo vạt giường ngon" nhất thị xã. Quả vậy, những thanh bột hình vạt giường có tính quyết định đối với sự ngon dở của nồi cháo. Trước hết là cách pha bột: nếu pha loãng thì vạt giường sẽ dính vào răng rất khó nhai. Chẳng những vạt giường phải đúng quy cách của nó mà nước nấu cháo múc ở giếng nào, con cá nấu cháo sống ở cánh đồng nào, tất cả hương vị đất đai thổ nhưỡng ấy đều có ảnh hưởng đối với cháo vạt giường. Vì vậy mới nói "bà Phan là một tay sát cháo vạt giường cự phách".

Trời lạnh buốt xương, ngủ dậy ngồi co hai chân lên giường, bưng tô cháo vạt giường húp nghe dậy mùi tiêu thơm lừng, toát cả mồ hôi nơi sống lưng, ấy là cái thú bậc nhất trần gian của người Quảng Trị.

Cháo vạt giường nổi tiếng khắp Quảng Trị nhưng chỉ ở địa bàn Diên Sanh, huyện Hải Lăng cháo vạt giường mới đạt đến mức độ tuyệt chiêu của nó. Người ta bảo "chưa mê cháo vạt giường Diên Sanh chưa phải là dân Quảng Trị". Dù ở đâu cũng chừng ấy bột, mức nước, đồ gia vị, ở đâu cũng chừng ấy con cá lóc mà không hiểu tại sao ở Diên Sanh, món cháo vạt giường lại ngon đến như vậy, như thuộc về một đẳng cấp khác. Đủ để mùi vị xao xuyến cả một đời người; dẫu có đi định cư ở nước ngoài khi về Sài Gòn cũng nhất thiết lấy một tấm vé máy bay bay ra miền Trung để nếm lại hương vị bát cháo vạt giường thơm lừng nơi cố quận. Cái ngon của cháo vạt giường Diên Sanh mãi mãi là một bí ẩn thuộc về trời đất, mãi mãi là điều bí mật của một vùng đất.


Cá tràu (cá lóc) - nguyên liệu của nồi cháo

Nhớ kỳ lễ tết có bạn trong Huế ra chơi, trời thì lạnh rây rây. Năm bảy đứa chúng tôi đạp xe từ thị xã Quảng Trị về Diên San ăn cháo vạt giường, dù ở thị xã cũng có món xôi - lòng thả rất nổi tiếng. Vừa đạp xe đến chợ Diên Sanh, nghe bay lên mùi xào nấu đã thấy ngậm ngùi! Bát cháo vạt giường ở Diên Sanh quả là danh bất hư truyền, bạn tôi cho rằng dẫu phải đi máy bay từ Mỹ về đây cũng không uổng công.

Nói là thế những vẫn cần một yếu tố thêm vào để hiểu ra tài hoa của một vùng đất. Mùa hè và mùa thu, trên mặt cánh đông trơ cuống ra, ếch nhái sinh nở nhiều, cứ mỗi bước chân người lại nhảy lên một đám như mưa rào. Đội quân săn lùng nguyên liệu cho món cháo vạt giường chúng tôi toả ra khắp cánh đồng, dùng cành tre hay cành liễu quất sàn sạt vào những đám sinh vật đang phóng lên. Chúng rất dễ chết hoặc bị thương, nhiều khi chỉ giật mình cũng nằm yên trên mặt cỏ.

Chúng tôi chỉ cần nhặt những con nhái ngất ngư lên rồi xâu chúng vào một sợi lạt dài mang theo. Đi chừng một quãng đồng, xem ra những dây xâu nhái đã nặng cánh tay, chúng tôi quay về nhà. Tất cả các xâu nhái đều được treo lên sợi dây phơi áo quần ở giữa sân để phơi nắng. Sau đó những dây nhái được dời vào bên cạnh bếp khiến chúng khô ráo hẳn. Người ta rang chúng trong cái chảo, rồi từng mớ lần lượt được bỏ vào cối giã. Xương, mắt, ruột rà và bàn chân nhái được loại bỏ: chỉ còn một mớ bột nhái thơm đến điếc mũi, muốn ăn ngay tức khắc. Bột nhái được đựng trong những chiếc thẩu lớn dùng làm bột nêm ăn dài ngày. Có nhiều bà mẹ Hải Lăng cấm con gái dùng bột ngọt kho nấu.

