Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, April 12, 2009

ĐẢO CỒN CỎ - Ngô Minh - Võ Văn Luyến






Đảo Cồn Cỏ
Vị trí: Từ bãi biển Cửa Tùng thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nhìn ra phía tây ta sẽ thấy một hòn đảo xanh lam nổi lên giữa biển như một chiến hạm đang trấn giữ ngoài khơi; đó chính là đảo Cồn Cỏ, còn có tên gọi khác là đảo Con Hổ, đảo Hòn Mệ.
Đặc điểm: Đảo Cồn Cỏ cách bờ biển Vĩnh Linh khoảng 30km. Đảo như một tiền đồn giữa vĩ tuyến 17 trấn giữ phía đông Tổ quốc. Không chỉ là hòn đảo nổi tiếng kiên cường trong chiến tranh chống Mỹ, Cồn Cỏ còn là một trong những hòn đảo đẹp hiếm có của miền Trung.



Từ đảo Cồn Cỏ nhìn về phía tây ta sẽ thấy rõ màu xanh của rừng dương ven biển Cửa Tùng và bãi cát trắng phau trước thềm địa đạo Vịnh Mốc. Phía tây nam là một dải bờ nam sông Bến Hải, xa nữa là dãy Trường Sơn tím nhạt chạy dài. Chính nhờ vị trí đó mà Cồn Cỏ giữ một ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng trong cuộc đụng đầu lịch sử khi đất nước ta còn chia cắt hai miền Nam- Bắc.
Đảo Cồn Cỏ có hình dạng tương đối tròn, diện tích khoảng 4km², chu vi 8km, độ cao từ 5- 30m so với mặt nước biển, riêng giữa đảo có một đỉnh đồi nhô lên với chiều cao 63m. Tuy chỉ cách đất liền chưa đến 30km, nhưng với các phương tiện thông thường đã không thể ra đảo được khi gặp gió cấp 6 trở lên. Ấy vậy mà trong những năm đánh Mỹ, hàng trăm chiến sĩ tự vệ của Vĩnh Linh đã quên cả hiểm nguy, bằng phương tiện thô sơ đã chở vũ khí, lương thực từ đất liền ra tiếp tế cho đảo. Rất nhiều người trong số đó đã vĩnh viễn nằm lại biển khơi vì gió to sóng lớn hoặc vì bom đạn ác liệt của kẻ thù.
Thực vật trên đảo khá phong phú, đảo nhỏ nhưng vẫn có rừng, có đồi tranh rậm rạp chiếm 3/4 diện tích đảo. Rừng trên đảo có những loài cây lạ mà trong đất liền không có; có cây thân cao vằn vèo nhiều đốt; có cây thân thẳng, da nhẵn như cây ổi nhưng rất to cao, gỗ cứng và nặng, khi bị xây xát nhựa chảy ra có màu đỏ như máu nên gọi là cây “dầu máu”. Lại có loài khoai dại, lá to hơn cả lá chuối, góp phần giúp người che nắng, che mưa. Trên đảo còn có cả những rừng bàng, vào mùa thu, lá bàng đỏ ối cả một vùng như điểm tô cho đảo. Các giống cây ăn trái được thì có đu đủ, chuối, dâu da... Giống nào cũng xanh tốt, vừa cung cấp thực phẩm cho lính đảo, vừa làm nơi trú ngụ cho chim trời về góp vui với họ. Để làm phong phú thêm cảnh vật, môi trường trên đảo và cung cấp thêm nguồn thực phẩm cho đảo, năm 1989, Tỉnh đoàn Quảng Trị đã đem 4.000 cây dừa, tượng trưng cho 4.000 năm dựng nước và giữ nước ra trồng trên đảo. Đến nay, dừa đã xanh tốt và cho trái. Với tinh thần tự lực tự cường, các chiến sĩ canh giữ đảo còn trồng thêm rất nhiều loại rau, hoa và cây cảnh, mùa nào thức nấy, làm cho bộ mặt của đảo ngày càng thêm tươi đẹp.
Thế giới động vật trên đảo tuy không nhiều về chủng loại nhưng cũng khá độc đáo. Trên trời thì có chim cu cườm, chim én thay nhau gửi đến con người những tín hiệu bình yên. Dưới đất thì có loài rắn lục xanh nhỏ nhưng rất độc, có thể dùng làm thuốc. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là loài cua đá to gần bằng bàn tay, là nguồn thực phẩm dồi dào và quan trọng trên đảo. Ngoài biển thì có giống rắn biển, còn gọi là con đẻn, dài khoảng một sải tay, độc không kém rắn lục, rượu ngâm đẻn là loại thuốc chữa đau lưng, nhức mỏi rất được nhiều người ưa chuộng. Dưới biển thì có hải sâm đen, trắng to bằng ngón chân cái, dài bằng gang tay, vừa là vị thuốc quý, vừa là món ăn cao cấp, được xếp ngang với yến sào. Ngoài ra, ở bờ biển Cồn Cỏ còn có loài ốc nón, luộc ăn rất ngon, vỏ ốc có thể tận dụng làm đồ trang sức, mỹ nghệ...
Cảnh quan trên đảo cũng luôn được cải tạo. Từ một hòn đảo nhỏ bị bom đạn cày xới không thương tiếc, đến nay đã có rất nhiều ngôi nhà khang trang, có sân chơi thể thao, có đường cấp phối. Từ đảo có thể liên lạc dễ dàng với đất liền bằng điện thoại. Các hạng mục hạ tầng cơ sở trên đảo đã và đang từng bước được hoàn thiện, đáng chú ý nhất là công trình bến đậu- âu tàu.
Trong nay mai, đảo Cồn Cỏ sẽ đón nhận những công dân đầu tiên từ đất liền ra định cư lập nghiệp để xây dựng Cồn Cỏ thành đảo Thanh niên- huyện đảo của tỉnh Quảng Trị. Cồn Cỏ đã và đang là một hòn đảo trù phú, một điểm du lịch hấp dẫn du khách gần xa.

Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam



NGÔ MINH

Gặp đảo ở Cửa Tùng
Gửi đảo Cồn Cỏ

Tôi đứng đầu ngọn sóng Cửa Tùng
cuối mũi đất đỏ au màu lửa
tôi hay chính cây dừa đứng đó
tay lá chào biển cả mênh mông
(thân dừa còn găm trăm mảnh đạn bom)
bóng tôi nhoè thấp cao bờ đá
sóng đảo trắng phau từng cánh gió nồm


Bên kia sông những cô gái Cát Sơn
cúi xắn quần đợi đò sang chợ cá
dưới bờ cát trần truồng bầy trẻ nhỏ
đang bày cho sóng nghịch nắng cười
Ôi, ngày thường (dù chỉ vậy thôi)
biết đảo khát hơn là khát nước
và đảo nhiều đêm phải vượt qua nỗi khát
còn cao hơn vượt Cổng Trời !



Một khoảng biển và một khoảng trời
sau vai tôi rừng dương êm ả
vẳng tiếng dịu buồn của một lời ca cũ
trên cỏ mềm mặt đất bình yên
trắng vai đảo xa gió cát ngả nghiêng
và bóng giặc rập rình cơn dông biển
và đá - đá nhân cơn nóng lạnh
giấc mơ quê nhà cũng sóng đánh bốn bên!

Có những ban mai
khi mặt trời bỗng đỏ rựng lên
xóm biển giật mình ngỡ là đảo cháy
Dẫu biết đảo ít nói về mình về những điều như vậy
con sóng kia vẫn kể cùng bờ
gọi đất thêm bận rộn với mùa



Đêm nay
tôi thức dưới gốc dừa
với tiếng trẻ trong veo bờ cát trắng
gió nồm đượm
gió nồm ơi đượm lắm
nắng nỏ nhường kia đảo còn gửi vào đây
và vầng trăng hay đảo nhú chân trời
bay lên trước Cửa Tùng yên tĩnh...

Ngô Minh

Cồn Cỏ xưa sau

Võ Văn Luyến


Sóng vỗ chiêm bao, hồn biển lặng. Con thuyền khói sương gọi đêm nguỵ trang che mắt giặc. Trái tim đảo làm hải đăng toả sáng. Vệt máu loang làm đường tới chiến công. Ai sống cho nhau, ai người ngã xuống. Đất mẹ nẩy mầm xoá vết thương sâu. Chiến hạm xanh, con cua đá nhiệm màu. Phong ba hát khúc ru của gió. Ơi Cồn Cỏ! Nắng mưa gội tóc chiều, lược ngà chải từ xác tàu bay Mỹ. Đêm đứng gác, rầm rì biển kể. Sao trời nghe lấp lánh ánh mắt ngời. Cồn Cỏ xưa sau đâu của riêng ai, mà vọng tưởng như anh nhớ em bỏng cháy. Đêm trú ngụ tim đại bàng thế đấy. Anh hoá vào cây cỏ "một chấm xanh"(1).
Nơi mang đến niềm vui hội tụ, huân chương thơ (2) gắn ngực trẻ yêu tin. Nơi truyền đi ngọn lửa trái tim. Nơi khát vọng ngất trời trán thép. Cồn Cỏ đó, người về trùng điệp. Biển muôn đời ôm trọn một vòng tay.

Võ Văn Luyến
(Trại sáng tác Cửa Tùng, 4/2008)
READ MORE - ĐẢO CỒN CỎ - Ngô Minh - Võ Văn Luyến

Tuesday, March 24, 2009

Thái Đào


THÁI ĐÀO

TRĂNG ĐÃ ĐỘ RẰM


Không phải tình cờ gió theo mây
Tri ân em mở rộng lòng này
Cho hoa vô hướng thơm ngàn núi
Cho biển trùng dương dội sóng gào.

Không phải tình cờ hạc bay xa
Bỏ đình trơ vắng cảnh chiều tà
Ngàn năm bỡi lụy cơn dấu ái
Gió cuốn về trời em xót xa.

Mưa vẫn màu mưa ngàn năm cũ
Mà nghe thân lạnh buốt đường về
Chân vênh bờ cõi mùa trăng động
Lá lót em nằm tự cỗ xưa…

Ta tạ ơn nhau đến vạn lần
Vạn lần môi tím với cơn đau
Không phải tình cờ mà em tới
Em tới bởi trăng đã độ rằm.



CHỢ VÃN CHIỀU TÀN

Bên kia có dòng sông thức suốt
ta bạc đầu ngồi đợi ánh trăng
em son phấn đi về phố chợ
bao năm rồi vàng đá nát tim.

Bao năm rồi câu thơ phiền muộn
lưng chừng đời
em bỏ tôi đi
mưa hạnh phúc
đôi tay núng nính
lưng chừng đời một trái tim khô.

Mù con mắt
phương nào để nhớ
áo phong sương phô với ngày dài
phô suốt kiếp bờ hoang ảo mộng
em ơi em…tình đã trần ai!

Bên kia có dòng sông thức suốt
tháng năm rồi cuộn những cơn đau
tháng năm rồi …
chợ chiều vãn khách
vãn câu hò
vãn chuyến sang sông
vãn cuộc tình lao đao – lận đận
em qua sông
không có ngày về.

Em qua sông
đời tôi đã bạc
cuộc bán buôn đến độ cao trào
tôi chỉ có tim khô nguội lửa
bán cho ai…
chợ vãn
chiều tàn


THÁI ĐÀO












READ MORE - Thái Đào

Thơ Võ Thị Quỳnh



VÕ THỊ QUỲNH
TỰ BAO GIỜ EM ĐÃ YÊU QUẢNG TRỊ?


Em đã yêu Quảng Trị tự bao giờ?
Một tình yêu – nhạc không lời đầy biến động
Có đá đỏ mồ hôi ngàn năm dòng Thạch Hãn
Có ngàn mai kiên cường thành mai Lĩnh núi non

Em từng yêu Quảng Tri tự bao giờ
Một tình yêu – tranh phối màu đen trắng
vô cùng nhiều phiên bản của sự sống
hồi sinh vô lường trong và ngoài cõi âm dương

Em đã yêu Quảng trị tự bao giờ?
Một tình yêu hơn gió Lào riết róng
Một tình yêu mịn sa mạc cát trắng
Chân chất, mặn nồng, đằm thắm
diết da, cay đắng, ngọt bùi
hóa thân mưa nắng đời vui

Em đã yêu Quảng Trị tự bao giờ?
Một tình yêu – không hằn chia cắt
trái tim run bần bật
Giọt lệ loang nụ cười trên mắt nhỏ xuống đôi môi
Tự hỏi:
đã bao giờ em yêu Quảng trị của tôi
VÕ THỊ QUỲNH
READ MORE - Thơ Võ Thị Quỳnh

Saturday, March 21, 2009

Trang thơ Lê bá Lư

Lê Bá Lư


LÊ BÁ LƯ

T R Ư Ờ N G H À N H C A


Ước gì ta như chim trời phiêu bạt
Bước giang hồ lưu lạc khắp mười phương
Chỉ mang theo hành lý: Tình Thương
Và trước mắt đường trường không giới hạn
Đời dâng trọn cho quê hương bè bạn
Thiệt hơn chi, không mặc cả với đời
Ôi trăm năm thân phận kiếp người
Những luật lệ trần gian đâu nghĩa lý

Ta khao khát một bạn đường tri kỷ



Bước song hành trên những nẻo quan san
Sẽ cùng ta vượt suối băng ngàn
Tìm lẽ sống chốn núi rừng hiu quạnh
Tìm hạnh phúc những đêm dài mưa lạnh
Bên lửa hồng cùng sơn nữ hoà ca
Những bình minh nắng đẹp bao la
Đùa giỡn với hươu nai khỉ vượn
Ta sẽ tắm những suối khe lý tưởng
Ngâm nga cùng hoà khúc thiên nhiên
Chốn núi rừng hoan lạc vô biên
Ta đã có tiền duyên kiếp trước…

Rồi sẽ một hôm nào tiếp bước
Về miền quê nước đọng bùn lầy
Cùng những nàng thôn nữ má hây hây
Chỉ e thẹn khi ta buông lời hỏi
Những nông phu suốt đời mê mải
Bên ruộng đồng cày cuốc, óc vô tư
Những mẹ quê chất phác hiền từ


Niềm nở gọi ta: Người khách lạ!
Những đêm trăng tiếng hò reo rộn rã
Nhịp chày khua bên cối gạo thanh bình
Cùng gái trai buông lời hát trao tình
Ôi ý vị bài ca dao muôn thuở.

Và có buổi vui chân về biển cả
Ta nắm tay cùng những dân chài
Ra biển Đông vào những sớm mai
Vươn sức mạnh để giữ yên buồm lái
Những đêm trăng ánh vàng vương rải
Bơi tung tăng trên sóng nước dập dềnh
Cùng ngư dân dệt những giấc mơ xinh
Để tô điểm cho đời thêm sức sống…

Rồi có lúc lang thang về thành phố
Bước chân chen trên đại lộ biển người
Cùng thế nhân ta mở rộng nụ cười.
Ngày chủ nhật đủ màu tươi sắc thắm...

Nhưng có lẽ hồn ta không mê đắm
Chốn phố phường huyên náo bán buôn
Tình lỡ hẹn với mây trời phóng lãng…

Ta sẽ bước ra đi vào một sáng
Đến phương trời cao rộng đón chờ ta
Sẽ lạc vào khung cảnh ngát hương hoa
Đã sẵn có lời chim ca diễm tuyệt…

Núi rừng ơi, ta với Người tha thiết
Hãy chờ ta lê bước phong trần
Ta sẽ về khi đã mỏi đôi chân...

Rồi có lúc trở thành tên đạo tặc
Ta xuôi thuyền tìm đến núi Lương Sơn
Có Lỗ Trí Thâm, Lý Quỳ ra đón
Và anh em bè bạn thét lên cười.

1975




B À I C A B U Ổ I S Á N G


Bình minh xách võng vô rừng
Vai mang hồ rượu, nhắp từng hớp cay
Giang sơn một cõi là đây
Riêng ta với rượu, uống say ta nằm
Nắng lên trang điểm núi rừng
Hạt sương óng ả vắt từng cành cây
Chim buông giọng hót đâu đây
Hoà theo nhạc gió ngất ngây rộn ràng
Xa xa sóng đệm nhịp nhàng
Nghêu ngao ngồi hát ca vang núi rừng


1974


ĐỌC THÊM
LỜI HẸN ĐẦU NĂM - THƠ LÊ BÁ LƯ

SÂN THƯỢNG NHÀ EM - TẬP THƠ LÊ BÁ LƯ
READ MORE - Trang thơ Lê bá Lư

Friday, March 20, 2009

SÔNG THẠCH HÃN - Đặng Triệu Ái






Người Việt Nam ta vốn nặng tình non nước nên hình như tỉnh nào cũng muốn chọn một ngọn núi và một dòng sông tiêu biểu cho tỉnh mình để tạo thêm ấn tượng sâu sắc về quê hương. Xứ Đoài thì có núi Tản – sông Đà, xứ Nghệ thì có núi Hồng – sông Lam, đất kinh kì thì có núi Ngự - sông Hương… Còn Quảng Trị có non Mai – sông Thạch Hãn.

Non Mai tức núi Mai Lĩnh, một ngọn núi đẹp ở gần chiến khu Ba Lòng. Sông Hãn là sông Thạch Hãn, con hào thiên tạo phía bắc của Thành cổ Quảng Trị! Quảng Trị tuy nhỏ nhưng lại là tỉnh phên dậu phía Bắc của kinh thành Huế và là nơi phát tích của họ Nguyễn khi Nguyễn Hoàng mới vào dựng nghiệp ở Đàng Trong, vì thế năm 1836, sau khi ổn định đất nước, vua Minh Mạng đã chọn sông Thạch Hãn là một trong 9 thắng cảnh của đất nước để đúc vào Cửu Đinh bày ở sân rồng coi như quốc bảo.

Ở Quảng Trị xưa đã có câu ca dao:

“Chẳng thơm cũng thể hương dàn

Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra”

Nguồn Hàn là tên gọi dân gian chỉ sông Thạch Hãn. Về tên gọi Thạch Hãn, lâu nay không ít người tự hiểu theo nghĩa chủ quan là… “mồ hôi của đá”. Thực ra không phải như vậy, thạch thì đúng là đá rồi, còn hãn hay hàn có nghĩa là ngăn cản. Vì ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này, thành sông Thạch Hãn. Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì sông Thạch Hãn chỉ dài khoảng 170 dặm bao gồm cả đầu nguồn, nghĩa là chỉ độ 100km. Với độ dài như vậy nên lượng phù sa do sông tải đến không nhiều, trừ những ngày lũ lụt, nước thường trong xanh nhìn thấy đáy. Điều đó được nói đến trong 2 câu thơ của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến:

“Tây phong Hà xứ xuy trần khởi

Bất tụ niên tiền triệt thể thanh”

Lương An dịch:

“Gió tây cuốn bụi dồn

Nước trong thấy đáy nay còn nữa đâu”

Sông Thạch Hãn là con sông dài và đẹp nhất tỉnh Quảng Trị. Sông bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn ở phía Tây Nam của tỉnh. Dòng sông uốn lượn từ hướng Đông và Đông Bắc, gặp sông Rào Quán lại chảy về hướng Đông rồi ngược lên phía Bắc, nhập với sông Cam Lộ (tức sông Hiếu, chảy qua thị xã Đông Hà) tại ngã ba Dã Độ (sau này quen gọi thành Gia Độ) rồi lại quay về hướng Đông, đỗ ra cửa Việt Yên, gọi tắt là Cửa Việt. Không chỉ từ xưa mà cho đến cả bây giờ, sông Thạch Hãn vẫn là mạch máu giao thông đường thủy rất quan trọng của tỉnh Quảng Trị. Với hình thể uốn lượn uyển chuyển như thế lại có thêm nhiều phụ lưu thuốc các huyện Triệu Phong - Hải lăng là hai vựa lúa của tỉnh Quảng Trị như Vĩnh Định, Vĩnh Phước, Điếu Ngao nên mật độ giao thông trên sông ngày càng lớn. Đặc biệt, là con hào thiên tạo phía Bắc thành cổ Quảng Trị (nay là thị xã Quảng Trị) con sông Thạch Hãn lại có vị trí chiến lược về quân sự. Câu thơ được nhiều người biết đến trong bài thơ “Chị lái đò” của nhà thơ Lương An:

“Đò em lên xuống Ba Lòng

Chở người cán bộ qua vùng chiến khu”

đủ cho thấy tầm quan trọng của sông Thạch Hãn - lối duy nhất có thể lên được chiến khu Ba Lòng. Lịch sử không thể nào quên được những ngày hè của năm 1972, hàng vạn chiến sĩ đã bất chấp nguy hiểm, bí mật bất ngờ vượt sông Thạch Hãn để lập nên những chiên công vô cùng hiển hách. Đã có không biết bao nhiêu người trong số đó đã vĩnh viễn hóa thân cùng sông nước cỏ cây… Ngày nay, dù đi bằng đường bộ hay đường sắt Bắc – Nam ta đều gặp một dãy cầu gọi là cầu Thạch Hãn, bắc qua sông Thạch Hãn. Đầu phía bắc có tượng đài trung đội Mai Quốc Ca. Trung đội chỉ vẻn vẹn 20 người với vũ khí bộ binh thông thường (nếu theo biên chế trong quân đội thì trung đội phải gồm 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội 12 người và thêm 1 trung đội trưởng), nhưng đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm suốt một ngày đêm. Trước sự phản kích điên cuồng của một tiểu đoàn địch đông gấp mấy chục lần, có xe tăng và đại bác yểm trợ, họ đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt giữ, góp phần làm nên đại thắng. Cả trung đội 20 người chỉ còn lại một người lính bị thương nặng, được nhân dân địa phương cứu sống. Tượng đài Mai Quốc Ca ma tên người chỉ huy dũng cảm, có 19 quả tim đỏ gắn lên, tượng trưng cho 19 liệt sĩ.