Nêm bằng ruốc vẫn ngon hơn bởi vì chất đạm động vật luôn luôn ngon hơn đạm thực vật. Bột nhái lại càng đậm đà không gì so sánh được. Tôi tin rằng hương vị mê hồn của món cháo vạt giường gắn liền với những mùa nhái trên cánh đồng Hải Lăng.

Lần hồi, những món ăn thời đi khai phá Ô-Lý cũng mất dần trong ẩm thực của người dân Quảng Trị; mất dần những món ăn "trời sợ" trong ẩm thực thường nhật của người Quảng Trị. Những cách ăn "lai" Huế cũng lần lượt xuất hiện trong bếp ăn những nhà giàu có hoặc quyền quý. Cách mạng tháng Tám diễn ra, xoá sạch những nét du nhập nói trên, chỉ để lại những gì là món chế biến độc đáo của người trong cuộc; món cháo vạt giường trên đây là một ví dụ tiêu biểu.

Theo Bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

http://netlife.vietnamnet.vn//vn/an/6339/index.aspx

http://www.anhk19.com/anhk19/diendan/index.php?showtopic=2473
READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - ẨM THỰC QUẢNG TRỊ

Friday, August 13, 2010

RA QUẢNG TRỊ THƯỞNG THỨC XÔI NẾP LÀO



Cái ngon từ miếng xôi mềm, vị béo do nếp và đậu phộng hòa lẫn tạo nên vị ngon đặc trưng của xôi nếp Lào. Có cảm giác như chưa kịp nhai thì xôi đã rã trong miệng...

Đến Quảng Trị, món xôi nếp Lào là một trong những món ăn thường thấy trong các thực đơn ở các quán ăn hay trên các bàn tiệc, vừa như một món chủ lực, vừa như một món điểm xuyết trang trí thêm cho phong phú thực đơn. Giữa những món đặc sản độc chiêu chỉ có ở Quảng Trị như thịt rừng, dĩa xôi đậu phộng trông có vẻ lạc lõng và không đúng điệu lắm, hình thức trình bày cũng không bắt mắt, nhưng đã ăn một lần thì có lẽ khó ai quên!


Quảng Trị là một tỉnh duyên hải miền Trung, có đường biên giới phía Tây với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào dài khoảng 206 km. Tại cửa khẩu Lao Bảo thuộc tỉnh Quảng Trị, hàng hóa từ các nước láng giềng mang sang rất phong phú và nếp Lào là một trong các loại hàng nông sản được tiêu thụ mạnh ở đây.


Xôi nếp là món ăn truyền thống của người Lào, người ta cho rằng người Lào ăn xôi nhiều hơn ăn cơm và gạo nếp gần như lương thực hàng ngày của họ. Nhà nào cũng có những cái chõ hong xôi được sử dụng thường xuyên mỗi ngày. Ở Lào, cơm nếp thường được dát lên những bức tượng Phật hoặc những bức tường nhà ở gia đình để cúng cho các vị thần cư ngụ tại đó. Phụ nữ thường được liên tưởng mạnh mẽ với lúa gạo.


Truyền thuyết kể rằng, nữ thần lúa đã hiến dâng mình cho ngọn lửa và tro của nữ thần đã giúp cho dân làng được một mùa bội thu. Ở một số làng bản, hài cốt của những người phụ nữ tổ tiên được lưu giữ trong ngôi tháp nhỏ xây giữa ruộng lúa của gia đình.

Hạt nếp Lào nhìn qua trông giống như một loại gạo hạt dài, màu trắng trong. Để xôi ngon, người ta không nấu như cách bình thường (đổ ít nước vào nếp) mà nấu bằng chõ.


Cách nấu xôi theo kiểu truyền thống của người Lào là đựng trong ống nứa và nấu bằng nước suối. Bỏ nếp và ít nước vào ống nứa rồi nướng nguyên cái ống nứa này trên lửa than. Khi ống nứa cháy sém cũng là lúc xôi cạn nước, sau đó ủ xôi cho chín. Khi ăn, gọt lớp vỏ nứa bên ngoài là lộ ra phần xôi nếp màu trắng được bọc bằng lớp vỏ lụa của ống nứa. Khối xôi nếp lúc này có hình dáng như một cái ống, thơm mùi nứa, chỉ việc dùng tay bốc ăn. Nếp Lào dẻo, ráo nên không dính vào tay.