Để tưởng nhớ đến hàng nghìn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trên dòng sông Thạch Hãn, hàng năm, cứ vào dịp kỷ niệm ngày đất nước thống nhất, chính quyền và nhân dân Quảng Trị đều long trọng tổ chức lể thả đèn hoa, bè hoa trên sông Thạch Hãn. Lễ hội đã thực sự cuốn hút rất nhiều người, đặc biệt là các lực lượng vũ trang và cựu chiến binh trong và ngoài tỉnh tham dự.

Do đặc điểm tự nhiên nên các sông suối ở miền trung thường ngắn và trong. Ở xứ Nghệ có câu “Nước sông Lam vừa trong vừa mát”, nhưng thực sự được đi vào thơ ca, được các bậc đại khoa như Bảng nhãn Võ Duy Thanh, Tam Nguyên Nguyễn Khuyến ca ngợi thì chỉ có sông Thạch Hãn. Do phải chảy quanh co giữa núi rừng Trường Sơn, trải qua lắm thác ghềnh với vô số đá ngầm, đá dựng, dòng nước trở nên trong vắt. Với những nét đặc trưng đó, người dân Quảng Trị luôn coi sông Thạch Hãn là biểu tượng của đạo lý trong sạch và ý chí kiên cường.

Xin kết thúc bài viết bằng bài thơ cảm tác qua sông Thạch Hãn của Bảng nhãn Võ Duy Thanh, người đỗ học vị cao nhất, được coi như trạng nguyên của triều Nguyễn (vì triều Nguyễn không lấy Trạng Nguyên):

“Bụi hồng rong ruổi tới Trường An

Nghe nói đâu đây suối Bạch Đàn

Ấy cảnh tự nhiên ai khéo vẽ

Mà kho vô tận lúc nào khan

Bên đường xe ngựa nên dừng bước

Mượn thú non sông cũng tạm nhàn

Đây phải Liêm Tuyền chăng đó tá?

Muốn đem rửa ruột khách quan san”

Liêm Tuyền tức suối Liên ở tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) là vùng đất tượng trưng cho phong tục thuần hậu, dân biết thương nhau, người đi làm quan đều biết giữ mình thanh liêm, không ăn hối lộ. So sánh sông Thạch Hãn với Liêm Tuyền trong điển tích, tác giả muốn khẳng định đây là dòng sông tượng trưng cho sự thanh cao, khách vãng lai nên dừng chân ngắm cảnh để suy ngẫm mà tẩy sạch những gì còn vẫn đục trong lòng!

.http://my.opera.com/dangsyhieu/blog/
READ MORE - SÔNG THẠCH HÃN - Đặng Triệu Ái

Thursday, March 12, 2009

QUẢNG TRỊ QUA MẤY VẦN CA DAO - Người Thôn Dương


Giếng cổ ở Gio An





Thuở nhỏ, chúng tôi thường nghe Mẹ hát ru em, có những câu ca dao quen thuộc đối với người Quảng Trị, mỗi địa phương có thay đổi một đôi lời cho phù hợp với địa phương của mình... Những câu ca dao đó đã thâm nhập vào tâm hồn tôi, khi xa quê, tôi thường ngâm nga cho đỡ nhớ quê nhà. Mỗi câu ca dao thường nhắc đến một địa danh và mang một mối tình quê, một câu chuyện trong lịch sử, có liên quan đến Quảng Trị. Chúng tôi xin sao lục lại để bà con mình cùng nhớ về quê hương, nhất là giúp các bạn trẻ đôi chút hiểu biết về quê nhà.


Đưa anh tới chốn nhà Hồ,
Anh mua trái mít, anh bù trái thơm.
Trái thơm là trái thơm non,
Bổ ra làm tám ăn chon như dừa.
(chon: dòn)



hoặc câu:


Yêu em, anh cũng muốn vô.
Sợ truông nhà Hồ, ngại phá Tam Giang,
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn,
Truông nhà Hồ, nội tán phá tan.


Truông nhà Hồ tức làng Hồ Xá, thuộc huyện Vĩnh Linh, thời Nguyễn Hoàng, năm 1570, tướng nhà Mạc là Lập Bạo đem quân vào đánh Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng dùng mỹ nhân kế, bắt được Lập Bạo tại Bến Trảu, quân của Lập Bạo thua, một số ra đầu hàng, được Nguyễn Hoàng cho định cư ở vùng Bát Phường (nay là các làng Vạn Kim, Vạn Thiện...), một số chạy vào rừng, tụ tập thành đảng cướp ở vùng Hồ Xá, người qua lại trên đường từ Bắc vô Nam hay bị chúng đón đường cướp bóc. Về sau có Nội tán Nguyễn Khoa Đăng lập mưu vào tận sào huyệt của bọn chúng, giết được tên cầm đầu, từ đó mới yên.



Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử,
Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu.
Bao giờ nguyệt xế, trăng lu,
Nghe con chim quyên kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng


Đây là lối chơi chữ, ái tử là thương con, vọng phu là trông chồng. Cầu ái Tử trên đường Quốc Lộ I từ Quảng Trị đi Đông Hà, ngày xưa ở đây là bãi cát hoang, Nguyễn Hoàng đóng quân ở đó, năm 1558, gọi là Dinh Cát. Nơi đó trước 1972, hãy còn một số di tích như mô súng (nơi đặt súng đại bác), chỗ đúc đạn, dấu chân thành và một số gạch xưa... Núi Vọng Phu ở tỉnh Phú Yên (đèo Cả).



Chẳng thơm cũng thể bạch đàn,
Chẳng trong cũng thể đá hàn chảy ra.


hay là:



Nước Đá Hàn hòa trong hòa mát,
Bãi Cồn Cờ, nhỏ cát dễ đi.


Đá Hàn tên chữ là Thạch Hãn (hãn là mồ hôi), nước từ trong đó chảy ra, rất trong. Thạch Hãn hay Đá Hàn là tên một làng ở ngay thị xã Quảng Trị, cũng là tên con sông chảy qua

thị xã Quảng Trị. Bãi Cồn Cờ là bãi cát bên sông, nơi ngày xưa đóng quân có cột cờ.


Ru em, em théc* cho muồi,
Để mẹ đi chợ, mua vôi ăn trầu,
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
*théc: ngủ



Chợ Quán tức chợ Quán Hầu ở sông Nhật Lệ, Quảng Bình. Chợ Cầu tức chợ bên cạnh cái cầu nhỏ ngày xưa, gần huyện lỵ Gio Linh. Tỉnh Quảng Trị. Nam Phổ và Chợ Dinh thuộc tỉnh Thừa Thiên.


Trăm năm nhiễu nỗi hẹn hò.
Cây da bến có con đò khác đưa.
Cây da bến cộ còn lưa,
Con đò đã thác năm tê rồi.


(Cụ Thái Văn Kiểm viết là: Trăm năm dù lỗi hẹn hò…)



Đây là câu chuyện tình giữa cô gái chèo đò duyên dáng và cậu học trò ngoài Bắc vô thi, qua đò gặp gỡ rồi hẹn hò nhau. Cậu học trò thi đỗ trở lại thì cô gái đã chết rồi. Ở Quảng Trị người ta hát là cây da chứ không phải là cây đa. Bến cộ tức là bến cũ (tiếng địa phương là cộ). Tê rồi là kia rồi.


Hết gạo thì có Đồng Nai,
Hết củi thì có Tân Sài chở vô


Quảng Trị có làng Tân Sài, đây là cách nói chơi chữ vì Tân và Sài có nghĩa là củi. Đồng Nai là đất Biên Hòa, là miền trù phú ở trong Nam.



Còn biết bao câu ca dao như trên mà chúng tôi không nhớ hết, ước mong bà con đồng hương bổ túc thêm cho.
__________________
http://www.dactai.net/
READ MORE - QUẢNG TRỊ QUA MẤY VẦN CA DAO - Người Thôn Dương

Wednesday, March 11, 2009

Thơ về sông Thạch Hãn

ĐÊM THẠCH HÃN

Thạch Hãn một dòng nước trăng long lanh/ Cỏ non nhớ ai thiết tha cổ thành?/ Khói hương lên trời mà thành mây trắng/ Thịt xương vùi đất mà thắm lá xanh...
BÙI QUANG THANH

Pháo hoa đỏ trời. Đèn trôi kín sông

Thạch Hãn đêm nay sóng vỗ nghẹn lòng

Vạn đèn hoa – vạn bàn tay vẫy

Nhân thêm mất mát, bồi thêm thương mong

Đò ai gác chèo trôi trong mông lung?

Áo trắng chờ ai hỡi vạn anh hùng

Những tuổi đôi mươi mấy bờ thế hệ

Thạch Hãn một dòng chẳng chia riêng, chung

Thạch Hãn một dòng nước trăng long lanh

Cỏ non nhớ ai thiết tha cổ thành?

Khói hương lên trời mà thành mây trắng

Thịt xương vùi đất mà thắm lá xanh.

Ai biết chăng ai một thời trận mạc

Bao tuổi đôi mươi chợt thành bùn đất

Biết mấy măng tơ đi mãi không về

Để những lời ca như là tiếng nấc

Thạch Hãn một dòng, máu Nam máu Bắc

Sũng các chiến hào, đỏ ngầu bến Vượt

Hơn vạn trái tim cao ngất tượng đài

Tám mươi mốt ngày bão lửa Bảy Hai.

Đêm “tráng ca” – lời ca nghẽn giọng

Đất dưới chân tôi như nghìn độ nóng

Lửa và bom. Và nhịp trái tim dồn...

Thạch Hãn rực hoa, đèn

Hay cuộn cháy đau thương?

30/4/2007
Nguồn: www.vannghequandoi.com


Đáy sông vẫn đó bạn yên nằm

LÊ BÁ DƯƠNG
Quý mến tặng Hoàng Công Danh

Ta trở lại một thời Thạch Hãn
Đáy sông vẫn đó, bạn yên nằm
Xin rứt lửa từ trái tim ứa máu
Nén hương lòng góp lửa cháy ngàn năm

Nguồn: http://lebaduong.vnweblogs
READ MORE - Thơ về sông Thạch Hãn

Tuesday, March 3, 2009

LÀNG TRẠNG VĨNH HOÀNG - Nguyễn Văn Học

Làng trạng Vĩnh Hoàng làm du lịch



Làng trạng Vĩnh Hoàng thuộc xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Năm 1949, xã Vĩnh Hoàng được thành lập, trong đó có ba thôn là làng Huỳnh Công Đông, Huỳnh Công Tây, Huỳnh Công Nam. Nên chuyện trạng cả ba làng còn được gọi là chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Nay xã Vĩnh Hoàng đổi thành xã Vĩnh Tú. Năm 2006, khu du lịch Thủy Ứ của làng trạng được khai trương, cách thị xã Đông Hà (Quảng Trị) chừng 50 km về phía bắc. Khu du lịch rộng, với những hồ nước xanh trong ngăn ngắt, những ngôi nhà mái lá đơn sơ lợp cọ dùng để cho khách nghỉ ngơi và có thể nghe... nói trạng. Ngoài ra du khách còn có thể câu cá thư giãn, dạo thuyền, tắm nóng lạnh...

Khu du lịch hiện nay do Hội Người khuyết tật xã Vĩnh Tú quản lý. Tiền thu được xung vào quĩ hội. Chúng tôi được chị Nguyễn Thị Hợi kể cho nghe câu chuyện thú vị thế này: có một người đi câu cá, bắt một con cóc làm mồi. Đến hồ, ông lấy đà vút dây câu một cái thì không ngờ dây câu văng sang bờ hồ phía bên kia. Trong lúc không biết làm cách nào để gỡ lưỡi câu đang mắc vào bụi thì một con chim cuốc nhảy ra ăn con cóc. Khi đang kéo cuốc thì con chồn từ trong bụi rậm lao ra ngoạm con cuốc vào miệng, mắc phải lưỡi câu. Mừng quá ông kéo dây câu thì… “bụp”, một con cá đô (lóc) từ hồ lao lên đớp trọn con chồn. Con cá to quá, bà con xúm lại cùng nhau kéo con cá lên rồi dùng cuốc to để đánh vảy. Sau đó mỗi người được tặng một chiếc vảy mang về làm quạt. Mổ bụng con cá ra có cả chồn, mổ bụng chồn có cả chim cuốc, mổ cuốc ra có hơn chén tép, đủ làm bảy món liên hoan cả làng thật là vui... Nghe xong ai cũng òa cười.

Làng Vĩnh Hoàng xưa nghèo khổ, phải vật lộn với thiên tai, giặc giã để mưu sinh. Trên cuộc hành trình gian khổ đó, người dân có một vũ khí rất lợi hại để tự động viên mình, đó là chuyện trạng. Và trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, người ta đã sinh ra cả ngàn chuyện trạng, thành kho tàng đặc sắc. Đây là kho chuyện cười trào tiếu dân gian, cũng giống như chuyện cười của các làng trạng Bắc Bộ hay chuyện kể bác Ba Phi ở Nam Bộ. Trong chuyến thăm làng trạng lần này, tôi đặc biệt ấn tượng với chuyện “Bắt nhầm cọp cày”, chuyện đã được vẽ thành tranh để bảo tồn. Nội dung như sau: “Đêm nớ, tui đi cày sớm, ra ngoài ràn (chuồng) bắt cặp bò đực cày đôi. Nhưng khi cài vào cày thấy con bò không chịu đi, tức quá tui lấy roi đập một cây vào lưng bò, con bò quay mặt dòm tui, thấy đực bò răng mà mặt mũi to đại chang, lạ quá. Tui tới sát coi cho kỹ. Té ra, đêm nớ cọp vô ràn bắt bò ăn thịt. Ăn xong, cọp chưa kịp ra khỏi ràn thì tui đã dậy đi cày quá sớm, bắt nhầm cọp cài vô cày mà không biết. Tức quá, tui mở dây cày ra, đập cho hắn một trận, hắn quá sợ, co bốn cẳng chạy vô rừng”.

Bài, ảnh: Nguyễn Văn Học (Vietimes)
READ MORE - LÀNG TRẠNG VĨNH HOÀNG - Nguyễn Văn Học

Tuesday, February 24, 2009

Thơ cuả HƯƠNG


HƯƠNG

MỘT CHIỀU NGƯỢC GIÓ

Em ngược đường, ngược nắng để yêu anh
Ngược phố tan tầm, ngược chiều gió thổi
Ngược lòng mình tìm về nông nổi
Lãng du đi vô định cánh chim trời

Em ngược thời gian, em ngược không gian
Ngược đời thường bon chen tìm về mê đắm
Ngược trái tim tự bao giờ chai lặng
Em đánh thức nỗi buồn, em gợi khát khao xanh

Mang bao điều em muốn nói cùng anh
Chợt sững lại trước cây mùa trút lá
Trái đất sẽ thế nào khi mầu xanh không còn nữa
Và sẽ thế nào khi trong anh không em?

Em trở về im lặng của đêm
Chẳng còn nữa người đông và bụi đỏ
Phố bỗng buồn tênh, bờ vai hút gió
Riêng chiều này - em biết, một mình em...

Nguồn: http://vn.myblog.yahoo.com/huong14182/
READ MORE - Thơ cuả HƯƠNG

Monday, February 23, 2009

Thơ về SÔNG Ô LÂU



BẾN Ô LÂU

ĐỨC TIÊN



Ta về thăm bến Ô Lâu
Nghe câu tình sử nhuốm màu rêu phong
Một con đò một dòng sông
Trôi man mác giữa mênh mông xa vời
Trong xanh tấm lụa gương trời
Vẫn đây bên lở bên bồi ngàn năm
Thương em một kiếp tơ tằm
Bao nhiêu cay đắng nhọc nhằn em mang
Tình đời muôn lẽ trái ngang
Em rằng duyên phận lỡ làng thì thôi
Như con đò nhỏ xuôi trôi
Bến trong bến đục bạc vôi khô trầu
Ta về bên bến Ô Lâu
Câu thơ neo giữa nông sâu cõi lòng
Sông quê chẳng thể đổi dòng
Tình em năm tháng vẫn không nhạt màu
Bến Ô Lâu, bến Ô Lâu
Cho ta gỡ mối u sầu...lòng ta!
16-2-09




NẾU EM VỀ Ô LÂU

HỒNG THẤT CÔNG

Nếu em về Ô Lâu
Võng sông trỗi hè ru nhau tình bến đợi
Năm tháng bồng bềnh tay với
Đôi nhánh hẹn hò lúng liếng mi ngoan

Cổ tích xa rồi, trầm tích thời gian
Câu ước hẹn lớn như điều có thật
Bên này bên kia nỗi niềm chung chặt
Nỗi Huế thân thương Quảng Trị kiên cường.

Nếu em về Ô Lâu
câu hát thương nhau còn mãi đợi bên cầu
Không còn Ô Lâu tình sử
Nhịp cầu duyên sẽ in dấu em qua

Người sông quê rất đỗi chan hoà
Vỗ mặt sông bằng câu thơ tình mẹ
Hồn nhiên và lặng lẽ
Giữa muôn trùng cõi nhớ trong nhau

Nếu em về Ô Lâu
Chuyến đò chiều nối chênh vênh lời hát
Mãi trong anh tình quê màu sông nước

Mai em về Ô Lâu...

2/2009
Nguồn: Hồng Thất Công ‘s Blog
READ MORE - Thơ về SÔNG Ô LÂU

Thursday, February 12, 2009

LẾ BÁ LƯ





Thơ
Lê Bá Lư

LỜI HẸN ĐẦU NĂM



Cho anh lời hẹn đầu năm
Để anh lên núi xin xăm cầu tình
Trần gian những chuyện hư vinh
Sao bằng sóng mắt xiêu đình của em
Ước gì ngày hoá ra đêm
Lung linh trời đất ta tìm đến nhau
Trăng sao dẫn lối qua cầu
Dại khờ như thuở ban đầu mười lăm
Cho anh lời hẹn đầu năm
Để anh lên núi xin xăm cầu tình

Sài Gòn, tháng 01/2007



SÂN THƯỢNG NHÀ EM



Một không gian nho nhỏ
Giữa mênh mang biển trời
Em ngồi nghe sóng hát
Thả hồn lên chơi vơi

Một không gian tĩnh lặng
Giữa xôn xao cuộc đời
Em nghe tiếng gió cười
Mơn man trên làn tóc

Một không gian huyền hoặc
Ru em về tuổi thơ
Đưa em vào kỷ niệm
Bâng khuâng bài tình ca

Một không gian tuyệt vời
Em không còn bối rối
Đời vui như trẻ lại
Ngạt ngào ngàn hương hoa

Một không gian hiền hoà
Em không còn hối hả
Em không màng tất tả
Em ru hồn thiền na

Sài Gòn, 4h sáng 31-3-2007



TUY NHIÊN


Tuy xa mà cũng như gần
Tuy chiều, nắng vẫn thanh tân nõn nà
Tuy lòng không thể nói ra
Tuy nhiên hãy hiểu đó là lòng anh.


LBL


ĐỌC TIẾP:

TRANG THƠ LÊ BÁ LƯ
READ MORE - LẾ BÁ LƯ

Monday, February 9, 2009

Hoàng Hữu Quyết gặp Hoàng Phủ Ngọc Tường


Gặp gỡ: NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

SÁNG TÁC LÀ SỰ GIẢI TỎA

Hoàng Hữu Quyết

Một cây bút cổ thụ gần 30 năm, anh viết và sống nghiêm túc, nhiều lúc đến mức khắt khe với chính mình. Mỗi bài báo, bài thơ, bài ký thường đào sâu vấn đề thời sự nóng bỏng, dùng những từ ngữ đầy sức thuyết phục, để độc giả khi đọc các tác phẩm của anh luôn cảm nhận được sự mới lạ, sâu sắc. Sự sống của Hoàng Phủ Ngọc Tường sau cơn bạo bệnh là một may mắn cho làng văn, làng báo Việt Nam. Sau những ngày tháng điều trị và ổn định bệnh tình, những trang sách của anh không vì thế mà xếp lại. Mà chính đây là khoảng thời gian tích lũy của một chuỗi ngày dài “ham chơi”, một thời đã từng lên rừng xuống bể, vào Nam ra Bắc để ra đời “Miền gái đẹp”... Dường như anh không bao giờ dừng bước.