Các tour du lịch đến Lào luôn có món xôi nếp giới thiệu với khách. Ăn kèm với xôi là thịt gà nướng hay cá kho riềng và thêm món rau như bông bí, đọt bầu, đọt bí luộc chấm với một loại mắm giống như mắm nêm của Việt Nam.


Tại chợ Lao Bảo có bán loại chõ nấu xôi cũng có xuất xứ từ Lào hay Thái. Chõ làm bằng nhôm có hình dáng bầu tròn, phía trên đặt cái rổ đan kín bằng tre, giá khoảng 45 ngàn đồng một bộ. Khi nấu, bỏ nếp vào rổ rồi đậy nắp. Nếp chín nhờ hơi nước từ bên trong nồi chõ bốc lên. Sau khi nấu xong, người ta lại xới xôi bỏ ra một cái rổ khác (cho có độ thoáng, xôi ráo, ngon, không bị ứ nước). Xôi nếp Lào thường ăn với các món mặn như: thịt nướng hay ram, chà bông hay cá kho…

Cái ngon đặc trưng của hạt nếp Lào là dẻo và thơm. Thoạt nhìn dĩa xôi thấy hạt gạo nếp còn nguyên hình dáng, dễ lầm tưởng là xôi bị khô, cứng. Tuy nhiên, ăn vào mới cảm nhận được độ dẻo, ngọt và hơi có chút vị béo giống như là xôi có nước dừa nhưng hoàn toàn không phải! Cái ngon từ miếng xôi mềm, vị béo do nếp và đậu phộng hòa lẫn tạo nên vị ngon đặc trưng của xôi nếp Lào. Có cảm giác như chưa kịp nhai thì xôi đã rã trong miệng!


Còn một cách thưởng thức hạt nếp Lào là ăn thử một miếng xôi không có đậu phộng và xôi đã đơm cùng đậu để vừa ăn, vừa so sánh và cảm nhận thấy rằng vị béo từ nếp đã làm thành vị ngon đặc trưng rất riêng của món ăn dân dã này. Nếp Lào có một ưu việt nữa là dùng để gói bánh chưng cũng rất ngon. Vào dịp tết, tại cửa khẩu Lao Bảo, nhộn nhịp khách các nơi đổ về mua nếp Lào. Một hàng bán lẻ có thể bán tới cả chục tấn nếp mỗi ngày.


Đặc biệt, nếp Lào nấu cơm rượu cũng ngon không kém. Hạt nếp tơi, rời và mềm còn nguyên dáng vẻ ban đầu cho dù đã qua quá trình lên men. Thêm nữa, lẫn trong vị ngọt của cơm rượu có lẫn vị béo của hạt nếp, khác hẳn với cơm rượu nấu bằng nếp thường.

Không cần phải làm chuyến du lịch sang Lào, chỉ cần đến Quảng Trị hay Lao Bảo là du khách có thể mua được ít nếp Lào và thêm một cái chõ về cho đúng điệu. Đơn giản là nấu xôi đậu phộng là ai cũng sẽ tận hưởng được hết vị ngon của gạo nếp nước bạn láng giềng. Phong phú hơn, nồi cơm rượu bằng nếp Lào cũng là một món ngon để khách phương xa nhớ về hương vị Lào trên đất Quảng Trị.


L.A (sưu tầm)

Báo Công an TP HCM

Thứ sáu, 19/03/2010

READ MORE - RA QUẢNG TRỊ THƯỞNG THỨC XÔI NẾP LÀO

NGUYỄN ĐĂNG DƯƠNG - CANH ÁM LÀNG LAM

Cây rau Sôông

Cùng với cháo bột Kẻ Diên, bánh ướt Phương Lang, mắm đam Trà Trì, thì Canh ám làng Lam luôn là một trong những đặc sản ẩm thực của quê hương Hải Lăng, một món ăn mà những người con quê hương chúng tôi luôn nghiền và tự hào.

Làng Lam Thuỷ quê tôi thuộc xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị – nơi có dòng sông Vĩnh Định hiền hoà chảy qua chia làng làm hai nửa. Ở nơi đó dù là trai hay gái, già hay trẻ đều nấu được món Canh Ám mang nặng nghĩa tình quê hương này.

Canh Ám được nấu từ 2 loại thực phẩm chính đó là: cá lóc (quê tôi gọi là cá tràu) và rau Sôông.

Muốn nấu canh ngon thì cá lóc phải là cá lóc đồng, nếu cá có trứng là càng tuyệt vời. Cá lóc được làm sạch khi đang sống, thái từng lát. Sau khi làm xong, bỏ cá vào Soong rồi đổ ít nước vào và đun sôi bằng lửa than. Khi cá vừa chín, đổ gia vị vào (gia vị đã được ướp sẳn, gồm: ném hạt đã được giả, dầu ăn, ớt bột, muối, bột ngọt, 1 ít tiêu và đường). Tiếp tục đun cho cá vừa thấm gia vị (vừa sôi) thì thôi đun lửa.

Rau Sôông là một loại cây rau dại rất dễ trồng, thân có nhiều gai nhọn như cây hoa hồng; lá có vị chua, hình như bàn tay; cây già có hoa màu vàng. Khi nấu canh, rau phải tươi, vừa hái trên cây xuống, rửa sạch. Rau ở đây tức là gồm cả lá, cọng và thân non của cây (Nhiều người nấu canh chỉ lấy phần lá, nhưng thực tế như vậy là không ngon lắm). Cọng và thân cây có thể cắt làm từng đoạn hoặc cuộn tròn rồi cho vào Sôông đổ nước vào rồi đun lửa. Khi nước sôi 1 hồi, vớt cọng và thân cây ra (vì nếu để thì khi ăn dễ mắc xương của cây và nhìn nồi canh không đẹp, không hấp dẫn) cho lá rau rồi cho cá lóc vào nồi (cá đã xào với gia vị). Tiếp tục đun cho nồi canh vừa sôi là được. Nếu nấu chuẩn thì trứng cá lóc được phi gia vị sẻ nỗi trên mặt nồi, lấp lánh vàng đỏ trong rất hấp dẫn. Trong khi đó thì nước canh sẻ trong vắt, có thể nhìn được những lát cá chìm dưới đáy nồi.

Khi thưởng thức nước canh rau sôông vừa béo, vừa có vị chua nhạt, vị chát. Chỉ cần chan nước canh vào bát cơm trắng cũng đã thấy ngon rồi. Thông thường, đi kèm theo món canh này là rau sống. Rau sống ở quê tôi được làm từ: cải tươi non (cắt nhỏ), cây chuối đá non bằng cổ tay được bóc rồi thái mỏng, bắp chuối non được thái mỏng, ngoài ra có thể có thêm cánh hoa Thọ và 1 ít giá.... Khi chan canh lên bát, rồi bỏ rau sống vào ăn cùng thì đúng là một món ăn ngon khó quên. Trường hợp những ai quá hơi men, thì canh Ám là giải pháp hửu ích để giả ruợu, lấy lại thăng bằng.

Món ăn này được người dân quê tôi dùng trong các bữa ăn hàng ngày, các ngày giỗ, tết (trước đây còn dùng trong các ngày cưới, nhưng với sự phát triển của xã hội, đời sống nhân dân ngày càng một đi lên nên trong các lễ cưới người ta dọn các món ăn lạ, cầu kỳ và đắt tiền hơn).

Nếu ai đã thưởng thức Canh Ám làng Lam thì đi xa luôn nhớ; nếu ai chưa được thưởng thức nếu có điều kiện về thăm quê tôi, tôi và mọi người đều sẵn sàng chiêu đãi món ngon này./.

Nguồn: my.opera.com/duongdangqt/blog
READ MORE - NGUYỄN ĐĂNG DƯƠNG - CANH ÁM LÀNG LAM

Friday, July 30, 2010

LÀNG TÔI LÀNG CHẮT CHẮT - Đinh Thanh Hải

Ảnh Lê Đức Dục


Con Chắt Chắt là họ hàng với Ngao, Hến ... nhưng nó nhỏ hơn con Hến một tý, con Chắt Chắt sống chủ yếu ở những vùng nước lợ. Đất bùn phù sa cộng với cát là nơi sinh sống của Chắt Chắt. Không biết từ bao giờ mỗi khi nhắc đến làng tôi họ đều ví von là làng Chắt Chắt. Quê tôi là một ngôi làng nằm dọc theo con sông Thạch Hãn, làng An Giạ xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Nếu ở Sài Gòn ta nói con Chắt Chắt thì chắc chắn không ai biết là con gì? Vì con Chắt Chắt đặc biệt chỉ có người quê Quảng Trị chúng tôi mới gọi như vậy? Nhiều khi tôi đưa cho bạn bè ăn bát canh Chắt Chắt, họ nói sao con Hến này nó ngọt vậy? Ở Huế người ta có món Cơm Hến (nhiều người cứ nghĩ con Hến là con Chắt Chắt) Thực chất nó là 2 con khác nhau.