+
Có người nói “Ai đã đặt tên cho dòng sông” anh viết về Huế hay đến nỗi có lẽ chẳng còn ai viết về Huế hay hơn thế nữa, chỉ đứng sau Nguyễn Tuân, anh tự hào về điều đó?
- Không có gì làm mình khổ tâm bằng bắt mình tự so sánh với Nguyễn Tuân. Từ trước đến nay tôi vẫn coi ông là bậc tiền bối của mình. Nhưng như Nguyễn Tuân nói trong một buổi lễ trao giải của Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội, đại ý: Họ nói vậy nhưng chúng ta hy vọng viết khác thôi, khác hoàn toàn, không giống gì hết. Điều đó là đúng và tôi cảm tưởng rằng không thể nào viết được những cái như “Vang bóng một thời” (tác phẩm của Nguyễn Tuân - NV). Và tôi cũng thấy mọi sự so sánh đều khập khiểng.
+
Để bút ký sống mãi và đi vào tiềm thức của độc giả cần đến yếu tố nào?
- Theo tôi, để ký sống mãi là rất khó. Trước hết, phải có văn, phải có vốn văn học. Văn phong là yếu tố cần nhất của văn chương nói chung, ký nói riêng. Nếu ý tưởng hay mà thể hiện trong bài viết không hay thì không thể đi vào lòng độc giả được. Ngoài ra, nó còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác, ký là một cái gì có thật, không hư cấu, hoặc phải có cách viết mà độc giả đọc không cho đó là hư cấu. Điều tiếp theo là tính lạ. Dân gian có nói “khoai đất lạ, mạ đất quen”, thì yếu tố “đất lạ” phù hợp với một loại khoai là ký.
+
Trong nhiều tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có lẽ độc giả nhớ nhất tuyển tập “Miền gái đẹp”?
- Chưa hẳn. Tôi thường chọn chủ đề trong một tác phẩm. Nó không bao hàm cả cuốn sách. Còn “Miền gái đẹp” thì nói về mảnh đất có quá nhiều người con gái đẹp, không có gì là sâu kín ở đây. Tôi chỉ viết là yếu tố sắc đẹp...
+
Là một người được mệnh danh là “Người ham chơi”, yếu tố “ham chơi” giúp gì cho công việc của anh?
- Tôi cho rằng ham chơi cũng là một yếu tính của con người. Không chỉ làm, mà phải có chơi. Chơi cũng là văn hóa - “văn hóa chơi”. Ham chơi là hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật, triết lý nhân sinh... Đặc biệt những người viết thì rất cần điều đó. Chơi nhiều mới tích lũy thành vốn sống của mình. Không phải cứ cầm bút là viết được. Mà phải lấy kinh nghiệm sống của mình ra để nói chuyện với độc giả thì người ta mới muốn nghe.
+
Như vậy nhờ “ham chơi” mà anh có được những trang văn đặc sắc?
- Tôi không biết nó thể hiện nhiều không. Cái đó còn do độc giả đánh giá. Nhưng tôi thấy “ham chơi” cũng là một lối sống của nhà văn. Yếu tố ham chơi thể hiện được “chất hồn” trong văn chương. Nhà phê bình văn học nổi tiếng Kim Thánh Thán của Trung Hoa đời Thanh đã nói: “Nên coi tất cả không vì một mục đích nào cả. Hay là mục đích tự thân - tự nó là mục đích”.
+
Nhiều người nói văn của anh mang nặng yếu tố “Phù Du”?
- Phù du chỉ cái mỏng manh, không nắm bắt được, chóng qua... Hoa thì gọi là hoa Phù Dung, còn vật thì gọi là Phù Du. Mỗi buổi sáng thức giấc, người ta quét từng đống lá - Phù Dung, vun lại, bỏ lên xe chở đi. Loại Phù Dung sống trong nắng mưa. Có loài chỉ một ngày nở ra, rồi kết thúc... Mọi cái có thể là Phù Du. Vì vậy yếu tố Phù Du hay ám ảnh tôi. Chứ không phải là chủ đề.
+
Trong lời tựa của tập thơ “Người hái phù dung”, Nguyễn Trọng Tạo có đưa hình ảnh “Những con chim yến không làm tổ bằng nước bọt mà làm bằng chính máu mình; người ta gọi là yến huyết. Còn Văn Cao gọi là yến-thi-sĩ. Nó làm thơ để mà chết vì bài thơ nó làm ra”. Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã làm thơ bằng máu của mình?” - anh nghĩ thế nào?
- Cái này khó nói. Văn chương đòi hỏi cái gì hơn cả máu. Kiến thức vươn đến chân trời khác lạ lắm. Cuộc sống ở đâu, văn chương đến đó. Gọi là văn học không biên giới. Có một thời người ta cho rằng văn chương là phải có mấy chức năng. Tôi cho là không phải. Chức năng của nó là tất cả cuộc sống.
+
Tính cách quyết định gì trong cách viết, thưa anh?
- Tôi cho rằng, tính cách của tác giả thể hiện ngay trong từng trang văn. Phong cách và tư tưởng tạo nên nét riêng. Theo tôi, tính cách tùy người. Tính cách nào cũng thể hiện được: sự khẳng khái, trung thực, chân thành... Tôi cho rằng, tính trung thực của Nhà văn là rất cần thiết. Trước khi là Nhà văn anh là một Con người. Như vậy, một Con người phải có nhân cách. Bởi thế, ngày xưa, người thầy không chỉ dạy chữ nghĩa, mà dạy Đạo làm sao sống cho xứng đáng. Đó gọi là dạy nhân cách. Bây giờ, nhân cách không được chăm chút lắm, là cái yếu của Giáo dục nói chung, một số Nhà văn trẻ nói riêng.
+
Quan điểm của ông về văn chương và báo chí?
- Văn chương là một cách biểu đạt của con người trước cuộc sống. Báo chí là tự bản tân của cuộc sống.
+
Trong gia đình mình có nhiều “Nhà” như vậy (Vợ Hoàng Phủ Ngọc Tường là Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, con gái - Nhà thơ Hoàng Dạ Thi), vậy có chuyện “đấu khẩu” nhiều “nhà” trong một nhà và nó có giúp gì nhiều trong văn chương?
- Sống trong cuộc sống bình thường chúng tôi ít nói chuyện về văn chương. Thường nói đến chuyện “tương cà mắm muối”. Nhưng, đôi lúc cả nhà cùng bàn luận một số vấn đề về văn chương để cùng tương trợ cho nhau. Thì hòa hợp chứ không có vấn đề gì xảy ra.
+
Với Nhà văn, “mỗi nhân vật là một đứa con tinh thần”, cũng là một người “mình yêu”, thương; nghĩa là nhân vật “có vấn đề”, thế thì có bao giờ vợ anh - Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ “ghen” với nhân vật trong... sách không? Nhất là, ở thể ký, tính chân thật rất cao?
- Về đời thực, với quá khứ vợ tôi được cái là không bao giờ “phát biểu” điều đó. Vì hiểu rằng, quá khứ mỗi người đều được tôn trọng. Nghĩa là không bao giờ ghen với những người đã qua. Nhưng vô cùng ghen với những người đang có, nếu... Vì cô cũng là người đàn bà nên cô cũng phải giữ “thể diện” là người vợ. Trong văn chương, thì vợ tôi không ghen bởi vốn dĩ bà cũng là người theo nghiệp văn chương. Bởi văn chương nó có thế giới riêng, và nhân vật phần nhiều là hư cấu. Nhưng viết ký là có thật, những cái gì thuộc về quá khứ thì cô không thể ghen bởi lúc đó tôi chưa quen cô ấy.
+
Nhiều anh em văn nghệ sĩ ở Huế cũng như các địa phương khác cho rằng, trong thời gian qua, Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chăm sóc rất chu đáo, tận tình, anh hạnh phúc vì điều đó?
- Đúng. Một Nhà văn rất mong có một gia đình yên ổn, hạnh phúc. Nhất là đối với tôi. Yên một mặt mới lo được những mặt khác. Về gia đình Dạ thì Dạ lo được. Những lời khen đó xin dành cho Mỹ Dạ bởi gần 10 năm nay Dạ gánh vác công việc gia đình và chăm sóc tôi rất tường tận.
+
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trình làng cuốn sách viết về Trịnh Công Sơn?
- Đúng vậy. Do nhà xuất bản trẻ phát hành. Tựa đề cuốn sách là: “Trịnh Công Sơn và cây đàn Lia của Hoàng Tử Bé”, dày gần 150 trang.
+
Điểm khác của cuốn sách này với một số cuốn sách khác?
- Những cuốn sách kia chuyên về tài liệu. Còn tôi viết đứng ngoài tài liệu. Viết về cái nhìn của Trịnh Công Sơn trước cuộc đời, mỹ thuật.
+
Lúc bạo bệnh, sự sống - chết “đấu tranh” như thế nào trong anh?
- Khi đó thì tôi không phân biệt được sống hay chết. Chỉ dửng dưng thôi. Cuộc sống sẽ chẳng có ý nghĩa gì khi mình không đứng bên bờ vực của sự chết. Thế mới quý sự sống đến nhường nào.
+
Có một số thông tin cho rằng, anh chị có ý định bán nhà ở Huế vào TP HCM sinh sống, điều đó đúng không?
- Thông tin đó không đúng. Mà, tôi nghĩ nếu có cũng không nên đưa tin. Một Nhà văn bán nhà, thì không ít. Như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân... có cái gì bán cái đó. Đó là lẽ thường!. Còn đi khỏi Huế, tôi không có ý định đó. Tôi như một cái cây già cắm rễ ở đất này. Không thể bứng tôi đi nơi nào được. Đến một miền đất lạ tôi sẽ khó sáng tác. Từ trước đến nay tôi có nhiều dịp để đi khỏi Huế nhưng tôi nghĩ đi đến đó tâm hồn mình như một bản nhạc mà không viết ra lời.
+
Tôi rất ngưỡng mộ anh ở thể loại ký, anh là một trí thức uyên bác, nhạy cảm lãng mạn rất thi sĩ, đặc biệt ngôn ngữ hết sức kỳ lạ và đầy ma lực, vậy cá tính trong con người anh?
- Thời mình về Quảng Trị làm tạp chí “Cửa Việt” đất quê mình lạ lắm. Tiêu ở Cùa thơm có tiếng cả nước. Ớt ở Cam Lộ, Gio Linh cay chảy cả nước mắt. Mình cũng ngạc nhiên là có nhiều người ở Huế ra tận vùng ven thành Cổ để mua chanh, chanh ở đây chua và nhiều nước lắm. Còn ruốc đặt biệt thơm ngon ở Cửa Tùng, Cửa Việt. Có lẻ cái cay chua thơm ngọt cùng độ của cây trái đã tiềm ẩn trong mình. Mình đã sống bằng một khát vọng khám phá tận cùng những sâu thẳm của cuộc đời, đất nước. Và sáng tác, theo mình, chắc chắn nó cũng nằm trong thiên hướng đó.
+
Còn nỗi buồn?
- Nó vẫn là căn nhà nơi mà thi sĩ trú ngụ. Mình làm thơ khi cô dơn cùng cực. Nỗi buồn là một ám ảnh đôi khi như định mệnh. Nhưng bản chất sáng tác là gì, nếu không phải là một sự giải tỏa?
+
Dự định sắp tới của anh?
- Sắp tới tôi sẽ dồn tất cả những bút ký mình viết trong thời đau ốm, in thành tập sách để gửi tới độc giả như một món quà tôi vượt qua sự chết, vượt qua số phận. Vậy thôi!.
READ MORE - Hoàng Hữu Quyết gặp Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tuesday, February 3, 2009

Ngụy Ngữ

Hồ Hàm Thuận, BảoLộc

NGỤY NGỮ

TRỞ LẠI BLAO* VỚI VŨ TRỌNG QUANG



Tôi kiếm ăn bằng nhiều nghề khác
Làm thơ để được nhẹ lòng mình
(…)

Rồi. Tôi đã nghe Vũ Trọng Quang tâm sự điều ấy khi không ngờ mãi tới giờ anh ta vẫn gắn bó với thơ và cũng biết luôn tại sao anh ta cứ đem lòng “tự cư” vào những vùng tối thẳm bên sau những khoảng màu sặc sỡ mà anh ta đang có mặt, nói cười. Mãi bận rộn với bao nhiêu thứ “âm thanh và cuồng nộ” của đời, chúng tôi tình cờ gặp lại nhau khi Quang đang là người quản lý một vũ trường vừa mới được chỉnh trang, mở cửa lại. Trong tiếng ồn ào bên những cốc bia, chuyện mà chúng tôi mang ra với nhau là chuyện về Blao, nơi chúng tôi đã gặp nhau. Dĩ nhiên là chuyện cũ. Blao, một thời xa hút.

Thuở đó, trong chiến tranh, Blao là nơi cơ hồ đã bị bom mìn quên bẵng mất.Cũng có tiếng đạn đại bác ì ầm xa vẳng, nhưng không có những đàn trực thăng đen trời, không có những chiếc phản lực phô thân kim khí nhào lộn gào rú, không có những chiếc tăng hạng nặng nghiền xích qua các ngã ba ngã tư, không có những trái mìn kinh hoàng, những trái đạn pháo hoảng loạn và những đoàn dân tản cư bồng bế gánh gồng lếch thếch. Miền núi trong trí nhớ chúng tôi, Blao quanh năm đầm mình giữa hơi lạnh man thiên và sương mù trùng trùng trắng xóa. Phố khuất khúc. Đó đây trong phố vẫn còn những gốc cây rừng già và những cụm hoa rừng hoang dã mọc tràn ra cả mặt đường, nhất là ở quanh hồ đầy nước nằm giữa hai vùng phố mới cũ. Và quanh phố là những đồn điền trà, café. Xa hơn, là những xóm làng xanh kín vườn cây ăn trái, những ao hồ hoang vắng, những suối thác ít người tới lui. Xa hơn nữa là rừng thông, rừng già, núi, đèo… Không bao lâu sau vụ Tết Mậu Thân, tôi đến Blao từ Huế, ngỡ ngàng đứng lại trước vàng rộ của hoa quỳ dại kéo ngợp cả lòng thung lũng chạy dài hằng mấy cây số, thích thú với những cơn mưa xối xả nửa chiều, những quán café đêm đêm đóng cửa rất muộn, những buổi sáng phố xá trắng đặc sương mù. Huế cũng có sương nhưng là một thứ sương khác, loãng nhẹ, như khói. Đâu chỉ vừa đủ làm khuất màu áo trắng và mờ bớt nhân ảnh trước mắt Hàn Mặc Tử thuở nào hoặc như tôi thấy : sương lấm với khói xăng đặc và khói của bao nhiêu thứ khác có thể cháy được để quánh lại suốt tháng trên phố xá điêu linh. Sương mù ở Blao trắng hơn, lạnh hơn, dễ gợi đến cảnh non bồng nước nhược hơn: vừa đó trước phố cả ngọn núi Đại Bình đến sừng sững, thoắt cái chỉ còn phần đỉnh núi nhô lên trên biển sương mây như một hòn đảo lạc đường và cùng lúc mặt hồ bên ngoài cửa kính quán ăn trông ra đã như một vùng vịnh khơi bát ngát. Với sương mù, về đêm, nhất là những đêm sau buổi chiều có mưa lớn, phố xá khuất khúc chật hẹp trở nên huyễn hoặc lạ lùng. Tôi đã đắm vào trong sương mù phố xá ấy, đã nhiều đêm thức trắng với những quán café đóng cửa muộn và những quán ăn bày hàng sớm của nó, và cũng đã thức trắng bao nhiêu đêm với vùng đèo mà không chiếc xe chạy đường dài nào dám đổ đèo khi sương mù chưa tan.

Rải rác ven đường đèo cũng như nơi này nơi kia trong núi thường có những hố vực kỳ dị, sâu thẳm, vách đá dựng cao. Đứng trên nhìn xuống chỉ thấy những ngọn cây mọc vươn lên từ đáy vực, ở những đáy vực ấy thỉnh thoảng người ta vẫn tìm được những bộ xương người cạnh sắt thép của những chiếc xe mục nát. Đó chỉ là những vực ven đèo, còn trong núi, chẳng ai sức đâu. Muốn dò xét độ sâu thường người ta chỉ ném xuống một khối đá rồi lắng nghe tiếng đá rơi, nhưng thường cũng ít khi nghe được, bởi khối đá rơi xuống chạm vào cây cối tức khắc vẳng lên miệng vực ngay hàng nghìn vạn tiếng thú tiếng trùng và rồi kế đó là sương mù đã được ủ chìm dưới bóng lá bùng vươn dậy như một vị thần quái dị ngủ quên vừa được lay tỉnh. Tôi đã ném những khối đá ấy và đã quên. Tôi đã đến và đã đi : Blao, Đà Lạt, Huế, Saigòn. Những thành phố những bến xe những sân bay những đổi thay của thời cuộc và bao nhiêu thứ chuyện đời. Chẳng cách Saigòn bao xa nhiều lần tôi đã ghé lại Blao, và có lần như kẻ mộng du, tôi hỏi một người bạn : Sương mù đâu? Người bạn đã già, phố đã khác, bao nhiêu người quen cũ đã không còn, và chúng tôi không phải ngồi bên những ly café khuya muộn mà là bên những xị rượu cay nồng. Anh ta nói về nạn phá rừng, về việc định cư dân từ xứ khác đến và tôi lại lơ mơ nhớ tới những điều khác, những khuôn mặt, những ai đó đã khuất mù. Lơ mơ nhớ, lại quên… Và cái anh chàng Vũ Trọng Quang bại trận (Anh bại trận nên đầu hàng số phận) đã không chỉ quanh quẩn với những khoảng sáng tối của Saigòn hậu chiến và bâng quơ ngồi lại sau giờ các cô Lọ Lem hết được hưởng phép màu, mà còn đến Hải Vân với lòng chùng xuống theo mây ngang đèo và “Trở lại Blao” thẩn thờ đứng nhớ :

Trong không gian mù đục
trắng một ngày cuối đông
em như ẩn như hiện
em như có như không

Đôi chân ai bước nhỏ
dài khoảng trời chia tay
hai mươi năm còn đó…

Những câu thơ bình dị của Vũ Trọng Quang đã như một khối đá bất chợt ném vào vực – Blao – trong – tôi. Khối đá ném xuống và sương mù mê khuất dưới những tần lá tối bốc dậy, cùng lúc tiếng thú, tiếng trùng và cả nhiều giọng cao thấp vui buồn của tiếng người.

Văn học nghệ thuật nói chung trước hết là vũ khí chống lại cái chết và khuôn mặt dễ thấy nhất của cái chết là sự lãng quên. Trong “nhiệm vụ” ấy đôi khi nó chỉ cần giữ vai trò làm tiếng gõ cửa là đủ. Tiếng gõ và cửa mở ra những chân trời, quên lãng bị xóa bạt đi, cái chết bị đẩy lùi và cuộc sống chợt trở nên đáng sống đáng yêu và đáng đầu thai trở lại làm người bao nhiêu kiếp nữa để còn phải vay mượn trả đền. Cám ơn Quang.

NGỤY NGỮ

* Bây giờ là Bảo Lộc, thủ phủ tỉnh Lâm Đồng

ĐỌC THÊM
CON THÚ TẬT NGUYỀN, truyện ngắn
GIỮA BAO LA, thơ
READ MORE - Ngụy Ngữ

Sunday, February 1, 2009

Thơ đồng hương Quảng trị

Sáng mùng một tết con trâu, một số bác đồng hương Quảng Trị, tuổi trên dưới 60, gặp nhau tại một quán cà phê và ngẩu hứng làm thơ. Xin chép lại để làm kỉ niệm.

PHAN LƯU
Vô đề

Thôi thế cuộc đời - cuộc bể dâu
Trăm năm như gió thoảng qua cầu
Thương mình dầu dãi bao mưa nắng
Sực tĩnh trông gương chớm bạc đầu.


ĐÀO HUYNH
Kim ngưu tự cảm

Kỉ sửu vòng đời sáu chục năm
Oe oe dạo ấy giờ hoa râm
Nhất niên chập chững bên tay mẹ
Lục thập cận kề tuổi cụ ông.

Gia đình hạnh phúc ơn Trời Phật
Con cháu rạng ngời phước tổ tông
Đạo đức đảo điên, tâm định tuệ
Thế thời thời thế, sắc sắc không.


TRƯƠNG CÔNG HẢI
Vô đề

Sáu mươi năm tuổi võ vàng
Cây đời chưa rụng, trái sầu hoang...

LÊ VĂN TIỂN
Tình quê

Tình Quê * Quảng Trị mãi phân vân
Ngày tháng trôi đi đã chín lần
Ngồi lại đợt này tình thắm thiết
Chẳng dừng ngang đó - kết vui thân.

Anh em có trí - nên vai vế
Chú bác tỏ lòng - vững bước chân
Kính trên nhường dưới vui hòa hợp
Nở hoa kết trái mãi xoay vần.

Tình quê: đặc san Tình Quê của hội đồng hương QT tại Đà Nẵng.
READ MORE - Thơ đồng hương Quảng trị

Wednesday, January 28, 2009

TRẦN KIÊM ĐOÀN


Trần Kiêm Đoàn,
Giáo sư ngành Tâm lý trị liệu (Psychotherapy) tại Lutheran Pacific University ở California, Mỹ.

Chi tiết về tác giả, xin xem thêm trên trang web: www.trankiemdoan.net

Chúc Mừng Năm Mới

Hát nói bên Tây

BUÔNG !

Mưỡu

Ngồi buồn hát nói kiểu Tây
Ca xang giọng Mỹ lại dây tiếng Tàu
Xuân về, Người biết về đâu
Té ra trong cuộc bể dâu có mình

Nói

Happy New Year… Xuân về nằm ngủ
Cung Hỷ Pạt Chòi… ai nói nấy nghe
Ba mươi ba năm quy khứ lai hề [1]
Vuốt râu bạc không biết về hay ở


Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa, Triết Giang triều [2]
Hai phần đời vinh nhục đã nhiều
Tâm rỗng lặng bao nhiêu là thiếu đủ

Năm rất Mới đeo gì ba chuyện cũ
Có là không trên cửa ngõ vô thường
Sống chết giàu nghèo thương ghét thiệt hơn
Sớm hay muộn bàn tay trơn cũng thả

Biết về đâu giữa đời muôn vạn ngã
Mà trường sơn biển cả cũng hoàn không
Năm Mới, Xuân tươi rồi sẽ cũ úa mòn
Một lời chúc… ước mong còn ngó lại:
Đừng phí thời gian điều tuế toái… giản đơn, [3]
chắt lọc, rỗng từ tâm:
BUÔNG !