Để bắt con Chắt Chắt người ta thường dùng một dụng cụ tự tạo là cây Cào và một con thuyền tre. Đi dọc theo bờ sông và cào, có chỗ cào nước sâu ngang đầu gối, có nơi phải lặn một hơi sâu mới cào được. Người làng tôi hay nói câu " Nghề cào Chắt Chắt ni là nghề Ăn Tới, Mần Lui". Bà con phải cầm cây Cào và đi thụt lùi, cho chắt chắt vào cây cào. Ngay khúc sông làng tôi, con Chắt Chắt sinh sôi và phát triển rất nhanh, bà con cứ cào hoài mà không cạn kiệt. Làng tôi cung cấp con Chắt Chắt với khối lượng khá lớn cho Đông Hà và các làng lân cận: làng Gia Độ, Đồng Giám, An Lợi, Trung Yên, Thanh Liêm ...



Bà con sau những ngày làm ruộng, rãnh rổi lại ra sông làm thêm nghề cào Chắt Chắt kiếm thêm cái ăn cái mặc. Sáng sớm, chúng ta đã thấy bà con đi cào Chắt Chắt, đứng trên bờ nhìn ra sông thấy bà con ngụp lặn để cào. Khi cào đầy thuyền bà con lại đem về nhà ngồi sàng lọc, nhặt những viên đá nhỏ ra, rồi lấy Chắt Chắt sạch ngâm với nước. Sáng ra thì bà con lại đem lên Chợ Đông Hà hay chợ Đồng Giám bán. Những buổi sáng sớm, chồng và con trai thì ra sông ngụp lặn cào Chắt Chắt, còn các mạ, các mệ hay các O thì đi lên chợ bán. Những gánh Chắt Chắt đè nặng trên đôi vai, chạy bộ một quãng đường dài mới tới chợ. Trên đôi quang gánh đó có biết bao nhiêu người con đã học hành nên người, thành ông này bà kia.





Quê tôi, một vùng quê với thời tiết rất khắc nghiệt, vào mùa hè oi bức với những cơn gió Lào thổi, mang theo cái nóng, cái cháy ... Bà con dân làng phải tìm ra những cái món ăn thức uống cho giảm đi cái khô nóng đó. Trong những món ăn giúp cho ta thoải mái nhất thì phải nhắc đến món canh Chắt Chắt. Để nấu được một nồi canh cho cả nhà ăn thì phải mua tới 6 hay 7 lon Chắt Chắt. Bà con đi chợ họ bán bằng lon (Lon sửa ông Thọ mài đi một phía). Muốn có một nồi canh thật ngon thì phải đi chợ từ sớm, chọn mua những mớ Chắt Chắt tươi. Đem về nhà ngâm với nước, cho Chắt Chắt nhả bùn non ra, ngâm khoảng 2 giờ đồng hồ thì đem rửa lại bằng nước giếng, rồi đem lên bếp nấu. Nước sôi thì lấy đũa khuấy liên tục cho Chắt Chắt mở cái vỏ mỏng ra (lửa phải đều không làm cho nước quá sôi hay quá nguội, con Chắt Chắt sẻ ngậm lại). Sau đó đem đi đãi vỏ lấy mặt (xác Chắt Chắt), rồi xào qua với dầu phi hành tỏi, cho thấm đều với gia vị (ngày xưa bà con dùng tóp mỡ heo). Tiếp đến, đổ nước lên nồi xào thêm mắm muối, nhớ cho Gừng vào để khử mùi tanh của bùn đất. Khi nước xôi là cho rau muống thái nhỏ vào. Nếu đúng bài của nó thì phải có thêm bắp rang, bắp sau khi thu hoạch về phơi khô, bà con lấy cát để rang bắp, những hạt bắp khô gặp cát nóng cứ nổ lốp bốp trên nồi. Bên cạnh đó đâm một chén muối ớt, những hạt muối sống với trái ớt tươi + Gừng, đâm thật cay. Cái canh Chắt Chắt là vị mát lạnh thêm muối ớt và Gừng vào, thứ nhất cho hợp khẩu vị mặn nhạt của từng người, thứ 2 giúp ta không lo bụng kêu khóc. Bên cạnh rau muống, Chắt Chắt còn nấu với Khế chua hay trái bầu ... để thay đổi khẩu vị. Cái nước luộc Chắt Chắt thật là ngọt, lúc nấu không cần phải cho gia vị nhiều, vì cái chất ngọt trong con Chắt Chắt ra đã đủ. Mà nếu cho quá nhiều gia vị khác vào thì mất đi cái chất, cái hương vị của con Chắt Chắt.