Trần Kiêm Đoàn


[(1) Đào Tiềm:
Quy Khứ Lai Từ :
Quy khứ lai hề, điền viên tương vu, hồ bất quy!

Tạm dịch:
Về đi thôi, ruộng vườn hoang phế, sao chẳng về đi!

[2] Tô Đông Pha:
Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều

Tạm dịch
Khói tỏa Lô Sơn sóng Triết Giang
Chưa đi đến đó hận không ngăn
Tới nơi về lại không gì lạ
Khói tỏa Lô Sơn sóng Triết Giang

[3] Thoreau:
Our life is frittered away by detail…
Simplify, simplify, simplify.

READ MORE - TRẦN KIÊM ĐOÀN

Tuesday, January 27, 2009

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - CHÙM THƠ


Nguyễn Đức Tùng sinh tại Quảng Trị. Bác sĩ y khoa, Đại học Mac Master, thường trú các bệnh viện Toronto, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ giáo dục, Đại học UBC, Vancouver. Làm việc tại một bệnh viện ở Vancouver, Canada.

Tác phẩm Thơ, tiểu luận, phỏng vấn, đăng trên các tạp chí Việt, Hợp Lưu, Làng Văn, Thơ, Chủ Đề, các báo liên mạng như văn học nghệ thuật, tiền vệ, talawas, da màu. In thơ trong tuyển tập 26 nhà thơ Việt Nam đương đại, NXB Tân Văn, 2004, và có jì dùng jì, NXB Giấy vụn, Sài Gòn, 2007. Tập sách phê bình Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn, NXB Tự Lực, Cali, 2007.

Chi tiết về tác giả, xin xem tại blog của Nguyễn Đức Tùng: http://nguyenductung.vnweblogs.com/album/2900/3206





NĂM BÀI LỤC BÁT




HOA ĐÀO

Hoa đào đã rụng hết rồi
Vừa gặp em. Mới một trời đầy hoa
Cho anh làm lại hôm qua
Thì anh vẫn sẽ như là hôm nay


XIN

Xin đi cho hết đường dài
Trả cho xong những đơn sai nợ nần
Rồi xin về trong đêm xuân
Đứng trong mưa gõ tần ngần cửa em


THÔI

Thôi em về với mùa thu
Còn anh về với bụi mù xôn xao
Chút tình xưa xin đừng trao
Anh cầm cành liễu chạm vào vai em


ĐẤT TRỜI

Đất trời nhẹ hẫng: vào xuân
Tay anh nhẹ hẫng: người thân mất rồi
Tình anh nặng quá: không lời
Mùi hương nặng quá làm rơi hoa hồng


50 NĂM

Năm mươi năm nữa em còn
Mùi thơm trong nách vết son trên người
Năm mươi năm nữa trời ơi
Tay anh đỏ vết răng người, còn không...




HẸN EM

Hẹn em ở cuối con đường
Lại gặp một dòng sông lạ
Cuộc đời trôi đi vội quá
Ra về đầy tay mù sương


Chim hót lơ mơ trên cây dừa lửa
Cháy dọc con đường không có tuổi thơ
Trưa xinh xắn mà đầy ảo mộng
Gió bay qua khuy áo ơ thờ


Nhà em thơm mùi canh dưa cải
Anh để mùa xuân dẫn tới đây
Sương và gió làm nên tất cả
Chút muối liu riu rắc lại đầy


Anh uống rượu mà em cũng say
Năm sắp hết tình mình không cạn
Lửa tĩnh điện trên tóc em tí tách
Thương một đời mưa bụi li ti


Nguyễn Đức Tùng




Đọc thêm:
ĐỌC MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO
ĐỌC MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO-2
BA CHÙM THƠ
WILLIAM CARLOS WILLIAMS: THƠ CÀI TRÊN TỦ LẠNH
BILLY COLLINS: MỘT NGÀY NỮA THÔI
MARY OLIVER: ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI
BÀI/TÁC PHẨM ĐÃ ĐĂNG TRÊN DIỄN ĐÀN HỘI LUẬN
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - CHÙM THƠ

Monday, January 26, 2009

Thơ VÕ QUÊ

Nhớ NGUYỄN HOÀNG

Võ Quê


Thăm trưòng cũ

Tên trường không còn nữa

Ngẩn ngơ đau

Vừa mất một điều chi?

Gió Lào thổi xạc xào ngọn liễu

Quá khứ về trong ký ức chiều ni



Thuở nón trắng em thơm

Thuở quần anh xanh ngắn củn

(Cha mẹ nghèo con lại lớn nhanh)

Thầy trò tứ xứ sân trường chật

Thuở thương nhau áo rách nên lành



Thuở bằng hữu lên xanh

Thương người ở lại

Xuống đường

Hào khí tiếng loa vang

Quảng Trị rung lên

Những mùa tranh đấu

Em bên anh sát cánh

Nguyễn Hoàng!



Dĩ vãng đẹp câu hò Ái Tử

Nơi tiền nhân khai mở nước non nhà

Tên Nguyễn Hoàng đã hồng trang sử

Lại nhân từ trong tâm khảm học trò quê



Về trường cũ

Không gian xưa còn đó

Mà tên trường lẩn khuất phương mô?

Nhớ Nguyễn Hoàng

Bạn ơi ta nhớ!

Cái tên Người xuyên suốt một đời ta




Những bài thơ hoa



HOA NGÔ ĐỒNG



Hoa ngô đồng tím ngắt chiều thơm

Anh mời em ngắm màu hoa tím

Hiểu nhau rồi tình yêu bất biến

Chim phượng hoàng gọi bạn đậu cành ngô



HOA QUỲNH



Em trẻ hoài trong đôi mắt anh

Có phải tình yêu níu thời gian đứng lại?

Em: đóa hoa quỳnh trong đêm tình ái

Nở trắng đời anh ngan ngát hương



HOA SẦU ĐÔNG



Lá sầu đông rụng vàng ngày đông

Cho hoa trắng đan mùa xuân tím

Đến rồi đi tình yêu ẩn hiện

Hương sầu đông tìm em giêng hai



NGỌC LAN



Em: bông hoa trong vườn anh

Thơ ngợi ca tình yêu, ánh nắng

Ngợi ca em tâm hồn sâu lắng

Hương ngọc lan thơm đêm thu này



ĐÀI SEN



Nụ hôn thơm hương một đài sen

Đằm trên môi thanh khiết

Ta tìm đến đời nhau bất tuyệt

Nụ hôn dù khoảnh khắc vẫn nồng say


VÕ QUÊ
READ MORE - Thơ VÕ QUÊ

Friday, January 23, 2009

Thơ Xuân của VÕ VĂN HOA



VÕ VĂN HOA

KÝ HỌA MÙA XUÂN

Quà của rừng
Một giỏ Nghinh Xuân
Cùng trời trong mây trắng
Hoa xoan tím bên giòng sông phẳng lặng
Thuyền ngư phủ buông câu
Anh biết nói gì hơn đâu!
San hô hồng cảm xúc
Một chiều sân nhà em
Vàng cánh mai rơi...
Anh hiểu Mùa Xuân đang đến...


VÀO XUÂN THÀNH CỔ

Ba mươi năm sau anh trở về chốn cũ
Mùa xuân Thành Cổ

Ba mươi năm sau anh về đứng lặng dưới hàng cây
Cõi thiêng chốn này!

Ba mươi năm sau có người tóc bạc
Làm sao quên một thời trận mạc.

81 ngày đêm cả nước hướng về
Mưa không làm ai bi lụy não nề!

Ba mươi năm sau, anh trở về Thành Cổ
Đường Quang Trung còn đây,
Bờ Thạch Hãn còn đây!

Dòng sông hoa tưởng niệm nở đầy
Các Anh về cùng mùa xuân Đất Mẹ.

Võ văn Hoa
2003



READ MORE - Thơ Xuân của VÕ VĂN HOA

Thursday, January 22, 2009

CÂY CHUỐI - BÀ MẸ QUÊ



CÂY CHUỐI - BÀ MẸ QUÊ


Nguyễn Đặng Mừng


(Kính tặng những bà mẹ quê và làng Cổ Lũy của tôi)



Nếu cây tre được ví, được xem như là biểu tượng của sự vững chãi cứng rắn, mang dáng dấp người cha, thì cây chuối ngược lại luôn mềm mại, dịu dàng như người mẹ vậy. Người ta đã ca ngợi nhiều về cây tre, nhưng ít ai nói về cây chuối. Có chăng chỉ lạc lõng trong vài câu ca dao thường là buồn bã: “ Gió đưa bụi chuối sau hè ”. Có điều gì đó không công bằng với chuối.
Mỗi lần về làng quê, nhìn những bụi chuối luôn khiêm nhường sau hè nhà, bên chuồng bò chuồng lợn, lại nghĩ về những bà mẹ quê. Trải qua hàng ngàn năm phong kiến, thân phận người phụ nữ bị rẻ rúng, cây chuối cũng mang thân phận như thế, cho mà không nhận. Ở rất nhiều vùng quê Việt Nam, nếu bạn quan sát kỹ thì ít khi chuối được trồng trước nhà. Vì sao ư, tôi cũng không biết nữa. Có người giải thích với tôi rằng “ tiền đàng bất khả thụ ba tiêu ” (Trước nhà thì không được trồng chuối), hoặc là “ chuối sau cau trước ”. Người ta sợ cây chuối mang nhiều điều xui xẻo chăng! Lại liên tưởng đến hình ảnh người mẹ, người chị, mỗi lần đến nhà bà con hàng xóm, không bao giờ các người ngồi căn giữa. Hay là cây chuối chỉ có giống cái, không chồng mà có chửa.
Chuối khoe rằng chuối đồng trinh
Chuối ở một mình sao chuối có con




Nhớ lại những năm tháng còn ở làng quê, trong lúc cha ngồi đánh cờ tướng uống trà với bạn bè, thì mẹ ngồi ở nhà dưới, bên chuồng heo xắt chuối. Tiếng xoàn xoạt của nhát dao hòa trong tiếng kêu đói của bầy heo. Những lát chuối trắng nõn nà mà bạn có thể xếp ra chơi đồ hàng, bạn có thể nghịch với nó bằng cách lấy ra từ tim lát chuối những khoanh tròn, kéo thành kính đeo mắt. Đôi mắt của mẹ sẽ nhìn xuống cười buồn như thông cảm với hoàn cảnh của con mình, chẳng có món đồ chơi nào ngoài chuối, với mẹ. Nếu lúc đó mà em bé khóc, mẹ sẽ ngắt ngọn lá chuối cuốn lại thành kèn để dỗ em. Âm nhạc đầu đời mà bạn nghe đó là tiếng te - te của kèn chuối sau tiếng hò da diết:
Gió đưa bụi chuối te tàu
Chồng Nam vợ Bắc làm giàu ai ăn