Cả dòng sông Thạch Hãn ở đâu cũng có con Chắt Chắt, nhưng riêng khúc sông ở làng tôi Chắt Chắt mới ngọt, mới ngon. Thế nên bà con các làng đặt cho làng tôi cái tên là làng Chắt Chắt. Ở quê người ta hay ví von các món ăn, hay các ngành nghề thành cái tên. Như làng Thanh Liêm là làng Mắm Còng ...

Dọc theo con sông làng tôi, ta thấy bên những hàng tre chắn gió có những cụm vỏ Chắt Chắt, đó là cái sau cùng của bát canh ngon ngọt. Có nơi người ta thu gom vỏ Chắt Chắt để nung Vôi. Nung Vôi để dùng ăn với Trầu Cau, hay quét tường nhà.

Trong những bữa ăn của người dân quê Quảng Trị, ta luôn thấy món canh Chắt Chắt. Mỗi khi đi xa, không người con nào lại không nhớ cái món ăn đơn sơ mà nhiều tình cảm đó. Nó như gắn với cuộc sống của từng con người, cái cơ cực, cái vất vả đi cùng trên chặng đường xưa. Giờ đây con cháu làng quê có người đã bôn ba đi tìm nơi khác lập nghiệp. Nhưng mỗi khi nhớ về quê họ lại nhớ cái món ăn mà mạ ngày xưa thường hay nấu. Chan bát canh đầy ngọt bùi sớt chia bao khó nhọc đắng cay. Bát canh như những lời mạ nhắn nhũ: Ăn đi con cho có sức mà lớn mà khôn, rồi học hành sau này mong khỏi cực ...

Mỗi lần về quê, bà con hỏi thích ăn món gì? Tôi không trả lời mà tự lấy xe chạy đến nhà có người Cào Chắt Chắt. Thấy còn một gốc bao cát gai, tôi mua luôn, mà đâu chỉ hơn mười mấy ngàn đồng, thế mới thấy sự cơ cực cào Chắt Chắt, mà bán thì được mấy đồng tiền. Lúc mua về ai cũng cười tôi: Mua về Nung Vôi xây nhà à? mua gì nhiều rứa mi ... Tôi nói lâu lâu về ăn cái cho đã mà. Ăn thì ngon thiệt, nhưng mà cái công nấu lên một nồi mà ăn thì thật khổ.

Chắt Chắt còn làm thêm món xào với hành tây, rồi lấy bánh tráng xúc ăn. Cái món này mà làm món nhấm thì không có gì bằng. Bà con ngồi quây quần, một dĩa Chắt Chắt xào + mấy cái bánh tráng + 1 chai rượu là thành một cuộc vui rồi. Đến đêm ngà ngà men say, lại đem Chắt Chắt đi đãi rồi nấu với cháo gạo ăn. Ôi thật đậm đà cái hương vị Quê hương.
Ngày nay đôi khi cuộc sống nhanh hơn, vội hơn, bà con ở thành thị họ thường mua con Chắt Chắt đã đãi thành xác về ăn. Như vậy thì bát canh sẻ mất đi cái ngon rất nhiều. Mình phải tự đãi lúc còn tươi, thì mới ngon và ngọt. Đôi khi tôi hay nói với người quen, mình ăn nhớ hoài là do: Mạ ngồi đãi, mồ hồi mạ nhỏ xuống càng làm canh ngọt hơn đó ...
Có những bà con đi xa, trở về thăm quê, mới cầm bát canh húp 1 cái, con mắt đã nhoè đi vì nước mắt. Nước mắt nhớ về người mệ, người mạ tảo tần năm xưa, nhớ đến cái vị ngọt mà bát canh mạ nấu cho đàn con ăn ...

Trong cuộc đời có những món Sơn Hào Hải Vị, có thể là những món ăn đắt tiền. Nhưng hãy thử húp một bát canh Chắt Chắt, thì không gì tả được, nó làm lòng mình thật là mát, bao nhiêu cái mệt nhọc cũng tự nhiên tan biến.

ĐINH THANH HẢI, KTS
Sài Gòn 21-12-2009
READ MORE - LÀNG TÔI LÀNG CHẮT CHẮT - Đinh Thanh Hải