Mẹ cũng có thể tết cho em bé một chiếc võng toàn bằng dây chuối, buộc giữa hai bụi chuối, vừa mát lại vừa êm.
Mẹ đi chợ. Hai anh em ngồi đợi mẹ về. Những trò chơi lại bắt đầu từ chuối. Này nhé, bạn có thể lấy cọng lá chuối cắt thành khẩu súng trường, phía trên tỉa năm sáu lá, gỡ lên, dùng tay phải vuốt từ sau ra trước, bạn sẽ có khẩu súng nổ liên thanh đấy nhé. Nếu cần đánh võ, thân chuối sẽ là đối thủ mềm mại và ngoan ngoãn để bạn tha hồ đấm đá. Bạn cần đá banh ư, hãy xin chuối một ít lá khô, dùng dây chuối buộc thành trái banh. Nếu bạn khéo tay hãy dùng dây chuối khô nhúng trong nước năm mười phút, tước nhỏ để bện trái banh tròn, đá cũng “kêu” không kém banh da. Trong lúc đùa nghịch nhớ đừng để mủ chuối dính áo, nhất là áo trắng đi học, thì có mà ăn đòn.
Rồi mẹ về, ngoài những thức ăn như ruốc, cá khô, được gói trong lá chuối (không ô nhiễm môi trường như bao ni lông bây giờ), còn quà của bạn không thể thiếu vài ba trái chuối.
Bạn lớn lên cùng chuối, bên mẹ. Mẹ sẽ hò:
Được mùa chớ phụ môn khoai
Đến năm Thân Dậu biết lấy ai bạn cùng
”.
Năm đói Thân Dậu thì làm gì có môn có khoai, chỉ có củ chuối đấy thôi. Thân chuối non thì thái ra ngâm nước muối làm dưa. Heo và người đều nhờ vào chuối để sống. Rồi lụt lội ngập tràn thôn xóm, cây chuối sẽ làm bè cứu bạn. Sau một trận chiến làng xóm tan hoang, cháy rụi, cây chuối sau khi làm nhiệm vụ che chắn cho bà con sẽ chết sau cùng vì thân chuối nhiều nước và sẽ là cây mọc lên nhanh nhất để che mát và cứu đói dân làng.
Những ngày hoạn nạn cơ cực sẽ qua đi. Những ngày hạnh phúc sẽ tới. Chuối luôn bên cạnh bạn để chia ngọt sẻ bùi. Ngày tết đến, trên bàn thờ tổ tiên không thể thiếu nải chuối. Nem, chả, bánh chưng, bánh tét đều mát rượi màu xanh của chuối. Ngoài những mâm cỗ giỗ chạp được lót bằng một tàu chuối xanh bên dưới xôi, thịt luộc, chuối chát khế bên trên ; còn bắp chuối sẽ là loại “rau sống” hảo hạng. Bắp chuối đem bóp thấu với đậu phụng da heo thì trở thành món cao lương mỹ vị. Trong thời buổi rau gì cũng bị ô nhiễm thuốc sâu rầy, có lẽ bắp chuối là loại “rau” tinh khiết nhất. Tôi chưa thấy loại cây nào mà ta có thể dùng từ gốc đến ngọn, thậm chí còn dùng làm phân xanh, chất đốt như cây chuối.
Bạn muốn dạy em học mà không có giấy để viết ư, hãy xin chuối cho một “trang” lá, trải ra bạn sẽ có một “trang giấy” màu xanh có kẻ dòng đều đặn. Dùng viết bi đã hết mực, bút chì hoặc chiếc đũa vạt nhọn cũng được, viết trên lá chuối bạn sẽ có nét chữ sắc sảo lạ thường. Ông Châu Trí bên Tàu ngày xưa có thể cũng đã dùng lá chuối để viết, lá chuối khô đốt lên làm đèn để học chăng
Còn ông “ Trần Minh khố chuối ” nữa, cây chuối đã giúp ông vượt qua đói nghèo, những bẹ chuối khô được đóng khố để qua ngày rét mướt (?)…Cuộc đời khi cùng cực lao đao cũng được ví “ te tua như tàu lá chuối ”.
Bạn đi học đường xa, cha đi làm ruộng tối mới về, mẹ sẽ gói cho những gói cơm bọc trong lá chuối. Cơm nóng bọc trong lá chuối, trưa mang ra ăn với ruốc sẽ cho bạn hương vị đặc trưng để cả đời không quên nổi. Những nhà hàng cao cấp hiện giờ vẫn dùng bẹ chuối, lá chuối trong các món nướng. Đã có nhiều công ty Việt Nam xuất khẩu lá chuối ra nhiều nước trên thế giới.
Chuối luôn ở bên cạnh bạn từ thuở thơ ấu cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, bạn sẽ được nằm trong chiếc quan tài êm ái ở quê nhà, thăng bằng nhờ vào những đòn gối làm bằng thân chuối. Bát nhang cũng được làm bằng thân chuối con, thật tiện.
Tôi có nghe kể về tục lệ ở một vùng quê Quảng Nam, khi người mẹ đang mang thai qua đời, chôn cất xong, gia đình phải trồng bên mộ một cây chuối, cho đến lúc trổ buồng người mẹ mới làm tròn thiên chức và mới được siêu thoát. Người “ mẹ chuối ” cũng chỉ sinh nở một lần trong đời rồi chết, thân rục xuống làm phân bón cho những cây chuối con tiếp tục lớn lên để giúp ích cho người.
Tôi có đến thăm ngôi mộ người mẹ của bạn đưa từ Mỹ về, rất ngạc nhiên khi bạn tôi chôn cất mẹ giữa một vườn chuối. Anh ta sưu tầm đủ loại chuối. Nào là chuối già, chuối chà, chuối sứ, chuối cau…Phải kể là hàng chục loại chuối. Sau khi thắp nhang bạn tôi nhìn sâu vào vườn chuối, đôi mắt đẫm lệ, anh kể:
-Tôi đưa mẹ tôi sang Mỹ định cư đã được mười năm, vì ở đây không còn ai. Tôi là con duy nhất của mẹ. Người già ở Mỹ thì anh biết đấy, cô đơn lắm. Những năm gần đây bà ốm đau luôn. Thương mẹ quá có lần tôi nói: “ Bây giờ mẹ thích gì con chiều nấy ”. Mẹ tôi nói: “ Mẹ về Việt Nam thì không còn ai, mẹ sẽ ở lại với con cháu đến lúc qua đời, nhưng con hứa với mẹ một điều là phải đưa xác mẹ về làng, và nhớ trồng bên mộ mẹ một bụi chuối ”. Im lặng một hồi mẹ tôi lại nói: “ Ở vườn nhà mình có trồng được chuối không con? ”. Tôi bảo: “ Được nhưng mùa đông sẽ chết ”. Mẹ tôi im lặng, trong mắt bà có ngấn nước. Mùa xuân năm ngoái tôi đi công việc ở Nam Mỹ, đem về một cây chuối con, trồng ở vườn, gần phòng mẹ. Cây chuối lớn nhanh phổng phao lắm. Thân chuối trắng như lông tơ trên da con gái dậy thì. Sáng chiều mẹ tôi ra thăm, có lúc ngồi hàng giờ với cây chuối. Rất buồn khi mấy đứa cháu nghịch rách lá. Mùa hạ rồi mùa thu cây chuối lớn nhanh như thổi. Những búp chuối con cũng nhú lên từ gốc. Tôi đọc được trong mắt mẹ niềm hạnh phúc về ngày đơm hoa kết trái. Năm đó mùa đông đến sớm. Khi cây chuối mới nhú bắp thì nhiệt độ ngoài trời thay đổi đột ngột. Tuyết rơi trắng khắp vườn. Sáng ra, như thường lệ mẹ tôi ra thăm chuối. Nhìn cảnh tượng cây chuối vỡ toác, ứa ra màu trắng của tuyết, mẹ tôi đột quỵ và qua đời ngay sáng hôm đó. Trước khi đưa thi hài mẹ về quê, tôi lập một am thờ ngay vị trí cây chuối đã chết, để thờ chuối và mẹ ”.
Bạn tôi khóc, tôi cũng khóc. Tôi nhớ làng quê và mẹ tôi da diết. Tôi tin các bạn từng ở vùng quê cũng cảm động khi tôi kể chuyện này.
Những năm bỏ làng vào vùng Đông Nam bộ, khi thu hoạch chuối thấy người ta phạt ngang thân chuối cho gục xuống để cắt buồng, tôi xót trong lòng. Khi đốt rẫy chuối cũng cháy theo, tôi lại nhớ những năm chiến tranh ở quê nhà. Hồi còn ở bậc trung học tôi rất ghét phải đọc “ Chém treo ngành ” của Nguyễn Tuân. Trong truyện ngắn ấy biết bao thân chuối tội nghiệp gục dưới tay đao phủ. Tôi chỉ đọc một lần mà rờn rợn đến bây giờ.
Khoảng năm 1992 tôi có viết một tạp ghi ngắn trên tờ Tuổi Hồng về lợi ích của cây chuối trong mục “ Tuổi hồng tìm hiểu ” dành cho tuổi mới lớn hiểu về những phong tục tập quán Việt Nam. Bạn bè bảo bài viết xúc động. Còn tôi, tôi vẫn nợ cây chuối đến tận bây giờ.
Tôi có xem một số tranh ảnh nước ngoài, khi mô tả về phong tục tập quán Việt Nam, có rất nhiều tranh ảnh dùng cây chuối làm nền, như là một biểu tượng làng quê chứ không phải cây tre. Người ta nhìn mình như thế. Còn tôi, tôi lại nghĩ, nếu thiếu cây chuối trên đất nước mình thì nền văn hóa lịch sử có khác bây giờ không; biết đâu tính hiền hòa nhân ái của dân Lạc Việt lại không bắt đầu từ cây chuối, từ mẹ.
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau
.


Nguyễn Đặng Mừng



Sáng tác khác của Nguyễn Đặng Mừng:
Những vần thơ lạc
Chị cũng như em, truyện ngắn
Đồi ma, truyện ngắn
Mãi hoài như rứa, truyện ngắn
Nhớ ruộng nhớ đồng, truyện ngắn
Nước nhảy lên bờ, truyện ngắn
Tản mạn quê nhà, tản văn
Thì trân, truyện ngắn
Vẳng lại âm buồn, tản văn
Về làng, tản văn
Bắt bóng, truyện ngắn

READ MORE - CÂY CHUỐI - BÀ MẸ QUÊ